ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CÓ ĐÁP ÁN Chương I Câu 1 Bản chất và trình bày rõ các đặc trưng để phân loại thị trường chứng khoán? 1 Bản chất của thị trường chứng khoán Thị trường chứng kho[.]
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CÓ ĐÁP ÁN
Chương I Câu 1: Bản chất và trình bày rõ các đặc trưng để phân loại thị trường chứng khoán?
1 Bản chất của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, được quanniệm là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán trung vàdài hạn Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua muađược chứng khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở thị trường thứ cấp khi
có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp
Xét về mặt hình thức, thị trường chứng khoánchỉ là nơi diễn ra các hoạt độngtrao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán, qua đó thay đổi các chủthể nắm giữ chửng khoán
Xét về mặt bản chất thì:
Thị trường chứng khoán là nơi tập trung và phân phối các nguồn vốn tiếtkiệm Tập trung các nguồn tiết kiệm để phân phối lại cho những ai muốn sử dụngcác nguồn tiết kiệm đó theo giá mà người sử dụng sẵn sàng trả và theo phán đoáncủa thị trường về khả năng sinh lời từ các dự án của người sử dụng Chuyển từ tưbản sở hữu sang tư bản kinh doanh
Thị trường chứng khoán là định chế tài chính trực tiếp: cả chủ thể cung vàcầu vốn đều tham gia vào thị trường một cách trực tiếp Với việc đầu tư qua thịtrường chứng khoán, kênh dẫn vốn trực tiếp, các chủ thể đầu tư đã thực sự gắnquyền sử dụng và quyền sở hữu về vốn, nâng cao tiềm năng quản lý vốn
Thị trường chứng khoánthực chất là quá trình vận động của tư bản tiền tệ.Các chứng khoán mua bán trên thị trường chứng khoáncó thể đem lại thu nhập chongười nắm giữ nó sau một thời gian nhất định và được lưu thông trên thị trườngchứng khoántheo giá cả thị trường, do đó bề ngoài nó được coi như là một tư bảnhàng hoá
Có thể nói, thị trường chứng khoánlà nơi mua bán các quyền sở hữu về tưbản, là hình thức phát triển cao của nền sản xuất hàng hoá
Thị trường chứng khoán cũng gắn với loại hình tài chính ngắn hạn.Nhữngngười có chứng khoán có thể mua bán chứng khoán tại bất kỳ thời điểm nào trên
Trang 2thị trường chửng khoán, nên các chứng khoán trung và dài hạn cũng trở thành đốitượng đầu tư ngắn hạn.
2 Phân loại thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoánlà nơi diễn ra các giao dịch, mua bán những sản phẩm tài chính (cổ phiếu, trái phiếu, các khoản vay ngân hàng có kỳ hạn trên 1 năm).
Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn
Thị trường sơ cấp
Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành.Trên thị trường này, vốn từ nhà dầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thôngqua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành
Đặc điểm của thị trường sơ cấp:
Thị trường sơ cấp là nơi duy nhất mà các chứng khoán đem lại vốn cho ngườiphát hành
Những người bán trên thị trường sơ cấp được xác định thường là kho bạc, ngânhàng nhà nước, công ty phát hành, tập đoàn bảo lãnh phát hành
Giá chứng khoán trên thị trường sơ cấp do Tổ chức phát hành quyết định vàthường được in ngay trên chứng khoán
Thị trường thứ cấp
Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trênthị trường sơ cấp.Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các chứngkhoán đã phát hành
Đặc điểm của thị trường thứ cấp:
Trên thị trường thứ cấp, các khoản tiền thu được từ việc bán chứng khoán thuộc
về các nhà đầu tư và các nhà kinh doanh chứng khoán chứ không thuộc về nhà pháthành Nói cách khác, các luồng vốn không chảy vào những người phát hành chứngkhoán mà chuyển vận giữa những người đầu tư chứng khoán trên thị trường Thịtrường thứ cấp là một bộ phận quan trọng của thị trường chứng khoán, gắn bó chặtchẽ với thị trường sơ cấp
Giao dịch trên thị trường thứ cấp phản ánh nguyên tắc cạnh tranh tự do, giáchứng khoán trên thị trường thứ cấp do cung và cầu quyết định
Thị trường thứ cấp là thị trường hoạt động liên tục, các nhà đầu tư có thể mua
và bán các chứng khoán nhiều lân trên thị trường thứ cấp
Trang 3 Thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC): Là một thị trường có tổ chức hoạt
động theo pháp luật, khác biệt hoàn toàn so với thị trường chợ đen Các giao dịch(cả sơ cấp lẫn thứ cấp) được tiến hành qua mạng lưới các công ty chứng khoán phântán trên khắp quốc gia và được nối với nhau bằng mạng điện tử
Phân biệt giao dịch trên thị trường chính thức và thị trường không chính thức
2 Hàng hóa Các chứng khoán của các
tổ chức đã được phép đăng ký niêm yết
Các chứng khoán của các tổ chức chýa được niêm yết trên thị trường
3 Phương
thức mua bán
Thông qua tổ chức trung gian
Thông qua tổ chức trung gian
4 Phương
thức xác định giá
Khớp lệnh theo hình thức đấu giá hoặc theo hình thức thỏa thuận
Thỏa thuận trực tiếp giữa các công ty chứng khoán mua và bán qua hệ thống máy tính
Căn cứ vào phương thức giao dịch
Thị trường giao ngay:
Thị trường mua bán chứng khoán theo giá của ngày giao dịch, việc thanh toán sẽ diễn ra sau một vài ngày tùy theo quy định tại mỗi thị trường
Trang 4 Thị trường tương lai:
Thị trường mua bán chứng khoán theo một loại hợp đồng tương lai Hợp đồng này quy định cụ thể loại hàng hóa, giá cả, thời hạn giao hàng và thanh toán
Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường
Thị trường cổ phiếu: thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch và mua bán
các loại cổ phiếu, bao gồm cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi
Thị trường trái phiếu: thị trường trái phiếu là thị trường giao dịch và mua bán
các trái phiếu đã được phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu công ty,trái phiếu đô thị và trái phiếu chính phủ Việc vay vốn dưới hình thức phát hànhtrái phiếu ngày càng trở nên phổ biến ở các quốc gia Do đó, thị trường trái phiếungày càng lớn về quy mô và hoạt động ngày càng sôi động
Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh:
Bên cạnh các giao dịch truyền thống về cổ phiếu và trái phiếu, các giao dịchmua bán chứng từ tài chính khác như: quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợpđồng quyền chọn đã xuất hiện Các chứng từ tài chính này được ra đời từ các giaodịch chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) và được quyền chuyển đổi sang các chứngkhoán qua hành vi mua bán theo những điều kiện nhất định Do đó, người ta gọichúng là các chứng từ có nguồn gốc chứng khoán, hay các chứng khoán phái sinh.Thị trường các chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán lạicác chứng khoán phái sinh đã được phát hành.Đây là loại thị trường cao cấpchuyên giao dịch những công cụ tài chính cao cấp, do đó thị trường này chỉ xuấthiện ở những nước có thị trường chứng khoánphát triển mạnh
Câu 2: Phân tích làm rõ nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng
khoán?
