Hiện nay, nguồn rơm rạ không ổn định phụ thuộc vào mùa vụ và ảnh hưởng bởi phân thuốc làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng nấm rơm, kéo theo việc sản xuất nấm rơm cũng bất ổn, nguồn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
XÂY DỰNG MÔ HÌNH TRỒNG NẤM RƠM TRÊN BÔNG VẢI PHẾ LIỆU CÓ PHỐI
TRỘN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG
TRƯƠNG BỬU QUANG
AN GIANG, THÁNG 05 NĂM 2021
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
XÂY DỰNG MÔ HÌNH TRỒNG NẤM RƠM TRÊN BÔNG VẢI PHẾ LIỆU CÓ PHỐI
TRỘN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG
TRƯƠNG BỬU QUANG MSSV: DSH173276
Trang 3CHẤP THUẬN CỦA HỘI ĐỒNG Chuyên đề “Xây dựng mô hình trồng nấm rơm trên bông vải phế liệu
có phối trộn trên địa bàn tỉnh an giang”, do sinh viên Trương Bửu
Quang thực hiện dưới sự hướng dẫn của ths.Phạm Trường An
Trang 4Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ts.Hồ Thị Thu Ba và Ths.Phạm Trường An người đã tận tình chỉ bả, giúp tôi có được những kiến thức sâu sắc và quý báo để hoàn thành tốt bài báo cáo tốt nghiệp của mình Bên cạnh đó gia đình cũng là nguồn động viên to lớn đối với tôi, luôn tạo điều kiện để tôi có thể trao dồi, học tập để đạt kết quả tốt nhất Và hơn hết, bên cạnh tôi luôn có các anh chị và những người bạn luôn quan tâm, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và làm việc Nhân đây tôi xin gữi lời cảm ơn chân thành tới thầy cô, gia đình, các anh chị và bạn bè, những người đã luôn đồng hành và giúp tôi vượt qua khó khăn trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài
Trong thời gian thực hiện đề tài, do thời gian nghiên cứu có hạn và kiến thức tôi còn hạn chế nên khó tránh những sai sót nhất định Kính mong quý thầy cô thông cảm và cho tôi những ý kiến đóng góp để tôi có thêm kinh nghiệm, làm hành trang sau khi tốt nghiệp cho bản thân mình
Trân trọng và biết ơn sâu sắc!
An giang, ngày 24 tháng 5 năm 2021
Người thực hiện
Trương Bửu Quang
Trang 5TÓM TẮT
Thí nghiệm được thực hiện từ 3/2021-5/2021 tại Đại học An Giang với hai thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên trên đối tượng bông vải Thí nghiệm 1 được thực hiện với 5 nghiệm thức và 5 lần lặp lại, bao gồm 5 nghiệm thức từ GT1 đến GT5 được phối trộn mùn cưa theo tỷ lệ
từ 0% đến 40% trong điều kiện nhà trồng Thí nghiệm 2 với mục đích khảo sát tỷ lệ cám gạo thích hợp phối trộn vào nghiệm thức tốt nhất ở thí nghiệm 1 được thực hiện với 5 nghiệm thức và 5 lần lặp lại, gồm 5 nghiệm thức từ NT1 đến NT5 phối trộn cám gạo theo tỷ lệ từ 0% đến 20%
Các chỉ tiêu theo dõi là: tốc độ ăn tơ 100%, thời gian tạo đinh ghim, năng suất nấm rơm, hiệu suất sinh học Các kết quả quan trọng:
Trong thí nghiệm 1 về tỷ lệ phối trộn giữa bông vải và mùn cưa dựa trên kết quả phân tích so sánh trung bình các nghiệm thức thì nghiệm thức tối
ưu nhất là nghiệm thức GT2 có thành phần 90% bông vải và 10% mùn cưa đạt hiệu suất sinh học là 13,66%, thời gian lan tơ 100% là 7,2 ngày và thời gian tạo đinh ghim là 8,2 ngày
Trong thí nghiệm 2 phối trộn cám gạo vào nghiệm thức tốt nhất của thí nghiệm 1 dựa trên kết quả phân tích so sánh trung bình các nghiệm thức thì nghiệm thức tối ưu nhất là nghiệm thức NT4 với tỷ lệ phối trộn là 15% cám gạo đạt hiệu suất sinh học là 14,37%, thời gian lan tơ 100% là 6,8 ngày và thời gian tạo đinh ghim là 7,8 ngày
Trang 6MỤC LỤC
CHẤP THUẬN CỦA HỘI ĐỒNG IV LỜI CẢM TẠ V TÓM TẮT VI MỤC LỤC VII DANH SÁCH HÌNH IX DANH SÁCH BẢNG X
CHƯƠNG 1 1
GIỚI THIỆU 1
1.1 TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1
1.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1
1.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1
CHƯƠNG 2 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2
2.1 GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2
2.1.1 Sơ lược về nấm rơm 2
2.1.2 Đặc điểm sinh lý và biến dưỡng của nấm rơm 2
2.1.3 Vòng đời của nấm rơm 3
2.1.4 Giá trị dinh dưỡng của nấm rơm 4
2.1.5 Giá trị dược phẩm của nấm rơm 5
2.1.6 Tiềm năng phát triển nghề trồng nấm rơm ở việt nam 5
