TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP – TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG ỐC BƯƠU VÀNG LÀM THỨC ĂN BỔ SUNG PROTEIN TRONG KHẨU PHẦN ĂN CỦA LƯƠN Đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP – TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG ỐC BƯƠU VÀNG LÀM THỨC ĂN BỔ SUNG PROTEIN TRONG
KHẨU PHẦN ĂN CỦA LƯƠN ĐỒNG
(Monopterus albus) THỊT
TRỊNH ĐẶNG NHẬT ĐĂNG
AN GIANG, THÁNG 09 - 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP – TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG ỐC BƯƠU VÀNG LÀM THỨC ĂN BỔ SUNG PROTEIN TRONG
KHẨU PHẦN ĂN CỦA LƯƠN ĐỒNG
(Monopterus albus) THỊT
TRỊNH ĐẶNG NHẬT ĐĂNG MSSV: DTS182870
GVHD: TS PHAN PHƯƠNG LOAN
AN GIANG, THÁNG 09 – 2022
Trang 3CHẤP NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG
ăn bổ sung protein trong khẩu phần ăn của lươn đồng (Monopterus albus)
TS Phan Phương Loan
Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
TS Phan Phương Loan Trịnh Đặng Nhật Đăng
Phản biện 1 Phản biện 2
Ts Nguyễn Hữu Yến Nhi Ths Trần Kim Hoàng
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Để có thể hoàn thành đề tài tốt nghiệp này, em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong Bộ môn Thuỷ sản đã cung cấp những kiến thức cũng như những kinh nghiệm thực tiễn để em có thể ứng dụng tất cả những gì đã học vào trong quá trình thực hiện đề tài này Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Cô Phan Phương Loan đã tận tình hướng dẫn, quan tâm giúp đỡ và truyền đạt những kiến thức cho em để có thể hoàn thành tốt đề tài này
Bên cạnh đó, em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến Bộ môn Thuỷ sản, Khoa Nông nghiệp - TNTN và Trường Đại học An Giang
Ngoài ra, em xin gửi lời cảm ơn các thầy cô ở khu thí nghiệm đã tạo điều kiện đầy đủ và hỗ trợ cho em trong quá trình thực hiện đề tài
Cảm ơn các bạn lớp DH19TS đã cùng tôi trao đổi và thảo luận các kết quả thu
được giúp tôi hoàn thành chuyên đề được tốt nhất
An Giang, ngày 15 tháng 09 năm 2022
Trịnh Đặng Nhật Đăng
Trang 5LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong công trình nghiên cứu xuất xứ rõ ràng Những kết luận mới về khoa học của công trình này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
An Giang, ngày 15, tháng 09 năm 2022
Người thực hiện
Trịnh Đặng Nhật Đăng
Trang 6i
TÓM TẮT
Nghiên cứu được thực hiện tại Trại Thủy Sản của trường Đại Học An Giang Thời gian nghiên cứu từ tháng 06 đến tháng 08 năm 2022
Nghiên cứu sử dụng ốc bươu vàng làm thức ăn bổ sung protein trong khẩu
phần ăn của lươn đồng (Monopterus albus) thịt với các công thức phối trộn
thức ăn khác nhau được chia thành 4 nghiệm thức: Đối chứng (ĐC), OC50%, OC75%, OC100% được bố trí một cách hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 lần lặp lại
7,63 – 7,95; DO từ 5,15 – 7,125; NH3/NH4+ dao động trong khoảng 0,016 – 0,098 mg/L; NO2- từ 0,002 – 0,017 mg/L trong suốt quá trình nghiên cứu nuôi
lươn đồng (Monopterus albus) thịt đều nằm trong khoảng thích hợp và không
gây ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của lươn thí nghiệm