1 Nguyên tắc cạnh tranh:
Giá cả trên thị trường chứng khoán phản ánh quan hệ cung cầu về chứng khoán và thể hiện tương quan cạnh trạnh giữa các công ty( các nhà phát hành) nghĩa là: thị trường chứng khoán là nơi gặp nhau giữa cung và cầu chứng khoán, nên có nhiều người mua và nhiều người bán Các đối tượng tham gia ở cùng 1 vị trí sẽ cạnh tranh với nhau để đạt được mục đích của mình
Trang 5- Tại thị trường sơ cấp, các công ty cạnh tranh nhau để bán chứng khoán do mình phát hành, người đầu tư được tự do lựa chọn theo mục tiêu của mình (tùy theo phương thức phân phối chứng khoán)
- Trên thị trường thứ cấp, các nhà đầu tư tự do canh tranh nhau để tìm kiếm một lợi nhuận cao nhất, giá cả được hình thành theo phương thức đấu giá hoặc thỏa thuận
2 Nguyên tắc công bằng
- Nguyên tắc này đảm bảo lợi ích cho tất cả các những người tham gia trên thịtrường
- Công bằng có nghĩa là mọi người được binhaf đẳng trong quyền được chia
sẻ thông tin và trách nhiệm đã được xác định rõ trong các quy định, điều lệ
do các cơ quan quản lý thị trường chứng khoán đưa ra
+ Các đối tượng ở cùng 1 vị trí sẽ có quyền lợi và trách nhiệm , nghĩa vụ như nhau
+ ở vị thế nhà đầu tư: có quyền biết về thông tin của các công ty chứng khoán, giá cả chứng khoán trách nhiêm: trả tiền khi đến hạn nghĩa vụ; có nghĩa vụ với công ty
+ ở vị thế công ty cổ phần: trách nhiệm: cung cấp chính xác các thông
… Các tổ chức niêm yết công bố công khai các thông tin tài chính định kỳ hàng năm của công ty, các sự kiện bất thường xảy ra đối với công ty, nắm
Trang 6giữ cổ phiếu của giám đốc, người quản lý, cổ đông đa số Các thông tin càng được công bố công khai minh bạch, thì càng thu hút được nhà đầu tư tham gia vào thị trường chứng khoán.
4 Trung gian mua bán: Mọi hoạt động giao dịch, mua bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán đều được thực hiện thông qua các trung gian, hay còn gọi là các nhà môi giới Các nhà môi giới thực hiện giao dịch theo lệnh của khách hàng và hưởng hoa hồng Ngoài ra, nhà môi giới còn có thể cung cấp các dịch vụ khác như cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng trongviệc đầu tư
5 Nguyên tắc tập trung:
Tất cả các giao dịch chứng khoán đều diễn ra ở trên thị trường giao dịch chứng khoán tập trung (SGDCK) hoặc thị trường phi tập trung (OTC) Các thành viên phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định, điều khoản trong luật chứng khoán và thị trường chứng khoán cũng như các nghj định của cơ quan nhà nước về hoạt động của thị trường chứng khoán
Nguyên tắc này đảm baỏ cho thị trường hoạt động ổn định, công bằng, lành mạnh và không ngừng phát triển
6 Đấu giá: Giá chứng khoán được xác định thông qua việc đấu giá giữa các lệnh mua và các lệnh bán Tất cả các thành viên tham gia thị trường đều không thể can thiệp vào việc xác định giá này Có hai hình thức đấu giá là đấu giá trực tiếp và đấu giá tự động
Đấu giá trực tiếp là việc các nhà môi giới gặp nhau trên sàn giao dịch và trực tiếp đấu giá
Đấu giá tự động là việc các lệnh giao dịch từ các nhà môi giới được nhập vào hệ thống máy chủ của Sở giao dịch chứng khoán Hệ thống máy chủ này sẽ xác định mức giá sao cho tại mức giá này, chứng khoán giao dịch với khối lượng cao nhất
Trang 7->Các nguyên tắc trên đây nhằm đảm bảo cho giá cả chứng khoán được hình thànhmột cách thống nhất, công bằng cho tất cả các bên giao dịch Do đó, ở hầu hết các nước trên thế giới hiện nay, mỗi nước chỉ có một Sở giao dịch chứng khoán duy nhất (tuy nhiên, người dân mọi miền đất nước đều có thể tiếp cận thị trường thông qua các phòng giao dịch của công ty chứng khoán mở tới các điểm dân cư).