2.1.7 Cây bông vải 6
2.1.8 Quả và hạt bông vải 6
2.1.9 Xơ bông vải 7
2.2 LƯỢC KHẢO VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7
2.2.1 Xử lí giá thể 7
2.2.2 Bể ngâm và xử lý nguyên liệu 8
2.2.3 Nhà trồng nấm 9
2.2.4 Meo giống nấm 9
2.2.5 Nguồn nước và dụng cụ tưới 10
2.2.6 Nén khối vào sọt 10
2.2.7 Nuôi ủ và chăm sóc 11
2.2.8 Tưới đón nấm và thu hái 11
2.2.9 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất nấm 12
Trang 72.2.10 Nghiên cứu trong và ngoài nước 13
CHƯƠNG 3 16
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
3.1 MẪU NGHIÊN CỨU 16
3.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 16
3.3 CÔNG CỤ NGHIÊN CỨU 16
3.4 TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU 16
3.4.1 Thí nghiệm 1 16
3.4.2 Thí nghiệm 2 18
3.5 XỬ LÍ SỐ LIỆU 19
CHƯƠNG 4 20
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 20
4.1 Thí nghiệm 1 20
4.1.1 Thời gian lan tơ 100% 20
4.1.2 Thời gian tạo đinh ghim 21
4.1.3 Năng suất và hiệu suất sinh học 22
4.2 Thí nghiệm 2 24
4.2.1 Thời gian lan tơ 100% 24
4.2.2 Thời gian tạo đinh ghim 25
4.2.3 Năng suất và hiệu suất sinh học 26
CHƯƠNG 5 29
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 29
5.1 Kết luận 29
5.2 Kiến nghị 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
PHỤ LỤC 32
Trang 8DANH SÁCH HÌNH
Hình 1: Bông vải ngâm trong nước vôi 8
Hình 2: Thu mùn cưa thải từ việc trông nấm bào ngư 8
Hình 3: Xử lí vệ sinh nhà trồng trước khi trồng nấm rơm 9
Hình 4: Meo nấm rơm 10
Hình 5: Nén khối vào sọt và cấy meo nấm rơm 11
Hình 6: Sọt nấm tạo đinh ghim sau 10 ngày trồng 22
Hình 7: Sọt nấm rơm sau 13 ngày trồng 24
Hình 8: Sọt nấm tạo đinh ghim sau 10 ngày trồng 26
Hình 9: Quả thể nấm rơm sau 12 ngày trồng 28
Trang 9DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1: Nghiên cứu tỷ lệ phối trộn bông vải và mùn cƣa thích hợp trồng nấm17
Bảng 2: Nghiên cứu tỷ lệ phối trộn cám gạo thích hợp vào nghiệm thức tốt
nhất ở thí nghiệm 1 ( NTTN) 18
Bảng 3: Thống kê thời gian lan tơ 100% 20
Bảng 4: Thống kê thời gian tạo đinh ghim 21
Bảng 5:Thống kê khối lƣợng nấm thu đƣợc 22
Bảng 6: Thống kê hiệu suất sinh học 23
Bảng 7: Thống kê thời gian ăn tơ 100% 24
Bảng 8: Thống kê thời gian tạo đinh ghim 25
Bảng 9:Thống kê khối lƣợng nấm thu đƣợc 26
Bảng 10: Thống kê hiệu suất sinh học 27
Bảng 11: Thời gian ăn tơ 100% của thí nghiệm 1 32
Bảng 12: Thời gian tạo đinh ghim của thí nghiệm 1 32
Bảng 13: Bảng ANOVA thời gian tạo đinh ghim và ăn tơ của thí nghiệm 1 32
Bảng 14: Năng suất thí nghiệm 1 33
Bảng 15: Hiệu suất sinh học thí nghiệm 1 33
Bảng 16: Bảng ANOVA hiệu suất sinh học của thí nghiệm 1 33
Bảng 17: Thời gian ăn tơ 100% của thí nghiệm 2 34
Bảng 18: Thời gian tạo đinh ghim của thí nghiệm 2 34
Bảng 19: Bảng ANOVA thời gian tạo đinh ghim và ăn tơ của thí nghiệm 2 34
Bảng 20: Năng suất thí nghiệm 2 35
Bảng 21: Hiệu suất sinh học thí nghiệm 2 35
Bảng 22: Bảng ANOVA hiệu suất sinh học của thí nghiệm 2 35
Trang 11CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀINghề trồng nấm rơm đã có từ lâu tại An Giang, nông dân chủ yếu trồng theo phương pháp truyền thống là trồng nấm ngoài trời Hiện nay, trước tình hình biến đổi khí hậu toàn cầu, thời tiết thay đổi bất thường nên việc trồng nấm rơm ngoài trời bị ảnh hưởng rất lớn, tình hình dịch hại cũng tăng lên, thời gian cách
ly mầm bệnh từ 6 tháng đến 12 tháng trên nền đất chất mô nấm nhưng nguồn bệnh vẫn còn và khó xử lý gây ảnh hưởng lớn làm giảm năng suất và chất lượng nấm
Hiện nay, nguồn rơm rạ không ổn định phụ thuộc vào mùa vụ và ảnh hưởng bởi phân thuốc làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng nấm rơm, kéo theo việc sản xuất nấm rơm cũng bất ổn, nguồn nguyên liệu bông vải được người dân quan tâm sử dụng trồng nấm rơm do nguồn dinh dưỡng trong nguyên liệu cao cung cấp cho nấm rơm phát triển và mang lại năng suất cao Bông vải là nguồn nguyên liệu ổn định, có thể thay thế rơm và ổn định năng suất trong sản xuất nấm rơm quy mô công nghiệp Với những ưu điểm trên đề tại “ Xây dựng