Ở nghiệm thức 2 (OC50%), tăng trưởng về khối lượng (WG) đạt 10,17±2,19 g/con, tốc độ tăng trưởng chuyên biệt (SGR) đạt 0.27±0.07, lượng thức ăn (FI) đạt 0,68±0,03 g/ngày, hiệu quả sử dụng thức ăn (PER) đạt 7,15±1,169 và hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) đạt 2,29±0,679 Khác biệt không có ý nghĩa thống
kê (p>0,05) khi so với nghiệm thức đối chứng (ĐC), nhưng ở nghiệm thức 2 (OC50%) mang lại được sự ổn định hơn, hiệu quả hơn và giảm được chi phí kinh tế hơn so với các nghiệm thức còn lại
Tỉ lệ sống từ 95,22% – 98,50%, đạt cao nhất ở nghiệm thức 1 (98,50±1,73)%
là nghiệm thức đối chứng nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)
so với những nghiệm thức còn lại
Trang 7ii
MỤC LỤC
DANH SÁCH BẢNG iv
DANH SÁCH HÌNH v
DANH MỤC TỪ TÓM TẮT vi
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2
CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC LƯƠN ĐỒNG 3
2.1.1 Vị trí phân loại 3
2.1.2 Đặc điểm hình thái 3
2.1.3 Tập tính sống 4
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 4
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng 5
2.2 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ NUÔI LƯƠN THƯƠNG PHẨM 5
2.3 TÌNH HÌNH NUÔI LƯƠN ĐỒNG TẠI TỈNH AN GIANG 7
2.4 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ KHÍA CẠNH HIỆU QUẢ KỸ THUẬT VÀ TÀI CHÍNH NUÔI LƯƠN Ở AN GIANG VÀ ĐBSCL 8
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
3.1 NGUỒN GỐC LƯƠN THÍ NGHIỆM 10
3.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 10
3.3 THỨC ĂN THÍ NGHIỆM 10
3.4 TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU 12
3.4.1 Công cụ nghiên cứu 12
3.4.2 Bố trí thí nghiệm 13
3.4.3 Chăm sóc và quản lý 14
3.4.4 Chỉ tiêu theo dõi: 14
3.5 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 15
Trang 8iii
3.5.1 Phương pháp phân tích thống kê 15
3.5.2 Phân tích và diễn giải số liệu thu được 15
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16
4.1 CÁC CHỈ TIÊU MÔI TRƯỜNG 16
4.1.1 Nhiệt độ 16
4.1.2 Oxy hòa tan (DO) 16
4.1.3 pH 17
4.1.4 Amonia (NH 3 ) 18
4.1.5 Nitrite (NO 2 -) 18
4.2 TĂNG TRƯỞNG CỦA LƯƠN 19
4.2.1 Tăng trưởng về khối lượng 19
4.2.1 Tăng trọng và tốc độ tăng trưởng chuyên biệt 20
4.3 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC ĂN 21
4.4 TỈ LỆ SỐNG 22
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 23
5.1 KẾT LUẬN 23
5.2 KIẾN NGHỊ 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
PHỤ LỤC 26
Trang 9iv
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1 Tình hình nuôi lươn đồng tỉnh An Giang 7
Bảng 2 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn cơ bản 11
Bảng 3 Công thức phối trộn thức ăn theo các nghiệm thức 11
Bảng 4 Khối lượng trung bình của Lươn 19
Bảng 5.Tăng trưởng về khối lượng của lươn sau 6 tuần thí nghiệm 20
Bảng 6 Lượng thức ăn (FI), hệ số thức ăn (FCR) và hiệu quả sử dụng protein (PER) của lươn sau 6 tuần thí nghiệm 21
Bảng 7 Tỉ lệ sống (%) của lươn sau 6 tuần thí nghiệm 22
Trang 10v
DANH SÁCH HÌNH
Hình 1 Lươn đồng 3
Hình 2 Bố trí lươn thí nghiệm 10
Hình 3 Các nguyên liệu cơ bản dùng để phối trộn thức ăn (A) ốc; (B) Cá tạp; (C) Premix khoáng, (D) Bao nguyên liệu cơ bản bao gồm cám gạo, bột cá, nành, bắp 11
Hình 4 Quá trình trộn thức ăn 12
Hình 5 Máy đo DO, pH, nhiệt độ được đo hằng ngày 12
Hình 6 Mô hình nuôi lươn trong khay nhựa 13