Một số nước khác còn tồn tại vài Sở giao dịch chứng khoán do lịch sử để lại thì đều nối mạng với nhau hoặc giao dịch những chứng khoán riêng biệt
Câu 3:phân tích các điều kiện để thị trường chứng khoán tồn tại và phát triển
ổn định
Theo định nghĩa của World Bank thì “Phát triển bền vững thỏa mãn nhu cầu hiện tại mà không làm giảm khả năng thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ sau”.Sự phát triển bền vững củaTTCK không phải thuần túy chỉ là duy trì một tốc độ nhanh chóng và ổn định của thị trường,mà phải là sự phát triển ở đó có sự đảm bảo tương tác lành mạnh theo thời gian và không gian
Một TTCK tồn tại và phát triển bền vững phải bảo đảm được sự cân bằng lànhmạnh giữa các thành tố (bộ phận, chính sách, định chế trung gian,…) của TTCK vàgiữa TTCK với các khu vực khác của hệ thống tài chính và toàn bộ nền kinh tế.TTCK phát triển bền vững cần phải tạo được niềm tin vững chắc cho NĐT vàphòng
chống được rủi ro hệ thống.Ngoài ra, TTCK phát triển bền vững còn phải bảo đảm
sự phát triển bền vững của môi trường Như vậy, TTCK phát triển bền vững đượcđánh giá theo những tiêu chí sau đây:
(1) Qui mô của thị trường (mức độ vốn hóa, hệ số vòng quay, tỷ lệ giữa tổng giaodịch toàn thị trường so với GDP trong một năm) TTCK phát triển bền vững cần có
sự ổn định và tăng tiến theo thời gian của ba chỉ tiêu này;
(2) Khả năng tiếp cận thị trường: các doanh nghiệp, cũng như NĐT dễ dàng nhanhchóng trao đổi vốn trên thị trường;
(3) TTCK phải hoạt động hiệu quả: tổng giá trị giao dịch qua thị trường ngày càngtăng về qui mô, an toàn với chi phí ổn định hoặc ngày càng thấp đi; (3) Có sự cânbằng hợp lý giữa lợi ích của các chủ thể tham gia thị trường;
(4) Hiệu quả trong hoạt động vận hành, quản lý, giám sát TTCK;(giáo trình)
(5) Khả năng dự báo, ngăn ngừa và phòng chống rủi ro hệ thống;
Trang 8(6) Khung pháp lý hoàn chỉnh và hiệu quả điều chỉnh cao
- Pháp luật chứng khoán phải đồng bộ với toàn bộ hệ thống pháp luật của ViệtNam
-Pháp luật chứng khoán cần tương thích với chuẩn mực quốc tế và tiếp thu nhữngnhân tố hợp lý của pháp luật nước ngoài
-Pháp luật chứng khoán phải là công cụ hữu hiệu bảo đảm quyền và lợi ích hợppháp của nhà đầu tư
-Pháp luật cần bảo đảm tính công bằng,hiệu quả và minh bạch của thị trườngchứng khoán
- Pháp luật phải có khả năng ngăn ngừa và kiểm soát được rủi ro hệ thống
(7)Sự tương tác, cân bằng lành mạnh và sự đồng bộ giữa các thành tố của TTCK
và giữa TTCK với các khu vực khác của nền kinh tế;
1 Nhà phát hành
Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị trườngchứng khoán.Nhà phát hành là người cung cấp các chứng khoán - hàng hoá của thịtrường chứng khoán
Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu chínhphủ và trái phiếu địa phương
Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty
Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu,chứng chỉ thụ hưởng phục vụ cho hoạt động của họ
2 Nhà đầu tư
Trang 9Nhà đầu tư là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên thị trườngchứng khoán Nhà đầu tư có thể được chia thành 2 loại: nhà đầu tư cá nhân và nhàđầu tư có tổ chức
- Các nhà đầu tư cá nhân:
Nhà đầu tư cá nhân là những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham gia muabán trên thị trường chứng khoán với mục đích tìm kiếm lợi nhuận.Tuy nhiên, trongđầu tư thì lợi nhuận lại luôn gắn với rủi ro, lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn
và ngược lại.Chính vì vậy các nhà đầu tư cá nhân luôn phải lựa chọn các hình thứcđầu tư phù hợp với khả năng cũng như mức độ chấp nhận rủi ro của mình.Các nhàđầu tư cá nhân hầu như chỉ tham gia thị trường chứng khoán thứ cấp
ưu điểm nổi bật là có thể đa dạng hoá danh mục đầu tư và các quyết định đầu tưđược thực hiện bởi các chuyên gia có kinh nghiệm
Một bộ phận quan trọng của các tổ chức đầu tư là các công ty tài chính Cáccông ty tài chính dược phép kinh doanh chứng khoán, có thể sử dụng nguồn vốncủa mình để đầu tư vào chứng khoán nhằm mục đích thu lợi
Bên cạnh các công ty chứng khoán, các ngân hàng thương mại cũng có thể trởthành nhà đầu tư chuyên nghiệp khi họ mua chứng khoán cho chính mình
3 Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán
- Công ty chứng khoán:
Công ty chứng khoán là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán,
có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là bảo lãnh pháthành, môi giới, tự doanh, quản lý quỹ đầu tư và tư vấn đầu tư chứng khoán
Trang 10Để có thể được thực hiện mỗi nghiệp vụ, các công ty chứng khoán phải đảmbảo được một số vốn nhất định và phải được phép của cơ quan có thẩm quyền.
- Các ngân hàng thương mại:
Tại một số nước, các ngân hàng thương mại có thể sử dụng vốn tự có để tăng
và đa dạng hoá lợi nhuận thông qua đầu tư vào các chứng khoán.Tuy nhiên cácngân hàng chỉ được đầu tư vào chứng khoán trong những giới hạn nhất định để bảo
vệ ngân hàng trước những biến động của giá chứng khoán Một số nước cho phépngân hàng thương mại thành lập công ty con độc lập để kinh doanh chứng khoán
và thực hiên nghiệp vụ bảo lãnh phát hành
4 Các tổ chức liên quan đến thị trường chứng khoán
Cơ quan quản lý và giám sát hoạt động thị trường chứng khoán
- Cơ quan quản lý và giám sát hoạt động thị trường chứng khoán bảo vệ lợi íchcho các nhà đầu tư và đảm bảo sự hoạt động của thị trường được thông suốt, ổnđịnh và an toàn
- Cơ quan quản lý và giám sát hoạt động thị trường chứng khoán được hìnhthành dưới nhiều mô hình tổ chức hoạt động khác nhau, có nước do tổ chức tựquản thành lập, có nước cơ quan này trực thuộc Chính phủ, có nước cơ quan này là
sự kết hợp quản lư giữa tổ chức tự quản và nhà nước
Việt Nam đã thành lập cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trườngchứng khoán trước khi ra đời thị trường chứng khoán Việt Nam Đó là Ủy banChứng khoán Nhà nước, thành lập theo Nghị định số 75 CP ngày 28/11/1996 củaChính phủ Theo đó, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước là một cơ quan thuộc Chínhphủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với thị trường chứng khoán ViệtNam
Sở giao dịch chứng khoán
Sở giao dịch chứng khoán thực hiện vận hành thị trường chứng khoán thông qua tổchức và hệ thống các quy định, văn bản pháp luật về giao dịch chứng khoán trên cơ
sở phù hợp với các quy định của luật pháp và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
Trang 11 Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là tổ chức tự quản của các công tychứng khoán và một số thành viên khác hoạt động trong ngành chứng khoán, đượcthành lập với mục địch bảo vệ lợi ích cho các thành viên và các nhà đầu tư trên thịtrường.
