HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SỬ DỤNG XỈ THAN TỔ ONG TRONG PHỐI TRỘN GIÁ THỂ TRỒNG CẢI RỔ
GIỚI THIỆU
Tính cần thiết của đề tài
Cải rổ là loại rau ăn lá phổ biến ở Việt Nam, được trồng từ vụ đồng xuân đến vụ xuân hè Diện tích trồng cải rổ ngày càng tăng nhờ thời gian sinh trưởng ngắn, dễ chăm sóc và phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Trên thị trường hiện nay, số lượng rau cải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm còn hạn chế Cải rổ phát triển mạnh mẽ, có năng suất cao và chất lượng tốt, với cọng lớn và lá bóng, dễ thu hoạch Loại rau này có khả năng chống chịu tốt trong khí hậu nhiệt đới và không bị rách khi vận chuyển Để đạt hiệu quả cao, nên bấm ngọn để kích thích sự phát triển của chồi ngọn, và thu hoạch khi chồi đã thành búp ít lá và nụ xanh, lúc này cây tập trung nhiều chất dinh dưỡng nhất.
Rau họ cải là nguồn thực phẩm tuyệt vời giúp tăng cường hệ miễn dịch và chống lại các siêu vi phát triển mạnh trong mùa đông Chúng chứa nhiều vitamin và khoáng chất, cùng với các hoạt chất kháng khuẩn như glucosinolate và chất chống ôxy hóa, góp phần bảo vệ sức khỏe (Lê Ngọc Minh, 2020).
Xỉ than tổ ong, chất rắn thải bỏ sau quá trình đốt cháy, thường được vứt bỏ ven đường hoặc đổ xuống kênh rạch Trong xỉ than thô chưa qua xử lý, vẫn còn tồn tại các tạp chất độc hại, khiến nó không thể sử dụng cho việc trồng cây Tuy nhiên, sau khi được xử lý, xỉ than trở thành nguồn nguyên liệu quý giá cho việc trồng cây Việc tận dụng xỉ than tổ ong làm vật liệu trồng cây đang là một giải pháp hiệu quả Đề tài “Nghiên cứu khả năng sử dụng xỉ than tổ ong trong phối trộn giá thể trồng cải rổ Brassica oleracea” sẽ khám phá tiềm năng này.
L var.virdis ” được thực hiện.
Nội dung nghiên cứu
Khảo sát khả năng sinh trưởng và phát triển cải rổ Brassica oleracea
L.var.virdis trong giá thể xỉ than tổ ong.
Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát tỷ lệ kết hợp với các giá thể khác để cây cải rổ phát triển tốt nhất.
Đối tượng nghiên cứu
Cây cải rổ (Brassica oleracea L.var.virdis)
Một loại giá thể: Xỉ than tổ ong
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Giới thiệu vấn đề nghiên cứu
Rau cải rổ là thực phẩm giàu dưỡng chất, giúp ngăn ngừa và hỗ trợ điều trị nhiều bệnh tật, được nhiều người bổ sung vào thực đơn hàng ngày Nghiên cứu cho thấy việc tăng cường tiêu thụ thực phẩm thực vật như rau cải rổ có thể giảm nguy cơ béo phì, tử vong, bệnh tiểu đường và bệnh tim, đồng thời thúc đẩy làn da và tóc khỏe mạnh, tăng năng lượng và duy trì trọng lượng cơ thể hợp lý Cải rổ chứa nhiều dinh dưỡng thiết yếu, giúp ngăn ngừa hàm lượng estrogen dư thừa, có tác dụng chống ung thư, rất tốt cho người mắc bệnh tim mạch và tiểu đường Ngoài ra, cải rổ còn hỗ trợ gan, túi mật và cung cấp vitamin A, C, magie và sắt, trong khi folate và chất xơ trong cải rổ rất cần thiết cho sức khỏe của phụ nữ.