Hình 7 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 13
Hình 8 Biểu đồ biến động của nhiệt độ trong môi trường nước 16
Hình 9 Biểu đồ biến động của DO trong môi trường nước 17
Hình 10 Biểu đồ biếng động của pH trong môi trường nước 17
Hình 11 Biểu đồ biến động của NH3–/NH4 + trong môi trường nước 18
Hình 12 Biểu đồ biến động của NO2- trong môi trường nước 19
Trang 11Tro thô Đạm thô CFi
Xơ thô Chất thiết không đạm Năng lượng thô Nhân
Chia Phân trăm
Trang 121
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Lươn đồng (Monopterus albus) là một trong những loài thủy sản nước ngọt
được nuôi nhiều tại một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long như An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Hậu Giang, TP Cần Thơ, Bạc Liêu gần đây được phát triển ở TP Hồ Chí Minh, Vũng Tàu … Nghề nuôi lươn được xem là mô hình nuôi thủy sản giúp xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, góp phần ổn định đời sống người dân nông thôn (Nguyễn Thanh Long, 2015) Và theo Ngô Trọng Lư và Lê Đăng Khuyến (2000) cho rằng có nhiều phương pháp nuôi lươn thịt trong ao nước tĩnh, có nước chảy, nuôi lươn trong ruộng lúa Riêng, tại địa bàn tỉnh An Giang mô hình nuôi lươn thương phẩm phát triển khá đa dạng với nhiều hình thức nuôi như: bể lót bạt, bể xi măng, … với kỹ thuật nuôi
có bùn, không bùn, nuôi vĩ tre, khung ống nhựa PVC, giá thể thủy sinh; có thể
sử dụng thức ăn công nghiệp kết hợp thức ăn tươi sống cho lươn ăn hoặc có thể sử dụng hoàn toàn thức ăn công nghiệp Nghề nuôi lươn tại An Giang phát triển rất sớm, các hộ nuôi có khá nhiều kinh nghiệm về đối tượng này tuy nhiên số lượng hộ nuôi, diện tích, năng suất cũng như sản lượng lươn mang lại chưa cao, theo Cục Thống kê An Giang sản lượng lươn nuôi tăng dần từ năm
2014 đến 2016, sản lượng tăng từ 1.040 đến 1.311 tấn Đến năm 2017 về sau, sản lượng nuôi ngày càng sụt giảm 1.170 tấn, năm 2018 sản xuất 1.039 tấn đến 2020 có sản lượng chỉ còn 888 tấn
Hiện nay, các hộ nuôi lươn thương phẩm đã chuyển dần từ sử dụng nguồn lươn giống đánh bắt tự nhiên sang sử dụng lươn giống từ sinh sản bán nhân tạo nhằm chủ động được lịch thời vụ, nguồn gốc giống được xác định, kích cỡ giống đồng đều, tăng trưởng tốt và các hộ nuôi đã có nhiều năm kinh nghiệm
về đối tượng này; song song đó là việc sử dụng 100% thức ăn công nghiệp trong quá trình nuôi nên việc gia tăng mật độ trên cùng diện tích nuôi và ứng dụng hệ thống cho ăn bằng máy kiểm soát lượng thức ăn cho ăn góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước, tăng năng suất nuôi trên cùng diện tích giảm chi phí công lao động là thiết yếu và có khả năng ứng dụng cao trong thời gian tới Tuy nhiên, việc nuôi lươn sử dụng 100% thức ăn công nghiệp hiện nay đang gặp phải các trở ngại là chưa có thức ăn chuyên biệt dành cho lươn đồng, vì thế tốc độ tăng trưởng, hệ số FCR có sự chênh lệch khá lớn giữa các hộ nuôi, vùng nuôi va đặc biệt là màu sắc của lươn nuôi sử dụng 100% thức ăn công nghiệp không bắt mắt người tiêu dùng do không có màu vàng đặc trưng như lươn nuôi bằng thức ăn tươi sống hay lươn đánh bắt từ tự nhiên
Trang 132
Việc sản xuất lúa ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay gặp phải dịch hại do
