1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử trang phục truyền thống việt nam

89 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch sử trang phục truyền thống Việt Nam
Tác giả Đỗ Thị Quế Trân
Người hướng dẫn Th.S Nguyễn Bảo Kim
Trường học Trường Đại Học An Giang
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố An Giang
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 2,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU (11)
    • 1.1 Lí do chọn đề tài (11)
    • 1.2 Mục đích nghiên cứu (12)
    • 1.3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề (13)
    • 1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (14)
      • 1.4.1 Đối tượng nghiên cứu (14)
      • 1.4.2 Phạm vi nghiên cứu (14)
    • 1.5 Những đóng góp mới của đề tài (14)
    • 1.6 Phương pháp nghiên cứu (14)
    • 1.7 Bố cục đề tài (0)
  • CHƯƠNG 2 TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM TỪ THỜI DỰNG NƯỚC ĐẾN NĂM 1945 (16)
    • 2.1 Trang phục người Việt thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc (năm 179 TCN) (16)
    • 2.2 Trang phục người Việt thời kỳ Bắc thuộc (179 TCN – 938) (17)
    • 2.3 Trang phục người Việt thời kỳ quốc gia phong kiến độc lập (938 – 1862) (17)
      • 2.3.1 Thời Ngô – Đinh – Tiền Lê - Lý (938 - 1225) (17)
      • 2.3.2 Thời Trần (1226 - 1407) (19)
      • 2.3.3 Thời Lê sơ (1428 – 1527) (21)
      • 2.3.4 Thời Lê Trung hưng (1533 - 1789) (22)
      • 2.3.5 Triều Nguyễn (1802 - 1862) (25)
  • CHƯƠNG 3 LỊCH SỬ TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG TIÊU BIỂU CỦA VIỆT NAM- ÁO DÀI (TỪ 1774 ĐẾN NAY) (32)
    • 3.1 Nguồn gốc lịch sử của Áo dài (32)
    • 3.2 Chặng đường hình thành và phát triển của Áo dài Việt Nam qua các thời kỳ (33)
    • 3.3 Các loại áo dài tân thời (36)
      • 3.3.1 Áo dài tân thời Lemur (1934) (36)
      • 3.3.2 Áo dài Lê Phổ (37)
      • 3.3.3 Áo dài Trần Lệ Xuân (1958) (38)
      • 3.3.4 Áo dài với tay Raglan (1960) (38)
      • 3.3.5 Áo dài mini raglan (1971) (39)
      • 3.3.6 Những năm 1990, bước phát triển đa dạng của áo dài Việt Nam (39)
      • 3.3.7 Những năm 2000 đến nay (39)
      • 3.3.8 Áo dài nam (40)
    • 3.4 Áo dài kết tinh tinh hoa dân tộc, di sản phi vật thể của Việt Nam (44)
      • 3.4.1 Hình ảnh của tà áo dài Việt Nam trong đời sống tinh thần xã hội của người Việt Nam (44)
      • 3.4.2 Hình ảnh của tà áo dài Việt Nam trong Văn hóa-Nghệ thuật (44)
        • 3.4.2.1 Trong thơ văn (44)
        • 3.4.2.2 Trong âm nhạc (46)
        • 3.4.2.3 Trong hội họa (48)
        • 3.4.2.4 Trong phim ảnh (48)
        • 3.4.2.5 Trong thiết kế thời trang (48)
      • 3.4.3 Hình ảnh tà áo dài Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế (49)
    • 3.5 Thực tiễn áo dài Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại (0)
      • 3.5.1 Thực trạng áo dài Việt Nam (50)
      • 3.5.2 Các biện pháp đề xuất phát triển nét đẹp truyền thống của Áo dài Việt Nam (51)
  • CHƯƠNG 4 LỊCH SỬ TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA MỘT SỐ DÂN TỘC THIỂU SỐ TIÊU BIỂU: HOA, KHMER, H’MONG, Ê ĐÊ (54)
    • 4.1 Trang phục truyền thống của dân tộc Hoa (54)
      • 4.1.1 Vài nét về trang phục (54)
      • 4.1.2 Trang phục phụ nữ người Hoa (54)
      • 4.1.3 Trang phục nam giới (55)
    • 4.2 Trang phục truyền thống của dân tộc Kh-mer (56)
      • 4.2.1 Vài nét về trang phục (56)
      • 4.2.2 Trang phục phụ nữ Khmer (57)
      • 4.2.3 Trang phục nam giới Khmer (59)
    • 4.3 Trang phục truyền thống của dân tộc H’Mong (60)
      • 4.3.1 Vài nét về trang phục (60)
      • 4.3.2 Trang phục phụ nữ Mông (62)
      • 4.3.3 Trang phục nam giới Mông (63)
    • 4.4 Trang phục truyền thống của dân tộc Ê Đê (63)
      • 4.4.1 Vài nét về trang phục (63)
      • 4.4.2 Trang phục phụ nữ Ê Đê (65)
      • 4.4.3 Trang phục nam giới Ê Đê (65)
  • CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN (68)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (70)

Nội dung

Điểm nổi bật nhất trong trang phục thời này là sự phát triển sang một cấp độmới của hoa văn trang trí, không còn là những hình ảnh đơn giản và thô sơ, các hoavăn hình xoắn, hình móc… đượ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

GVHD: TH.S NGUYỄN BẢO KIM

AN GIANG, THÁNG 05/2022

Trang 3

CHẤP THUẬN CỦA HỘI ĐỒNG

Khóa luận tốt nghiệp “ Lịch sử trang phục truyền thống Việt Nam”, do sinh viên

Đỗ Thị Quế Trân thực hiện dưới sự hướng dẫn của Th.S Nguyễn Bảo Kim Tác giả

đã báo cáo kết quả nghiên cứu và được Hội đồng khoa học và Đào tạo thông quangày………

Trang 4

-LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, Khoa Sư phạm và Bộ môn Lịch sửtrường Đại học An Giang đã tạo điều kiện tốt nhất để em hoàn thành khóa luận tốtnghiệp

Em xin cảm ơn thầy Nguyễn Bảo Kim đã hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốtnghiệp

Em xin chân thành cảm ơn

Trang 5

LỜI CAM KẾT

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trongcông trình nghiên cứu này có xuất xứ rõ ràng Những kết luận mới về khoa học củacông trình nghiên cứu này chưa được công bố trong bất cứ công trình nào khác

An Giang, ngày 16 tháng 05 năm 2022

Người thực hiện

Đỗ Thị Quế Trân

Trang 6

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 3

1.1 Lí do chọn đề tài 3

1.2 Mục đích nghiên cứu 4

1.3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu: 6

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu: 6

1.5 Những đóng góp mới của đề tài 6

1.6 Phương pháp nghiên cứu 6

1.7 Bố cục đề tài 7

CHƯƠNG 2 TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM TỪ THỜI DỰNG NƯỚC ĐẾN NĂM 1945 8

2.1 Trang phục người Việt thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc (năm 179 TCN) 8

2.2 Trang phục người Việt thời kỳ Bắc thuộc (179 TCN – 938) 9

2.3 Trang phục người Việt thời kỳ quốc gia phong kiến độc lập (938 – 1862) 9

2.3.1 Thời Ngô – Đinh – Tiền Lê - Lý (938 - 1225) 9

2.3.2 Thời Trần (1226 - 1407) 11

2.3.3 Thời Lê sơ (1428 – 1527) 13

2.3.4 Thời Lê Trung hưng (1533 - 1789) 14

2.3.5 Triều Nguyễn (1802 - 1862) 17

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 23

CHƯƠNG 3 LỊCH SỬ TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG TIÊU BIỂU CỦA VIỆT NAM- ÁO DÀI (TỪ 1774 ĐẾN NAY) 24

3.1 Nguồn gốc lịch sử của Áo dài 24

3.2 Chặng đường hình thành và phát triển của Áo dài Việt Nam qua các thời kỳ 25

3.3 Các loại áo dài tân thời 28

3.3.1 Áo dài tân thời Lemur (1934) 28

3.3.2 Áo dài Lê Phổ 29

3.3.3 Áo dài Trần Lệ Xuân (1958) 30

3.3.4 Áo dài với tay Raglan (1960) 30

Trang 7

3.3.5 Áo dài mini raglan (1971) 31

3.3.6 Những năm 1990, bước phát triển đa dạng của áo dài Việt Nam 31

3.3.7 Những năm 2000 đến nay 31

3.3.8 Áo dài nam 32

3.4 Áo dài kết tinh tinh hoa dân tộc, di sản phi vật thể của Việt Nam 36

3.4.1 Hình ảnh của tà áo dài Việt Nam trong đời sống tinh thần xã hội của người Việt Nam 36

3.4.2 Hình ảnh của tà áo dài Việt Nam trong Văn hóa-Nghệ thuật 36

3.4.2.1 Trong thơ văn 36

3.4.2.2 Trong âm nhạc 38

3.4.2.3 Trong hội họa 40

3.4.2.4 Trong phim ảnh 40

3.4.2.5 Trong thiết kế thời trang 40

3.4.3 Hình ảnh tà áo dài Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế 41

3.5 Thực tiễn áo dài Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại 42

3.5.1 Thực trạng áo dài Việt Nam 42

3.5.2 Các biện pháp đề xuất phát triển nét đẹp truyền thống của Áo dài Việt Nam 43

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 45

CHƯƠNG 4 LỊCH SỬ TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA MỘT SỐ DÂN TỘC THIỂU SỐ TIÊU BIỂU: HOA, KHMER, H’MONG, Ê ĐÊ 46

4.1 Trang phục truyền thống của dân tộc Hoa 46

4.1.1 Vài nét về trang phục 46

4.1.2 Trang phục phụ nữ người Hoa 46

4.1.3 Trang phục nam giới 47

4.2 Trang phục truyền thống của dân tộc Kh-mer 48

4.2.1 Vài nét về trang phục 48

4.2.2 Trang phục phụ nữ Khmer 49

4.2.3 Trang phục nam giới Khmer 51

4.3 Trang phục truyền thống của dân tộc H’Mong 52

4.3.1 Vài nét về trang phục 52

Trang 8

4.3.2 Trang phục phụ nữ Mông 54

4.3.3 Trang phục nam giới Mông 55

4.4 Trang phục truyền thống của dân tộc Ê Đê 55

4.4.1 Vài nét về trang phục 55

4.4.2 Trang phục phụ nữ Ê Đê 57

4.4.3 Trang phục nam giới Ê Đê 57

TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 59

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 65

Trang 9

Hình 6 Người dân Việt cắt tóc ngắn, đi chân đất, khiêng võng

chở Phật hoàng Trần Nhân Tông

Hình 7 Trang phục Việt Nam qua ở triều đại nhà Lê trở nên

Hình 12 Nam Phương hoàng hậu trong trang phục Tây âu và

Việt phục

Hình 15 Cấu tạo áo ngũ thân lập lĩnh truyền thốngHình 16 Nón ba tầm cổ có quai thao được phục chế (ảnh trái)

và nón ba tầm với hình vẽ có chú thích trong sáchTechnique du peuple Annamite, Henri Oger, năm

1909

Trang 10

Hình 19 Áo dài Lêmur

Hình 20 Ao dài Lê Phổ cổ cao được xem là mẫu nguyên gốc

của thiết kế áo dài Việt hiện nayHình 21 Chiếc áo dài cổ thuyền nổi tiếng của bà Trần Lệ Xuân

Hình 23 Bảo tàng áo dài-Nơi lưu giữ nét duyên tà áoHình 24 Áo dài may từ vải Lãnh Mỹ A trong bộ sưu tập áo dài

của nhà thiết kế Võ Việt ChungHình 25 Áo dài được sử dụng phổ biến trong trường học.Hình 26 Bức tranh thiếu nữ bên hoa huệ kiệt tác nghệ thuật của

họa sĩ Tô Ngọc Vân

Hình 28 Festival Áo dài Hà Nội (năm 2016) với chủ đề “Tinh

hoa Áo dài Việt NamHình 29 Hoa hậu Mai Phương Thúy trong trang phục áo dài

đoạt giải trang phục dân tộc đẹp nhất trong cuộc thi

Hoa hậu thế giới 2016

Hình 30 Áo dài cách tân mặc với váy ngắn và quần ôm, vạt áo

ngang gối

Hình 32 Chiếc Xăm-pốt truyền thống của người KhmerHình 33 Trang phục truyền thống của nam và nữ người

H’môngHình 34 Trang phục truyền thống của người Ê Đê

Trang 11

mà đã có những trang phục kín đáo tạo nên nét đẹp riêng cho mình Ông cha ta cócâu: “Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân” Cho thấy trang phục đóng vai trò quan trọngtrong đời sống con người từ ngàn xưa.

Trải dài trên mảnh đất Việt Nam hình chữ S là 54 dân tộc anh em, trong đó dântộc Kinh có số dân đông nhất và là một trong những tộc người có gốc tích lâu đời.Mỗi dân tộc đều có cách thức, kiểu dáng, chất liệu trang phục riêng Trong từng hệthống trang phục ấy lại bao gồm nhiều loại: quần, áo, váy, mũ, khăn, nón, giày, dép,guốc… thậm chí cả đồ trang sức Trang phục ngày thường lại khác với ngày tết, ngàyhội, trang phục cưới khác tang phục, lễ phục khác thường phục…đã tạo nền một đấtnước đa dân tộc đa bản sắc, đầy tính năng qua từng thời kỳ của lịch sử Việt Nam từtrước đến nay

Thông qua cái nhìn lịch đại kết hợp với đồng đại, ta thấy trang phục người Việt,

từ dạng kiểu đơn sơ, giản dị, như tâm hồn người Việt cổ và tiếp tục phát triển, hàihòa với môi trường khắc nghiệt của thiên nhiên nhiệt đới Trang phục người Việt làmột trong những gì thân thiết nhất đối với con người Việt Nam Sự gắn bó có tâmhồn này chính là điều xuất phát từ những trái tim yêu thương quê hương đất nước,yêu văn hóa bản sắc dân tộc

Trang phục là một nhu cầu vật chất quan trọng trong đời sống của nhân dân ta.Với tính chất thực dụng, nó là một sản phẩm; dưới góc độ thẩm mỹ, nó lại là một tácphẩm nghệ thuật Chức năng cơ bản trước nhất của nó là bảo vệ con người Về mặtnày, trang phục dân tộc Việt đã đạt được hiệu quả cao Trang phục không chỉ đơnthuần là quần áo mặc mà nó còn thể hiện cá tính của người mặc: dịu dàng, nhẹ nhànghay sự phá cách, mạnh mẽ Trang phục khi đứng bên cạnh văn hóa truyền thống thìđược nâng lên một tầm cao mới Trang phục truyền thống ở đây có thể hiểu một cáchkhái quát là trang phục để mặc nhưng chứa đựng bên trong đó là tinh thần dân tộc,linh hồn đất nước, cùng bao nét đẹp tâm hồn của người dân đất nước đó

Văn hóa trang phục truyền thống Việt Nam bị lu mờ khi nền văn hóa Tây phương

do người Pháp đưa vào được áp đặt triệt để lên xã hội Việt Nam Tiếp theo đó là sựđổi thay của lịch sử và ý thức hệ Những biến động xã hội ấy khiến cho ngày nay

