Vận tải hàng hóa hàng không VẬN TẢI HÀNG HÓA HÀNG KHÔNG ĐỀ TÀI CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC KHI THỰC HIỆN QUY TRÌNH VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA KHÔNG DÙNG CHỨNG TỪ GIẤY E FREIGHT GIẢNG VIÊN NGUYỄN TRẦN THANH THUẦN Da[.]
Trang 1VẬN TẢI HÀNG HÓA HÀNG KHÔNG
ĐỀ TÀI: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC KHI THỰC HIỆN QUY TRÌNH VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA KHÔNG DÙNG CHỨNG TỪ GIẤY E-FREIGHT
GIẢNG VIÊN: NGUYỄN TRẦN THANH THUẦN
Danh sách nhóm
1 Lê Hà Khanh 1751010144
2 Trần Thị Lệ Hoa 1751010116
3 Đỗ Nguyễn Tường Thao 1751010120
4 Nguyễn Ngọc Yến Phi 1751010121
5 Nguyễn Ngọc Trâm Anh 1751010029
6 Đoàn Ngọc Hạ Uyên 1751010149
7 Nguyễn Minh Trung 1751010043
MỤC LỤC
1 Giới thiệu về E-freight 2
HỌC VIỆN HÀNG KHÔNG VIỆT NAM KHOA VẬN TẢI HÀNG KHÔNG
Trang 21.1 Định nghĩa E-freight 2
1.2 Mục đích sử dụng E-freight 2
1.3 Phạm vi áp dụng của E-freight 2
2 Cách thức vận hành E-freight 3
2.1 Quy trình giao nhận hàng hóa hàng không điện tử 3
2.2 E-AWB 4
2.3 Sự khác nhau giữa E-AWB và E-freight 6
3 Cơ hội và thách thức khi thức hiện quy trình vận chuyển hàng hóa không dùng chứng từ giấy E-freight 6
3.1 Cơ hội 6
3.2 Thách thức 7
TÀI LIỆU THAM KHẢO
https://www.iata.org/en/programs/cargo/e/efreight/?
fbclid=IwAR20Fa0jHpLkrQRG8BciHlgF-yqFb5Q7yFm3HjMryIq5KI3cg-cn7CaWtNw
https://www.iata.org/en/policy/smarter-regulation/mc99/?
fbclid=IwAR1JbVkhXoMe0jKDmgustMJl5Bzm8DL6PM7mD-gxYiIR7UusW0gHtLGuoP0
https://www.youtube.com/watch?
v=JS4pvPGias0&fbclid=IwAR2h9UQvOPXasEt3127aXKgyF29ZlbpzN2hAS XY68de_GFO4aqXgUQk3ltw
Trang 3CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC KHI THỰC HIỆN QUY TRÌNH VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA KHÔNG DÙNG CHỨNG TỪ GIẤY
E-FREIGHT
1 Giới thiệu về E-freight
1.1 Định nghĩa E-freight
E-freight (vận tải hàng hóa điện tử) là sáng kiến của IATA cho chuỗi cung ứng hàng hóa, là quy trình điện tử hóa mang tính kinh tế cao nhằm đơn giản hóa công việc bằng cách loại bỏ việc in ấn, trao đổi và xử lí các chứng từ bằng giấy
Quy trình e-freight liên quan đến các nhà cung cấp, giao nhận vận chuyển hàng hóa, nhân viên xử lý mặt đất, người giao hàng, cơ quan hải quan, bộ giao thông, môi giới hải quan, người được ủy thác
1.2 Mục đích sử dụng E-freight
Dự án vận tải điện tử được IATA đưa ra vào năm 2004 như một phần của chương trình Đơn giản hóa doanh nghiệp (StB) Nó nhằm mục đích loại bỏ các quy trình dựa trên giấy từ chuỗi cung ứng vận tải hàng không vào năm 2010, và để thay thế chúng bằng trao đổi thông tin điện tử giữa các bên liên quan (shipper, giao nhận vận tải, đại lý xử lý, tàu sân bay, môi giới, hải quan và cơ quan chính phủ)
Vận chuyển qua đường hàng không quốc tế cần đến trên 30 loại văn bản giấy tờ khác nhau và chính điều này làm gia tăng chi phí và độ trễ về thời gian vận chuyển Vận chuyển điện tử IATA áp dụng tiêu chuẩn UN/CEFACT thông qua hệ thống thư điện tử của WCO và IATA nhằm cải thiện các dịch vụ cung cấp cho khách hàng bằng việc giảm lượt quá cảnh, hạ thấp chi phí và tạo độ tin cậy cho chuỗi cung ứng hàng hoá qua đường hàng không Từ đó loại bỏ thủ tục hành chính giấy tờ đang sử dụng hiện nay