ốc bươu vàng gây ra đối với cây lúa đang sinh trưởng Ốc bươu vàng, chúng
có khả năng sinh sản rất nhanh, gây hại lúa và hoa màu Trong thực tế cho thấy, ốc bươu vàng là thức ăn cho nhiều loài động vật thủy sản như tôm càng xanh, cá lóc, cá trê, lươn đồng, lươn ăn ốc bươu vàng góp phần diệt trừ ốc, hạn chế gây ô nhiễm môi trường do không cần sử dụng hoá chất diệt ốc trên ruộng lúa, tận dụng được nguồn protein sẵn có giúp kích thích lươn ăn nhiều
và nhanh lớn, rút ngắn thời gian nuôi Vì những lý do nêu trên nghiên cứu
“Nghiên cứu sử dụng ốc bươu vàng làm thức ăn bổ sung protein trong khẩu phần ăn của lươn đồng thịt”, nhằm biết được lượng ốc bươu vàng thay thế trong khẩu phần của lươn bao nhiêu là phù hợp với khả năng sinh trưởng của lươn, giúp tận dụng được nguồn thức ăn tự nhiên sẵn có trong nuôi lươn, góp phần diệt trừ sự gây hại của ốc bươu vàng cũng như nâng cao giá trị thương phẩm của lươn nuôi
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Xác định tỷ lệ bổ sung ốc bươu vàng vào khẩu phần ăn cơ bản của lươn đồng Đánh giá hiệu quả kinh tế khi sử dụng ốc bươu vàng làm nguồn protein thay thế trong khẩu phần ăn cơ bản của lươn đồng thịt
1.3 ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Lươn đồng giai đoạn nuôi thịt có khối lượng ban đầu trung bình từ 76,89±4,28 – 82,11±7,83 g/con
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Xây dựng công thức thức ăn cho lươn đồng giai đoạn nuôi thịt có khối lượng trung bình từ 76,89±4,28 – 82,11±7,83 g/con cùng mức protein 30±2% trong khẩu phần ăn cơ bản và thay thế nguồn protein từ cá tạp trong khẩu phần ăn cơ bản bằng nguồn protein từ ốc bươu vàng
Theo dõi các yếu tố môi trường: Ôxy hòa tan (DO), pH, nhiệt độ, Ammonia (NH4+/NH3-N) và nitrite (NO2-N) trong quá trình nuôi
Phân tích sinh trưởng của lươn khi sử dụng 4 công thức thức ăn trên, các chỉ tiêu đánh giá bao gồm: Tăng trưởng chuyên biệt (specific growth rate, SGR);
Hệ số chuyển đổi thức ăn (feed conversion ratio, FCR); Lượng ăn mỗi ngày (daily feed intake, FI); Hiệu quả sử dụng protein (protein efficient ratio, PER);
Tỉ lệ sống (survival ratio, SR)
Trang 143
CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC LƯƠN ĐỒNG
Loài Monopterus albus (Zuiew, 1793)
Tên địa phương: Lươn đồng
Tên tiếng Anh: Asian swamp eel
Hình 1: Lươn đồng (Nguồn: fishbase Monopterus albus, Asian swamp eel :
fisheries, aquaculture, aquarium (fishbase.se))
Trang 154
2.1.3 Tập tính sống
Lươn thường cư trú ở bùn ao, kênh rạch, các dòng sông lớn hoặc ở đầm, đồng ruộng, thung lũng hẹp (Straight và cs., 2005) Lươn thường làm hang ở vùng nước nông (Shafland và cs., 2010), ruộng ngập lũ và nơi nước tù động Theo Ngô Trọng Lư (2002), lươn thích sống ở nơi đất thịt pha sét, đất bùn Lươn có khả năng chịu đựng được môi trường khô hạn bằng cách chui rút vào đất ẩm
và sống ở đây cho đến hết mùa khô nhưng không sâu quá 3.0 m (Nguyễn Chung, 2007) Lươn đồng sống chủ yếu ở các vùng nước ngọt nhưng cũng có thể tìm thấy ở vùng nước lợ mặn Lươn đồng sống phổ biến ở nhiều loại hình thủy vực nước tĩnh hoặc nước chảy như ao, sông, hồ, kênh mương Lươn đồng