Trang 12

không ai còn biết ông bà ta ngày xưa ăn mặc, sinh sống như thế nào Và khi cần táihiện lối ăn mặc của người Việt trong quá khứ, người ta “sáng tác” một cách tùy tiện.Gần đây ở nước ta, trên sân khấu, điện ảnh… vẫn thấy xuất hiện nhiều hình tượngnhân vật từ hàng nghìn năm trước (như Bà Trưng, Bà Triệu), nhưng cách ăn mặc lạirất “hiện đại” Hoặc có những điệu múa dân gian khi trình diễn lại mang trang phụcquá xa lạ với thẩm mỹ trang phục truyền thống, làm giảm không ít hiệu quả nghệthuật Do đó, đối với các ngành văn học nghệ thuật (đặc biệt là mỹ thuật sân khấu,điện ảnh hoặc hội họa, điêu khắc, múa…) được cung cấp những tư liệu về trang phụcViệt Nam từ xưa đến nay là điều cần thiết Ngoài ra, tư liệu về trang phục Việt Namcòn giúp ích phần nào cho việc nghiên cứu các môn khoa học xã hội khác…

Phim ảnh là phương tiện truyền bá văn hóa cho giới trẻ hữu hiệu và trực tiếp,nhưng hiện nay nhiều bộ phim hay vở kịch tái hiện lịch sử lại có phục trang truyềnthống khác nhau Rồi gần đây khi sự giao lưu văn hóa trở nên dễ dàng thì trang phụctruyền thống Việt Nam trong phim ảnh và trên sân khấu lại mang đậm dấu ấn củaphim ảnh Trung Quốc Đây là đợt hủy diệt nguy hiểm hơn hết cho kiến thức về lịch

sử văn hóa áo mũ truyền thống của giới trẻ Việt Nam

Ngày nay, trong thời đạii toàn cầu hóa, Việt Nam đang du nhập những nét vănhóa của các nước trên thế giới từ nhiều phương diện, trong đó văn hóa mặc đang bịảnh hưởng nhiều nhất đến thế hệ trẻ Việt Nam Điều này khiến chúng ta cần tìm lạinhững nét đẹp truyền thống trong trang phục cổ truyền Việt Nam để cùng giữ gìn vàtôn vinh

Nhận thấy trang phục truyền thống Việt Nam mang trong mình nhiều giá trịthiết thực cho kinh tế, văn hóa xã hội của đất nước nói chung và phục vụ cho cáchoạt động học tập, văn hóa du lịch nói riêng Việc nghiên cứu về lịch sử trang phụctruyền thống Việt Nam là điều cấp thiết, đây cũng là lí do để em thực hiện công trìnhnghiên cứu khoa học với tên đề tài“Lịch sử trang phục truyền thống Việt Nam”

để làm khóa luận tốt nghiệp

Với mong muốn bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹpcủa dân tộc, đồng thời khai thác và sử dụng có hiệu quả và lâu dài những giá trị đó,đưa hình ảnh con người Việt Nam ra gần hơn với thế giới

Trang 13

Góp phần xây dựng tài liệu cho học tập và giảng dạy.

1.3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Thời trang Việt, đặc biệt là trang phục và phục sức của cha ông qua hơn 4000 nămvăn hiến vẫn là một đề tài còn nhiều bỏ ngõ, bởi đến nay có rất ít công trình nghiêncứu chuyên sâu về chủ đề này Ở nước ta, trước nay khi muốn tìm hiểu văn hóa cổcủa dân tộc, nhất là về cách ăn mặc, người ta không biết phải trông vào đâu Các sách

cổ như Lịch triều hiến chương hay các sách Khâm định, Hội điển đôi khi có nhắc đếnmột vài kiểu y phục, mũ mão, nhưng cũng chỉ sơ lược, và thường không có hình ảnhdẫn chứng Tuy nhiên, tham khảo những nghiên cứu sơ lược của các nhà sử học, cóthể khẳng định trang phục Việt từ thời khai hoang mở nước cho đến cuối triềuNguyễn luôn kế thừa và biến đổi theo biến động lịch sử Nếu trang phục của tầng lớpquý tộc mang nhiều đường nét, hơi hướng của giai cấp phong kiến Trung Hoa, thìtrang phục của người dân lao động lại thể hiện nét thẩm mỹ độc đáo, là tinh hoa vănhóa dân tộc qua hàng ngàn năm hình thành và phát triển đất nước Một số công trìnhtiêu biểu trong nước nghiên cứu về lịch sử các trang phục truyền thống Việt Namnhư:

Sách “ngàn năm áo mũ” do tác giả Trần Quang Đức làm chủ biên Đây là mộttrong những tác phẩm văn hóa, lịch sử trang phục được nghiên cứu sâu và được biênsoạn kỹ nhất ở Việt Nam, nếu không nói là quốc tế, cho đến nay Tác giả với vốnliếng ngoại ngữ và cổ văn rất cao đã bỏ ra nhiều năm lăn lộn, tìm tòi ở các thư việncũng như dân gian ở Việt Nam và các nước, nhất là Trung Quốc, để có được nhữngtài liệu quý giá và chính xác đúc kết nên tác phẩm này

Sách “trang phục truyền thống của các dân tộc Việt Nam” của nhóm tác giả ĐặngTrường- Hoài Thu Cuốn sách là sự tuyển chọn giới thiệu trang phục của 46 tộcngười trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, bởi chúng mang những yếu tố đặctrưng và bản sắc riêng độc đáo nên không bị lẫn với trang phục của các tộc ngườikhác.Trang phục truyền thống của mỗi dân tộc (tộc người) ở Việt Nam đều có nhữngnét đặc trưng riêng do hoàn cảnh, điều kiện sống lâu đời quy định Tuy nhiên, nhữngtrang phục của các nhóm tộc người này lại có nhiều điểm chung, thể hiện ở chỗ,trang phục truyền thống của họ mang tính thực tiễn cao, chú ý tới giá trị sử dụng saocho thích hợp với môi trường, với điều kiện tự nhiên, gắn với kỹ thuật thủ côngtruyền thống, sự cần cù, óc sáng tạo, sự khéo léo và trong quá trình phát triền, chúngkhông tồn tại hiệt lập mà tiếp xúc, đan xen với nhau, tiếp thu những nét tinh túynhưng vẫn bảo lưu truyền thống

Bùi Thị Duyên Hải tác giả của bài báo Áo dài của Việt - Quá quá trình biến đổi.Bài viết chủ yếu đề cập đến quá trình biến đổi của chiếc áo dài nữ giới qua thời gian.Đồng thời, cũng nêu một số yếu tố tác động đến sự biến đổi của áo dài trong lịch sửnhư văn hóa, kinh tế, chính trị, lịch sử

Trang 14

Sách trang phục Việt Nam của tác giả Đoàn Thị Tỉnh cũng đã nêu một cách chitiết một số vấn đề về trang phục dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay Cuốn sách thểhiện sự công phu sưu tập tư liệu, đặc biệt là tư liệu hình ảnh, khả năng mô tả và phântích hệ thống khá thuyết phục của tác giả Đoàn Thị Tình.

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Nghiên cứu sơ nét về trang phục truyền thống của người Việt qua các thời kỳlịch sử Việt Nam

Nghiên cứu về trang phục truyền thống tiêu biểu của người Việt-áo dài và trangphục truyền thống của một số dân tộc ít người: Hoa, Khmer, H’mong, Ê Đê

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Thời gian: từ thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc (từ khi dựng nước) đến ngày nay Không gian: trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay.

1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI:

Phát hiện ra những điểm mới tương đồng, ảnh hưởng lẫn nhau trong văn hóacủa các trang phục truyền thống ở Việt Nam và nét riêng, độc đáo của các trang phục.Nêu lên những điểm mới trong cách tân về màu sắc, họa tiết, kiểu dáng đồngthời nêu lên vẻ đẹp vốn quý của trang phục mỗi dân tộc, dù có đổi thay ít nhiềunhưng vẫn giữ được vẻ đẹp truyền thống của nó

1.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Phương pháp lịch sử: thông qua những tài liệu đã được thu thập của nhữngnghiên cứu trước đó có liên quan đến đề tài và nâng cao theo nội dung của đề tài đểđáp ứng đúng yêu cầu nghiên cứu

Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: thông qua hệ thống sách có liên quanđến đề tài và những tài liệu được tập hợp từ những nguồn cho phép, từ đó tổng kết vàxây dựng những vốn tư liệu cơ bản để tạo dựng nội dung

Phương pháp liên ngành: được vận dụng, nhằm phối họp kiến thức giữa cácngành có liên quan như văn hoá, tôn giáo để tìm hiểu các giá trị của các trang phụcđược đề cập đến

Phương pháp so sánh, tổng hợp: ở phương pháp này các trang phục được sosánh về điểm tương đồng và khác biệt Để từ đó làm nổi bật giá trị và vẻ đẹp của cáctrang phục và khả năng khai thác sử dụng vẻ đẹp đó vào các hoạt động văn hóa dulịch,

Trang 15

Phương pháp không thể thiếu khi thực hiện đề tài này là phương pháp điền dã.Tác giả đã trực tiếp khảo cứu tại bảo tàng An Giang về các trang phục dân tộc tại đây.

Trang 16

CHƯƠNG 2 TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM TỪ THỜI DỰNG

Những hoa văn trên mặt trống đồng hay hình khắc trên cán dao bằng đồng có từthời kỳ Văn Lang-Âu Lạc cho thấy phục trang Việt đã được định hình rất rõ nét Đâycũng chính là căn nguyên cho bản sắc văn hóa thể hiện trong y phục truyền thống củangười Việt Nam hiện nay Theo đó, cả trang phục nữ giới và nam giới đều đã đượcphân biệt rõ rệt, trong đó trang phục dành cho phái nữ phong phú và mang giá trịnghệ thuật hơn cả

Phụ nữ thời Văn Lang-Âu Lạc còn mặc áo chui đầu vạt trái, búi tóc, đi chân trần

Ở phía dưới bụng thì ngày xưa đàn ông đóng khố, đàn bà mặc váy

Phụ nữ thời Hùng Vương thường mặc áo ngắn đến bụng, xẻ ngực, bó sát vàongười, phía trong mặc yếm kín ngực có cổ tròn sát cổ, trang trí thêm hình những tấmhạt gạo (Hình 1, Phụ lục) Cũng có những loại áo cánh ngắn, cổ vuông, để hở mộtphần vai và ngực hoặc kín ngực, hở một phần vai và trên lưng Hai loại sau có thể làloại mặc chui đầu hay cài khuy bên trái Trên áo đều có hoa văn trang trí Thắt lưng

có ba hàng chấm trang trí cách đều nhau quấn ngang bụng

Trang phục phổ biến của đàn ông thời kỳ này là chiếc khố Khố là mảnh vải hẹp

mà dài Người mặc quấn quanh bụng vài vòng rồi chèn từ phía trước bẹn ra sau càichặt lại (Hình 2, Phụ lục) Tích Chử Đồng Tử từ thời Hùng Vương đã nhắc tới việctrang phục dùng khố Tuy nhiên, khẳng định này vẫn còn tranh cãi Theo tích nàynhân vật chính là chàng trai nghèo tên là Chữ Đồng Tử và công chúa Tiên Dung.Tích kể rằng: Thời Hùng Vương thứ ba có một người con gái nhan sắc như tiên, đặttên là Tiên Dung Tiên Dung rất đẹp, song tự nguyện không lấy chồng, chỉ ham thíchphong cảnh, thường đi du lịch khắp nơi trong nước Được vua cha nuông chiều, mỗinăm vào độ mùa xuân Tiên Dung ngồi thuyền du ngoạn, có khi ra tận ngoài biển, lắmlúc mê cảnh đẹp quên về

Thuở ấy, ở làng Chử Xá (thuộc tỉnh Hưng Yên ngày nay) có người tên là Chử

Cù Vân và con trai tên là Chử Đồng Tử Hai cha con thương mến nhau rất thắm thiết.Nhà họ Chử vốn nghèo lại càng thêm sa sút sau một trận cháy, trong nhà chỉ còn mỗi

Trang 17

một chiếc khố Hai cha con phải thay phiên nhau mà mặc mỗi khi ra ngoài Khingười cha bị bệnh nặng sắp mất, dặn con giữ khố lại, còn cứ chôn mình xác trần.Chử Đồng Tử không nỡ để cha chết trần truồng, dùng chiếc khố độc nhất liệm cha

mà đem chôn Từ đó Chử Đồng Tử không có gì che thân, đợi đến đêm mới đi ra câu

cá, ban ngày thì dầm nửa người dưới nước, đến gần thuyền để bán cá hoặc xinăn…(Phạm Việt, 2017, tr.1)

2.2 TRANG PHỤC NGƯỜI VIỆT THỜI KỲ BẮC THUỘC (179 TCN - 938)

Kể từ thời tự chủ thế kỷ thứ 10 trở đi thì áo người Việt đại thể có ba loại căn cứtheo cách cắt cổ áo Áo giao lĩnh - tràng Vạt: phía trước cổ là vạt bên trái buộc chéosang nách áo bên phải.(Hình 3, Phụ lục) Áo Giao Lĩnh xuất hiện rất sớm ở Việt Nam,

có lẽ vào khoảng thời kì Bắc thuộc lần thứ nhất trong thời Đông Hán, sau khi MãViện đánh bại khởi nghĩa Hai Bà Trưng Sách An Nam chí lược của Lê Tắc đời Trần

có chép về chi tiết nhỏ này trong ghi chép Uy Vũ miếu, chuyện của hai vị Phục Ba ởLĩnh Nam (tức chỉ Việt Nam), ghi rằng: "Nhà Hán có hai ông Phục Ba đối với dânLĩnh Nam đều có công đức Ông Phục Ba trước là Bì Li Lộ Hầu, ông Phục Ba sau làTân Tức Mã Hầu [ ] nếu không phải Tân Tức (hầu) chịu khó đánh dẹp thì dân chínquận vẫn khoác áo bên trái đến bây giờ" Trải qua nhiều thế kỉ biến động, đến tậnthời kì nhà Nguyễn, loại áo Giao Lĩnh vẫn tồn tại với vị trí độc tôn với vai trò là dạngthức của các áo lễ phục cao quý, dù áo Ngũ Thân cổ đứng đang chiếm thế thượngphong Có thể nói, loại áo này mới chính là "áo cổ truyền" chuẩn theo ý nghĩa đốivới người Việt (Vietnam Centre, 2020, tr.10)

1 Áo trực lĩnh: áo cổ thẳng nói chung, bao gồm cả tràng vạt; bổ long

2 Áo viên lĩnh, hay bàn lĩnh: cổ áo cắt tròn ép sát vòng cổ, cài bên phải.Đàn bà còn dùng yếm một mảnh vải vuông che phần ngực, một góc cắt lẹm đirồi đính hai dải vải buộc vào sau gáy Hai góc trái và phải cũng đính hai dải vải, gọi

là dải yếm, dài đủ để quành ra sau lưng rồi buộc lại ở trước ngực Khi ở nhà làm lụng,người đàn bà có khi chỉ mặc yếm Khi ra ngoài giao tiếp mới mặc thêm áo

2.3 TRANG PHỤC NGƯỜI VIỆT THỜI KỲ QUỐC GIA PHONG KIẾN ĐỘC LẬP (938 - 1925)

2.3.1 Thời Ngô – Đinh – Tiền Lê - Lý (938 - 1225)

Thời Ngô - Đinh - Tiền Lê trang phục trang phục của người Việt vẫn như thờitrước, chưa có gì thay đổi Đến thời Lý trang phục Việt Nam có sự thay đổi lớn

Là một trong những giai đoạn cực thịnh của triều đại phong kiến, vua thời Lý

đã ban hành những quy định về phục trang để phân biệt giữa các tầng lớp nhân dân

và quan lại Nhà vua còn thể hiện tinh thần tự lập tự cường của dân tộc qua việckhông dùng gấm vóc của triều Tống để may lễ phục mà sử dụng các chất liệu vảitrong nước

Trang 18

Điểm nổi bật nhất trong trang phục thời này là sự phát triển sang một cấp độmới của hoa văn trang trí, không còn là những hình ảnh đơn giản và thô sơ, các hoavăn hình xoắn, hình móc… được thêu tinh xảo trên trang phục, thể hiện sự giao hòađầy ý nghĩa giữa thiên nhiên và cuộc sống con người.