E-freight được kỳ vọng tiết kiệm 4.9 tỷ USD hàng năm qua chuỗi cung ứng hàng hoá qua đường hàng không, bao gồm việc giảm được trung bình 24 giờ cho mỗi lần vận chuyển, giảm hàng tồn và giảm chi phí giấy tờ cho cơ quan/đơn vị vận chuyển Điều này làm tăng tính cạnh tranh và đem lại hiệu quả cao hơn đối với chuỗi cung ứng hàng hoá qua đường hàng không
Cung cấp khả năng giám sát quản lý rủi ro hiệu quả hơn và cách thức tiếp cận mục tiêu thông qua các dữ liệu điện tử có trước Chuẩn xác hoá và hài hoà hoá các số liệu xuất nhập khẩu qua khai báo điện tử Tăng cường sự minh bạch hoá và giúp cơ quan Hải quan dễ dàng lần theo dấu vết chuyển lậu
Loại bỏ các rào cản thương mại, tạo điều kiện cho các yêu cầu Thông tin Điện
tử Nâng cao (AEI) cho mục đích bảo mật
1.3 Phạm vi áp dụng của E-freight
Trang 4E-freight chỉ có thể được sử dụng trên các tuyến thương mại vận chuyển hàng hóa điện tử được IATA chấp thuận Tuy nhiên người gửi hàng và những nhà vận chuyển e-frieght là một chương trình tùy nghi, nó được áp dụng đối với người gửi hàng và những nhà vận chuyển như nhau Dựa trên các phân tích pháp lý nội bộ của
họ, nhằm xác định họ nên gửi hàng và tài liệu hàng hóa như thế nào đến và từ bất kì địa điểm e-freight của IATA nào được chấp nhận
IATA cung cấp các công cụ được khuyến cáo cho việc hoàn thành việc giao dịch e-freight IATA cũng như thông điệp Cargo-IMP và hiệp định E-AWB và thông qua sự tán thành của các địa điểm cụ thể, xác nhận rằng các chính phủở các địa điểm như vậy sẽ sẽ chấp nhận việc sử dụng những công cụ này tại biên giới của họ bằng cách đảm bảo rằng một địa điểm được thông qua thì đã kí kết MP4 hoặc là MC99, IATA có thể ép buộc việc chấp nhận công cụ e-freight IATA
Tính tới thời điểm tháng 3/2009, IATA e-freight đã được triển khai tại 19 quốc gia, trong đó có tới 8 trong số 10 cảng hàng không quốc tế hàng đầu như: Pháp, Đức, Hồng Kông, Hà Lan, Singapore, Hàn Quốc, Anh và Mỹ Trung Quốc và Nhật Bản là 2 nước dự kiến sẽ triển khai e-freight trong năm nay
Mục tiêu là triển khai vận chuyển hàng hóa điện tử tại 44 quốc gia vào cuối năm 2010, chiếm hơn 80% sản lượng vận tải hàng không toàn cầu Các quốc gia này đều có các hiệp ước quốc tế thích hợp và khuôn khổ hải quan cấp cao để đủ điều kiện cho vận chuyển hàng hóa điện tử IATA
Vận tải hàng hóa điện tử IATA cũng đang hoạt động tại Úc, Canada, Đan Mạch, Dubai, Pháp, Đức, Hồng Kông, Nhật Bản, Luxembourg, Malaysia, Mauritius,
Hà Lan, New Zealand, Na Uy, Singapore, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Hoa
Kỳ Vương quốc Anh, Hoa Kỳ và Thụy Sĩ Ngành đã đưa ra thời hạn cuối năm 2010 để triển khai vận tải hàng hóa điện tử nếu khả thi
2 Cách thức vận hành e-freight
2.1 Quy trình giao nhận hàng hóa hàng không điện tử
Thông thường, việc giao nhận, vận chuyển hàng hóa sẽ diễn ra theo một quy trình như sau:
- Bước 1: Tiếp nhận yêu cầu giao nhận của khách hang
- Bước 2: Tiếp nhận hàng hóa cần giao nhận
- Bước 3: Tiến hành giao cho khách
- Bước 4: Thanh toán cước phí giao nhận.