có cơ quan hô hấp phụ nằm trong xoang miệng với các vi huyết quản nhỏ, dày đặc và cả ở da nên có thể sống trên cạn với thời gian dài và chỉ cần giữ cho da luôn được ẩm Dưới khả năng đào bới trong vùng đất ẩm ướt, lươn đồng có thể sống sót trong khoảng thời gian dài mà không cần nước Lươn đồng có khả năng chịu mức oxygen khác nhau, chúng có thể thu nhận 25% lượng oxygen
từ không khí (Phạm Văn Quỳnh, 2013) Lươn phát triển tốt ở môi trường nước
ăn động vật và có thể ăn những thức ăn có kích thước lớn Ngoài tự nhiên thức
ăn chủ yếu là cá, cua và tép (Lý Văn Khánh và cs., 2008) Lươn đồng
(Monopterus albus) là loài ăn tạp thiên về động vật (Mai Đình Yên và cs.,
1992; Ngô Trọng Lư, 2002) Lươn tìm thức ăn chủ yếu dựa vào khứu giác, lươn thường ăn vào lúc chiều tối và thường vào một thời điểm nhất định (Nguyễn Chung, 2007) Thức ăn của lươn gồm nhiều loại khác nhau phổ biến nhất là cá nhỏ, giáp xác và côn trùng (Shafland và cs., 2010) Theo Ngô Trọng
Lư (2002) khi còn nhỏ thức ăn của lươn là động vật phù du, khi trưởng thành thức ăn là động vật đáy như tôm, lươn con, ấu trùng côn trùng thủy sinh Tuy nhiên, tính ăn còn thay đổi và tùy thuộc vào giai đoạn phát triển của cơ thể, cơ
sở thức ăn trong môi trường sống Theo Nguyễn Văn Kiểm và Bùi Minh Tâm (2004), lươn đồng có xu hướng ăn động vật khi càng lớn lên, như khi lươn đạt chiều dài 15 cm trở lên thì thức ăn chủ yếu chúng chọn là cá, tôm con, côn trùng, ốc, hến, nòng nọc, ếch nhái, giun ốc và những côn trùng gần mép nước: giun, dế, Tuy nhiên, khi trong môi trường thiếu thức ăn chúng có thể ăn rau bèo, mảnh vụn thực vật Và nếu cạn kiệt thức ăn chúng ăn lẫn nhau Lươn tìm
Trang 165
thức ăn chủ yếu dựa vào khứu giác (Nguyễn Chung, 2007) Trong tự nhiên, lươn có khả năng chịu đói trong khoảng thời gian dài Hiệu quả sử dụng thức
ăn khác nhau khi lươn ăn thức ăn khác nhau: lươn ăn giun đất tươi thì FCR: 4
- 6; còn thức ăn là thịt trai tươi 7% khối lượng thân thì FCR: 7,5 - 10 (Ngô Trọng Lư, 2002) Theo nghiên cứu của Shafland và cs., 2010 lươn đồng là loài
ăn đêm thường thì đào bới ở lớp đất mềm hoặc chiếm giữ những không gian nhỏ Lươn đồng thường ăn những thức ăn như: giáp xác chân chèo, nhóm tôm hùm, cá, trứng cá, côn trùng, giun ít tơ, vật chất hữu cơ, nguyên liệu cây và nòng nọc Trong môi trường nuôi, lươn có khả năng sử dụng thức ăn công nghiệp hoặc thức ăn công nghiệp phối trộn với cá tạp, ốc
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng
Lươn là loài thủy sinh lớn chậm (Dương Nhựt Long, 2004) Trong hai năm đầu lươn tăng trưởng chiều dài nhanh hơn chiều ngang (Việt Chương và Nguyễn Việt Thái, 2007), sau đó chủ yếu gia tăng trọng lượng (Ngô Trọng Lư, 2002) Tốc độ sinh trưởng của lươn tùy thuộc vào điều kiện môi trường, ở vùng nhiệt đới không phải trú đông lươn lớn rất nhanh Lươn con 3 - 4 tháng tuổi lớn nhanh và chiều dài có thể đạt 20 - 27 cm nặng 18 - 60g, 6 tháng tuổi
có chiều dài 36 - 48 cm nặng 60 - 100g và một năm tuổi có chiều dài đạt khoảng 40 - 60 cm nặng 150 – 250g (Nguyễn Chung, 2007) Theo Nguyễn Văn Kiểm và Bùi Minh Tâm (2004), khi lươn có kích cỡ không đồng đều nhau
và thiếu thức ăn thì chúng có xu hướng ăn nhau Tăng trưởng của lươn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: pH, khí NH3 và nhiệt độ; nhiệt độ phù hợp cho sự sinh