Đến thời Lý, Trần, người Việt Nam thường mặc áo giao lĩnh, áo viên lĩnh, bêndưới mặc váy quây màu đen (gọi là thường) hoặc mặc quần hay khố Nam thì đội mũchữ đinh (hay còn gọi là mũ đinh tự) dạng như con ốc

Trở lại thời điểm cách nay 1000 năm, quốc thổ Đại Việt nói chung, kinh thànhThăng Long nói riêng là nơi cư trú của nhiều tộc người, cùng cơ man nô lệ, tù binhnước ngoài Ngay từ năm 862, An Nam Kinh lược sứ Phàn Xước ghi nhận: “Bộ lạcMang man […] ở nhà lầu, không có thành quách, sơn răng, đều mặc quần vải xanh,dùng cật mây quấn quanh eo, vải sơn đỏ quấn búi tóc, buông phần thừa ra phía saulàm trang sức Đàn bà khoác áo sa la ngũ sắc Chim công làm tổ trên cây nhà họ Voi

to như con trâu Tục người thổ nuôi voi để cày ruộng, đốt cả phân của nó […] Ngày

21 tháng 12 năm Hàm Thông thứ 3 (tức 862), cũng có tộc Mang man này quần tụ ở

bờ sông Tô Lịch An Nam đến hai ba nghìn đội Phong khí hồn hậu chất phác, tập tụcmường mán đan xen ở đất kinh kỳ, đến cuối thời Hồ vẫn được Nguyễn Phi Khanhghi lại bằng câu thơ: “Tràng An từ xưa đã là đất đế vương […] Phong tục lẫn với DiLào, nhân dân như thời thái cổ.”( Nguyễn Huệ Chi, 1978, Tr.447) Cao Hùng Trưng,tác giả An Nam chí nguyên cũng ghi nhận: “Những nơi thành quách trọng yếu tấpnập ở gần đáng để chiêm ngưỡng, phần lớn phỏng theo kiểu cách Trung Hoa Nhữngnơi biên phương làng xã thôn xóm ở xa vẫn noi theo thói cũ, chưa thay đổi hếtđược.”( Mai Viên Đoàn Triển, 2008, tr,99) Như vậy, trang phục trong dân gianđương thời hẳn rất đa dạng Tuy nhiên, xét riêng diện trang phục người Việt sốngtrong đô thành, Chu Khứ Phi cho biết: “Người nước ấy áo thâm, răng đen, búi tócchuy kế, đi đất, sang hèn đều như vậy Vua ngày thường cũng vậy, song cài trâmvàng, trên mặc áo Sam vàng, dưới mặc thường tía Những người còn lại, ngàythường trên thì vận áo Sam đen cổ tròn bó sát, bốn vạt như áo Bối Tử, gọi là áo TứĐiên; dưới thì vận thường đen (Hình 4, Phụ lục) Hoặc có kẻ cài trâm sắt, có kẻ đidép da, tay cầm quạt lông hạc, đầu đội nón hình ốc […] Đàn bà trắng trẻo, khác hẳnđàn ông Thường đen là phục sức quây bên ngoài của đàn ông ” ( Chu Khứ Phi,

1999, Tr.59-60) Mã Đoan Lâm tham khảo ghi chép của Chu Khứ Phi, đồng thời chúthích: “Những người còn lại đều mặc áo cổ tròn bốn vạt, áo Sam đen không thắt lưng,dưới áo Sam thắt thường đen, cài trâm bạc hoặc sắt, đi dép da, cầm quạt lông hạc, độinón ốc Dép da, dùng da làm đế, gia thêm trụ nhỏ, lấy ngón chân kẹp lại mà đi Quạt,tết từ lông chim hạc, để tránh rắn Nón ốc, đan từ lạt trúc, hình dạng như con ốc,trông tinh xảo nhất Phụ nữ nhiều người trắng trẻo, khác hẳn đàn ông, thích mặc áotrực lĩnh màu lục thụng tay, đều thắt bằng thường đen.” (Mã Đoan Lâm, 1986, tr.44).Như vậy, cách ăn mặc ngày thường của đàn ông thời Lý gồm hai chiếc áo cổ trònmặc lồng ghép Chiếc áo ngoài cùng xẻ bốn vạt, dưới lớp áo này được quây một dạngxiêm màu đen, còn được gọi là thường, bên trong cùng là chiếc quần lụa trắng, tương

Trang 19

tự lối ăn mặc của quan dân thời Trần theo lời mô tả của Lê Tắc Chu Khứ Phi cònnhận xét, những người Việt “đi giày tất dạo chơi phố phường trông không khácngười nước ta (tức người Tống) ”(Chu Khứ Phi, 1999, tr121) Triệu Nhữ Thích, tácgiả Chư Phiên chí (năm 1225) cũng có lời bình tương tự về người Đại Việt rằngtrang phục và ẩm thực khá giống Trung Quốc, song khác biệt là nam nữ đều đi chânđất (Triệu Nhữ Thích, 1996, tr258) Ngoài ra, việc thường xuyên mang theo quạt cóthể coi là một trong những đặc điểm nổi bật của người Việt trải từ thời Lý đến thờiNguyễn Như năm 1621, Cristophoro Borri cũng miêu tả người Việt Đàng Trong:

“Cả đàn ông đàn bà đều ưa cầm quạt rất giống như ở châu Âu Họ cầm là cầm lấy lệthôi.”(Phan Khoang, 2001, Tr.56) Đối với trang phục của nữ giới, qua miêu tả của

Mã Đoan Lâm, phụ nữ Đại Việt đều thích mặc áo trực lĩnh màu lục, thụng tay, đều

thắt bằng váy đen Khái niệm áo trực lĩnh thường được hiểu là áo giao lĩnh, sở dĩ gọitrực lĩnh (cổ thẳng) chủ yếu nhằm phân biệt với loại áo viên lĩnh (cổ tròn) Thíchdanh định nghĩa: “Trực lĩnh, cổ áo chếch thẳng xuống, giao nhau ở phía dưới” Vàothời Lê, loại áo trực lĩnh hết sức phổ biến, áp dụng cho cả đàn ông và đàn bà Năm

1744, nhà Lê sau khi đặt nha môn Trấn phủ ở Thuận Hóa liền xuống chỉ dụ buộcngười xứ Đàng Trong phải thay đổi y phục, quay về tục lệ của miền Bắc; tờ dụ nàyviết: “Y phục bản quốc vốn có chế độ […] Những loại quần áo kiểu người Kháchthường mặc mà nay vẫn thấy nên đổi theo thể chế của nước nhà (chỉ tục nhà Lê,miền Bắc) […] Đàn ông đàn bà dùng áo trực lĩnh ngắn tay (tay áo chấm đến cổ tay),ống tay rộng hẹp cho được tùy tiện.”( Lê Quý Đôn, 1776, tr 56) Có điều, sau khi nhàNguyễn thống nhất đất nước, một trong những lệnh cấm y phục thời Minh Mạngcũng bao gồm điều cấm áo giao lĩnh đối với phụ nữ Ngoài ra, chúng tôi tán đồng ýkiến của TS Đoàn Thị Tình khi cho rằng dạng áo dài Tứ thân của phụ nữ Việt cónhiều nét tương đồng với áo Bối tử của phụ nữ nhà Tống (Đoàn Thị Tình, 2010Tr.55), đồng thời cho rằng dạng áo Tứ thân (Hình 5, Phụ lục) đã được lưu hành vàphổ biến vào thời kỳ này Xét về kiểu dáng, áo Bối Tử và áo tứ thân đều là loại áo xẻ

tà hai bên sườn, có hai vạt kiểu đối khâm, cổ áo có viền chạy thẳng xuống dưới, dàiquá gối Áo Bối tử thịnh hành vào thời Tống, trên từ hoàng hậu phi tần, dưới tới ca

kỹ, tỳ thiếp trong các buổi lễ tiếp, yến hội đều mặc Loại áo Tứ thân thời Nguyễnthường thấy là loại áo hẹp tay, tuy nhiên từ thời Lê trở về trước, ống tay áo rộng hẹpđều được tùy nghi sử dụng Bên cạnh đó, qua các hình vẽ người Giao Chỉ trongBoxer Codex (niên đại 1590), có thể thấy trang phục váy, yếm kết hợp với chiếc áocộc tương tự như trang phục phụ nữ Mường thời nay cũng là dạng trang phục phổbiến của phụ nữ Việt thời Lê, thậm chí có thể truy tới thời Lý Trần

2.3.2 Thời Trần (1226 - 1407)

Năm 1225, Trần Thủ Độ ép nhà Lý chuyển giao quyền làm chủ xã tắc sang tay

họ Trần thông qua cuộc hôn phối giữa Lý Chiêu Hoàng và Trần Cảnh Hơn 50 nămsau ở phương Bắc, triều đình nhà Tống bị quân Nguyên Mông tiêu diệt, để quyềnlàm chủ Trung Hoa rơi vào tay tộc người được coi là ngoại di Ngay từ khi thành lập,với dục vọng bành trướng lãnh thổ, đế quốc Nguyên Mông đã lăm le bờ cõi của các

Trang 20

nước lân bang, nhiều lần sử dụng thủ đoạn với triều đình Đại Việt Song điều này chỉkhiến chính sách ngoại giao của nhà Trần đối với nhà Nguyên thêm cứng rắn vànhiều khi tỏ ra bất hợp tác.

Điểm nổi bật nhất trong triều đại nhà Trần chính là 3 lần đánh bại giặc xâmlược Nguyên – Mông Do liên tiếp phải đối đầu với những kẻ thù hùng mạnh, nêntâm lý sẵn sàng “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” luôn thường trực trong cuộc sốngquân dân thời Trần, ảnh hưởng đến cả phục sức và quan niệm thẩm mỹ của cả dântộc

Bên cạnh tập tục xăm lên mình hai chữ “Sát thát” đã trở thành huyền thoại,người dân Đại Việt còn xăm lên bụng những chữ “Nghĩa dĩ quyên khu, hình vu báoquốc” vừa thể hiện tinh thần báo đền ơn nước, vừa thể hiện quan điểm thẩm mỹ lúcbấy giờ Với phụ nữ, trang phục thường là áo tứ thân, đàn ông thường để mình trầnhoặc mặc áo tứ thân, quần mỏng bằng lụa thâm, màu sắc của hai giới cũng rất giản dị,thường là màu đen Tục nhuộm răng đen bắt đầu phổ biến

Thực tế luôn phải đối đầu với giặc ngoại xâm đã không cho phép sự cầu kỳtrên phương diện thời trang, thế nên dễ hiểu vì sao giai đoạn này, trang sức và trangphục đều cực kỳ đơn giản, phụ nữ không trang điểm diêm dúa, vua quan ăn mặc giảndị… Đáng quý nhất là tinh thần độc lập tự chủ thể hiện trong việc nhà Trần khôngquy định màu sắc trang phục theo quan điểm Khổng giáo coi trọng chính sắc, mà vẫndùng các màu gián sắc như màu tía, màu hồng, biếc, lục… để may mặc cho quan cáccấp

Trang phục dân tộc của phụ nữ được chia làm 2 giai đoạn Từ thế kỷ 13-15 đặctrưng với áo có phần ống tay rộng, phần áo choàng có cổ áo khoét sâu rộng, bêntrong mặc một chiếc yếm quây Đến thế kỷ 15-16, thời kỳ cuối nhà Trần, đầu nhà Lê,phần cổ áo đã được may kín đáo hơn với phần cổ tròn, ống tay gọn gàng hơn Tuynhiên, màu sắc lại có phần cầu kỳ và bắt mắt hơn

Kết hợp giữa ghi chép của Toàn thư, văn bia Lý Trần và An Nam chí lược, có thểnhận định sơ bộ rằng: trang phục của nhà Trần kế thừa một phần chế độ y phục củanhà Lý với áo Sam cổ tròn bốn vạt, thường màu đen, quần lụa trắng An Nam chílược cho biết: “Vương hầu và thứ dân thường mặc áo cổ tròn, thường màu đen huyền,quần bằng là trắng, hài chuộng loại bằng da” Sứ thần nhà Nguyên Trần CươngTrung cũng miêu tả: “Người trong nước đều mặc màu đen, áo đen bốn vạt, cổ trònlàm bằng là Phụ nữ cũng mặc áo đen, song áo trắng bên trong lộ rõ ra ngoài, ôm lấy

cổ, rộng bốn tấc là khác biệt Các màu xanh, đỏ, vàng, tía tuyệt nhiên không có.”(Thanh Trân Diễn, 1987, Tr.178) Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa rằng toàn

bộ người Đại Việt, ai nấy đều mặc cùng một kiểu áo Ngoài loại áo cổ tròn, chắcchắn vẫn còn có các loại áo tứ thân, giao lĩnh mà qua bức tranh Trúc Lâm đại sĩ xuấtsơn đồ chúng ta vẫn bắt gặp Riêng loại áo cổ tròn xẻ vạt đến thời Lê Trung Hưngvẫn còn xuất hiện trong một số tranh vẽ như Văn quan vinh quy đồ, Võ quan vinhquy đồ, Giảng học đồ Đối với một số chất liệu vải vóc thời Trần - Hồ, Cao Hùng