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là một tổ chức tự quản, thực hiệnmột số chức năng sau:
Đào tạo, nghiên cứu trong lĩnh vực chứng khoán
Khuyến khích hoạt động đầu tư và kinh doanh chứng khoán
Ban hành và thực hiện các quy tắc tự điều hành trên cơ sở các quy định phápluật về chứng khoán hiện hành
Giải quyết các tranh chấp giữa các thành viên
Tiêu chuẩn hóa các nguyên tắc và thông lệ trong chứng khoán
Hợp tác với Chính phủ và các cơ quan khác để giải quyết các vấn đề có tácđộng đến hoạt động kinh doanh chứng khoán
Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán
Là tổ chức nhận lưu giữ các chứng khoán và tiến hành các nghiệp vụ thanhtoán bù trừ cho các giao dịch chứng khoán Các ngân hàng thương mại, công tychứng khoán đáp ứng đủ điều keienj của Ủy ban Chứng khoán sẽ thực hiện dịch vụlưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán
Các tổ chức hỗ trợ
Là các tổ chức được thành lập với mục đích khuyến khích, mở rộng và tăngtrưởng của thị trường chứng khoán thông qua các hoạt động như: cho vay tiền đểmua cổ phiếu và cho vay chứng khoán để bán trong các giao dịch bảo chứng Các
tổ chức hỗ trợ chứng khoán ở các nước khác nhau có các đặc điểm khác nhau, một
số nước không cho phép thành lập loại hình tổ chức này
Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán
Cung cấp hệ thống máy tính và chương trình nhằm phục vụ thực hiện các lệnhgiao dịch chính xác, nhanh chóng
Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm
Trang 12Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm cung cấp dịch vụ đánh giá năng lực thanhtoán các khoản vốn gốc và lãi đúng thời hạn và tiềm lực tài chính cuat Tổ chứcphát hành theo những điều khoản đã cam kết của Tổ chức phát hành đối với mộtđợt phát hành cụ thể.
Các nhà đầu tư có thể dựa vào các hệ số tín nhiệm về Tổ chức phát hành do cáccông ty đánh giá hệ số tín nhiệm cung cấp để cân nhắc đưa ra quyết định đầu tưcủa mình
Các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm có vai trò quan trọng trong việc pháthành các chứng khoán, đặc biệt là các chứng khoán quốc tế
Câu 5: tìm hiểu các hạn chế của thị trường chứng khoán việt nam
Nhưng bên cạnh đó TTCK có nhiều mặt tiêu cực cần tránh để hạn chế thấp nhấtnhững rủi ro tạo điều kiện cho nó phát huy hết vai trò của nó
Yếu tố đầu cơ: yếu tố này làm ảnh hưởng dây truyền làm cho cổ phiếu có thểtăng giá cao giả tạo, điều này có thể dẫn đến sự khan hiếm hay thừa thãi làm cho giá cổ phiếu tăng giảm đột biến
Mua bán nội gián: Đây là hiện tượng một cá nhân nào đó lợi dụng việc làm thu được những thông tin nội bộ của một đơn vị kinh tế để mua hoặc bán cổ phiếu của đơn vị đó nhằm thu lợi cho mình, gây ảnh hưởng giá cổ phiếu trên thị trường đó
Mua bán cổ phiếu ngoài TTCK luật về TTCK cũng đã hạn chế các nhà môi giới mua bán cổ phiếu ngoài thị trường chứng khoán, vì nếu để việc này xảy ra sẽ gây hậu quả khó lường Vì bộ phận quản lý không hề nào biết được việc chuyển nhượng quyền sở hữu cổ phiếu của đơn vị đó Mọi sự mua bán ngoài có khả năng tạo áp lực cho các nhà đầu tư khác
Ví dụ 1: Các hành vi sai phạm về tài chính
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCHứNG KHOÁNNN) cho hay, trong 6
tháng đầu năm, cơ quan này đã phát hiện gần 3.000 nhà đầu tư chứng khoán sử dụng 2 tài khoản trở lên để mua bán cùng loại chứng khoán trong cùng 1 phiên giao dịch
Theo đó, trong nửa đầu năm, UBCHứNG KHOÁNNN đã ban hành 40 quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các tổ chức cá nhân, tổng số tiền phạt gần 3 tỷ đồng
Trang 13Trong số này có 13 trường hợp vi phạm các quy định về chế độ báo cáo, công
bố thông tin của công ty đại chúng, công ty niêm yết UBCHứNG KHOÁNNN
đã xử lý 17 trường hợp vi phạm về báo cáo giao dịch cổ phiếu của cổ đông nội
bộ, cổ đông lớn và xử phạt 1 nhà đầu tư có hành vi thao túng cổ phiếu