Trang 5Các bước tiêu chuẩn trong môi trường vận chuyển hàng hóa điện tử
-Nhận biên nhận hàng hóa từ người gửi hàng: Người gửi hàng gửi hóa đơn điện
tử và bàng kê hàng hóa cho nhà giao nhận hàng hóa của điểm xuất phát và cho người nhận hàng Những chứng từ này không được in thêm cũng như không được vận chuyển cùng hàng hóa
-Chất tải và khởi hành đến sân bay: Nhà giao nhận hàng hóa nơi đi sử dụng thông tin điện tử nhận được từ người giao hàng, sẽ chuẩn bị và gửi điện tử tờ khai hàng hóa xuất khẩu cho hải quan Hải quan sẽ cho thông quan hàng hóa và gửi một thông cáo hải quan điện tử cho nhà giao nhận nơi đi Sau đó nhà giao nhận nơi đi sẽ chuẩn bị tờ khai hàng hóa cũng như vận đơn hầng không và gửi chúng bằng điện tử cho nhà vận chuyển nơi đi
-Nhà vận chuyển nhận biên nhận và sẵn sàng vận chuyển hàng hóa: Nhà giao nhận hàng hóa xuất trình lô hàng cho nhà chuyên chở nơi đi và thực hiện các kiểm tra cần thiết
-Vận chuyển hàng hóa đến sân bay đích: Khi chuyến bay đến, nhà vận chuyển nơi điểm truyền thư điện tử để nhập một tờ khai hàng hóa và nhận được phản hồi điện
tử từ hải quan nơi đến để giải phóng hàng hóa giao cho nhà giao nhận nơi đến
-Nhà giao nhận tập hợp hàng hóa: Nhà giao nhận hàng hóa nơi đến sẽ lấy hàng hóa và truyền tờ khai hàng hóa điện tử(đã chuẩn bị trước) đưa cho hải quan để thông quan hàng hóa
-Giao hàng cho người nhận hàng: Khi hàng hóa được thông quan, nhà giao nhận hàng hóa nơi đến sẽ vận chuyển cũng như giao hàng cho người nhận hàng cuối cùng Không có tài liệu điện tử nào trong phạm vi vận chuyển hàng hóa điện tử được trao đổi trong chu trình đó
Trang 62.2 E-AWB (Vận đơn điện tử hàng không)
2.2.1 Khái niệm
E-AWB là thuật ngữ IATA sử dụng để mô tả trao đổi thông điệp dữ liệu điện tử (EDI), thay cho AWB giấy, để kết thúc hợp đồng vận chuyển Với giá trị tương đương AWB giấy e-AWB là phiên bản điện tử của giấy vận chuyển hàng không (AWB), một tài liệu vận tải hàng hóa quan trọng phục vụ như là hợp đồng vận chuyển giữa người gửi hàng hoặc người giao nhận hàng hóa và các hãng hàng không hoặc hãng vận tải IATA mô tả "e-AWB" là trao đổi thông điệp dữ liệu điện tử giữa các bên để kết thúc hợp đồng vận chuyển Bởi vì AWB là một tài liệu quan trọng nên việc số hóa sẽ hợp
lý hóa đáng kể quá trình này e-AWB cũng là bước đầu tiên hướng tới một loại hàng hóa hoàn toàn không cần giấy tờ
Với E-AWB, các hãng vận chuyển hàng không, giao nhận vận chuyển hàng hóa
và các đại lý xử lý mặt đất (GHA) có thể giành được lợi thế cạnh tranh đáng kể Việc một công ty thực hiện và hoàn thành một vận đơn điện tử (EAWB) rất quan trọng Các doanh nghiệp yêu cầu một giải pháp đơn giản, nhanh hơn và tốt hơn để tối đa hóa lợi ích , giúp lợi ích doanh nghiệp gia tăng…e-AWB sẽ là giải pháp cho điều này