Trang 21

Trưng nhận xét: “Vải vóc nước ấy thì có các loại the Cát Liễu, the hoa tim táo sợithẳng, the hợp, lụa bóng, bông, ỷ (the lụa có hoa bóng chằng chịt không dùng sợithẳng, đều gọi là ỷ), lĩnh, là, hài tơ khá lạ mà tốt Hai thứ gai, tơ chuối thì được chắplại làm vải, mịn như lụa nõn, rất hợp mặc vào mùa hè.”( Lê Tắc, 2000, tr 124) Ngoài

ra, Uông Đại Uyên, người nhà Nguyên trong Đảo di chí lược còn mô tả người Việtthời Trần “mặt trắng răng đen, thắt đai, đội mũ, mặc áo Đường, áo trùm bên ngoàimàu đen, tất tơ, giày vuông Tuy nhiên, những người Việt trong miêu tả của UôngĐại Uyên có lẽ đều là quý tộc Bởi thứ nhất, người thời Trần chỉ đội mũ khi có việccông cán cần ra ngoài Đối với các quan, “khi ở nhà họ để đầu trần, thấy khách thìđội mũ, đi đâu xa thì một người bưng mũ mang theo”(Thanh Trân Diễn, 1987,Tr.178.còn thứ dân “ở nhà ngày thường không đội mũ Thứ hai, đối với thường dân, việc đigiày tất có lẽ không mấy dễ chịu, đặc biệt trong những ngày nóng bức Qua nhữngghi chép của sứ thần Trần Cương Trung năm 1292, ta thấy quan dân thời Trần đa sốđều ưa đi đất: “Dân đều đi chân đất […] Da chân họ rất dày, leo núi như bay, gai góccũng không sợ.” (Hình 6, Phụ lục) ( (Thanh Trân Diễn, 1987, Tr.178) An Nam chínguyên dẫn sách Giao Chỉ thông chí cho biết: “Dân đều đi đất, chỉ có người cao sangmới đi giày da.”(Cao Hùng Hưng, k.n, tr.6) Nguyên do của việc đi đất để đầu trầnđược Lê Quý Đôn giải thích: “Vì nước ta là nơi nóng nực, ẩm thấp, nhân dân lúcthường không đội khăn (mũ), không đi giày, động tác mới được thuận tiện, việc này

đã thành thói quen, không thay đổi được.” Thứ ba, theo hình vẽ người Việt trongTrúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ và Tam tài đồ hội, có thể thấy nam giới người Việt thế

kỷ XIV, XV không mặc quần dài, để lộ bắp chân trần Cách ăn vận giản tiện nàytừng được Cristoforo Borri mô tả (khoảng 1615): “Đàn ông thay vì mặc quần dài thìdùng cả một tấm vải để quấn lại, phía trên mặc thêm năm hoặc sáu mảnh áo dài vàrộng”( Mario Sica, 2013, Tr 41) Như vậy, cách ăn vận kết hợp giữa áo, mũ, quần,xiêm hẳn được ưa chuộng vào những ngày mát lạnh, thường có đối tượng là tầng lớptrung thượng lưu Nam giới bình dân thường chỉ đóng khố, mặc chùm ra ngoài chiếc

áo dài

Vào thời Trần, hào khí Đông A trào dâng sôi sục Lúc này sau những cải cách yphục thời vua Anh Tông, trang phục của triều đình Đại Việt nhìn chung đã có nhữngnét đặc sắc riêng, không còn nhất nhất noi theo quy chế quan phục của nhà Tống nhưtrước kia

2.3.3 Thời Lê sơ (1428 – 1527)

Triều Lê Sơ (1428-1527) được hình thành sau khi cuộc khởi nghĩa chống nhàMinh của Lê Lợi thành công, mở ra một thời đại mới cho lịch sử Việt Nam Ngoài

Lê Thái Tổ (Lê Lợi), các vị vua khác như Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông có nhiềuđóng góp quan trọng trong việc cải cách, phát triển đất nước

Đặc biệt, nước ta trong thời gian trị vì của Lê Thánh Tông được coi là thịnh trịnhất thời Lê Sơ và cũng nổi bật trong lịch sử xây dựng đất nước và phục hưng dântộc các vương triều phong kiến Việt Nam

Trang 22

Có thể nói thời kỳ nhà Lê là thời kỳ thăng hoa của trang phục phụ nữ Việt Namkhi giai đoạn này xuất hiện rất nhiều kiểu dáng và thiết kế vô cùng đa dạng Nhưngnhìn chung các trang phục thời nhà Lê đều có thiết kế khá cầu kỳ với nhiều lớp áochoàng, màu sắc bắt mắt Chịu ảnh hưởng nhiều từ văn hóa Trung Hoa nên các trangphục truyền thống thời kỳ nhà Lê chưa thoát khỏi cái bóng của vùng đất hùng mạnhnày Trang phục của phụ nữ Việt thời Lê có nhiều nét giống với kiểu áo choàngHanfu của Trung Quốc với phần ống tay rộng, chiếc thắt lưng to ngang eo được dùng

để cố định bộ áo choàng này lại Chính vì ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Hoa mà bộtrang phục này không được nhiều người hưởng ứng (Hình 7, Phụ lục)

Phổ biến nhất trong giai đoạn này, người dân thường mặc áo Giao Lĩnh (dáng áothụng, có tay rộng) và Viên Lĩnh (áo có cổ hình tròn) (Hình 8, Phụ lục)

Quan viên (cả nam và nữ giới) dùng áo Bào Viên Lĩnh cổ tròn cùng mũ Phốc Đầu

có hai cánh chuồn Điều này cũng cho thấy dáng áo Viên Lĩnh được sử dụng rất phổbiến trong giai đoạn đó

2.3.4 Thời Lê Trung hưng (1533 - 1789)

Năm 1527, nhà Lê sơ sụp đổ sau sự kiện Mạc Đăng Dung phế truất ngôi vua,

tự xưng hoàng đế Sáu năm sau, năm 1533, tướng Nguyễn Kim đưa con cháu nhà Lêlên ngôi, tức vua Lê Trang Tông, mở đầu triều đại Lê Trung Hưng, cát cứ tại ThanhHóa Cuộc chiến Lê - Mạc diễn ra trong ngót 60 năm, đến năm 1592, với sự phò táđắc lực của các tướng Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng, vua Lê cuối cùng cũngtrở về thành Thăng Long, nối lại cơ nghiệp đế vương Song thế lực của tập đoàn chúaTrịnh ngày càng lớn mạnh Bình An Vương Trịnh Tùng hạ sát và bức tử các vị vuachống đối như Lê Anh Tông, Lê Kính Tông, thao túng triều đình, khiến các vua Lê

từ năm 1619 trở về sau chỉ còn lại hư vị, mở ra thời kỳ vua Lê - chúa Trịnh kéo dàihơn 200 năm trong tiến trình lịch sử Việt Nam

Nếu coi áo dài cổ đứng cài khuy là quốc phục của triều Nguyễn thì áo giao lĩnh

- tràng vạt hẳn phải là quốc phục của triều Lê (Hình 9, Phụ lục) Đây là dạng trangphục từng được sử dụng rộng rãi trên toàn cõi Á Đông Vào năm 1681, Jean BaptisteTavernier mô tả cách ăn mặc của người Việt trang trọng và đơn giản Đó là một cái

áo dài đến gót chân, gần giống áo dài của Nhật Bản, đàn ông và đàn bà ăn mặc giốngnhau không phân biệt Áo dài họ mặc được thắt ở khoảng giữa thân bằng một cái thắtlưng lụa, đeo đồ vàng, bạc đánh rất đẹp.( Jean Baptiste Tavemier, k.n, Tr.43.) Loại

áo dài gần giống kimono của người Nhật, được đàn ông và đàn bà Đại Việt thời Lê

sử dụng rộng rãi chính là áo giao lĩnh Qua sắc lệnh của triều đình Lê Trịnh yêu cầunhân dân vùng Thuận Hóa, vốn nhất loạt đổi mặc áo dài cổ đứng từ năm 1744, phảiđổi lại y phục, có thể thấy kiểu áo giao lĩnh và áo cổ tròn trong quan niệm của triềuđình nhà Lê chính là dạng áo “quốc tục” Lê Quý Đôn cho biết: “Mùa xuân nămBính Dần, đặt Trấn phủ Nha môn (ở Thuận Hóa) Bắt đầu từ tháng 7, tuyên rõ dụrằng: Y phục bản quốc (chỉ y phục nhà Lê) có chế độ riêng, địa phương này trướcđây cũng tuân theo quốc tục Nay cung vâng Thượng đức, dẹp yên biên phương,

Trang 23

trong ngoài thống nhất, chCác loại quần áo kiểu Khách còn thấy phải đổi theo thểchế quốc tục […] Đàn ông, đàn bà mặc áo trực lĩnh ngắn tay (tức áo giao lĩnh vớichiều dài ống tay áo chấm đến cổ tay), ống tay áo rộng hẹp cho được tùy tiện Áo thì

từ hai bên nách trở xuống đều nên may khép lại, không được để mở, không đượcchiết eo Riêng đàn ông nếu muốn mặc áo cổ tròn hẹp tay để tiện làm việc cũng được

Lễ phục dùng áo trực lĩnh ống tay dài, hoặc may bằng vải Thanh Cát, hoặc vải thâm,hoặc vải trắng tùy nghi.” (Lê Quý Đôn, 1776, tr 126) Trịnh Hoài Đức cũng cho biết,trước khi diễn ra cuộc cải cách y phục Đàng Trong năm 1744, người Việt tại thànhGia Định vẫn tuân theo tập tục cũ của Giao Chỉ, người dân xõa tóc đi chân đất, nam

nữ đều dùng áo trực lĩnh ngắn tay, áo may khép lại hai bên nách, không có quần, đànông dùng một khổ vải quấn quanh eo, đến dưới mông thì bó lại thắt vào vùng rốn,gọi là cái khố, đàn bà có loại váy quây không gấp nếp, đội nón lớn (Trịnh Hoài Đứ,

1999, tr86) Qua lời ghi nhận của Lê Quý Đôn và Trịnh Hoài Đức, có thể thấy loại áogiao lĩnh sử dụng rộng rãi đương thời không chiết eo và cũng không xẻ vạt quá caonhư loại áo dài kiểu Khách, tiền thân của dạng áo dài năm thân Mặt khác, nam giớithường dân người Việt thường chỉ đóng khố, mặc trùm áo giao lĩnh ra bên ngoài,nhất là ở những vùng đất quanh năm nóng bức Kiểu cách trang phục này chúng tacòn tìm thấy trong mô tả của quan nhà Thanh, Lý Tiên Căn, “đàn ông đàn bà đềumặc áo cổ lớn, ính trị và phong tục cũng nên như một không phân biệt, không cóquần, đàn bà có váy quây không gấp nếp”, hay thậm chí có thể truy lên đến thời Trần

Hồ qua Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ và bức Giao Chỉ quốc trong Tam tài đồ hội.Ngoài kiểu áo giao lĩnh, cổ tròn thì các dạng áo tứ thân, váy đụp, yếm và khốđều là những kiểu trang phục truyền thống, cố cựu đã hiện diện từ thời Lý - Trần vàtiếp tục được kế thừa vào thời Lê - Nguyễn Jerome Richard miêu tả người ViệtĐàng Ngoài năm 1778, cho biết: “Những người phụ nữ nói chung ăn mặc khá khiêmnhã Họ mặc một chiếc váy dài và một hoặc nhiều áo cùng kiểu như của nam giớinhưng chúng ngắn hơn Họ buộc quanh ngực một chiếc yếm là một mảnh vải hoặcmột mảnh lụa có hình trái tim, dùng để làm đẹp cho họ […] Những người giàu hoặc

có phẩm tước mặc đồ lót cực rộng và dài, áo ngủ có tay hẹp và ngắn cùng kiểu với áodài bên trong và bên ngoài của họ […] Quần áo của dân Đàng Ngoài đa dạng về màusắc Thông thường nhất là màu trắng Có nghĩa là màu sắc tự nhiên của lụa hoặc củavải Màu đen phù hợp với những người được trọng vọng nhất.” (Nguyễn Thừa Hỷ,

2019, Tr.214-216) Thanh triều văn hiến thông khảo cũng có ghi nhận tương tự: “Đànông đàn bà đều xõa tóc, đi đất Quần áo hoặc làm bằng vải hoặc làm bằng lụa, phầnlớn dùng sắc trắng Đàn ông dùng vải thắt lưng, sau đó luồn xuống dưới mông trở raphía trước thắt bọc lại Đàn bà dùng vải lụa che ngực ”( Tứ Duệ Tứ, An Nam, 1936,tr.296) v.v Các ghi chép, mô tả này hoàn toàn khớp với những bức vẽ người GiaoChỉ, Quảng Nam trong Boxer Codex (1590)

Ngoài ra, về phục sức che đầu đặc trưng của người Việt phải kể đến nón Vàothời Lý, Chu Khứ Phi miêu tả người Việt hay đội loại nón như hình vỏ ốc, gọi là Loalạp Vào thời Lê sơ, qua ghi nhận của Toàn thư, nón Thủy Ma, nón màu trắng ngà,

Trang 24

nón sơn v.v là các dạng nón quân trang Đến đầu thời Lê Trung Hưng, năm 1688,theo mô tả của William Dampier, người Việt ông ta nhìn thấy lúc này thường để đầutrần, không mấy khi đội nón mũ, ngoại trừ khi trời mưa; chỉ có những người dân chài

và thợ thuyền mới thường xuyên đội nón rộng vành, đỉnh phẳng như tấm ván (William Dampier, 2007, Tr.61.) Song Nishikawa Joken, tác giả của Hoa Di thôngthương khảo, lại có ghi nhận hoàn toàn trái ngược với William Dampier Ông chobiết khoảng những năm 1645, người Việt “hễ đi bộ thì ắt đội nón ”( Nishikawa Joken,k.n, Tr.11) Và theo ghi nhận của Phạm Đình Hổ có thể thấy đến cuối thời Lê TrungHưng, các dạng nón đã hết sức phong phú và phổ biến trong dân gian Việt Nam.Trong đó có nhiều dạng nón vẫn được kế thừa vào thời Nguyễn, được khắc họa trong

Kỹ thuật của người An Nam Phạm Đình Hổ kể lại: “Hồi tôi tám chín tuổi (khoảngnăm 1776-1777), thấy người già đội Ngoan Xác lạp (ngoan xác: mai của con giải),tục gọi là nón màu giải (nón có màu tựa màu con giải) hoặc đội nón Tam Giang Concái nhà quan và các học trò ở trường Giám thì đội Phương Đẩu đại lạp (phương đẩu:cái đấu vuông), tục gọi là nón lá Họ hàng nhà quan mà cao tuổi thì đội Cổ Châu lạp,tục gọi là nón dâu, trung niên hoặc trẻ tuổi thì đội Liên Diệp lạp, tục gọi là nón lá sen.Đàn ông, đàn bà, sĩ thứ trong kinh thành đều đội Cổ Châu lạp, đội Tiểu Liên Diệp lạp,tục gọi là nón nhỏ khuôn Đàn ông đàn bà thôn quê đội Xuân Lôi tiểu lạp, tục gọi lànón sọ nhỏ Quân lính đội Trạo lạp, tục gọi là nón chèo vành Người hầu hạ và vợcon quân lính đội Viên Đẩu lạp (viên đẩu: cái đấu tròn), tục gọi là nón khùa Nhà sư

và đạo sĩ đội Cẩu Diện lạp (cẩu: cái lờ bắt cá), tục gọi là nón mặt lờ Người có tangđội Xuân Lôi đại lạp, tục gọi là nón cạp Người để tang một năm trở xuống đội CổChâu lạp, buộc thêm quai mây Riêng nhà quyền thế có tang thì đội Cẩu Diện lạp đểphân biệt Đến như hai vùng Thanh Nghệ thì người ta đều đội Viên Cơ lạp (viên cơ:cái sọt tròn), tục gọi là nón Nghệ Người Mán Nùng ở ngoại trấn đều đội TiêmQuang Đẩu Nhược lạp, hình như nón khùa mà chóp nhọn, làm bằng vỏ măng nứa, làkhác với người tứ chiếng Đến khoảng năm Nhâm Dần, Quý Mão (1782-1783) quânTam phủ làm loạn, cậy công làm càn, nhiều người đội nón Viên Cơ để lẫn với lính,dần chuyển thành tục Đến năm Bính Ngọ (1786) trong nước có biến, lại bỏ Viên Cơđội Cẩu Diện, người để tang một năm trở xuống, buộc quai sợi trắng để phân biệt Ởthôn quê thì phỏng theo dáng nón Ngoan Xác mà hạ thấp phần trên xuống, gọi làToan Bì lạp, tục gọi là nón vỏ bứa Thỉnh thoảng có người đội Xuân Lôi tiểu lạp, cònnhững nón như nón Ngoan Xác, Tam Giang, Phương Đẩu, Cổ Châu, Liên Diệp vàTrạo lạp thì không thấy nữa.”( Phạm Đình Hổ, 1927, tr 173)

Vào thời đại này, phụ nữ mặc áo dài tứ thân cổ tròn, thắt lưng buông dài trướcbụng, váy dài và rộng Tóc thì để dài, rẽ đường ngôi giữa Những người phụ nữ quýtộc có gu ăn mặc cầu kì hơn, sử dụng những dải xiêm màu sắc rủ xuống chân, gópphần mang lại vẻ đẹp yểu điệu, thướt tha

Trang sức cũng ngày càng đa dạng hơn về kiểu dáng, màu sắc, với vòng taytròn dẹt, hoa tai hình quả bầu, hình hoa sen hay khuyên tròn đẹp mắt

Trang 25

Đến thời này, áo giao lĩnh cũng vẫn là loại trang phục được sử dụng phổ biến.Căn cứ theo Vạn quốc nhân vật chi đồ của Nhật Bản được soạn vào năm 1645, ngườiđàn bà thường đội nón rộng, mặc áo giống như áo giao lĩnh có hai vạt buông thõng,bên dưới mặc váy Đàn ông búi tóc, mặc áo giao lĩnh.