Xỉ than tổ ong là một nguyên liệu lý tưởng để trộn vào đất, đặc biệt phù hợp cho các loại cây mọng nước như xương rồng, sen đá và sống đời Khi kết hợp với phân bò, phân trùn quế, đất sạch và trấu hun, xỉ than giúp tạo ra môi trường lý tưởng cho cây cảnh và rau sạch Việc lót xỉ than dưới đáy chậu không chỉ tăng khả năng thoát nước, tránh ngập úng mà còn tạo độ thông thoáng, giúp đất duy trì độ ẩm vừa phải, ngăn ngừa nấm gây hại Ngoài ra, khi bề mặt đất trong chậu bị cứng, việc rải xỉ than lên mặt chậu không chỉ giúp làm mát cho cây mà còn cải thiện tính thẩm mỹ, làm đẹp cho không gian trồng cây.
Lược khảo vấn đề nghiên cứu
2.2.1 Giới thiệu về cây cải rổ
Cải rổ, hay còn gọi là cải làn hoặc cải ná, thuộc họ thập tự và có nguồn gốc từ Nam và Trung Trung Quốc Hiện nay, loại rau này đã được trồng phổ biến ở nhiều nước Đông Nam Á Cải rổ có mùi vị tương tự như cải bẹ xanh, với thân và lá có hình dáng giống nhau.
Tên khoa họ: Brassica oleracea L.var.virdis
China: gai lan, gailaan, kai lan tsoi
Hmong: zaub pav kasna, phav kas nas, zaub nkauj fa
Cây cải có rễ chùm và phân nhánh, với bộ rễ ăn nông chủ yếu tập trung ở tầng đất 0 - 20 cm Lá cải mọc đơn, không có lá kèm, thường tập trung ở dưới, với bẹ lá to và lá lớn Mặc dù bộ lá phát triển, nhưng lá mỏng khiến cây dễ bị hạn và sâu bệnh Hoa cải có dạng chùm, không có lá bắc, với hoa nhỏ, đều, mẫu 2, đài hoa và tràng hoa đều có 4 phần xen kẽ Bộ nhị gồm 6 nhị, trong đó 2 nhị ngoài có chỉ nhị ngắn hơn 4 nhị trong Quả cải thuộc loại quả giác, hạt có phôi lớn, cong và nghèo nội nhủ.
2.2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng của cải rổ
Nhiệt độ lý tưởng cho sự phát triển nhanh chóng của cây là từ 18-28ºC, trong đó nhiệt độ thấp không chỉ thúc đẩy ra hoa sớm mà còn cần thiết cho sự phát triển hoàn chỉnh của hoa (Lê Thị Khánh, 2008) Ánh sáng cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình này.
Cải rổ, theo Lê Thị Khánh (2008), có nguồn gốc ôn đới và yêu cầu ánh sáng phù hợp với thời gian chiếu sáng dài và cường độ ánh sáng yếu Loại cải này ưa thích ánh sáng vừa phải, được tạo ra khi ánh sáng lọc qua các vật thể khác như lá cây, tạo ra một khoảng không gian tương đối sáng, mặc dù có bóng mờ, trong hầu hết các ngày.
Rau cải rổ phát triển tốt trên nhiều loại đất, nhưng đạt năng suất cao nhất khi trồng trên đất thịt pha cát hoặc đất mùn giàu dinh dưỡng với độ pH từ 6 đến 6,8 (Lê Thị Khánh, 2008).
Cải có hệ rễ cạn và lá lớn, do đó cần độ ẩm thường xuyên trong thời gian sinh trưởng Độ ẩm đất lý tưởng từ 70-85% và độ ẩm không khí cao sẽ thúc đẩy sự phát triển của thân lá Nếu đất khô và thiếu ẩm, cây sẽ còi cọc, dẫn đến năng suất và chất lượng giảm Thiếu nước nghiêm trọng còn làm cải có vị đắng, ảnh hưởng đến hương vị khi ăn (Tạ Thu Cúc, 2008).