Cá nhân bị xử phạt do hành vi thao túng giá, tạo cùng cầu giả được nhắc tới ởtrên là Nguyễn Quang Hải (thao túng giá, tạo cung cầu giả với cổ phiếu BGMcủa CTCP Khai thác và Chế biến Khoáng sản Bắc Giang) bị phạt hành chính
331 triệu đồng
Ngoài ra, 5 công ty chứng khoán và 4 công ty quản lý quỹ cũng bị xử phạt, 1công ty quản lý quỹ bị đình chỉ do hoạt động không đúng quy định trong giấyphép Trong số 5 công ty chứng khoán bị xử phạt (mức xử phạt phổ biến nằmtrong khoảng 50-80 triệu đồng) thì Golden Bridge đã bị phạt tới 320 triệu đồng
do vi phạm liên quan đến việc khách hàng mua cổ phiếu không có tiền trên tàikhoản và thực hiện giao dịch bán khống
Ví dụ 2: Lũng đoạn thị trường
Công ty chứng khoán Sacombank bị khởi tố vì thao túng giá, khiến cho nhà đầu
tư thêm băn khoăn Dựa theo tài liệu do cổ đông của công ty chứng khoánSacombank (SBS) cung cấp, các cổ phiếu SBS, SCR, DLG và Toàn Thịnh Phát
bị làm giá
Cuối quý 3/2010, theo kế hoạch tự doanh của khối môi giới, ba sản phẩm đượcthử nghiệm trong ba tháng là Blochứng khoántrade, Trading desk và Tradecùng khách hàng
Theo đó, sản phẩm đầu là tìm các giao dịch có giá rẻ về bán lại cho khách hàng,thu lợi nhuận về cho công ty, cụ thể là cổ phiếu Toàn Thịnh Phát trên thị trườngOTC
Kế đó là Trading desk (mua bán chứng khoán trên sàn) nhằm tạo tính thanhkhoản và gia tăng giá trị giao dịch cho cổ phiếu SBS và SCR
Thứ ba là Trade cùng khách hàng, cùng thực hiện với khách hàng tạo tính thanhkhoản cho cổ phiếu DLG Do đó, họ phải mở thêm các tài khoản ở các công tychứng khoán khác để phối hợp thực hiện giao dịch, tạo tính thanh khoản
Trang 14Theo báo cáo kết quả tự doanh môi giới thì vào thời điểm tháng 12.2010, SBS
đã ghi nhận hơn 75,4 tỉ đồng lãi từ các hoạt động này Tuy nhiên, sau nămtháng của năm 2011, hầu hết các sản phẩm không có lãi, SBS lỗ 18,5 tỉ đồngđối với sản phẩm Trading desk, còn sản phẩm Trade cùng khách hàng lãi 5,5 tỉđồng Với thủ thuật giao dịch như vậy, các nhà đầu tư khác luôn thấy nhóm cổphiếu kể trên có thanh khoản, hoặc có một nguồn lực nào đó đang thu gom cổphiếu
Ví dụ 3: Công ty niêm yết sai
Việc Công ty cổ phần chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HSC) đăng tải một bản phân tích cổ phiếu của Tập đoàn Tân Tạo (ITA) với nhiều nội dung sai lệch khiến các cổ đông hoang mang mà Báo Quân đội nhân dân điện tử phản
ánh vừa qua đã thu hút sự chú ý của dư luận
Ngày 3-11-2008, trên Bản tin Chứng khoán (www.hsc.com.vn) của HSC cóđăng đính chính: “chúng tôi đã có sự nhầm lẫn khi viết: “ hai nhà đầu tư lớn,Richland và VNI lần lượt đăng ký bán 5 triệu cổ phiếu và 375,000 cổ phiếu đểgiảm lượng nắm giữ tại công ty này” Thực tế lẽ ra phải viết là: “hai nhà đầu tưlớn, Richluchứng khoán International Limited và VNI đã đăng ký bán lần lượt
là 711,480 và 375,000 cổ phiếu để giảm lượng nắm giữ tại công ty này Chúngtôi thành thực xin lỗi quý độc giả về sơ suất nói trên ”
Tuy nhiên, theo ghi nhận của chúng tôi, thật khó hiểu là trong khi quy định đínhchính phải đăng ở chính trang, mục đã đăng thì HSC lại đăng tải ở phần Bản tinthị trường chứ không phải ở bản Báo cáo cập nhật đã đăng hôm 7-11-2008 Vìthế, bài phân tích chứng khoán có nội dung sai lệch trên trang web của HSChiện vẫn không thay đổi, có thể tiếp tục khiến cổ đông hiểu nhầm…
Ví dụ 4: Thao túng thị trường, giao dịch nội gián gia tăng
Trong năm 2007, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCHứNG
KHOÁNNN) đã phát hiện được trường hợp giao dịch thao túng thị trường của hai nhà đầu tư Bùi Quang Thành và Huỳnh Thanh Minh Trong nhiều ngày giao dịch, hai nhà đầu tư trên đã thông đồng, câu kết với nhau liên tục vừa đặt mua, vừa đặt bán một khối lượng lớn chứng chi quỹ VFMVF1 tạo ra một lượng cung cầu giả trên thị trường UBCHứNG KHOÁNNN xác định hành vi này đã thao
Trang 15túng thị trường nhằm tạo ra mức giá ảo và đã tiến hành phạt tiền đối với hai nhàđầu tư trên.