Đến thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh, để phân biệt với Đàng Ngoài, chúaNguyễn Phúc Khoát ban bố lệnh sửa đổi cách ăn mặc của người dân ở Đàng Trong.Trong đó, phụ nữ phải bỏ váy, mặc quần, áo cài khuy và không được thắt vạt, đànông thì mặc áo dài Còn ở Đàng Ngoài vẫn giữ kiểu trang phục như cũ, đàn ông mặc

áo giao lĩnh, phụ nữ mang áo tứ thân buộc vạt

Trang phục trong triều đại này đã rất gần với chiếc áo tứ thân, vấn khăn mỏquạ của phụ nữ làng quê Việt Nam vào thế kỷ 19-20, với sự xuất hiện của “mốt” đểtóc dài, vấn khăn, rẽ đường ngôi giữa, mặc áo dài tứ thân cổ tròn, thắt lưng buông dàitrước bụng, váy dài và rộng Thời trang hơn, phụ nữ quý tộc còn mang những dảixiêm nhiều màu sắc rủ xuống chân, góp phần mang lại vẻ đẹp yểu điệu, thướt tha.Trang sức cũng ngày càng đa dạng hơn về kiểu dáng, màu sắc, với vòng tay tròn dẹt,hoa tai hình quả bầu, hình hoa sen hay khuyên tròn đẹp mắt

2.3.5 Triều Nguyễn (1802 - 1862)

Vai trò của nhà nước và hệ tư tưởng chính trị luôn có những tác động trực tiếp,mang tính chi phối tới toàn bộ đời sống văn hóa, xã hội Vận động trong các hìnhthái xã hội khác nhau, thực thể văn hóa luôn có sự kế thừa và biến dị Triều Nguyễn,triều đại phong kiến quân chủ cuối cùng trong lịch sử Việt Nam, đánh dấu sự thayđổi to lớn về mặt nhận thức của người Việt sau khi tiếp xúc văn hóa Pháp Songtrước khi văn hóa, tư tưởng Pháp được dịp gây ảnh hưởng mạnh mẽ lên đời sống củangười Việt, dưới sự trị vì của các vị vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức,Việt Nam vẫn là quốc gia Nho giáo kiên quyết gìn giữ truyền thống đến tận cùng.Lúc này do văn hóa Đông Tây xung đột, bản thân nhà Thanh lại có nguồn gốc Mãn,cho nên nhà Nguyễn đã tự nhận là triều đại kế thừa tính chính thống của văn minhTrung Hoa Bởi vậy như nhà sử học Nhật Bản, Yamamoto Tatsuro nhận xét: “NgườiViệt Nam vẫn hết sức tự tin cho rằng họ đã lưu giữ được trọn vẹn truyền thống cổcủa Trung Quốc, đồng thời là người bảo vệ cho tư tưởng Hoa di không kém gì TrungQuốc.”( Yamamoto Tatsuro, 1975, Tr.543.)

Đặt trong nhãn quan phong kiến đương thời, triều đình nhà Nguyễn bất luậnthế nào cũng đã sở hữu một nền văn hiến áo mão có bề dày truyền thống và nhữngcách tân đặc sắc, tự tin sánh ngang với các quốc gia Nho giáo như Trung Quốc, TriềuTiên, khiến Khâm sứ nhà Thanh là Lao Sùng Quang phải công nhận: “Gần gũi Trung

Hạ, tôn sùng Nho giáo, yêu chuộng thi thư, cùng được coi là đất thanh danh văn vật,

ắt phải nói đến hai nước Triều Tiên và Việt Nam.”Triều Nguyễn là triều đại quân chủcuối cùng của Việt Nam, triều đại lưu lại nhiều ấn tượng mặc định và những ảnhhưởng lâu dài trong quan niệm của người Việt hiện đại về phong tục tập quán củaông cha, trong đó có quan niệm về trang phục Tuy nhiên, văn hiến áo mũ của mỗi

Trang 26

một triều đại đều có sự kế thừa, biến dị so với quy chế áo mũ của triều đại liền kề.Khoảng cách giữa các triều đại càng xa, sự biến dị theo đó càng lớn Ngay trang phụctrong dân gian, mặc dù có tính bảo thủ và ít biến cách như trang phục cung đình,song so với thời Lý, Trần, trang phục dân gian thời Lê, Nguyễn cũng đã có nhiềuthay đổi Đặc biệt phải kể đến việc phổ biến áo dài cổ đứng cài khuy (Hình 10, Phụlục), phế bỏ áo giao lĩnh trong dân gian mang tính cưỡng ép dưới thời vua MinhMạng Loại trang phục phổ biến nhất trong cung đình và dân gian Việt Nam thờiNguyễn hiển nhiên là bộ quần chân áo chít Song theo ghi nhận của Thái Đình Lanthì vào năm 1835 thời vua Minh Mạng, nam giới người Việt ở Trung, Nam kỳthường mặc áo chít màu đen cài khuy hẹp tay kết hợp với quần nhiễu đỏ Ông chobiết “(họ) đều dùng lụa đen vấn đầu, mặc áo đen ống tay hẹp, quần may bằng lĩnh đỏ,

đi chân đất Quan viên Việt Nam ra ngoài cũng đều đi đất, áo không phân mùa nóngmùa lạnh, mùa đông vẫn mặc áo lụa mỏng Người sang hay dùng hai màu lam, đen,vấn khăn quanh đầu cũng như vậy, quần đều màu đỏ.” Riêng loại quần chân áo chítcủa nữ giới, theo Phan Kế Bính, trong khoảng những năm 1910-1915, quần thì phầnnhiều mặc quần sồi, quần lĩnh thâm, đôi khi cũng có người mặc quần nhiễu đỏ (Phan Kế Bính, 2006, Tr 324.) Nhất Thanh ghi lại “khoảng từ 1910 trở đi có những

me Tây bạo dạn bắt đầu mặc quần trắng Những con nhà tử tế gia giáo không bao giờlấy Tây, dù Tây có giàu, sang trọng đến mấy Cho nên bận quần trắng là tự tố cáolàm nghề lấy Tây Trái lại, từ giữa thế kỷ XIX, đàn bà xứ Huế khá giả đôi chút đềumặc quần trắng, họ là vợ con những công chức các sở thuộc tòa khâm sứ, các cơquan thuộc sáu bộ của triều đình […] Nếp sống rảnh rỗi cảnh vẻ, cho nên y phụcsang trọng quý phái Còn dân lao động ăn mặc lem luốc thì không mặc quần trắng.Tuy nhiên sau đó quần trắng đã dần dà đắc dụng với nữ giới, ban đầu còn rụt rè, sau

đó khắp nơi đều ưa chuộng.”(Nhất Thanh, 1970, Tr 212.) Như vậy sự kết hợp giữa

áo dài năm thân và quần màu trắng hẳn chỉ xuất hiện từ đầu thế kỷ XX trở về sau,trước đó người Việt hầu hết đều mặc quần màu thâm hoặc màu đỏ Có điều, saunhững phong trào cải lương nêu cao tinh thần đoạn tuyệt lạc hậu, hướng tới văn minh

từ cuối thế kỷ XIX, song song với việc cắt bỏ búi tó, để răng trắng, không ít nam nữngười Việt, đặc biệt là giới trí thức Tây học đã dần đổi sang mặc trang phục châu Âu.Trang phục của nữ giới lúc này cũng trải qua những đợt biến cách về kiểu dáng nhằmlược bớt sự lụng thụng của loại áo truyền thống trước đây Những cải cách kiểu dáng

áo dài nữ tiêu biểu phải kể đến áo dài Le Mur của họa sĩ Cát Tường năm 1930 và áodài Lê Phổ của họa sĩ Lê Phổ năm 1934 Ông Cát Tường phát biểu trên tờ Phong hóa

về chiếc áo dài nữ kiểu cũ cho biết: “Y phục của các bạn gái, tôi xem thấy có nhiềuđiều bất tiện mà lại không có vẻ chi là mỹ thuật Tuy rằng vài năm gần đây cũng cómột vài phần sửa đổi [ ] chẳng qua chỉ ở mấy cái mầu sắc sặc sỡ, mấy thứ hàng lạnước ngoài [ ] còn thì vẫn kiểu áo lòe xòe ấy, vẫn cái quần lụng thụng đen ngòm ấy.Hoặc giả cũng có người ưa mặc quần trắng song tiếc rằng số đó vẫn rất ít [ ] Cầnsửa đổi dần: trước hết phải hợp với khí hậu xứ ta, với thời tiết các mùa, với công việc,với khuôn khổ, mực thước của thân hình mỗi bạn Sau nữa phải gọn gàng, giản dị,mạnh mẽ và có vẻ mỹ thuật và lịch sự.” Chúng tôi đồng tình với quan điểm của bà

Trang 27

Nguyễn Thị Chân Quỳnh khi cho rằng ông Cát Tường “chỉ là một mắt xích trongchuỗi dài những người không để lại tên tuổi nhưng cũng góp phần cải sửa, giúp chocái áo dài mang hình dáng hiện nay”, cùng nhận định “ông Cát Tường chê áo ViệtNam lòe xòe, lụng thụng, không “mỹ thuật”, nhưng tôi lại thấy áo tứ thân, áo giaolĩnh cũng như áo dài đều đẹp cả, mỗi cái một vẻ Nhân tâm tùy thích, khó mà tranhcải.”(Nguyễn Thị Chân Quỳnh, 2010, tr.1) Ngoài ra, có một số ý kiến cho rằng vàođầu thế kỷ XIX, trong giới phong lưu nho nhã đã sử dụng loại áo bà ba (Hình 11, Phụlục), loại áo có nguồn gốc từ đảo Penang ở Malaysia, nơi có tộc người Bà Ba sinhsống Dựa vào một số bức họa trong An Nam quốc giang phiêu lưu phong tục tả sinh

đồ do người Nhật Bản vẽ vào năm 1794 tại vùng Đàng Trong, có thể thấy ngay từcuối thế kỷ XVIII, loại áo vạt ngắn không bâu, xẻ giữa, cài bằng cúc đã xuất hiện tạivùng Đàng Trong Việt Nam Nhiều khả năng đây chính là tiền thân của loại áo bà ba.Tuy nhiên, nguồn gốc của loại áo này có phải xuất phát từ đảo Pengnang Malaysiahay không, hiện chưa có tư liệu nào có thể khẳng định được

Sau một loạt sắc lệnh cấm sử dụng các loại mũ Tiện phục triều Lê ban bố vàothời vua Minh Mạng trong khoảng từ năm 1828 đến năm 1842, nam giới người Việttrong toàn quốc hầu hết đều búi tóc vấn khăn theo phong tục Đàng Trong Ban đầu,các loại khăn lượt, khăn nhiễu, khăn thâm của đàn ông được quấn rối, về sau đượcquấn xếp nếp đều đặn, chít theo kiểu chữ Nhất 一 , hoặc chữ Nhân ở giữa trán.Khoảng năm 1920, 1930, người Việt mới chế ra loại khăn xếp, khâu dán liền nhữngvành nếp lại, chỉ việc đặt chụp lên đầu cho nhanh chóng và thuận tiện.( Nhất Thanh,

1970, Tr.223) Trong khi đó, phụ nữ Đàng Ngoài vẫn vấn khăn thâm, lượt, nhiễu, độithêm khăn vuông mỏ quạ bằng vải nâu hoặc xuyến, bất chấp lệnh cấm “đàn bà khôngđược dùng vải, lụa ngắn quấn đầu”, “không được đội khăn vuông” Khác với phụ nữĐàng Ngoài, “tại Trung kỳ, Nam kỳ, đàn bà búi tóc bịt khăn vuông, không vấn khănnhư người Bắc”(Phan Kế Bính, 2006, Tr.324), “đàn bà Đàng Trong ưa để đầu trầnvới búi tóc, hoặc bịt đầu bằng một khăn vuông gấp chéo đôi, buộc nút xuống dướicằm” ( Nhất Thanh, 1970, Tr.223)

Về nón đội, Phan Kế Bính cho biết đàn ông thường đội nón dứa, nón sơn, nónlông; đàn bà thường đội nón bẻ, nón lòng chảo(Phan Kế Bính, 2006, Tr.324) NhấtThanh giải thích: “Nón đan bằng nan giang, quét sơn dầu trên mặt cho khỏi thấmnước mưa gọi là nón sơn Nón lợp bằng lá dứa rất mỏng, nhẹ, quai lụa bạch, độitrông ra vẻ hào hoa phong nhã Quan liêu ưa đội nón lông, lông cánh chim lợp haiđợt, trên đỉnh có chóp bằng bạc chạm trổ, hay bằng đồi mồi vành vàng vành bạc.”(Nhất Thanh, 1970,Tr.224.) Loại nón bẻ của đàn bà mà Phan Kế Bính nhắc tới chỉcác loại nón ba tầm, nón Nghệ, nón quai thao v.v được sử dụng thường xuyên vàođầu thế kỷ XX

Sang thế kỷ 19, mẫu áo dài năm thân được ưa chuộng Trang phục gồm hai khổvải được may nối nhau thành thân trước theo phong cách kín đáo Bốn thân áo bênngoài tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu: cha mẹ mình và cha mẹ người thương, thân

Trang 28

áo thứ năm đại diện cho người mặc Áo luôn có năm cúc, thể hiện đạo lý làm người:nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.