2.2.2 Kỹ thuật trồng cải rổ
Vụ sớm: gieo từ cuối tháng 8 đến 9, thu hoạch cuối tháng 11
Cải rổ được gieo từ tháng 10 đến tháng 12 và thu hoạch từ tháng 1 đến tháng 3 Có thể gieo thẳng hạt, chăm sóc và thu hoạch dần, hoặc gieo cây con rồi trồng ra ruộng sản xuất (Trần Khắc Thi, Nguyễn Thị Thu Hiền, Ngô Thị Hạnh, Phạm Mỹ Linh, 2008).
Rau cải rổ phát triển tốt trên nhiều loại đất, nhưng đạt năng suất cao nhất khi trồng trên đất thịt pha cát hoặc đất mùn giàu dinh dưỡng với độ pH từ 6 đến 6,8 Bạn có thể sử dụng đất sẵn hoặc kết hợp với dừa, than bùn, và mùn hữu cơ Để xử lý mầm bệnh trong đất, nên bón lót với vôi và phơi ải từ 15 đến 20 ngày trước khi trồng (Bình Điền, 2012).
2.2.2.3 Giống Để cho rau xanh tốt, kháng bệnh cao thì bạn nên lựa chọn hạt giống cải rổ có tỉ lệ nảy mầm cao của những nơi sản xuất hạt giống rau uy tín Đầu tiên, bạn nên ngâm hạt giống vào trong nước có nhiệt độ khoảng 30 – 45 độ C trong vòng từ 3 – 4 giờ Tiếp theo, vớt ra và đem ủ để hạt được nhú mầm (Bình Điền, 2012)
Gieo thẳng: gieo vãi hoặc gieo hàng (4 hàng/luống),với khoảng cách 25 x 20cm/cây hoặc 20 x 20cm/cây, mật độ là 18-20 vạn cây/ha (với giống ngắn ngày)
Với giống dài ngày, nên trồng ra ruộng sản xuất, khoảng cách 35 x 25 cm/cây, mật độ trồng là: 10-11 vạn cây/ha (Bình Điền, 2012)
Tuyệt đối không được dùng phân chuồng tươi, phân bắc tươi và nước phân tươi để bón hoặc tưới
Bón lót từ 10 đến 15 tấn/ha (360-540kg/sào Bắc Bộ) là cần thiết cho cây trồng Ngoài ra, có thể sử dụng phân hữu cơ sinh học hoặc phân rác chế biến để thay thế phân chuồng, với lượng bón chỉ bằng 1/3 so với phân chuồng.
Liều lượng và phương pháp bón phân hóa học:
Có thể thay thế ure, kali sunphat bằng các dạng nitrat amoni, sulfat amoni hoặc phân hỗn hợp, phức hợp NPK với liều lượng nguyên chất tương ứng Ngoài việc bón vào đất, có thể phun các dung dịch dinh dưỡng đa lượng, trung lượng và vi lượng lên lá theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
+ Lần 1: khi cây có 4 đến 5 lá thật (nếu gieo thẳng), hoặc sau trồng 10 đến 15 ngày
+ Lần 2: sau lần đầu tiên 15 ngày
+ Lần 3: sau lần 2 từ 10 đến 15 ngày
-Xới vun kết hợp với 2 lần bón thúc
Sử dụng nguồn nước tưới sạch (nước sông, nước giếng khoan) Tuyệt đối không sử dụng nước thải, nước bị ô nhiễm chưa qua xử lý
Sau khi gieo trồng cần thường xuyên giữ độ ẩm cho đất trong khoảng 80-85%
2.2.3 Sâu bệnh hại trên cải rổ
Sâu hại cây họ thập tự là một loại sâu nguy hiểm, gây hại từ giai đoạn cây còn nhỏ cho đến khi trưởng thành Chúng phát triển nhanh trong điều kiện ấm áp của mùa xuân và gặm nhấm phần thịt lá Sâu tơ xuất hiện từ tháng 11 đến tháng 6, với sự phát triển mạnh mẽ nhất từ tháng 11 đến tháng 3.