mô hình trồng nấm rơm trên bông vải có phối trộn địa bàn Tỉnh An Giang” được thực hiện
1.1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Xây dựng mô hình trồng nấm rơm trên bông vải phế liệu có bổ sung thêm thành phần cơ chất trên địa bàn Tỉnh An Giang
1.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu giống nấm rơm Volvariella volvacea
Xác định tỉ lệ phối trộn bông vải, mùn cưa và cám gạo thích hợp
1.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Đề tài thực hiện được những nội dung sau:
Khảo sát tỷ lệ phối trộn giá thể bông vải và mùn cưa để trồng nấm rơm đạt hiệu quả
Khảo sát tỷ lệ phối trộn giá thể bông vải, mùn cưa, cám gạo để trồng nấm rơm
đạt hiệu quả
Trang 12CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU2.1.1 Sơ lược về nấm rơm
Nấm rơm (còn gọi là nấm rạ, thảo cô) có tên khoa học là Volvariella volvacea (Bull.ex Fr.) Sing, thuộc họ Pluteaceae, bộ Agaricales, lớp phụ
Hymenomycetidae, lớp Hymenomycetes, nghành phụ Basidiomycotina, ngành
nấm thật - Eumycota, giới nấm - Mycota hay Fungi (Nguyễn Lân Dũng, 2003)
Nấm rơm có nguồn gốc từ các vùng mưa nhiệt đới và á nhiệt đới Không chỉ
có một loài Mà gồm nhiều loài khác nhau có loại màu xám trắng, xám, xám đen… kích thước đường kính “cây nấm” lớn, nhỏ tùy thuộc từng loại Ở các quốc gia vùng nhiệt đới rất thích hợp về nhiệt độ để nấm rơm sinh trưởng và phát triển Nhiệt độ thích hợp để nấm phát triển từ 30-32oC; độ ẩm nguyên liệu (cơ chất) 65-70%; độ ẩm không khí 80%; pH = 7, thoáng khí Nấm rơm sử dụng dinh dưỡng cellulose trực tiếp từ nguyên liệu trồng Chúng có cũng đặc điểm là tai nấm phát triển qua hai giai đoạn chính: dạng búp và dạng dù
Dạng búp: Tai còn non bao trong một vỏ bọc tạo thành búp: từ hình cầu hay nút (button…) đến hình trứng (egg) và sau đó là hình quả bí kéo dài (elongazion)
Dạng dù: Tai trưởng thành xé vỏ bọc đưa mũ nấm lên cao nhờ cuốn tròn, thon
Mũ xòe rộng dần thành dạng tán dù Phần vỏ bọc ban đầu được giữ lại, bọc lấy
chân cuốn nấm, nên gọi là bao gốc (volva)
Bào tử nấm rơm có màu hồng thịt ở mặt dưới mũ nấm, mặt dưới mũ cấu tạo bởi những tấm lá mỏng, gọi là phiến nấm Mỗi tai nấm có khoảng 280- 380 phiến nấm xếp sát vào nhau như nan quạt, khởi đầu từ trung tâm (cuốn nấm)
ra tới bìa mép Phiến khi còn non có màu trắng, nhưng khi tai nấm trưởng thành phiến chuyển sang màu hồng thịt là màu của bào tử “chín”(Nguyễn Lân Dũng, 2003)
2.1.2 Đặc điểm sinh lý và biến dưỡng của nấm rơm
Nấm rơm sử dụng rơm rạ, bông phế thải và một số nguyên liệu chứa thành phần là cellulose, hemicellulose, lignin, làm nguồn dinh dưỡng chính để sinh trưởng và phát triển Ở nước ta và một số nước khác, với nguồn nguyên liệu dồi dào về phế thải công – nông nghiệp như rơm rạ, bông thải từ các nhà máy dệt, bã mía từ các nhà máy đường, cùi bắp, đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển cho nghề trồng nấm nói chung và nghề trồng nấm rơm nói riêng
Nấm rơm cũng như một số loại nấm ăn khác, trong quá trình sinh trưởng và phát triển đòi phải được cung cấp nguồn carbon, nitơ, khoáng và vitamin Ngoài ra chế độ ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, pH, độ thoáng khí cũng có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của nấm
- Nguồn carbon: Nấm rơm là loại nấm hoại sinh Hệ enzyme cellulase của nấm
có hoạt tính phân giải được nhiều loại cơ chất khác nhau như: rơm rạ, bông thải, bã mía, bẹ chuối, mạt cưa thải… Sợi nấm sẽ tiết ra enzym cenllulase phân
Trang 13huỷ các nguồn carbon trên thành dạng dễ sử dụng: monosaccharide, disaccharide để cung cấp năng lượng cho các quá trình biến dưỡng của tế bào nấm Nguồn carbon là một yếu tố bắt buộc, không có nó, nấm không thể tăng trưởng hoặc phát triển được
- Nguồn nitơ: Bên cạnh nguồn carbon, nguồn nitơ cũng có vai trò quan trọng trong sự phát triển của nấm Từ hai nguồn carbon và nitơ nấm sẽ tổng hợp nên những thành phần cần thiết cho sự sống của nấm như: acid amin, protein, enzyme, acid nucleic,… Nguồn nitơ bổ sung cho nấm rơm có thể là vô cơ (urê, DAP, SA, …) hoặc hữu cơ (pepton, cao nấm men, cám gạo, cám bắp…) Nguồn nitơ hữu cơ giúp cho sự phát triển của nấm tốt hơn