Trong xã hội, những phục trang truyền thống như áo dài, áo yếm, áo tứ thân, khăn

mỏ quạ, nón quai thao… đã là kết tinh văn hóa của cả dân tộc

Sau khi thống nhất hai miền, nhà Nguyễn bắt đầu chỉnh đốn lại về trang phục.Đầu thế kỷ thứ 19, vua Minh Mạng ra lệnh cho người dân phía Bắc thay đổi trangphục theo giống với phía Nam Đàn ông bắt đầu mặc áo dài, phụ nữ từ dải HoànhSơn trở vào cũng mặc áo dài trong khi từ Hà Tĩnh trở ra thì vẫn mặc áo tứ thân theokiểu cũ

Đời sống xã hội trong thời kỳ này có ảnh hưởng không nhỏ đến trang phục củangười dân Nếu như trang phục của tầng lớp thống trị ngày càng bị “pha tạp” theo lốiđua đòi cải cách nửa mùa, thì trong xã hội, những phục trang truyền thống như áo dài,

áo yếm, áo tứ thân, khăn mỏ quạ, nón quai thao… đã trở thành hơi thở và là kết tinhvăn hóa của cả dân tộc Trong khi chiếc yếm đào vượt khỏi chốn cung đình để cùngngười phụ nữ cần lao “dầm mưa dãi nắng” ngoài đồng ruộng, hay cùng áo tứ thânlượt là trong những buổi hội Lim, thì thời trang phương Tây với những chiếc váy xòe,những chiếc đầm cách tân hiện đại cũng dần du nhập và được phụ nữ quý tộc trẻ ưachuộng, trong đó Hoàng hậu Nam Phương – vị hoàng hậu cuối cùng của triều đạiphong kiến Việt Nam, là người rất thích mặc trang phục Tây phương (Hình 12, Phụlục)

Ngoài ra, người phụ nữ Việt Nam thời xưa còn mặc yếm là một mảnh vảivuông che ngực, một góc được cắt lẹm đi rồi đính hai dải vải buộc sau gáy Hai bêntrái phải cũng được đính hai dải vải để buộc ra sau ngực Thông thường, người phụ

nữ khi ở nhà chỉ mặc yếm, chỉ khi ra ngoài mới mặc áo và mặc rất đẹp

Mặc dù yếm đào đã xuất hiện từ xa xưa, nhưng đến thế kỷ 19 dưới triềuNguyễn, chiếc yếm mới trở thành một trong những loại “quốc phục” được cả dân tộcnâng niu, trân trọng Chiếc yếm chính là hiện thân đầy quyến rũ, gợi cảm của nét đẹpphụ nữ Việt Nam Có nhiều loại yếm như yếm cô viên cổ tròn, yếm cổ xẻ hình chữ V,yếm cổ cánh nhạn, yếm cổ xây… Đặc biệt là loại yếm “đeo bùa” là một “vũ khí lợihại” mang đến nhiều vấn vương cho người đối diện bởi mùi xạ hương thoang thoảngđược giấu bên trong yếm Vào những ngày lễ tết, chiếc yếm màu sắc giản dị nâu non,trắng… được thay bằng các màu sắc rực rỡ, tươi sáng như yếm điều màu đỏ, yếmđào, yếm thắm (Hình 13, Phụ lục)

Những loại trang phục này được sử dụng phổ biến ở nước ta đến đầu thế kỷ 20thì bắt đầu mờ nhạt dần khi lối y phục theo văn hóa phương Tây bắt đầu du nhập vàtrở nên phổ biến Ngày nay, chúng chỉ còn được thấy trong các ngày lễ tết, hội hètruyền thống

2.4 TRANG PHỤC NGƯỜI VIỆT THỜI PHÁP THUỘC (1862 - 1945)

Trang 29

Việc hội nhập văn hóa Tây phương vào thời kỳ Pháp thuộc được dễ dàng là nhờ ở

sự phổ biến của chữ quốc ngữ được La Tinh hóa do các giáo sĩ người Bồ Đào Nha và

Ý đã thực hiện trước đó, nhưng cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes: 1591-1660) làngười đã đưa chữ quốc ngữ đến hoàn chỉnh vào năm 1651 Ông đến Hội An năm

1625, truyền giáo ở Đàng Trong dưới thời chúa nguyễn Phúc Nguyên và ở ĐàngNgoài năm 1626 dưới thời chúa Trịnh Tráng Năm 1651, cuốn từ điển Việt-Bồ-La( Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latilum), dựa trên các ký tự của tiếngViệt ra đời, hiện được lưu giữ tại Thư viện Quốc gia Bồ Đào Nha, đã đánh dấu sự rađời của chữ Quốc ngữ Ngoài công trình trên, tác phẩm “Phép giảng tám ngày(Catechismus)” viết bằng văn xuôi, có ghi lại cách phát âm của tiếng Việt vào thế kỷ

17, cũng được giáo sĩ Đắc Lộ biên soạn Văn hóa Tây phương ảnh hưởng ngày mộtsâu rộng trong mọi tầng lớp dân chúng Việt Nam, một điều mà Nho học, chỉ là mộtphương tiện để đô hộ người bản xứ của các vương triều phương Bắc, vốn dành cholớp nho sinh đã trở lên hạn hẹp Ảnh hưởng của văn hóa Pháp càng lan rộng trongđời sống xã hội của người Việt khi trường Thông Ngôn và trường Hậu Bổ đượcthành lập năm 1903 Trường Thông ngôn có nhiệm vụ đào tạo các phiên dịch viêntiếng Pháp, trong đó có ông Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh nổi tiếng về văn họcsau này Còn trường Hậu Bổ đào tạo trong thời gian 3 năm để tuyển vào ngạch quanlại, những người có văn bằng Hán học như Tiến sĩ, Cử nhân và Tú tài Hai trường 4này đóng cửa vào năm 1908 Các thí sinh chuyển lên học trường Bưởi (Thành lậpnăm 1908: sau này gọi là trường Chu Văn An) Ngày 27-2-1902, tòa nhà chính củatrường Y khoa Hà Nội được khởi công xây dựng tại ấp Thái Hà (Nam Đồng), trướcngày khánh thành Cầu Paul Doumer (Cầu Long Biên) Trường Y Hà Nội đã đào tạonhững bác sĩ nổi tiếng, ngang tầm với các trường danh tiếng tại Pháp Hệ thống giáodục phổ thông ngày càng phát triển, trường Bảo hộ (trường Bưởi) cũng như một sốtrường khác như trường Albert Sarraut và các trường nữ trung học như Trưng Vương,Đồng Khánh, Mary Curie… sau này, đã thay đổi cả về trang phục lẫn nếp sống theoTây phương của tuổi trẻ tại Hà Nội Chiếc áo dài mầu đen của nho sinh được thay thếbằng quần tây áo chemise mầu sắc sáng sủa và trang nhã hơn, đã thay đổi bộ mặt củathành phố Hà Nội

Đến thế kỷ 19, 20, áo dài bắt đầu trở thành thứ trang phục không thể thiếu trongđời sống xã hội Việt, từ các bà hoàng, công chúa trong hoàng cung với các kiểu áodài được may trang trọng, quý phái bằng chất liệu gấm, thêu chỉ vàng… đến các bà,các cô vận áo dài đến trường, đến công sở, ra chợ, dạo phố Một thời gian dài trongthế kỷ 19-20, áo dài đã trở thành một loại thường phục được nam phụ lão ấu trên đấtViệt yêu chuộng Trải qua nhiều biến động lịch sử, cùng với sự du nhập của khuynhhướng thời trang phương Tây, áo dài đã có nhiều cải tiến theo từng trào lưu nhất định.Tuy nhiên, dù ở bất kỳ trào lưu cải cách nào, từ áo dài Le Mur, áo may dạng chít eohay cổ thuyền theo “mốt” Trần Lệ Xuân đến các loại áo dài vạt dài sát đất như hiệnnay, áo dài vẫn chứng tỏ khả năng bất biến mà không phải loại trang phục nào cũnglàm được: đó là tôn lên vóc dáng và nét đẹp quyến rũ dịu dàng cho người phụ nữ

Trang 30

Từ 1925 trở đi, đàn ông miền Nam mặc quần áo bà ba trắng Người nhiều tuổicũng mặc áo dài trắng bên trong, áo dài xuyến đen bên ngoài, cổ đứng vuông góc.Chân thường mang giày da láng (mui giày bằng da sơn đen bóng), giày guốc (đếbằng gỗ, mui trên bằng da), giày cóc (trông giống đầu con cóc), giày Gia Định (muigiày bằng da đen bóng), xuất xứ từ tỉnh Gia Định), guốc gỗ một quai, v.v… Đếnngày nay hầu hết đàn ông đều ăn mặc theo phương tây Áo sơ mi hoặc áo thun tayngắn, quần âu, giày tây lịch lãm Áo dài nam chỉ còn sử dụng trong các dịp lễ truyềnthống đặc biệt như: cưới hỏi, lễ hội nhân gian, biểu diễn nghệ thuật,…

Trang 31

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

Trước đây khi nhắc đến cổ phục nhiều người chỉ biết đến Hán phục (Hanfu) củaTrung Quốc, Hàn phục (Hanbok) của Hàn Quốc và Hòa phục (Wafuku hay Kimono)của Nhật Bản và khi nhắc đến trang phục truyền thống Việt Nam, nhiều bạn chỉ nghĩđến áo dài Tuy nhiên, cổ phục Việt không chỉ có vậy mà cả một kho tàng với nhiềuloại trang phục khác như áo tấc, áo Viên lĩnh, áo Nhật bình, áo Giao lĩnh, áo dài ngũthân, áo tứ thân,… Trải qua mỗi triều đại phong kiến trong lịch sử chúng ta đều cónhững bộ trang phục mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc từng thời kỳ

Như vậy, qua hàng ngàn năm văn hiến, cùng với sự biến động của lịch sử, đặctrưng trang phục dân tộc qua từng thời kỳ cũng có nhiều thay đổi Tuy nhiên, vượtqua mưu đồ đồng hóa của các triều đại phong kiến Trung Hoa, trang phục Việt nóiriêng và nền văn hóa Việt Nam nói chung vẫn giữ được những nét đẹp riêng độc đáo,trong đó không thể không kể đến những tinh hoa văn hóa kết tinh trên những bộ

“quốc phục” mang đậm nét thẩm mỹ và ứng dụng cao như vừa nêu trên

Những năm gần đây, với những nỗ lực phục dựng trang phục cổ Việt Nam kháiniệm “Việt phục” đã trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết, dưới sự quan tâm của thế hệ trẻcũng như sự phát triển của các bộ phim, dự án nghệ thuật, một luồng gió tươi mới đãđược thổi vào những bộ cổ phục Việt Nam, thu hút sự quan tâm đông đảo của nhữngngười yêu thích tìm hiểu văn hóa Những bộ trang phục của quá khứ được tái sinh,tạo nên một sứ mệnh mới trong cuộc sống hiện đại đã cho chúng ta thấy, thế hệ trẻhiện nay không phải không quan tâm tới lịch sử mà họ chỉ nghiên cứu và phát triểnchúng theo cách của mình

Sau mỗi tấm áo là lịch sử, sau sự trở lại của cổ phục là tình yêu và sự trân trọngđối với tinh hoa văn hóa dân tộc Bên cạnh việc phát triển những yếu tố khác, chúng

ta cần gìn giữ, đưa những nét đẹp của cổ phục của Việt nói riêng và đưa văn hóa Việtnói chung vươn ra thế giới

Trang 32

CHƯƠNG 3 LỊCH SỬ TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG TIÊU BIỂU CỦA

VIỆT NAM- ÁO DÀI (TỪ 1774 ĐẾN NAY)

3.1 NGUỒN GỐC LỊCH SỬ CỦA ÁO DÀI

Áo dài là trang phục được cách tân theo hướng tây hóa từ áo ngũ thân lập lĩnh còngọi là áo tân thời (sau này còn được chít eo)

Áo dài là trang phục truyền thống của Việt Nam, mặc cùng với quần dài, che thân

từ cổ đến hoặc quá đầu gối và dành cho cả nam lẫn nữ nhưng hiện nay thường đượcbiết đến nhiều hơn với tư cách là trang phục nữ Đặc điểm là dáng áo bó,2 tà thẳngtrước sau

3.1.1 Cấu tạo áo dài và áo ngũ thân lập lĩnh truyền thống:

3.1.1.1 Cấu tạo của áo dài truyền thống

1 Cổ áo: Cổ áo cao khoảng 2-3 cm, ôm khít cổ, tạo hình chữ V trước cổ

2 Khuy áo: Thường dùng khuy bấm, từ cổ chéo sang vai rồi dọc xuống nganghông.Theo truyền thống, khuy áo dài ở phần thân trên được cố định tại 5 vị trí, vừagiúp chiếc áo dài được cố định ngay ngắn, vừa biểu tượng cho 5 đạo làm người củadân tộc Việt: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín

3 Thân áo: Gồm 2 phần: thân trước và thân sau Cả 2 thân áo đều dài từ cổ xuốngmắt cá chân, được may sát vào phom người

4 Tay áo: Dài, không có cầu vai, may kéo dài từ cổ áo đến cổ tay

5 Tà áo: Gồm 2 tà là tà trước và tà sau, xẻ từ ngang hông xuống dưới (Hình 14,Phụ lục)

3.1.1.2 Cấu tạo áo ngũ thân lập lĩnh truyền thống

1.Thân áo Được ghép bởi 5 mảnh vải (ngũ thân): 2 thân trước, 2 thân sau, và thâncon thứ 5 nằm ở phía trước, bên phải người mặc

1 dạng sái y Vạt áo xòe và cong, không may thẳng Vì vậy khi mặc lên, 2 bên tàcúp lại, không lộ eo như áo dài tân thời

2 Nữu (nút áo) Áo ngũ thân có 5 nút, vị trí cụ thể như trên ảnh Nút thứ 2 và nút 1

ở giữa cổ phải tạo thành đường thẳng vuông góc với trung phùng đạo (đường ráp vảigiữa áo) Chất liệu: làm từ kim loại, gỗ, ngọc

3 Lớp áo Mặc lót bên trong áo ngũ thân là áo lập lĩnh trắng kiểu đơn y hoặc áo bà

ba (sam) tay liền

4 Cổ áo Cổ áo dựng vuông vắn hoặc vê tròn, ôm khít vào cổ (nữ: 2–3 cm, nam:3–4 cm) Cổ áo nội y may bằng vải mềm, cổ áo ngoại y may tạo độ cứng và ôm Khi

Trang 33

mặc lên, cổ áo lót trong cao hơn cổ áo ngũ thân *Lưu ý: có một số thợ may giả lĩnh(may thêm vải trắng lên cổ áo) là không đúng quy cách truyền thống, khi đã mặc áomay giả lĩnh thì không mặc áo lót trắng

5 Tay áo: 2 loại (thụng/chẽn) Dù cho áo được may theo kiểu thụng hoặc chẽn thìkhi trải phẳng ra tay áo vai áo vẫn phải nằm trên một đường thẳng, nách áo rộng giúpthoải mái vận động dễ dàng hơn áo dài tân thời ( Hình 15, Phụ lục)