chậm Ở môi trường tự nhiên, lươn một năm tuổi có thể đạt khối lượng 200 -
300 g/con Trong điều kiện nuôi, sau 8 - 10 tháng lươn có thể đạt khối lượng khoảng 200 - 250 g/con
2.2 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ NUÔI LƯƠN THƯƠNG PHẨM
Lươn đồng (Monopterus albus) là một trong những loài thủy sản nước ngọt
được nuôi nhiều tại một số tỉnh ĐBSCL đã góp phần ổn định đời sống người dân nông thôn (Nguyễn Thanh Long, 2015)
Thí nghiệm về ảnh hưởng của các loại thức ăn lên tăng trưởng của lươn tại huyện Ba Tri tỉnh Bến tre được Hồ Thị Bích Ngân (2008) tiến hành bố trí thí nghiệm trong 151 ngày với 3 nghiệm thức là thức ăn công nghiệp, thức ăn chế biến và thức ăn tươi Kết quả cho thấy, tăng trưởng về khối lượng không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa nghiệm thức sử dụng thức ăn tươi và nghiệm thức sử dụng thức ăn chế biến, giá trị SGR đạt 1,11% - 1,12%/ngày cao hơn hẳn so với ở nghiệm thức sử dụng thức ăn công nghiệp 0,94%/ngày Tỷ lệ sống trung
Trang 176
bình của lươn cao nhất ở nghiệm thức sử dụng thức ăn chế biến đạt 91,5 ± 5,3%, kế đến là 7 ở nghiệm thức sử dụng thức ăn công nghiệp 89,2 ± 10,4% và thức ăn tươi 88,5 ± 5,2%
Kết quả tương tự được tìm thấy từ nghiên cứu của Nguyễn Hữu Khánh và Hồ Thị Bích Ngân (2009), tăng trưởng và tỷ lệ sống của lươn đồng thả nuôi ở mật
Kết quả nghiên cứu của Mai Văn Tùng và cs (2019) nghiên cứu ảnh hưởng hàm lượng protein trong thức ăn khác nhau lên tăng trưởng của lươn đồng, nguồn giống từ đại học An Giang mang về khoa Thủy Sản của Học viện Nông Nghiệp Việt Nam, cho thấy khi sử dụng thức ăn viên công nghiệp hàm lượng protein của thức ăn 40% sau 5 tháng thí nghiệm có tốc độ tăng trưởng tốt nhất Khi cho ăn bằng thức ăn chế biến cần cung cấp một số chất bổ sung như premix khoáng, vitamin, và thức ăn phải được nấu chín để loại bỏ những kháng chất dinh dưỡng cũng như giảm thiểu sự ô nhiễm nguồn nước từ sản phẩm thức ăn dư thừa Hàng ngày nên quan sát mức độ ăn của lươn để điều chỉnh chế độ ăn phù hợp, cho lươn ăn vừa đủ, không để lươn bị đói nhưng cũng không cho thức ăn dư thừa sẽ gây ô nhiễm nguồn nước nuôi hoặc lươn
ăn nhiều quá dễ bị bội thực và chết Giai đoạn đầu mới nuôi cho lươn ăn với mức khẩu phần thấp hơn khi lươn đã lớn
Theo Nguyễn Thị Mỹ Hằng và cs (2013), thực hiện nghiên cứu tại xã Tân An
và xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang đã chứng minh nuôi lươn bằng thức ăn công nghiệp có hệ số thức ăn thấp hơn nhiều so với thức ăn tươi sống, cụ thể hệ số thức ăn của thức ăn công nghiệp là 1,44 – 1,54 và thức ăn tươi sống là 4,2 – 5 Tuy năng suất thu hoạch của mô hình nuôi bằng thức ăn công nghiệp thấp hơn thức ăn tươi sống, nhưng khi so về hiệu quả kinh tế, thì
mô hình nuôi lươn bằng thức ăn công nghiệp cao hơn so với mô hình nuôi bằng thức ăn tươi sống, do chi phí về thức ăn và hiệu quả sử dụng thức ăn của thức ăn công nghiệp cao hơn thức ăn tươi sống
Theo Trần Phạm Trung (2017) thực hiện nghiên cứu tại xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang đã thử nghiệm bổ sung premix vào
Trang 187