- Nguồn khoáng: Trong quá trình sinh trưởng và phát triển nấm cần các nguyên tố đa lượng và vi lượng như: P, Ca, Mg, K, Zn, Fe, Mn, … để quá trình trao đổi chất cũng như hình thành quả thể xảy ra bình thường
- Nguồn vitamin: Để nấm rơm phát triển tốt thì cần phải bổ sung một lượng vitamin, đặc biệt là các vitamin nhóm B Do đó trong nuôi trồng, việc bổ sung cám gạo vào cơ chất có tác dụng cung cấp cho nấm rơm một lượng vitamin B1
và nguồn nitơ hữu cơ
Ngoài ra yếu tố môi trường cũng góp phần không nhỏ vào sự phát triển của tơ nấm và hình thành quả thể
- Nhiệt độ: Nhiệt độ ảnh hưởng lên sự phát triển của tơ và sự hình thành quả thể nấm
Với nấm rơm nhiệt độ đối với sự phát triển sợi tơ là 15 – 400C, tối thích là
35 0C
Còn đối với sự hình thành quả thể là 25 -300C, tối thích là 28 20C
- Độ ẩm: Trong giai đoạn phát triển của tơ nấm, đòi hỏi độ ẩm của nguyên liệu khoảng 50 - 70%, tối thích là 60 5%, trong giai đoạn hình thành quả thể thì
độ ẩm môi trường xung quanh khoảng 80 - 100%, tối thích là 90 5%
- Độ thoáng khí: Nấm rơm ưa thoáng khí, trong quá trình hô hấp cần có oxy nên cần phải giảm lượng khí CO2 và tạo độ thoáng khí cho khu vực trồng nấm
- Ảnh hưởng của pH: Nấm rơm có thể phát triển ở pH 06 - 07, tối thích 6,5 (cả giai đoạn nuôi ủ tơ và hình thành quả thể) Khi pH < 06, sợi tơ sinh trưởng yếu
- Ảnh hưởng của ánh sáng: Trong giai đoạn ủ tơ, sợi nấm có thể phát triển hoàn toàn trong tối nhưng khi hình thành quả thể cần ánh sáng tán xạ và phân
bố đều (Nguyễn Hữu Đống và cộng sự 2000)
2.1.3 Vòng đời của nấm rơm
Chu trình sống của nấm rơm bắt đầu từ đảm bào tử Khi nấm rơm ở dạng nở xòe, phía dưới mũ có các phiến nấm chứa các đảm bào tử có màu hồng đỏ, hình trứng Các đảm bào tử có vách dày chứa nhân, nguyên sinh chất và mang
bộ nhiễm sắc thể đơn bội (n)
Khi gặp điều kiện thuận lợi, đảm bào tử nảy mầm và phát triển tạo ra các hệ sợi tơ sơ cấp (n) và hệ sợi tơ sơ cấp sẽ phát triển tạo ra mạng hệ sợi sơ cấp Tiếp sau đó, các mạng hệ sợi tơ sơ cấp phát triển và kết hợp với nhau tạo ra hệ sợi tơ thứ cấp (2n), hệ sợi tơ thứ cấp sẽ phát triển thành mạng hệ sợi thứ cấp Khi gặp các điều kiện bất lợi từ môi trường như dinh dưỡng, nhiệt độ, pH,
Trang 14thì các hệ tơ thứ cấp có thể hình thành bì bào tử, có vách dày để chống chịu lại với các điều kiện bất lợi của môi trường này Khi gặp điều kiện thuận lợi, hệ sợi tơ thứ cấp sẽ khởi sự hình thành quả thể nấm
Ở nấm rơm, quá trình hình thành và phát triển của quả thể trải qua 6 giai đoạn phát triển chính Bắt đầu từ hình đinh ghim (Pinhead), hình nút nhỏ (tiny button), hình nút (button), hình trứng (egg), hình chuông (Elogation) và dạng trưởng thành (Mature)
- Giai đoạn hình đinh ghim (Pinhead stage): Ở giai đoạn này, kích thước của chúng bằng khoảng đầu đinh ghim có các màn bao màu trắng trong Ở phía vùng đỉnh, các mũ và cuống chưa thể nhìn thấy được Toàn bộ cấu trúc là một nút của tế bào sợi nấm
- Giai đoạn hình nút nhỏ (Tiny button stage): cả giai đoạn đinh ghim và hình nút nhỏ đều được hình thành do sự bện chặt của các hệ sợi tơ nấm Ở giai đoạn hình nút nhỏ lúc còn non chỉ có phần trên đỉnh màu nâu, các phần còn lại đều màu trắng Nếu nhìn cung quanh và cắt phần đỉnh đặt trên lam sẽ thấy các dạng ống ở bên dưới mũ nấm
- Giai đoạn hình nút (Button stage): Ở giai đoạn hình nút lớn, chúng được bao bọc bởi một màng bao chung lớn Bên dưới màng này là mũ nấm không thấy được cuống nấm nhưng nếu nhìn theo chiều dọc sẽ thấy được cuống nấm
- Giai đoạn hình trứng (Egg stage): Đến giai đoạn này, mũ nấm được đẩy ra ngoài khỏi màng bao, trên đó chứa các bao nấm Người ta không phát hiện đảm bảo tử ở giai đoạn này Kích thước của mũ nấm tồn tại ở giai đoạn này ngắn
- Giai đoạn hình chuông (Elogation stage): Mũ nấm ở giai đoạn này tồn tại với kích thước nhỏ hơn giai đoạn trưởng thành Nhưng ngược lại, cuống nấm đạt chiều dài tối đa ở giai đoạn này
- Giai đoạn trưởng thành (Mature stage): Ở giai đoạn trưởng thành Cấu trúc của nấm rơm chia thành 3 phần chính:
· Phần thứ nhất: là mũ nấm
· Phần thứ hai: là thân hay cuống nấm
· Phần thứ ba: là bao gốc (Lê Duy Thắng và Trần Văn Minh 2005)
2.1.4 Giá trị dinh dưỡng của nấm rơm
Nấm nói chung, là loại thực phẩm rất giàu chất dinh dưỡng cần thiết cho con người Nấm chứa rất đạm, khoáng và các acid amin cần thiết Ngày nay, người
ta nhận thấy nấm ngoài là một nguồn thức ăn bổ dưỡng còn chứa các hợp chất
có lợi như acid folic, leutenan, retine, pleurotine, ganoderma polysaccharide, Nấm rơm là một trong những loại nấm được trồng từ rất lâu ở các nước châu á trong đó có Trung Quốc, Malaysia, Việt Nam, Indonesia, Vì không chỉ là thực phẩm thơm ngon, nấm rơm còn chứa hàm lượng dinh dưỡng cao Trong
đó, nấm rơm có chứa khoảng 2,66% - 5,05% protein
- Thành phần acid amin chứa trong nấm rơm (Volvariella volvacea) (theo %): Isoleucine 4,2; Leucine 5,5; Tryptophan 1,8; Lysine 9,8; Valine 6,5; Methionine 1,6; Threonine 4,7; Phenylalanine 4,2; Arginine 5,3; Aspartic acid 5,3; Glutamic acid 17,6; Glycine 4,5; Histidine 4,1; Proline 5,5; Serine 4,3; Alanine 6,3; Tyrosine 5,7; Cystine +, Cysteine +
Trang 15Nấm rơm chứa 19 trong 20 loại acid amin Trong tổng số các loại acid amin trên thì có khoảng 8 loại acid amin không thay thế bào gồm: Isoleucine, Leucine, Tryptophan, Lysine, Valine, Methionine, Threonine, Phenylalanine Các acid amin không thay thế này chiếm đến 38,2% tổng lượng acid amin có trong nấm rơm, tỉ lệ này cao hơn cả một số loại thịt động vật, sữa, trứng Lượng chất béo trong nấm rơm chiếm 3% Trong đó, chất béo bão hòa chiếm 41,2% và chất béo chưa bão hòa chiếm 58,8% Lượng chất béo chưa bão hòa chủ yếu là ergocalciferol và esgosterol
Theo Trung tâm nghiên cứu dinh dưỡng và thực phẩm của Philippine (FNRC) Nấm rơm là một nguồn thực phẩm cung cấp dồi dào nguyên tố khoáng phospho, một ít nguyên tố sắt, canxi và nhiều nguyên tố khoáng, các vitamin thiết yếu khác Nấm rơm cũng là nguồn cung cấp dồi dào các loại vitamin thuộc nhóm B, vitamin C Trong đó, Nấm rơm cung cấp hàm lượng vitamin B3 chiếm 19.7%, vitamin B2 chiếm 1.06%, (Nguyễn Hữu Đống và cộng sự 2005)
2.1.5 Giá trị dược phẩm của nấm rơm
Ngoài chứa các dinh dưỡng thiết yếu dùng làm thực phẩm hằng ngày như chứa hàm lượng đạm, béo, đường, chất xơ, vitamin và các khoáng chất thiết yếu khác Với nguồn dinh dưỡng đa dạng và phong phú Từ lấu nấm rơm được xem như là một loại thực ăn và trong y học nấm rơm được xem như là " thực phẩm chức năng " dùng hỗ trợ chữa bệnh, đặc biệt là các bệnh về rối loạn chuyển hóa như: lipid máu, béo phì, xơ vữa động mạch, tăng huyết áp, tiểu đường, Theo đông y, Nấm rơm có vị ngọt, tính hàn, công năng bổ tù, ích khí, tiêu thực, khử nhiệt, tăng sức đề kháng, giảm cholesterol Do đó, nấm rơm dùng để chữa một số bệnh như: xuất tinh sớm, gan nhiễm mỡ, suy giảm trí nhớ, Trong nấm rơm chứa lectin – một loại protein không có nguồn gốc miễn dịch Hợp chất lectin được chiết xuất từ dịch chiết quả thể nấm Hợp chất lectin này có khả năng gây độc cho tế bào ung thư như ung thư biểu bì, ung thư cổ tử cung và ngoài ra chúng còn có khả năng kháng khuẩn, kháng nấm, Theo Kalava & Menon nghiên cứu về dịch chiết quả thể nấm rơm Volvariella volvacea có khả năng bảo vệ gan tránh tác nhân gây nhiễm độc là ethanol và carbon tetracloride Theo đó, dịch chiết quả thể nấm có khả năng chống lại ethanol và carbon tetracloride thông qua sự điều chỉnh nồng độ AST (Aspartate Transaminase), ALT (Alanine Transaminase), ALP (Alkalin Phosphatase ), LDH (Lactate Dehydrogenase), Chiết xuất từ quả thể nấm gúp cải thiện hoạt động của enzyme chống oxy hóa như Catalase, Superoxide Dismutase ( SOD ), Hepatic glutathione ( GSH ).(Đinh xuân Linh và cs 2010)
2.1.6 Tiềm năng phát triển nghề trồng nấm rơm ở việt nam
Hiện nay, bên cạnh một số loài nấm được nuôi trồng có truyền thống lâu đời, còn có nhiều loài nấm đang được nghiên cứu nuôi trồng để làm thực phẩm Nấm trồng không những là sản phẩm của nước nông nghiệp, mà còn phát triển