Gần đây nhất, tháng 4/2008, Thanh tra UBCHứNG KHOÁNNN đã tiến hànhthanh kiểm tra toàn bộ các giao dịch chứng khoán trên sàn giao dịch TP HCM,sàng lọc trong số hơn 300.000 tài khoản ra 5 tài khoản có nghi vấn (có giá trịgiao dịch nhiều nhất và tần suất giao dịch lớn nhất) để kiểm tra.Qua đó, thanh
tra đã phát hiện một vụ thao túng giá chứng khoán có quy mô của nhà đầu tư Trương Đình Khởi liên quan đến giao dịch cổ phiếu của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín (Sacombank) Cụ thể, ông Trương Đình Khởi đã sử dụng tài khoản của mình đặt nhiều giao dịch bất thường như phiếu đặt lệnh không hợp
lệ, nhiều phiếu đặt lệnh bị tẩy xóa, không đủ chi tiết, có phiếu do nhân viên đặt lệnh ký thay ông Khởi
Ngoài hành vi thao túng thị trường, trong thời gian qua, các giao dịch nội gián
cũng đã bị UBCHứNG KHOÁNNN phát hiện và xử lý Điển hình là vụ nhà đầu tư Nguyễn Thị Vân Trang (cán bộ Phòng Tài chính, Công ty Cổ phần Bêtông và Xây dựng Vinaconex Xuân Mai) đã lợi dụng vị thế người được biết các thông tin nội bộ về giá và khối lượng công ty này đặt mua làm cổ phiếu quỹ trước khi thông tin này được thể hiện thành lệnh đặt mua và công khai trên thị trường để đặt bán cổ phiếu của chính mình với cùng mức giá, cùng thời gian mua vào của công ty UBCHứNG KHOÁNNN qua kiểm tra, phát hiện đã xác
định bà Vân Trang đã thực hiện giao dịch nội gián như trên từ ngày 12/5 đến9/7/2008 nhằm kiếm lời và đã xử phạt nhà đầu tư này 40 triệu đồng
Ví dụ 5: Rò rỉ thông tin:
Một nhà đầu tư chứng khoán cá nhân tại TP.HCM, tiết lộ rằng tháng 7 vừa qua
có người chào hàng với anh một thông tin hấp dẫn về Công ty cổ phần Nướcgiải khát Sài Gòn (Tribeco) với giá cả tính bằng đơn vị triệu đồng Q.N đã bỏtiền ra mua thông tin về việc một quỹ đầu tư đã mua vào một lượng lớn cổphiếu của Tribeco, và đằng sau đó là một tổ chức khác
Nó thường bắt nguồn từ những người có trách nhiệm trong các công ty niêm yết, công ty chứng khoán và cả nhân viên làm việc trên sàn chứng khoán Q.N cho biết, không ít người, đặc biệt là những người giữ trọng trách tại các công
ty niêm yết, thông qua một buổi ăn nhậu có thế tiết lộ cho những nhà đầu tư
Trang 16trên thị trường chứng khoán về kế hoạch kinh doanh trong quí, tháng và cả những vấn đề nội bộ trong doanh nghiệp chưa công bố Hoặc khi các nhân viên của các công ty chứng khoán nắm được thông tin trước các nhà đầu tư, họ có thể mua bán trước làm lợi cho cá nhân hoặc báo cho người thân quen mua dưới nhiều hình thức (vì nhân viên công ty chứng khoán không được phép mua bán ngắn hạn) Bên cạnh đó, không ít trường hợp người môi giới đã “lái” nhà đầu tư theo hướng có lợi cho mình hoặc một nhóm người nào đó bằng những thông tin không đầy đủ Lãnh đạo một công ty chứng khoán cũng thừa nhận rằng, đã có công ty chứng khoán vì mục đích lợi nhuận đã thổi phồng tình hình kinh doanh của doanh nghiệp lên để phát hành cổ phiếu giá cao.Sau đó bỏ mặc các nhà đầu tư với những thua lỗ của doanh nghiệp đã phát hành cổ phiếu.
CHƯƠNG 2
Câu 1 :Phân loại hàng hoá trên thị trường chứng khoán
Theo cách hiếu về chứng khoán như định nghĩa ở trên, hàng hoá trên thị trườngchứng khoán gồm 4 nhóm chính là cố phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư vàcác công cụ phái sinh
1 Cồ phiếu
Trang 17Cổ phiếu là loại hàng hoá thông dụng nhất trên thị trường sơ cấp cổ phiếu là mộtchứng từ do công ty cổ phần phát hành, xác nhận quyền sở hữu hợp pháp củangười nắm giữ cổ phiếu đối với tài sản của tổ chức phát hành tương ứng với phầnvốn góp.
Trong quá trình đầu tư, do nhu cầu của các nhà đầu tư vô cùng đa dạng, có nhữngnhà đầu tư ưa mạo hiểm muốn thu lợi nhuận cao cho dù có phải gánh chịu rủi rocao, có những nhà đầu tư lại muốn có thu nhập ốn định, rủi ro thấp nên cổ phiếuphát hành cũng chia ra nhiều loại khác nhau nhằm đáp ứng được các yêu cầu đó
Căn cứ vào quvền lơi của cổ đông chia ra 2 loai
a) Cổ phiếu thường ( hay còn gọi là cổ phiếu phổ thông )
Cổ phiếu thường là loại cổ phiếu thông dụng nhất của công ty cổ phần Mỗi cổphiếu thường thể hiện quyền sở hữu của cổ đông đối với tài sản của công ty Sốlượng cổ phiếu mà cố đông nắm giữ càng nhiều, quyền lợi sở hữu của anh ta đốivới tài sản của công ty càng lớn
+Đặc điểm cổ phiếu thường:
Không quy định tỉ suất lợi tức mà cố đông được hưởng Việc chia lãi cho cổ đôngthường được thực hiện theo nguyên tắc lời ăn lỗ chịu
Chỉ được chia lãi sau khi doanh nghiệp đã trả trái tức, cổ tức ưu đãi
Thời hạn của cố phiếu thường là vô hạn, nó phụ thuộc vào thời hạn hoạt động củadoanh nghiệp
+Quyền lợi của cổ đông phổ thông
-Cổ đông phổ thông được quyền chiếm hữu một phần tài sản của doanh nghiệp
theo một tỷ lệ do luật quy định
-Cổ đông có quyền bỏ phiếu biểu quyết cho các vấn đề liên quan đến toàn bộ côngty
-Cổ đông có quyền được hưởng cổ tức khi công ty làm ăn có hiệu quả
Trang 18-Cổ đông có quyền kiểm tra sổ sách của công ty.