2.2.2 Quy trình e-AWB
Bước 1: Cả hai bên Freight Forwarder và Air Cargo phải ký một Thỏa Thuận
e-AWB trước khi triển khai vận đơn điện tử hàng không
Bước 2: Freight Forwarder đặt chỗ với Air Cargo và cho biết EAP hoặc EAW
khi thực hiện đặt trước
Bước 3: Freight Forwarder gửi tin nhắn FWB tới Air Cargo hoặc trực tiếp hoặc
thông qua CCS đầu thầu lô hàng
Bước 4: Freight Forwarder sẽ kiểm tra thông báo “FMA” hoặc từ chối “FNA”
từ Air Cargo Nếu nhận được tin nhắn FNA, Giao nhận vận tải cần sửa FBW và gửi lại tin nhắn đến Air Cargo
Bước 5: Nếu nhận được tin nhắn FMA, Freight Forwarder có thể tiến hàng đầu
thầu lô hàng của họ đến Air Cargo
Bước 6: Nếu không có sự chênh lệch về trọng lượng khi chấp nhận hàng hóa,
Air Cargo chấp nhận lô hàng là “Sẵn sàng cho vận chuyển” và gửi thông báo FSU/RCS đến Bộ phận Giao nhận Hàng hóa
Bước 7: Nếu có sự khác biệt về trọng lượng, SAAC sẽ tiếp tục chấp nhận lô
hàng nhưng sẽ gửi “Giao hàng trên thông báo bằng tay” hoặc FSU/FOH cho Công ty Giao nhận vận tải Khi nhận được thông báo này Freight Forwarder sẽ gửi lại FBW với trọng lượng đã sửa Thông báo FSU/RCS chỉ được gửi đến Freight Forwarder nếu FWB cuối cùng được Air Cargo chấp nhận
Trang 72.3 Sự khác nhau giữa e-AWB và e-Freight
e-AWB e-Freight Phạm vi AWB giấy AWB giấy, phiếu đóng gói,
hóa đơn, giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa,
Mã xử lý đặc biệt
(SHC code)
ECC hoặc ECP ECC và EAW
Đăng ký và thỏa
thuận
Đăng ký toàn cầu hoặc địa phương, hiệp định song phương hoặc đa phương
Phải là người dùng e-AWB
Khả năng ứng
dụng
Được sử dụng trên các làn đường mà cả hai đầu là các bên ký kết các thỏa thuận MC99 và MP4 với một vài ngoại lệ có sẵn cho các tuyến đường Warsaw
Vận chuyển hàng hóa điện
tử chỉ có thể được sử dụng trên "Làn đường thương mại điện tử được IATA phê duyệt"
3 Cơ hội và thách thức khi thức hiện quy trình vận chuyển hàng hóa không dùng chứng từ giấy E-freight
3.1 Cơ hội
Giảm chi phí: loại bỏ chi phí xử lý và xử lý giấy Việc sử dụng hóa đơn điện tử giúp doanh nghiệp có thể gửi trực tiếp cho khách hàng thông qua email, tin nhắn điện
tử hay in trực tiếp cho khách hàng Điều này sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được một khoản chi phí đáng kể, đồng thời người nhận cũng sẽ nhanh chóng nhận được hóa đơn
mà không cần mất thời gian chờ đợi So với việc trước đây để xuất hóa đơn đỏ cho khách hàng, nhất là khách hàng ở xa, các doanh nghiệp thường phải sử dụng tới đội
Trang 8ngũ hỗ trợ, đội ngũ chuyển phát nhanh để vận chuyển tới người mua Do đó chi phí vận chuyển, gửi hóa đơn sẽ tiêu tốn của doanh nghiệp một khoản không nhỏ do sử dụng đơn vị vận chuyển thứ 3