ở các nước công nghiệp Ở Châu Á, trồng nấm trở thành nghành công nghiệp lớn, được cơ giới hóa toàn bộ, nên các nước này có sản lượng rất cao
Việt Nam là một trong những nước có đủ điều kiện để phát triển mạnh nghề trồng nấm, do:
Trang 16- Nguồn nguyên liệu để trồng nấm là rơm rạ, thân gỗ, mùn cưa, bã mía Các loại phế phẩm sau thu hoạch rất giàu chất xenlulozo Nếu tính trung bình một tấn thóc sẽ cho ra 1,2 tấn rơm rạ khô thì tổng sản lượng rơm rạ trong cả nước đạt con số vài chục triệu tấn/năm Chỉ cần sử dụng 10% số nguyên liệu kể trên
để trồng nấm thì sản lượng nấm đã đạt vài trăm ngàn tấn/năm
- Lực lượng lao động dồi dào và giá công lao động rẻ Tính trung bình 1 lao động nông nghiệp mới chỉ dùng đến 30-40% quỹ thời gian Chưa kể đến mọi lao động phụ điều có thể tham gia vào trồng nấm được
- Điều kiện tự nhiên (về nhiệt độ, độ ẩm ) rất thích hợp cho nấm phát triển
Cả hai nhóm nấm (nhóm ưa nhiệt độ cao: nấm hương, mộc nhĩ ; nhóm ưa nhiệt độ thấp như : nấm mỡ, nấm sò ) ở Việt Nam điều trồng được
- Vốn đầu tư ban đầu để trồng nấm rất ít so với việc đầu tư vào các nghành khác
- Kỹ thuật trồng nấm không phức tạp Một người dân bình thường có thể tiếp thu được công nghệ trồng nấm trong thời gian ngắn
- Thị trường tiêu thụ nấm trong nước và trên thới giới tăng nhanh do sự phát triển chung của xã hội và dân số Hiệp hội nấm ăn thế giới đã đưa chỉ số bình quân lượng tiêu thụ nấm ăn cho một người trong một năm để đánh giá phát triển kinh tế của một quốc gia (Nguyễn Hữu Đống, Đinh Xuân Linh, 2000)
2.1.7 Cây bông vải
Bông vải (danh pháp hai phần: Gossypium herbaceum) là một loại cây thuộc
họ Cẩm quỳ (Malvaceae) Cây cao cỡ 1 m, hoa vàng có 3 lá hoa, sợi dính vào hạt Vỏ rễ dùng để cho có kinh nguyệt, có thể làm trụy thai, hạt có tính làm sinh sữa
Phân loại khoa học
Giới (regnum); Plante
Bộ (ordo): Malvales
Họ (familia): Malvoideae
Chi (genus): Gossypium
Loài (species): G hearbaceum (Nguyễn Thị Sâm, 2006)
2.1.8 Quả và hạt bông vải
Quả Bông vải: thuộc loại quả nang Số lượng quả mỗi cây nhiều hay ít phụthuộc rất lớn vào giống và điều kiện trồng trọt Bông luồi 1 cây có > 15 quả, 17 trong điều kiện trồng thưa, chăm sóc đặc biệt và để lưu niên có thể đạt
400 – 500 quả Mỗi quả Bông vải có từ 3 – 5 ngăn, mỗi ngăn chứa 1 múi bông, mỗi múi gồm nhiều ánh bông, ánh bông gồm hạt và sợi bao quanh
Kích thước và trọng lượng quả khác nhau tuỳ giống Quả Bông Luồi > quả Bông Hải đảo > quả Bông Cỏ Phân loại như sau:
+ Nếu P100 quả < 500 gram bông hạt là thuộc loại quả bé
Trang 17+ Nếu P100 quả từ 500 – 700 gram bông hạt là thuộc loại quả trung bình + Nếu P100 quả > 700 gram bông hạt là thuộc loại quả lớn
+ P100 là: trọng lượng của 100 quả
Hạt Bông vải: hình bầu dục, nhọn một đầu, khi chín có màu đen, rất cứng Phần ngoài của vỏ hạt là xơ bông, có xơ ngắn và xơ dài Thành phần trong hạt bông gồm có: Protein 21,7%; Lipid 21,4%; tro 3,96%; N 3%
Hạt Bông vải có tính ngủ nghỉ sau thu hoạch, do vậy sau khi thu hoạch xong hạt Bông vải phải được phơi khô và bảo quản trong điều kiện thích hợp Trong cùng một loài, giống chín sớm hạt thường nhỏ hơn giống chín muộn Trên cùng một cây thì quả gần gốc, gần thân chính có hạt nặng hơn quả xa gốc, xa thân chính
2.1.9 Xơ bông vải
Xơ bông có màu trắng, mịn, xơ dài từ 12 – 50 mm tuỳ theo loài và giống bông Trên hạt Bông vải có 2 loại xơ: xơ dài và xơ ngắn, xơ ngắn là xơ còn lại sau khi cán bông hạt để lấy xơ dài, xơ ngắn người ta còn gọi là lông áo vỏ hạt Trong quá trình hình thành và phát triển xơ bông nếu gặp thời tiết không thuận lợi (ẩm độ và nhiệt độ) thì xơ bông ngắn, ít và không đều (Nguyễn Thị Sâm,.2006)
2.2 LƯỢC KHẢO VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.2.1 Xử lí giá thể
- Bông vải
Bông vải phế liệu của các nhà máy dệt hoặc kéo sợi là nguồn nguyên liệu quý cho trồng nấm rơm Đến nay có thể nói năng suất nấm rơm trên bông so với tất cả các loại nguyên liệu khác là cao nhất Năng suất bình quân thu được trong nuôi trồng là 30kg nấm tươi/100kg bông (khô) Nếu so với năng suất trên rơm thì cũng đã gấp hai hoặc ba lần