3.2 CHẶNG ĐƯỜNG HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ÁO DÀI VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ

3.2.1 Tiền thân của áo dài: Áo ngũ thân lập lĩnh (1744)

Thời Lê,trang phục phổ biến của người Việt là áo trực lĩnh (cổ thẳng)(Lê triều phổbiến áo tràng vạt, áo bổ long), áo viên lĩnh (cổ tròn), áo đa la (áo quân binh), và bán

tí (áo có dạng viên lĩnh hoặc tứ thân) Ngoài ra còn kiểu áo tứ thân phủ tà (gồm bốnvạt nửa và một tà khoát ngoài: vạt nửa trước phải, vạt nửa trước trái, vạt nửa sau phải,vạt nửa sau trái và tà khoát ngoài bao bọc 4 vạt bên trong áo)

Kiểu áo do chúa Nguyễn Phúc Khoát đặt định là áo ngũ thân lập lĩnh (cổ đứng)cài nút vào thế kỉ 18 Áo ngũ thân che kín thân hình không để hở áo lót (chỉ hở phần

cổ trắng của áo lót) Mỗi vạt có hai thân nối sống (tổng cộng bốn vạt) tượng trưngcho tứ thân phụ mẫu, và vạt con nằm dưới vạt trước chính là thân thứ năm tượngtrưng cho người mặc áo Vạt con nối với hai vạt cả nhờ cổ áo có bâu đệm, và khépkín nhờ 5 chiếc khuy tượng trưng cho quan điểm về ngũ thường theo quan điểm Nhogiáo và ngũ hành theo triết học Đông phương Các kiểu áo cổ của phương đông xưaluôn có 1 đường may giữa ở vạt trước và sau áo gọi là trung phùng đạo, thể hiệnĐấng quân tử nên tìm đạo lý, Kẻ trượng phu gìn kỹ tinh hoa, chính trực

3.2.2 Áo dài thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1744)

Với tham vọng lập quốc một cõi, Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát ban hành chomặc đối với những quan chức cấp cao để phân biệt họ với những người dân khác.Trong sắc dụ đó, người ta thấy lần đầu tiên sự định hình cơ bản của áo ngũ thân ViệtNam: "Thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo lập lĩnh ngắn tay, cửa ống tay rộnghoặc hẹp tùy tiện Áo thì hai bên nách trở xuống phải khâu kín liền, không được xẻ

mở Duy đàn ông không muốn mặc áo cổ tròn ống tay hẹp cho tiện khi làm việc thìđược phép " (sách Đại Nam Thực lục)

Từ đó bèn thay đổi y phục, đổi phong tục, cùng dân đổi mới, bắt đầu hạ lệnh chonam nữ sĩ thứ trong nước, đều mặc áo nhu bào, mặc quần, vấn khăn, tục gọi quầnchân áo chít bắt đầu từ đây

Hôn lễ đối với dân thường Bắc Bộ, nữ đội hôn lạp, guốc cong, nam đội nón ngựa(chóp nhọn), xỏ hài, dâu rể mặc áo tấc có thêu hoa văn dạng bàn cổ Hôn lễ với Nam

bộ cô dâu và phù dâu đội nón gụ Hôn lễ đối với quý tộc, nữ kết kim ước phát, nam

Trang 34

đội mũ theo bổ phục Dân thường xỏ hài, guốc; quý tộc xỏ hài cong (giống như tích),cung nhân xỏ guốc sơn son thiếp vàng.

3.2.3 Áo dài từ thời vua Minh Mạng đến năm 1885

Cho đến thế kỷ 17 truyền thống mặc váy vẫn tồn tại ở Việt Nam như đã ghi trongsách Lê Triều Thiên Chính đời vua Lê Huyền Tông, tháng 3 năm 1665 với sắc lệnhnhắc nhở: " áo đàn bà con gái không có thắt lưng, quần không có hai ống từ xưađến nay vốn đã có cổ tục như thế "

Năm Minh Mạng thứ 9 (1828), triều đình Huế ra chiếu chỉ cấm đàn bà mặc váy vàbắt phải mặc quần hai ống, nên hồi ấy mới xuất hiện câu ca dao than vãn:

Tháng Tám có chiếu vua raCấm quần không đáy, người ta hãi hùng!

Áo ngũ thân cổ đứng giúp tăng vẻ đài các, sang trọng cho người mặc được thểhiện qua hoa văn thêu truyền thống Áo lập lĩnh (cổ đứng) dễ dàng kết hợp với nhữngđôi hài, tích, guốc cong, nón 3 tầm, xà tích, trâm và là áo mặc bên trong của nhữngloại áo quý tộc (nhật bình, bình lĩnh, mã quái, mã tiên, bàn lĩnh, giao lĩnh)

Đối với phụ nữ trước năm 1885, áo ngũ thân (dài và rộng dần đến đầu gối) đượcmặc kết hợp với trâm và nón cụ (đối với Huế và Nam bộ), nón quai thao hay nón 3tầm (đối với Bắc bộ), được mặc kết hợp với quần đen hoặc quần đỏ (Hình 16, Phụlục) Sau thời vua Thành Thái, do bị Pháp cướp vàng bạc trong triều đình, áo ngũ thânkết hợp với khăn vấn, khăn vành dây và do bị Tây hóa nên mặc quần trắng Cho đếnnăm 1970,Trong các hôn lễ của các gia đình quý tộc thì cô dâu vẫn có sử dụng áongũ thân là nội y và áo nhật bình là ngoại y, xỏ hài thêu, đeo khăn vành (Hình 17,Phụ lục)

3.2.4 Sự biến mất của áo ngũ thân lập lĩnh của nam giới nửa cuối thế kỷ 20,đầu thế kỳ 21

Áo ngũ thân được tạo ra cho nam và nữ Tuy nhiên theo thời gian, áo ngũ thânnam dần mất Vì thế khi nhắc đến áo dài người ta nghĩ ngay đến áo dài nữ

Áo ngũ thân nam có cổ cao, thẳng và vuông tượng trưng cho sự chính trực củangười quân tử Áo có 5 cúc làm bằng kim loại, ngọc, gỗ, chứ không phải bằng vảinhư sườn xám Trung Quốc Áo có 5 thân tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, một thâncon (nhỏ nhất, nằm trong) tượng trưng cho mình (người mặc) Tà áo không bó sátngười mà rộng, càng xuống càng xòe ra Tay áo rộng, hẹp tùy ý (Hình18, Phụ lục)

Áo mặc thường màu sắc nhã nhặn, không có diềm cổ, diềm tay áo Thường đượcmặc kèm một chiếc áo lót màu trắng để làm nền cho áo ngoài, thể hiện sự sạch sẽ ởbên trong Thể hiện quan niệm truyền thống đẹp đẽ của người Việt: cái gì đẹp thì nêngiấu vào trong Áo ngũ thân luôn đi kèm với khăn vấn

Theo nhà biên khảo Trần Thị Lai Hồng thì áo ngũ thân đi đôi với quần hai ống vàkhăn vấn cũng là quốc phục của cánh đàn ông Các bà các cô dùng màu sắc óng ả dịu

Trang 35

mát trong khi đàn ông con trai chỉ dùng màu đen, trắng, hoặc lam thẫm Theo sắc dụban hành từ thời Chúa Nguyễn Vũ Vương thì sự quy định trang phục cho nam giới ít

gò bó và thoáng hơn: "Thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ đứng ngắn tay,cửa ống tay hoặc rộng hoặc hẹp tùy tiện Áo thì hai bên nách trở xuống phải khâu kínliền không cho xẻ mớ Duy đàn ông không muốn mặc áo cổ tròn và hẹp tay cho tiệnlàm việc thì cũng được" (trích sắc dụ này)

Từ năm 1952 thời Quốc gia Việt Nam, thủ tướng Trần Văn Hữu đã ấn định quốcphục cho các viên chức hành chính trong chính phủ: nếu buổi lễ mang tính cách tôngiáo hay lịch sử thì lễ phục là áo ngũ thân tay hẹp, khăn đen, quần lụa trắng.(Nguyễn

3.2.5 Sự phục hưng của áo ngũ thân lập lĩnh trong thế kỉ 21

Năm 2013, sách "Ngàn năm áo mũ" của nhà nghiên cứu Trần Quang Đức ra đời

đã giúp định hình giá trị truyền thống thật sự đến thế hệ trẻ, giúp hiểu hơn về áo ngũthân Bên cạnh đó - Đại Lễ Phục Triều Nguyễn - của tác giả Trần Đình Sơn đã minhhọa chính xác nhất về y phục triều Nguyễn

Hiện nay áo ngũ thân đang được phục hồi bởi những người trẻ yêu văn hóa, làmcông tác du lịch, nghệ thuật (phim, kịch, video âm nhạc) Trong đó, người phục dựngdựa theo truyền thống lâu đời nhất là: Nghệ nhân áo ngũ thân Đỗ Minh Thường (ĐỗMinh Tám) ở Ngõ Hoa Lư, xóm Đông, làng Trạch Xá (Làng tổ nghề may áo ngũthân), Huyên Ứng Hòa, Hà Nội; Nhà nghiên cứu Trịnh Bách phục dựng nhiều trangphục triều Nguyễn và nhiều nghệ nhân trẻ đang nghiên cứu phục dựng nhiều trangphục truyền thống trong quá khứ của Việt Nam; Nghệ nhân thêu áo ngũ thân Vũ VănGiỏi ở làng Đông Cứu, xã Dũng Tiến, huyện Thường Tín,Hà Nội đã phục dựng gccách thêu cung đình các áo phụng bào,long bào,.,Triều Nguyễn.Huyện Thường Tíncũng là địa chỉ của các nghệ nhân có thể làm thuyền hài, Phượng hài, tích, bì ngoa,mộc cược (guốc) làm cho áo ngũ thân thêm trang trọng; Nghệ nhân phụ kiện,đồ đồngĐại Linh (hàng giả cổ) thuộc cơ sở đúc đồng Thế Linh ở thị trấn Lâm, Ý Yên, NamĐịnh đã phục dựng kim bài, mộc bài, ngọc bội, kim bội, phượng khấu (dùng cho áonhật bình), kết hợp với áo ngũ thân, Việt phục; Nghệ nhân mũ mã vĩ (dệt lông đuôingựa) Vũ Kim Lộc đã phục dựng các mũ cổ triều Nguyễn (dùng kết hợp với áo ngũthân) và ra mắt sách "mũ miện triều Nguyễn" giúp thế hệ trẻ hiểu thêm nghề thủcông truyền thống mã vĩ cân; Nghệ nhân đậu bạc Quách Tuấn Anh (làng nghề đậubạc Định Công) chế tác nữ trang, trâm, hoa tai dựa trên hiện vật cổ; Các nghệ nhântrẻ của Long Thành Xạ Nghệ, Cung thuật truyền thống VN, Cung thuật Cổ truyền -

Trang 36

Traditional Archery, Binh Khí Việt đã phục dựng các loại quân trang phục vụ làmphim, kịch, lễ hội, diễn tập.

3.3 CÁC LOẠI ÁO DÀI TÂN THỜI

3.3.1 Áo dài tân thời Lemur (1934)

Loại áo dài này ban đầu bị các bậc trí thức phản đối kịch liệt vì "me tây" (theoNguyễn Công Hoan),được gọi là áo tân thời Giai đoạn này nếu trong gia đình cónhững thế hệ sinh trước năm 1920, áo dài tân thời được mặc rộng rãi trong toàn xãhội lúc bấy giờ Sau những năm 1940, áo dài kết hợp với nón lá (trước kia chỉ đànông đội nón chóp này) hay khăn đóng).Tà áo tân thời được thiết kế với hai vạt vớichiều dài khác nhau, vạt trước sẽ có tà ngắn hơn một đoạn khoảng 5 cm đối với vạtsau Dần dần làm biến mất các kiểu cách truyền thống như nón 3 tầm,áo bát bột(áotơi đi mưa),dép da cong,guốc kinh,thuyền hài,và các loại trang phục có tính lễnghi,…

"Le Mur" chính là cách dịch sang tiếng Pháp của Cát Tường, một họa sĩ tênLemur Nguyễn Cát Tường vào thập niên ba mươi đã thực hiện một cải cách quantrọng trên chiếc áo ngũ thân để biến nó chỉ còn lại hai vạt trước và sau mà thôi Vạttrước được họa sĩ nối dài chấm đất để tăng thêm dáng vẻ uyển chuyển trong bước điđồng thời thân trên được may ôm sát theo những đường cong cơ thể người mặc tạonên vẻ yêu kiều và gợi cảm rất độc đáo Để tăng thêm vẻ nữ tính, hàng nút phía trướcđược dịch chuyển sang một chỗ mở áo dọc theo vai rồi chạy dọc theo một bên sườn,điểm chia hai tà áo trước - sau cũng trễ dưới eo độ 8 cm Điều khác biệt nhất là eo áođược nhấn nhẹ Áo này khi mặc lên hơi sát vào bụng, nên trông như ngực nở ra.(Hình 19, Phụ lục) Đó là nét mỹ thuật Âu Tây đầu tiên được đưa vào y phục phụ nữViệt mà cũng vì chuyện này từng gây phản ứng mạnh một thời trong dư luận Tuynhiên, áo dài Le Mur có nhiều biến cải mà nhiều người thời đó cho là "lai căng" tháiquá, như áo may ráp vai, ráp tay phồng, cổ bồng hoặc cổ hở Thêm nữa áo Le Murmặc cho đúng mốt phải với quần xa tanh trắng, đi giày cao, một tay cắp ô và quàngvai thêm chiếc bóp đầm Lối tân thời này tuy được nhiều người yêu thích nhưng cũng

đã bị một số dư luận khi đó tẩy chay và cho là "đĩ thõa" (như được phản ảnh không

hề thiện cảm trong tác phẩm "Số đỏ" của Vũ Trọng Phụng)

Theo sách Áo dài Lemur và bối cảnh Phong Hóa & Ngày Nay của tác giả PhạmThảo Nguyên (do Khai Tâm và Nhà xuất bản Hồng Đức phát hành năm 2019 và tưliệu trong cuốn sách do Nguyễn Trọng Hiền, con trai họa sĩ Lemur Nguyễn CátTường sưu tầm và gìn giữ) thì trên báo Phong Hóa số 90 ra ngày 23 tháng 3 năm

1934, ông Cát Tường mạnh dạn đưa ra mẫu áo dài Lemur ("Le Mur" chính là cáchdịch sang tiếng Pháp của Cát Tường) đầu tiên Theo đó, khi phát hiện chiếc áo dài

mà người phụ nữ mặc, ở trong lót áo yếm làm thân hình phẳng lì quá, họa sĩ tìm tớichủ hiệu Cự Chung chuyên sản xuất áo khoác, áo bơi ở phố Hàng Bông, đề nghị dệtthêm… áo ngực để nâng ngực cho người mặc Đến năm 1935 thì cho xuất xưởng

Trang 37

những chiếc áo đầu tiên Do được nội hóa, giá cả vừa phải, hợp túi tiền người muanên từ đó, phụ nữ Việt Nam có đầy đủ “phụ tùng”, hết ngại mặc chiếc áo dài Lemurtân thời duyên dáng mà sắc đẹp lại được nổi bật, sang trọng khiến các bà, các côhãnh diện bước ra đường, tạo ra một phong trào đổi mới y phục phụ nữ quy mô sâurộng nhất ở Việt Nam.