Việc lựa chọn giống cây chống bệnh và sâu tơ là rất quan trọng Để nâng cao hiệu quả phòng chống, cần thay đổi loại thuốc hóa học bảo vệ thực vật khi cây ở giai đoạn vườn ươm (Tạ Thu Cúc, 2008).
Bảo tồn sinh vật có ích trên đồng ruộng, đặc biệt là các loại ký sinh cảu sâu tơ như Cotesta brassicae L
Rệp chính hút chất dinh dưỡng từ lá cây, ảnh hưởng từ giai đoạn cây còn nhỏ cho đến khi trưởng thành Chúng phát triển mạnh trong điều kiện khô hạn và gây hại đặc biệt trong thời kỳ vụ sớm Để phòng chống rệp, cần áp dụng các biện pháp hiệu quả nhằm bảo vệ cây trồng.
Quan tâm đến bồi dục cây cây giống khỏe, bón phân cân đối thực hiện tưới tiêu hợp lý, vệ sinh đồng ruộng (Tạ Thu Cúc, 2008)
Sâu xanh bướm trắng ( Pieris rapae Linnaeus):
Sâu hại có thể ảnh hưởng từ giai đoạn cây còn nhỏ cho đến khi trưởng thành, chúng gặm nhấm phần thịt lá, khiến lá bị hư hại nặng với nhiều lỗ thủng Thời gian sâu gây hại thường diễn ra từ tháng 10 đến tháng 5 Để bảo vệ cây trồng, cần áp dụng các biện pháp phòng chống hiệu quả.
Coi trọng việc bắp bướm, thu gom nhuộng trên lá, bảo vệ thiên địch của sâu (Tạ Thu Cúc, 2008)
Sâu xám ( Agrotis ypsilon Rort):
Sâu xám sinh sống ở nhiều nơi, phá hoại nhiều loại cây trồng khác nhau: họ thập tự, họ cà…
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Vật liệu nghiên cứu
3.1.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
-Thời gian: từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2021
-Địa điểm: khu thực nghiệm Trường Đại Học An Giang
-Giống: Hạt cải rổ của Công Ty giống cây trồng TNHH Phú Nông
-Dụng cụ cần thiết: chậu miệng rộng 20cm, cao 17cm
-Dụng cụ hỗ trợ: leng, khay gieo hạt…
Phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm được thực hiện trong nhà lưới với thiết kế hoàn toàn ngẫu nhiên, bao gồm 5 nghiệm thức và 8 lần lặp lại Mỗi lần lặp lại sử dụng 1 chậu, trong đó mỗi chậu chứa 1 cây, và khoảng cách giữa các chậu là 20cm.
Bảng 1: Tỷ lệ các thành phần của nghiệm thức (%)
NT Thành phần giá thể (%)
Xỉ than Đất thịt Trấu ủ Phân bò
Ghi chú: *Nghiệm thức đối chứng sử dụng kết quả của La Thị Cẩm Linh
(2018), có điều chỉnh thành tro trấu sang trấu ủ
Hình 1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 3.2.2 Tiến hành nghiên cứu
Hạt giống cần được ngâm trong nước ấm theo tỷ lệ 2 sôi: 3 lạnh trong 20 phút, sau đó rửa sạch và ủ Khi hạt nảy mầm, tiến hành gieo vào khay, nên thực hiện vào buổi chiều mát để giảm thiểu tỷ lệ cây chết do nắng Khi cây đạt chiều cao 4cm, cấy vào chậu với khoảng cách 20cm giữa các chậu Trước khi cấy, tưới nước để tạo độ ẩm và tưới lại sau khi gieo xong.