Việc xử lý cũng tương đối đơn giản Bông được xé vụn, ngâm ngập trong nước vôi 1% cho ngấm điều Vớt bông lên và chất trên các rổ tre để nước bên trong thoát ra bớt Sau đó gom thành đống (hoặc khối) và phủ vải nhựa (nylon), ủ dưới ánh sáng mặt trời khoảng 2 ngày Nhiệt độ đống ủ cũng lên rất cao 60-70oc, như trên rơm
Bông dễ nén chặt hơn rơm nên thường làm yếm khí, gây trở ngại sự hô hấp của tơ nấm Trong nuôi trồng có thể phối trộn để làm tăng độ xốp (Trung tâm UNECO phổ biến kiến thức văn hóa giáo dục cộng đồng, 2004)
Trang 18Hình 1: Bông vải ngâm trong nước vôi
- Mùn cưa
Sử dụng lại mùn cưa cao su thải từ việc trồng nấm bào ngư để trồng nấm rơm
vì sử dụng lại mùn của sau khi đã trồng nấm bào ngư đảo bảo độ quai mục cho nấm rơm dễ hấp thụ đồng thời tiết kiệm chi phí tránh lãng phí mùn cưa sau khi trồng nấm bào ngư sẽ trãi đống trộn vôi theo tỷ lệ 1% sẽ có thể dùng tiếp
2.2.2 Bể ngâm và xử lý nguyên liệu
Có thể xây bể để chứa nước tạm thời, nếu xây kiên cố thì vật liệu bằng gạch và
xi măng, cát Bể không cần xây kiên cố, có kích thước:
Chiều dài 1.5 đến 2m; chiều rộng 0.8-1m; chiều cao từ 0.5 đến 0.6m, đáy có lỗ thoát nước Để tiết kiệm chi phí và diện tích, các hộ có thể quây gạch, cốp, tận dụng chân tường rào sau đó lót bạt hoặc nilon để tạo bể ngâm
Trang 19Nhà trồng có các kệ thép để chất các mô nấm hay sọt nấm dễ dàng duy chuyển
và chăm sóc
- Vệ sinh nhà trồng nấm sau vụ nấm
Sau thu hoạch, dọn dẹp vứt bỏ hết các mô nấm ra khỏi nơi trồng Chất đống,tưới nước vôi ủ làm phân Đống ủ phải ở xa nơi trồng nấm, bà con nên dùng các mô nấm này ủ làm phân vi sinh Dọn sạch nhà trồng, mở toàn bộ cửa thông gió để ánh sáng có thể chiếu rọi vào nơi trồng nấm Phơi khu nhà trồng nấm từ 5-7 ngày trước lúc trồng đợt mới, lau chùi và phơi kệ trồng, quét vôi và nước muối lên kệ theo tỷ lệ (muối/vôi = 1/1)
Hình 3: Xử lí vệ sinh nhà trồng trước khi trồng nấm rơm
- Không bị nhiễm bệnh: Quan sát bên ngoài giống không có màu xanh, đen,
vàng … và không có các vùng loang lổ
- Giống có mùi thơm dễ chịu: nếu có mùi chua khó chịu là giống nấm đã bị
nhiễm vi khuẩn, nấm dại …
- Giống không già hoặc non: nếu thấy có mô sẹo hay cây nấm mọc trong chai,
màu chai giống chuyển sang màu vàng, nâu đen là giống quá già Giống chưa
ăn kín hết đáy bao bì là giống còn non Sử dụng tốt nhất là khi giống đã ăn kín
Trang 20hết đáy chai (hoặc túi) sau 3-4 ngày Muốn để lâu hơn phải bảo quản ở nhiệt
độ lạnh: đối với giống nầm sò, nấm mỡ, nấm hương, và nấm linh chi bảo quản
ở nhiệt độ 2-5oC, kéo dài 30-45 ngày; giống nấm rơm và mộc nhĩ bảo quản ở nhiệt độ 15-20oC, kéo dài 15-30 ngày
- Các chủng giống phù hợp với điều kiện và nhiệt độ (theo mùa vụ), năng suất cao và có khả năng chống chịu sâu bệnh
- Quá trình vận chuyển giống: phải hết sức nhẹ nhàng, tránh va chạm mạnh, dựng đứng chai giống (nút bông quay lên phía trên)
- Không được mở nút bông ra xem, ngửi… Để giống nơi thoáng mát, sạch sẽ, không có ánh nắng trực tiếp
- Số lượng giống nấm đủ cho khối lượng rơm rạ đem trồng Tùy thuộc từng loại nấm khác nhau mà tỷ lệ giống/nguyên liệu khác nhau Có thể nói giống là một trong những yếu tố quyết định sự thành bại Nếu giống tốt năng suất sẽ cao và ngược lại Hiện có nhiều cơ sở sản xuất giống nấm, nên chọn đến những địa chỉ đáng tin cậy
Hình 4: Meo nấm rơm
2.2.5 Nguồn nước và dụng cụ tưới
Nguồn nước sử dụng cho sản xuất nấm phải sạch, độ pH trung tính Vào mùa đông, phải kiểm tra độ mặn của nước thật cẩn thận trước khi ngâm ủ và tưới nấm Nước mặn tuyệt đối không sử dụng để làm nấm Hiện nay trong sản xuất nấm rơm, đều sử dụng chung một loại bình tưới nén Loại bình tưới này có thể tạo cho nước tưới dưới dạng sương
Ngoài ra có thể sử dụng bình phun thuốc sau để tưới nấm Nhưng bình này chỉ được sử dụng cho việc chăm sóc nấm, tuyệt đối không dùng vào việc phun thuốc sâu
2.2.6 Nén khối vào sọt
Bông chủ yếu trồng theo dạng nén vào sọt Cho bông đã phối trộn theo tỷ lệ vào sọt và nén thành lớp mỗi lớp dày khoảng 5cm Meo giống được cấp trên mặt lớp bông phối trộn trãi điều trong sọt Bông được nén vào sọt khoảng 4 lớp Lớp thứ 4 cũng là lớp cuối, được dùng làm nóc và không cần cấy giống