thức ăn vào nuôi lươn trong vèo bằng nguồn giống bán nhân tạo, kích cỡ giống 5g/con (200 con/kg) Sau 8 tháng nuôi cho thấy, kết quả tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng 0,48 – 0,59 g/ngày Vì thế, hiệu quả kinh tế cao hơn nghiệm thức không bổ sung premix Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hiệu (2015) khi nuôi lươn thương phẩm bằng bể lót bạt tại Cần Thơ sau 10 tháng nuôi cho khối lượng lươn trung bình 221,2 g và năng suất là 19,17
năng suất là 17,25 kg/m2
Tỉ lệ sống lươn ăn thức ăn tươi sống (60,73%) thấp hơn so với thức ăn chế biến (63,67%) Hệ số thức ăn (FCR) ở nghiệm thức thức ăn chế biến là 3,53 và nghiệm thức thức ăn tươi sống là 4,13
2.3 TÌNH HÌNH NUÔI LƯƠN ĐỒNG TẠI TỈNH AN GIANG
Lươn đồng (Monopterus albus) là một trong những loài thủy sản nước ngọt
được nuôi nhiều tại một số tỉnh ĐBSCL như An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Hậu Giang, TP Cần Thơ, Bạc Liêu gần đây được phát triển ở TP Hồ Chí Minh, Vũng Tàu.… Nghề nuôi lươn được xem là mô hình nuôi thủy sản giúp xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, góp phần ổn định đời sống người dân nông thôn (Nguyễn Thanh Long, 2015) Và theo Ngô Trọng Lư và
Lê Đăng Khuyến (2000) cho rằng có nhiều phương pháp nuôi lươn thịt trong
ao nước tĩnh, có nước chảy, nuôi lươn trong ruộng lúa Riêng, tại địa bàn tỉnh
An Giang mô hình nuôi lươn thương phẩm phát triển khá đa dạng với nhiều hình thức nuôi như: bể lót bạt, bể xi măng, … với kỹ thuật nuôi có bùn, không bùn, nuôi vĩ tre, khung ống nhựa PVC, giá thể thủy sinh; có thể sử dụng thức
ăn công nghiệp kết hợp thức ăn tươi sống cho lươn ăn hoặc có thể sử dụng hoàn toàn thức ăn công nghiệp
Nghề nuôi lươn tại An Giang phát triển rất sớm, các hộ nuôi có khá nhiều kinh nghiệm về đối tượng này tuy nhiên số lượng hộ nuôi, diện tích, năng suất cũng như sản lượng lươn mang lại chưa cao thông qua bảng số liệu sau:
Bảng 1: Tình hình nuôi lươn đồng (Monopterus albus) tỉnh An Giang
Trang 198
Nguồn: Cục Thống kê An Giang (2014-2020) Theo Cục Thống kê An Giang, sản lượng lươn nuôi tăng dần từ năm 2014 đến 2016, sản lượng tăng từ 1.040 đến 1.311 tấn Đến năm 2017 về sau, sản lượng nuôi ngày càng sụt giảm 1.170 tấn, năm 2018 sản xuất 1.039 tấn đến 2020 có sản lượng ước chỉ 888 tấn, bằng 130,9 % so cùng kỳ Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sản lượng lươn nuôi tại
An Giang chưa được phát triển như do nhu cầu thị trường, nguồn lươn giống, vốn đầu tư của nông hộ Bên cạnh đó, nghề nuôi lươn tại An Giang chủ yếu phát triển ở các nông hộ có diện tích đất sản xuất ít, mật độ nuôi lươn hiện tại còn thấp so với tiềm năng phát triển Đồng thời, những năm trước đây người nuôi sử dụng con giống đánh bắt từ tự nhiên, rất nhiều hộ nuôi nhập lươn giống từ Campuchia về nuôi, điều này đã gây khó khăn trong việc gia tăng mật
độ nuôi trong bể vì tính tự nhiên của lươn giống bắt từ tự nhiên không thể thích nghi trong điều kiện nuôi nhốt và nhất là ở mật độ cao Vì thế, các mô hình lươn xảy ra dịch bệnh, chết hàng loạt, gây thiệt hại nặng nề; ngoài ra, người nuôi thường có thói quen không kiểm soát mật độ trong suốt vụ nuôi nên ảnh hưởng năng suất khi thu hoạch Đa phần mô hình nuôi lươn thương