Tiết kiệm thời gian, giảm thiểu các thủ tục hành chính Toàn bộ quy trình được thực hiện trực tuyến nên khi cần sử dụng hóa đơn kê khai, phục vụ công tác kế toán, khách hàng doanh nghiệp có thể chủ động truy xuất online để kiểm tra thông tin hóa đơn kịp thời trên hệ thống mà không phải mất thời gian đợi chờ bên bán giao hóa đơn gây chậm trễ trong hoạt động kinh doanh
Cải thiện độ tin cậy và độ chính xác: giữ mục nhập dữ liệu điện tử một lần tại điểm xuất phát Hóa đơn điện tử được quản lý và bảo mật trên hệ thống phần mềm điện tử, khách hàng chỉ cần truy cập hệ thống online để trích xuất và lưu trữ hóa đơn trực tiếp ngay trên phần mềm Điều này giúp khách hàng có thể hoàn toàn yên tâm, tránh được rủi ro trong bảo quản, cũng như hạn chế được tình trạng sửdụng hóa đơn giả
Tăng khả năng hiển thị: sử dụng tài liệu điện tử cho chức năng theo dõi và theo dõi trực tuyến
Xóa bỏ các rào cản thương mại: tạo điều kiện thuận lợi cho các yêu cầu về Thông tin điện tử trước (AEI) vì mục đích bảo mật
3.2 Thách thức
Những trở ngại như khả năng chống lại sự thay đổi từ phía luật pháp quốc tế,
cơ sở hạ tầng công nghệ kém và quy trình áp dụng công nghệ chậm khiến vận chuyển hàng hóa điện tử trở thành thách thức đối với tất cả các bên
Pillar I được thiết lập với mục đích thiết lập một mạng lưới tuyến đường và để
các quy trình vận chuyển hàng hóa điện tử hoạt động
Trang 9Như đại lý giao nhận nói, "Các nhân viên hải quan là những người miễn cưỡng nhất với sáng kiến không cần giấy tờ" Đây là một thực tế không thể chối cãi nằm trên
bề mặt và ngăn cản đáng kể sự phát triển tiếp theo
Từ góc độ trao đổi thông tin, việc cơ quan hải quan chưa sẵn sàng cho quy trình vận tải hàng hóa điện tử sẽ không làm gián đoạn toàn bộ thế chủ động, nhưng phần nào làm giảm việc thực hiện kế hoạch vận tải hàng hóa điện tử Vì vậy, thực tế là có các lô hàng chủ yếu bằng chứng từ điện tử và phát hành phiên bản giấy chỉ cho hải quan theo yêu cầu Trong trường hợp này, tình huống các phương pháp tiếp cận hỗn hợp có thể chấp nhận được nhưng không giải quyết được mục tiêu của chiến lược vận chuyển hàng hóa điện tử đầy đủ
Về mặt nào đó, cả người gửi và người nhận đều là “khách hàng” của ngành vận tải, nơi hải quan và cơ quan quản lý là các bộ phận của cơ quan lập pháp
Pillar II được thiết lập với mục đích đạt được năng lực của ngành cho chuỗi
sân bay đến sân bay không cần giấy tờ, loại bỏ các tài liệu vận tải cốt lõi Nó được dẫn dắt bởi người quản lý dự án IATA với sự hợp tác chặt chẽ với FIATA Pillar II dựa trên sự hợp tác chặt chẽ giữa các công ty giao nhận hàng hóa, đại lý mặt đất và sân bay