-Cổ đông có quyền được chia số tiền do thanh lý, giải thể công ty sau khi đã thanhtoán hết cho các chủ nợ và những người được hưởng quyền ưu đãi khác
- Cổ đông có quyền được mua bán, chuyển nhượng, chuyển đổi cổ phiếu trên thịtrường
b) Cố phiếu ưu đãi
- Cổ phiếu ưu đãi cũng thế hiện quyền lợi sở hữu của cổ đông trong công ty Tuynhiên, nó được gọi là cổ phiếu ưu đãi vì những cổ đông nắm giữ loại cổ phiếu nàyđược hưởng một số ưu đãi hơn so với những cổ đông thường, chẳng hạn về cổ tứchoặc quyền biểu quyết Ngoài ra trong trường hợp công ty giải thể, phá sản thì việcthành toán giá trị cổ phiếu ưu đãi được ưu tiên trước khi thanh toán cổ phiếuthường
- Một công ty có thể phát hành một loại cổ phiếu thường nhưng có thể phát hànhnhiều cố phiếu ưu đãi Việc phát hành nhiều loại cố phiếu ưu đãi khác nhau nhằmtạo nên sức hấp dẫn và phù hợp với tâm lý của các nhà đầu tư
♦ Phân loại cổ phiếu ưu đãi
+ Cổ phiếu ưu đãi tích luỹ (Cumulative Preferred stock) Là loại cổ phiếu được
hưởng lãi cổ phần nhất định, nhưng trong trường hợp công ty chưa có khả năngthanh toán cố tức trong kỳ này thì cố tác đó sẽ được cộng dồn cho kỳ sau hoặc kỳ
kế tiếp
+ Cổ phiếu ưu đãi không tích luỹ (Non-cumulative Preferred stock): là loại cốphiếu mà doanh nghiệp có lãi đến đâu trả đến đó, phần nợ cố tức không được tíchluỹ vào năm sau
+ Cổ phiếu ưu đãi dự phần (Participating preferred stock): Là loại cổ phiếu màdoanh nghiệp cam kết ngoài cổ tức được trả hàng năm, nếu doanh nghiệp còn lãichưa chia sẽ cho phép cổ đông của cổ phiếu ưu đãi dự phần chia số tiền lãi chưachia này
Trang 19+ Cổ phiếu ưu đãi không tham gia (Non- participating preferred stock) Là loại cổphiếu mà cổ đông chỉ được hưởng cổ tức ưu đãi, ngoài ra không được hưởng thêmbất cứ phần lợi nhuận nào.
+ Cổ phiếu ưu đãi hoàn vốn (Redeemable Preferred Stock) là loại cổ phiếu màdoanh nghiệp dành cho các cổ đông ưu đãi quyền được hoàn vốn trước cổ đôngthường khi doanh nghiệp có chủ trương hoàn vốn
+ Cổ phiếu ưu đãi thu hồi (Callable Preferred stock): Là loại cổ phiếu mà doanhnghiệp có quyền thu hồi cổ phiếu hoặc trả lại vốn cho cổ đông hoặc là đổi loại cổphiếu ưu đãi khác có mức cổ tức phù hợp với lãi suất chiết khấu trên thị trường.+ Cố phiếu ưu đãi đảm bảo (Guaranteed Preferred stock): là loại cổ phiếu đượcmột người khác đứng ra cam kết bảo lãnh thanh toán nếu như doanh nghiệp pháthành không thanh toán được Người bảo lãnh này thường là Công ty bảo lãnh,Ngân hàng, công ty chứng khoán hoặc công ty bảo hiếm
Căn cứ vào viêc huy đông vốn điều lê, chia ra hai loai cổ phiếu
- Cổ phiếu sơ cấp (Primary Stock): là cổ phiếu được phát hành lúc thành lập doanh
nghiệp hoặc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, cổ phiếu sơ cấp thường là cổphiếu ghi danh cổ đông, do đó việc mua bán phải gắn liền phải gắn liền với việcđăng ký lại tên cổ đông tại doanh nghiệp phát hành và tuân theo luật lệ mua bán,trao đổi và chuyển nhượng chứng khoán, cổ đông của cổ phiếu sơ cấp được hưởngnhiều quyền do điều lệ doanh nghiệp quy định, trong đó có quyền cơ bản là thamgia quản lý doanh nghiệp thông qua quyền bỏ phiếu biểu quyết trong Đại hội cổđông
-Cổ phiếu thứ cấp (,secondary stock): là cổ phiếu được phát hành nhằm bổ sung
vốn điều lệ của doanh nghiệp Chính vì thế, cổ phiếu này được gọi là cổ phiếu bổsung vón điều lệ của doanh nghiệp Đặc điểm của cổ phiếu thứ cấp là mệnh giá rấtnhỏ, vô danh, cổ đông không tham gia quản lý doanh nghiệp (gọi là cổ đông imlặng) Việc mua bán, chuyển nhượng được thực hiện dễ dàng, không cần thủ tụcphải chuyến nhượng sang tên tại doanh nghiệp phát hành
Trang 202 Trái phiếu
Trái phiếu là một loại chứng khoán được phát hành dưới hình thức chứng chỉ vậtchất hoặc bút toán ghi số, xác nhận nghĩa vụ trả nợ (bao gồm cả gốc và lãi) của tổchức phát hành trái phiếu đối với người sở hữu trái phiếu
Đăc điếm của trái phiếu
-Mệnh giá: Là giá trị ghi trên trái phiếu mà nhà phát hành cam kết trả cho người sở
hữu trái phiếu vào ngày đáo hạn
-Ngày đáo hạn: Là ngày mà nhà phát hành thanh toán số tiền theo mệnh giá theo
mệnh giá cho chủ sở hữu trái phiếu
-Lãi suất: Mỗi trái phiếu có ghi cam kết của nhà phát hành cam kết sẽ thanh toán
cho chủ sở hữu trái phiếu một số tiền nhất định vào một ngày xác định Lãi suấtthường được công bố theo tỉ lệ phần trăm (%) so với mệnh giá của trái phiếu Mặc
dù lãi suất được qui định cho hàng năm, nhưng việc trả lãi có thể được thực hiệntheo cách thức khác nhau: Trả lãi trước, trả lãi sau, trả lãi định kỳ
-Giá mua: Là khoản tiền thực tế mà người mua bỏ ra để có được quyền sở hữu trái
phiếu Giá mua có thể là "ngang giá" ( trả bằng mệnh giá ), có thế là giá gia tăng(cao hon mệnh giá) hoặc "giá chiết khấu" (Thấp hơn mệnh giá) Tuy nhiên, dù giámua là giá nào thì tiền lãi luôn được xác định theo mệnh giá trái phiếu Và đếnngày đáo hạn, người nắm giữ trái phiếu sẽ được thanh toán theo mệnh giá tráiphiếu
Phân loai trái phiếu
Nếu xét theo hình thức phát hành, trải phiếu được chia thành hai loại là trái phiếu vô danh và trái phiếu ghi danh.