, kích cỡ lươn giống 5,25 g/con sử dụng thức ăn chế biến (50% thức ăn viên + 50% cá tạp) sau 150 ngày đạt khối lượng trung bình 161,2 g/con, tỷ lệ sống đạt 63,67 %
2.4 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ KHÍA CẠNH HIỆU QUẢ KỸ THUẬT
VÀ TÀI CHÍNH NUÔI LƯƠN Ở AN GIANG VÀ ĐBSCL
Tình hình nuôi lươn tại An Giang từ năm 2014 - 2018 cho thấy mật độ nuôi
Trang 209
4,3 (Huỳnh Văn Hiền và cs., 2018; Phạm Minh Đức và cs., 2018) Còn lại những hộ nuôi hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp thì hệ số chuyển đổi thấp 2,8 ± 0,71 (Phạm Minh Đức và cs., 2018) Như trên đã thấy rằng, nuôi bằng con giống tự nhiên, sử dụng thức ăn tươi sống trong mô hình nuôi đất Vì thế,
tỷ lệ sống dao động lớn 40 - 90% (Nguyễn Thanh Long, 2015; Phạm Minh Đức và cs., 2018) Theo nông dân trực tiếp nuôi thông tin rằng con giống từ tự nhiên có chất lượng không ổn định, phụ thuộc rất lớn vào kỹ thuật khai thác/đánh bắt giống, nên rủi ro về con giống rất cao Ngoài ra, với phương thức nuôi bằng đất mật độ thả thưa nên năng suất tương đối thấp 5,8 - 17,5
Đức và cs., 2018; Nguyễn Minh Thư và cs., 2019) Trong khi đó, các tỉnh khác
, với con giống sinh sản bán nhân tạo, cỡ giống nuôi 200 - 500 con/kg (TTKNAG, 2018; 2019) số hộ điều tra 110 hộ của 11 huyện/thị/thành trong tỉnh Do vùng đất các tinh Bạc Liêu, Sóc Trăng không có đất bùn nên họ nuôi lươn chỉ sử dụng tre và dây nylon làm giá thể cho lươn Thời gian nuôi kéo dài 12 - 15 tháng, khối lượng thu hoạch trung bình đạt 200g/con, với năng suất rất cao: 45
- 60 kg/m2, thậm chí hộ lươn biệt năng suất đạt dao động 70 – 90 kg/m2 Gấp 3,4 - 7,8 lần so với năng suất ở An Giang
Trang 21
10
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 NGUỒN GỐC LƯƠN THÍ NGHIỆM
Lươn có nguồn gốc sinh sản bán nhân tạo được nuôi đến khối lượng 60 – 110 g/con ở các hộ dân
Hình 2 Bố trí lươn thí nghiệm 3.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Thời gian: bắt đầu từ tháng 06/2022 đến tháng 08/2022
Địa điểm thực hiện: Trại thực nghiệm Thuỷ sản và phòng thí nghiệm của Trường Đại học An Giang
3.3 THỨC ĂN THÍ NGHIỆM
Thức ăn cho lươn được phối trộn theo các nghiệm thức, đảm bảo mức protein
ở các nghiệm thức từ 30±2 % (Sử dụng bột cá để điều chỉnh hàm lượng
protein trong các nghiệm thức trong trường hợp khi thay thế cá tạp bằng ốc làm giảm hàm lượng protein trong các nghiệm thức)
Lươn được cho ăn với khẩu phần ăn thỏa mãn vào lúc 8 giờ và 17 giờ Thức
ăn thừa được thu sau 1 giờ cho ăn và sấy khô
Trang 22Bảng 3: Công thức phối trộn thức ăn theo các nghiệm thức
Thành phần hóa học của thức ăn
Các nguyên liệu được trộn cẩn thận với nước cho tới khi được một hỗn hợp dẽo Hỗn hợp thức ăn được ép qua cối xay thịt có mắt lưới theo yêu cầu kích
Trang 2312
thước thức ăn viên để tạo sợi và bảo quản trong tủ đông -18 ℃ cho đến khi sử dụng
Hình 4 Quá trình trộn thức ăn 3.4 TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU
3.4.1 Công cụ nghiên cứu
Bể nuôi có kích thước 62,6 x 42,4 x 38,1 cm
Các thiết bị đo các chỉ tiêu môi trường như: máy đo DO meter hiệu Hanna
HI9147, máy đo pH và nhiệt độ: đo bằng pH meter hiệu Hana HI9126
Hình 5 Máy đo DO, pH, nhiệt độ đƣợc đo hằng ngày
Một số dụng cụ và trang thiết bị khác như: vợt, máy bơm nước, cân điện tử, thước kẻ, ống nhựa PVC