Việc một trong các bên không có khả năng hoặc không muốn thực hiện thay đổi phản ánh nhiều vào ý tưởng từ sân bay đến sân bay không cần giấy tờ
Trang 10Carrier tóm tắt Quan điểm thay thế được đưa ra khi xem xét các quy trình kiểu bảo thủ đối với người quản lý Vì vậy, trong nhiều thập kỷ qua các nhà giao nhận đã sử dụng các tài liệu giấy như cách duy nhất để thực hiện nhiệm vụ của họ Đặc biệt, vì những người chơi rủi ro nhất trong cách giải quyết các mục tiêu vận chuyển hàng hóa điện tử là các công ty giao nhận nhỏ Carrier nói: “Thật khó để có được giá trị quảng cáo cho khoản đầu tư”, do đó, các nhà giao nhận nhỏ ít quan tâm đến sự thay đổi này Ngoài ra, GHA được phỏng vấn đồng ý về thực tế rằng GHA đích là người chịu trách nhiệm cao nhất đối với người nhận hàng - vì đã đóng tất cả các lỗi trong một quy trình không cần giấy tờ, do đó, rất rủi ro về việc đáp ứng các mục tiêu vận chuyển hàng hóa điện tử cũng như các nhà giao nhận nhỏ Freight Forwarder, người cho rằng hệ thống CNTT quá dễ bị tấn công, bày tỏ sự cần thiết phải có các kế hoạch an toàn bổ sung để ngăn chặn các lỗi gửi thư Nếu việc gửi tin nhắn gặp sự cố, khả năng mất tiền rất cao Quay trở lại tình hình trạng thái của các quốc gia khác nhau, điều quan trọng cần làm
là nhấn mạnh rằng cơ sở hạ tầng CNTT ở một số quốc gia kém phát triển hơn có thể chưa sẵn sàng cho một sự thay đổi Pillar III được thiết lập với mục đích loại bỏ
các tài liệu thương mại cốt lõi, để kích hoạt chuỗi cửa đến cửa không cần giấy
Nó được dẫn dắt bởi ban quản lý dự án IATA với sự hợp tác chặt chẽ với FIATA Nói cách khác, Pillar III thúc đẩy sự thay đổi theo hướng tháo túi tài liệu từ người gửi hàng sang người nhận hàng Quan điểm chung của các bên liên quan khác
đã thu hẹp thực tế rằng các chủ hàng về cơ bản không miễn cưỡng thay đổi Từ khía cạnh sự sẵn có của công nghệ thông tin, điều cần thiết là phải làm nổi bật rằng vai trò của người gửi hàng được các công ty hoặc tổ chức lớn thực hiện Do đó, một số khoản đầu tư vào nâng cấp hệ thống CNTT là thấp nhất so với các công ty trong chuỗi cung ứng hàng hóa hàng không khác Khi nói về việc tạo chứng từ thương mại, các chủ hàng quan tâm đến việc vận chuyển hàng hóa của họ đến đích cuối cùng “càng nhanh càng tốt” Do đó, shipper là một trong những người tham gia nhiều nhất cho các dịch
vụ nhanh chóng, chất lượng và bền vững Từ phía bên kia, các thành viên chuỗi cung ứng bằng cách cung cấp cho người gửi hàng các dịch vụ nhanh nhất và đáng tin cậy có thể tạo ra sự khác biệt trên thị trường dịch vụ hàng hóa, do đó, để xây dựng các mối quan hệ kinh doanh ổn định hoặc giành được thị phần lớn hơn