-Trái phiếu vô danh: là loại trái phiếu không ghi tên người chủ sở hữu trái phiếu
trên bề mặt trái phiếu cũng như trên sổ của người phát hành Đặc điếm của tráiphiếu vô danh là dễ dàng chuyến nhượng, bất kỳ người nào có trái phiếu trong tayđều có quyền hưởng lãi và quyền được thanh toán trái phiếu, người sở hữu trái
Trang 21phiếu có thể nắm giữ trái phiếu đến ngày đáo hạn hoặc có thể bán nó trên thịtrường chứng khoán (thứ cấp) trước ngày đáo hạn.
-Trái phiếu ghi danh: Là loại trái phiếu có ghi tên và địa chỉ của trái chủ Trên
chứng chỉ và trên sổ của người phát hành Hình thức ghi danh có thế chỉ thực hiệncho phần vốn gốc, cũng có thế là ghi danh toàn bộ, cả gốc lẫn lãi Đặc điểm củatrái phiếu ghi danh là khó chuyển nhượng, trường hợp bị mất có thể xin cấp lại
Căn cứ vào đối tượng phát hành, trải phiếu được phân thành trái phiếu công ty
và trái phiếu chỉnh phủ.
*Trái phiếu công ty: là trái phiếu được phát hành bởi các công ty nhằm huy động
vốn cho đầu tư phát triển Trái phiếu công ty là một khoản vay trong đó tổ chứcphát hành là người đi vay, còn người mua trái phiếu là chủ nợ Các công ty pháthành trái phiếu khi có nhu cầu cần huy động vốn lớn để tài trợ cho việc mở rộng,phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh mà không đủ điều kiện hoặc không muốnphát hành cổ phiêú, hoặc do chiến lược quản lý vốn của công ty
Trái phiếu công ty có thể là trái phiếu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Nhưng thôngthường, khi có nhu cầu vốn ngắn hạn với khối lượng không lớn, công ty áp dụngcác hình thức vay vốn thông qua ngân hàng thương mại, hơn là phát hành kỳ phiếu(trái phiếu ngắn hạn) Do vậy, trái phiếu do các công ty phát hành thường để vayvốn dài hạn Đặc điểm chung của trái phiếu công ty là:
Người nắm giữ trái phiếu được trải lãi định kỳ và trả gốc khi đáo hạn, song khôngđược tham dự vào các quyết định của công ty
Khi công ty giải thể hoặc thanh lý, trái phiếu được thanh toán trước các cổ phiếu.Trái phiếu thường có các điều kiện cụ thể kèm theo hoặc nhiều hình thức đảm bảocho khoản vay
Các loại trái phiếu công ty đặc trưng:
-Trái phiếu có thể thu hồi: Một số công ty quy định trong trái phiếu của họ một
điều khoản cho phép công ty mua lại trái phiếu trước khi đáo hạn Thông thường,công ty chấp nhận trả cho người có trái phiếu theo giá gia tăng (Tức là lớn hơnmệnh giá của trái phiếu) khi công ty muốn mua lại trái phiếu đó Loại trái phiếunày thường được phát hành khi công ty có nhu cầu vốn khẩn cấp, do đó phải chào
Trang 22mời một mức lãi suất cao hơn bình thường Do vậy, khi lãi suất trên thị trường hạthấp và nhu cầu về vốn không còn nữa, công ty có thể thu hồi loại trái phiếu này vàphát hành một đợt trái phiếu mới với lãi suất thấp hơn.
-Trái phiếu có thế chuyến đối: Một trái phiếu có thế chuyến đối tương tự như một
cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi Trái phiếu chuyển đổi cho phép người sở hữu
nó được quyền chuyển đổi sang một loại chứng khoán nhất định Chứng khoán này
có thế là cố phiếu ưu đãi hoặc cố phiếu thường của công ty phát hành Nhiều công
ty phát hành trái phiếu có thế chuyến đối vì điều đó làm cho trái phiếu trở nên hấpdẫn và dễ bán hơn
-Trái phiếu đảm bảo: Để tăng tính hấp dẫn của trái phiếu phát hành, cũng như
những người đi vay khác, công ty thường đưa ra các tài sản làm vật đảm bảo chocác khoản vay Người nắm giữ trái phiếu này được bảo vệ ở mức độ cao trongtrường hợp công ty bị phá sản, vì họ có quyền đòi nợ đối với một tài sản cụ thể.Khi công ty thực hiện điều này, chúng ta nói rằng công ty đó đã phát hành tráiphiếu đảm bảo
-Trái phiếu không có đảm bảo: Là loại trái phiếu tín chấp không đuợc đảm bằng tài
sản, mà được đảm bảo bằng uy tín của công ty Loại này thường được áp dụng ởcác công ty lớn, có danh tiếng, dựa vào uy tín của mình đế phát hành Neu công ty
bị phá sản, những trái chủ của trái phiếu này được giải quyết quyền lợi sau các tráichủ có bảo đảm, nhưng trước cổ đông
-Trái phiếu series: Là loại trái phiếu được phát hành một đợt nhưng mỗi seri có
ngày đáo hạn khác nhau, theo định kỳ đều đặn đến khi toàn bộ đợt phát hành đượchoàn trả
*Trái phiếu chỉnh phủ : đây là loại trái phiếu do chính phủ phát hành nhằm mục
đích cân bằng ngân sách, thực hiện các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, và được đảmbảo bằng ngân sách quốc gia; hoặc làm công cụ điều tiết tiền tệ
Trái phiếu chính phủ là loại trái phiếu an toàn nhất, hầu như không có rủi ro vìchính phủ có được nguồn đảm bảo khả năng thanh toán lớn nhất là thuế và quyềnlực phát hành Do đặc điểm an toàn và tính thanh khoản cao, lãi suất của trái phiếuchính phủ thường được xem là lãi suất chuẩn để làm căn cứ ấn định lãi suất của cáccông cụ nợ khác có cùng kỳ hạn