Trang 21Hình 5: Nén khối vào sọt và cấy meo nấm rơm
2.2.7 Nuôi ủ và chăm sóc
Sọt nấm được đem vào nhà trồng, để giữ ẩm cho sọt nấm có thể dùng vải nhựa (nylon) phủ trùm lên các sọt Tuy nhiên mỗi ngày nên mở ra cho thoáng, đồng thời kiểm tra giống ăn lan Nhiệt độ mô nên giữ khoảng 30 -37oc trong suốt thời gian ủ Còn độ ẩm thì gần như không thay đổi nên không cần tưới nước
bổ sung
Bình thường sau 7 ngày nuôi ủ tơ, tơ nấm đã phủ gần như khắp bề mặt sọt nấm Chuẩn bị cho giai đoạn tưới đón nấm
2.2.8 Tưới đón nấm và thu hái
Để nấm kết quả thể, cần hạ nhiệt độ và tăng ẩm độ cho sọt nấm, bằng cách tưới nước Nước tưới trực tiếp lên sọt nấm ở dạng hạt càng nhỏ càng tốt (phun sương), lần tưới này lượng nước nhiều và điều hơn trên khắp bề mặt mô.Sau khi tưới xong, tiếp tục đậy vải nhựa Khi phủ vải nhựa cần lưu ý: không ép sát thành sọt như giai đoạn ủ Tốt nhất nhất là làm khung để đở vải nhựa, không nên làm hư hỏng nụ non ở bề mặt khô Cách đơn giản hơn là kê tre hoặc tầm vong (kể cả căng dây kẻm), phía trên của nhiều sọt nấm cùng hàng, sau đó phủ vải nhựa lên Đối với các sọt đặt trên dàn kệ thì chỉ cần thả vải nhựa bọc quanh là xong Ở giai đoạn này, nấm cần oxi và ít thán khí (CO2), do đó vải nhựa k nên che phủ chân mà bao giờ cũng cách chân (mặt đất) ít nhất là 10cm Hai ngày sau khi tưới, nấm bắt đầu kết nụ lúc này cần giữ ẩm cho tốt và không
để nhiệt độ lên cao, ảnh hưởng đến sự phát triển nụ nấm Tuy nhiên bông dễ hút nước cẩn thận khi tưới nước nếu tưới quá nhiều sẽ làm mô bị úng nước Bình thường nụ nấm trên bông sau 4 đến 5 ngày đã bước sang giai đoạn thu hái Cách thu hái cũng tương tự như trồng truyền thống trên rơm Nấm rơm trên bông có thể thu hái hai hoặc ba lần, mỗi lần xong cần có thời gian để tơ phục hồi (nuôi ủ tơ) khoảng 4 - 5 ngày
Ở một số nơi, người ta còn rãi trấu (đã ngâm vôi) làm mềm sọt nấm, Lớp trấu thường dày từ 1-2 cm và rộng quanh châm mô nấm khoảng 20cm Trong trấu
Trang 22có thể trộn thêm tro rơm hoặc tro trấu, vừa hạn chế côn trùng vừa thêm thoáng cho nấm
Trồng nấm rơm trên bông vải phế liệu có một số điểm cần lưu ý:
Bông dễ nén chặt làm yếu khí nên cần:
- Tăng độ xốp bằng cách xe tơi và độn thêm trấu để thông khí
- Xử lý bông bằng cách làm ẩm với nước vôi 0.5% và phủ nylon, ủ đống 2 ngày ngoài trời nắng
- Chiếu sáng đầy đủ và giữ ẩm cho sọt nấm để tai nấm ra bình thường (không vàng ủng, nhãn đầu, ) (Trung tâm UNECO phổ biến kiến thức văn hóa giáo dục cộng đồng, 2004)
2.2.9 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất nấm
Đối với những trang trại trồng nấm nhiều lần trong thời gian dài, phòng trừ kẻ thù của nấm trở thành vấn đề chủ yếu phải giải quyết tốt mới đạt được năng suất cao
- Nhóm động vật hại nấm
- Mối: Ở trong đống gỗ trồng mộc nhĩ, nấm hương, khoét rảnh trên gỗ làm bong vỏ gỗ, sợi không phát triển được
- Gián, kiến, cuốn chiếu, ốc sên: Ăn sợi giống, nấm non như nấm rơm nấm
mèo, nấm hương cấy trên gỗ
Phòng trừ: các tác nhân gây hại này chúng ta có thể đánh bẫy, bả chuột, rắc hóa
chất, xua đuổi mối, gián, ốc sên
- Nhện (Spider)
- Thường có ở các nơi trồng nấm hương, mộc nhĩ, nấm rơm, nấm sò Chúng
cắn sợi nấm, hại nụ nấm và quả thể non
Phòng trừ:
+ Chọn nơi trồng tốt, xa nơi chứa nguyên liệu
+ Khử trùng phòng nuôi trồng bằng foocmalin 0.5% hoặc xông hơi diêm sinh + Cơ chất phải được khử trùng triệt để bằng hơi nước hoặc ủ đống có nhiệt độ
> 75oC
+ Dẫn dụ triệt để: Nhện rất thích xương heo nên dùng xương này rải khắp nơi
trong nhà trồng nấm để dẫn dụ nhện tập trung và sau đó nhặt bỏ vào nước sôi
- Rệp (Mites – Bọ mạt)
Rệp (Bọ mạt) là tác nhân gây thiệt hại lớn cho các cơ sở trồng nấm mèo (Mộc nhĩ) trên mùn cưa, làm giảm năng suất thậm chí mất trắng phải ngừng sản xuất một vài năm Chúng có kích thước rất nhỏ như hạt bụi, có màu trắn nhạt và sinh sản rất nhanh theo kiểu bọc ấu trùng Chúng ăn sợi nấm Ban đầu rệp kí sinh ở nút bông, vỏ bịch nấm, tìm cách chui vào trong bịch hoặc xâm nhiễm
qua vết rạch, xung quanh sợi nấm bị hư hại có màu nâu