Cũng trong năm 1935, họa sĩ Cát Tường đã thực hiện một chuyến đi xuyên Việt

để giới thiệu cho phụ nữ toàn quốc chiếc áo dài tân thời Lemur Tại Huế, ông maymắn gặp bà Công Tằng Tôn Nữ Trinh Diêu, người từng được nhiếp ảnh gia Võ AnNinh chụp nhiều ảnh nghệ thuật, và ông được nhà Nguyễn mời thực hiện riêng một

tủ áo dài tân thời Lemur cho Hoàng hậu Nam Phương Sau này ông còn tiếp tục đivào Nam vẽ áo dài cho nhiều nghệ sĩ cải lương, trong đó có nghệ sĩ Phùng Há

Họa sĩ Lê Phổ cũng không có cải tiến áo dài Lemur theo cách dung hòa giữa váyphương Tây với áo ngũ thân truyền thống như nhiều lời đồn Khi tiệm Marie khánhthành (tiệm của Lê Nghi Sương là cháu của họa sĩ Lê Phổ), họa sĩ Cát Tường có giớithiệu một thợ may giỏi cho Lê Phổ Trong cuốn đặc san ĐẸP Mùa Nực 1934 của CátTường, Lê Phổ có một trang vẽ nữ trang, chứ ông không hề thiết kế áo dài Tới cuốitháng 10 năm 1937, Lê Phổ trả người thợ may giỏi lại cho hiệu may Lemur để điPháp lần thứ hai, sau khi chuyện tình duyên của ông với người bạn gái bị tan vỡ thì

Lê Phổ không trở về nữa mà lấy vợ và ở lại hẳn nước Pháp vẽ tranh tới khi mất TrênBáo Phong Hóa số 115 ngày 14 tháng 9 năm 1934 có đăng một quảng cáo: “Mayquần áo phụ nữ lối mới và lối cũ Có họa sĩ Lê Phổ cho kiểu” (Cho kiểu không phải

là vẽ kiểu mới, mà chỉ là chọn một kiểu trong số kiểu áo Lemur có sẵn cho mỗikhách hàng Có thể chỉnh sửa chút ít cho hợp dáng người, cũng như chọn hàng hợpvới màu da khách Như bác sĩ “cho thuốc” là cho đơn, đi mua thuốc làm sẵn).( PhạmThảo Nguyên, 2019, tr.11)

Năm 1947 trong bối cảnh Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới tuyên bố độc lập vàcác phong trào "diệt giặc đói, giặc dốt" đang được phát động, nhằm phát động phongtrào tiết kiệm, ngày 20 tháng 3 năm 1947, Hồ Chí Minh với bút hiệu Tân Sinh, đãviết một cách vắn tắt rõ ràng và dễ hiểu bài "Đời sống mới" trong đó vận động ngườidân bỏ thói quen mặc áo dài để thay bằng áo vắn vì mặc áo dài đi đứng, làm việc bấttiện, lượt thượt, luộm thuộm Áo dài tốn vải, khoảng hai cái áo dài may được ba cái

áo vắn, nếu chỉ mặc áo vắn có thể sẻn được 200 triệu đồng/năm Áo dài không hợpvới phụ nữ Việt Nam đời sống mới (Tân Sinh, 2007, tr.14) Cuộc vận động này dần

đã được người dân hưởng ứng và áo dài không còn là trang phục thông dụng của phụ

nữ Việt Nam trong một thời gian dài ở miền bắc vĩ tuyến 17

3.3.2 Áo dài Lê Phổ

Cùng theo xu hướng cách tân chiếc áo dài của nữ giới vào những năm 1930, họa

sĩ Lê Phổ cũng tạo tiếng vang với chiếc áo dài mang phong cách mới Đây là một sự

Trang 38

kết hợp mới từ áo tứ thân, biến thể của áo dài Lemur của họa sĩ Lê Phổ nên được gọi

là áo dài Lê Phổ (Hình 20, Phụ lục)

Trên nền tảng chiếc áo năm thân, họa sĩ Lê Phổ làm cho chiếc áo trở nên nhẹnhàng, vừa vặn, thanh mảnh hơn, nhưng vẫn giữ được vẻ nền nả, kín đáo của phụ nữViệt Nam Ông giữ lại nhiều chi tiết của chiếc áo năm thân như phần cổ áo cài khuy,tay áo thẳng, nhưng khác biệt ở phần thân áo bớt rộng và ôm hơn, chất liệu vải mềmmại tạo dáng áo thướt tha Kiểu áo dài của Lê Phổ giữ lại nhiều nét truyền thống vàtôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ Việt, đó là nét dịu dàng, duyên dáng, đằm thắm,kín đáo

Có thể thấy áo dài những năm 1930, đặc biệt là áo dài Lê Phổ đã tạo dấu ấn trongquá trình thay đổi diện mạo và định hình rõ rệt những nét chuẩn mực cơ bản chochiếc áo dài ngày nay của phụ nữ Việt Cũng từ giai đoạn này, chiếc quần dài màutrắng, có ống rộng vừa phải trở nên phổ biến khắp mọi miền, chứ không riêng phụ nữkhá giả ở Huế đã mặc từ giữa thế kỷ XIX

Sau bốn năm phổ biến, ‘áo dài le mur’ được hoạ sĩ Lê Phổ đã bỏ hết những ảnhhưởng phương Tây và thay thế bằng những chi tiết từ áo tứ thân Từ thời điểm nàyđến những năm 1950, phong cách áo dài Việt Nam đã trở nên vô cùng nổi tiếng trongtruyền thống nước nhà

3.3.3 Áo dài Trần Lệ Xuân (1958)

Cuối năm 1958 khi bà Trần Lệ Xuân còn tại vị Đệ Nhất Phu Nhân của nước ViệtNam Cộng Hòa, bà đã thiết kế ra kiểu áo dài cách tân mới bỏ đi phần cổ áo gọi là áodài cổ thuyền, cổ hở, cổ khoét, dân gian gọi là áo dài Trần Lệ Xuân hay áo dài bàNhu Không chỉ lạ về mẫu áo, chiếc áo dài hở cổ còn được ‘phá cách’ với họa tiếttrang trí trên áo: nhành trúc mọc ngược Một số nhà phê bình phương tây cho rằng nóhợp lý với thời tiết nhiệt đới của miền nam Việt Nam Nhưng kiểu áo này khiếnnhững người theo cổ học lúc đó tức giận và lên án nó không hợp với thuần phong mỹtục Loại áo dài không có cổ này vẫn phổ biến đến ngày nay và phần cổ được khoétsâu cho tròn chứ không ngắn như bản gốc (Hình 21, Phụ lục)

(Tác giả Lý Nhân đã viết: “Lại nói về cái áo cổ hở kiểu bà Nhu, thời đó chỉ có bà

ta và mấy bà trong Phong trào Phụ nữ Liên đới, hay mấy nữ dân biểu muốn lấy lòng

bà cố vấn, mấy em ca sĩ, gái nhảy,… những phụ nữ trí thức, nữ sinh, sinh viên đứngđắn không ai mặc kiểu đó cả” )(Lý Nhân,2012, tr.108) Ngày nay, khi cái nhìn của xãhội cởi mở hơn, không ít phụ nữ Việt lại chọn mặc kiểu áo dài cổ hở này, một phần

có lẽ thích hợp với khí hậu nóng ẩm ở Việt Nam và tạo cảm giác thoải mái hơn khimặc hàng ngày

3.3.4 Áo dài với tay Raglan (1960)

Thập niên 1960 có nhà may Dung ở Dakao, Sài Gòn đưa ra kiểu may áo dài vớicách ráp tay Raglan (giác lăng) (Hình 22, Phụ lục) Cách ráp này đã giải quyết đượcvấn đề khó khăn nhất khi may áo dài: những nếp nhăn thường xuất hiện hai bên nách

Trang 39

Cách ráp này cải biến ở chỗ hàng nút cài được bố trí chạy từ dưới cổ xéo xuống nách,rồi kế đó chạy dọc một bên hông Với cách ráp tay Raglan làn vải được bo sít saotheo thân hình người mặc từ dưới nách đến lườn eo, khiến chiếc áo dài ôm khít từngđường cong của thân hình người phụ nữ, tạo thêm tính thẩm mỹ theo đánh giá củamột số nhà thiết kế.

Để may được chiếc áo dài giác lăng thì cũng cần sự khéo léo, có kỹ thuật cắt, nêncần phải có thợ chuyên may tay giác lăng, chứ không phải thợ may nào cũng có thểmay được kiểu tay áo này Vì vậy, đây cũng là nét độc đáo của chiếc áo dài

3.3.5 Áo dài mini raglan (1971)

Áo áp dụng rộng rãi cho nữ sinh Theo phiên bản gốc này, áo ngắn tay Raglan có

tà chỉ ngắn tới bàn chân, nhưng hai ống quần ôm lòa xòa phủ kín đôi chân Quầndùng fecmotuy để cố định, có thêm túi

Áo dài cưới có chất liệu, kiểu dáng gần với váy cưới soiree (quần đủ các màu,kim tuyến, thêu hiện đại, phéc-mơ-tuya sau lưng, tà áo sau dài xếp ly ra sau để phùdâu cầm) Thời kỳ này, người Việt Nam gần như đã quên hình ảnh truyền thống áongũ thân cổ đứng, vấn khăn (hoặc cài trâm), đội nón 3 tầm, chân xỏ hài (hoặc guốccong)

3.3.6 Những năm 1990, bước phát triển đa dạng của áo dài Việt Nam

Những năm 1990, xuất hiện một làn sóng mới với các thiết kế áo dài vẽ của họa

sĩ Sỹ Hoàng, áo dài Sĩ Hoàng Đây là bước cải tiến mới, góp phần làm cho chiếc áodài trở nên lạ mắt, đặc sắc và thẩm mỹ hơn bởi các hình vẽ trên nền vải trơn truyềnthống Ngoài ra, ông cũng có những hoạt động tích cực để giới thiệu, quảng bá chiếc

áo dài ra thế giới Ông là người đầu tiên lập Bảo tàng Áo dài ở quận 9 vào năm 2015.(Hình 23, Phụ lục) Bên cạnh đó, còn phổ biến chiếc áo dài thổ cẩm, gắn liền với têntuổi của nhà thiết kế Minh Hạnh, còn gọi là áo dài Minh Hạnh Với chiếc áo dài thổcẩm, Minh Hạnh đã tạo một sự đột phá trong sáng tạo và mang lại làn gió mới chochiếc áo dài bởi nét độc đáo, mới lạ nhưng vẫn giữ được nét truyền thống Hơn nữa,chiếc áo dài của Minh Hạnh còn thể hiện sự giao lưu tiếp biến văn hóa giữa các dântộc ở Việt Nam bởi chất liệu thổ cẩm vốn được dệt từ bàn tay của những người dântộc thiểu số ở Việt Nam Kiểu áo dài này được giới trẻ ưa chuộng và góp phần làm

đa dạng, phong phú trong bộ sưu tập áo dài của các chị em phụ nữ

Trang 40

lựa chọn trong ngày cưới, một dịp trọng đại của đời người Chiếc áo dài ren của LiênHương là sự kết hợp giữa văn hóa Đông - Tây.

Nhà thiết kế đã dùng chất liệu ren, thường được may áo soiree, kiểu áo cưới được

du nhập vào Việt Nam từ phương Tây từ giữa thế kỷ XX, để tạo nên chiếc áo dàicưới ấn tượng cho các cô dâu Việt; áo dài Việt Hùng của nhà thiết kế Việt Hùng, đãgóp phần khẳng định chiếc áo dài là một trong những bộ trang phục dân tộc đẹp nhấtthế giới vào năm 2006 Đó là chiếc áo dài cách điệu với đuôi công, kết cườm và kim

sa được hoa hậu Mai Phương Thúy mặc trong cuộc thi Hoa hậu Thế giới năm đó.Những năm gần đây, xuất hiện thêm áo dài cách tân với đủ kiểu dáng mới lạ Áo dàicách tân thường cách điệu với tà áo ngắn trên đầu gối, kết hợp với quần thun ôm,quần jean, hay quần tây ống ôm, nhỏ Bên cạnh đó, còn có xu hướng kết hợp chiếckhăn vấn, mặc với váy rộng, xòe, ngắn giống như kết hợp với áo tứ thân Đây cũng làkhuynh hướng nhằm đáp ứng nhu cầu thuận tiện cho việc di chuyển, lên xuống cầuthang của chị em

Dịp Tết 2018 vừa qua, còn xuất hiện áo dài Cô Ba Sài Gòn mà điểm nổi bật là họatiết “gạch bông” với màu sắc đa dạng, kết hợp với chiếc khăn làm thành băng đô càitóc Thực chất đây là kiểu áo dài của những năm 1965, được tái hiện lại trong bộphim Cô Ba Sài Gòn (The Taylor) Qua bộ phim, kiểu áo dài này đã được đón nhậnrất tích cực, đặc biệt đây là bộ áo dài được lựa chọn mặc nhiều trong dịp Tết vừa qua

3.3.8 Áo dài nam

Trang phục đàn ông các vùng miền tương tự như nhau Đàn ông thuộc tầng lớplao động miền Bắc, miền Trung thường mặc quần áo bằng vải Đồng Lầm nhuộm nâu

Áo cánh ngắn, bốn thân cài cúc giữa hay năm thân cài cúc bên, cổ tròn đứng, vuônggóc Quanh cố có lót (ở phía trong áo) một miếng vải trùm một phần vai, lưng, ngựcgọi là cổ lá sen, có tác dụng làm cứng vai áo và lâu rách do vai thường bị cọ xátnhiều do gánh, vác Gấu áo, gấu tay viền to hơn áo phụ nữ Hai vạt trước có hai túi.Đặc biệt, ở miền Trung có loại áo lác được đan bằng sợi cỏ lác phơi khô, mặc khi giárét Áo là một hình chữ nhật gập đôi, giữa khoét miếng tròn làm cổ áo Khi mặc, chuiđầu qua cổ áo, buộc một sợi dây ngang bụng, giữ cho hai vạt áo trước và sau sát vàongười

Quần nam giới là loại quần lá tọa - may rộng, đũng thấp, ống thẳng Khi mặc, thắtdây lưng ra ngoài cạp rồi kéo cạp lên hoặc xoắn cạp làm cho ống quần cao lên Lúclao động có thê vén ống quần lên quá bắp chân, xoắn gọn lại (gọi là quần xắnmóng lợn) Cũng có thể mặc quần đùi [quần cụt) cho thuận tiện

Tóc đàn ông để dài như tóc đàn bà, búi cao lên phía sau đỉnh đầu Người laođộng chít khăn đầu rìu Khăn là miếng vải vuông, mỗi chiều 40cm - 50cm Gậpchéo khăn lại thành hình tam giác, góc giữa để về phía sau gáy, hai góc cạnhbuộc với nhau phía trên trán, có tác dụng giữ búi tóc phía sau và để tóc phía trướckhông xoã xuống mặt Nhiều người chỉ quấn trên đầu một vòng khăn sơ sài bằngdải vải dài cuộn xoắn lại

Ngày đăng: 07/06/2023, 22:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w