+ Đất được lấy trồng cây phơi 2 tuần
Xỉ than tổ ong được xử lý bằng cách đập nhỏ thành miếng vụn và ngâm trong vôi Quá trình ngâm diễn ra trong 1 tuần, cần đảo trộn nhiều lần Sau khi xả nước lần 1, xỉ than tiếp tục được ngâm với vôi trong 1 tuần nữa trước khi được phơi khô.
Trấu ủ được xử lý bằng Trichoderma trong 3-4 tháng, sau khi chế biến còn lại hạt lép và hạt lửng không phôi Chuẩn bị bồn có kích thước 3m x 7m, sử dụng cọng rơm và lá ủ kết hợp với Trichoderma và ure làm thức ăn Bắt đầu với lớp 1, tưới nấm và phân, sau đó đổ lớp thứ 2 lên và phủ thêm cọng rơm, tiếp tục như vậy cho đến 5 lớp Cuối cùng, đậy bạc lại trong 2-3 ngày và bổ sung nước thêm.
2 tuần đảo lần 1 tới 4-5 tuần đảo lần 2, 8 tuần đảo lần 3, sau 12 tuần có thể sử dụng (Đặng Văn Sữa, 2020).
Tưới nước 2 lần mỗi ngày vào lúc sáng sớm và chiều mát
Loại bỏ những lá bệnh, cắt tỉa lá úa, lá già, tạo độ thông thoát cho cây phát triển và hạn chế được sâu bệnh
3.2.3 Chỉ tiêu theo dõi cây
Chỉ tiêu sinh trưởng: Số liệu thu thập định kỳ hàng tuần sau 7NST lấy chỉ tiêu, thời gian kết thúc 6 tuần (42 ngày)
- Chiều cao cây (cm): đo từ mặt đất đến đỉnh sinh trưởng của cây
- Số lá (lá/cây): đếm số lá hiện diện trên cây, lá được tính khi phiến lá mở
+Dài lá (cm): đo chiều dài phiến lá, từ đầu lá đến chóp lá
+Rộng lá (cm): đo nơi bản rộng nhất của lá
-Đường kính thân (cm): sử dụng thước kẹp để đo phần thân của cây cải
-Hàm lượng diệp lục tố: Dùng máy đo 2 lá (lá đã mở ra-tính từ đỉnh chồi xuống), mỗi lá đo 3 lần, ghi nhận kết quả trung bình
Năng suất và thành phần năng suất: Sau thời gian trồng đem trồng ở chậu
- Trọng lượng cây của 1 cây (g/1 cây): thu 1 cây lấy mẫu (bao gồm cả rễ), sau đó rửa sạch cân trọng lượng rồi quy ra trọng lượng của cây
Trọng lượng thương phẩm của một cây được xác định bằng cách cắt bỏ rễ ở vị trí cổ rễ, loại bỏ lá già và lá sâu bệnh, sau đó cân trọng lượng của cây Cuối cùng, trọng lượng này sẽ được quy ra trọng lượng thương phẩm của một cây.
Các số liệu được nhập và được sử lí bằng phần mềm Microsoft Excel
Dùng Duncan để so sánh sự khác biệt trong các nghiệm thức trong thí nghiệm.
KẾT QUẢ THẢO LUẬN
Kết quả phân tích chỉ tiêu chiều cao cây của cải rổ
Ở thời điểm 7 ngày sau khi trồng do nhiệt độ cao (Bảng 3) nên chiều cao cây khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê
Sau 14 ngày trồng, các nghiệm thức khác nhau cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa 5% Nghiệm thức NT5 đạt chiều cao cây cao nhất là 5,97 cm, trong khi các nghiệm thức NT4, NT2, NT3 và NT1 lần lượt có chiều cao là 5,80 cm, 5,09 cm, 5,00 cm và 4,97 cm Nghiệm thức NT5 không khác biệt có ý nghĩa với NT4, nhưng lại khác biệt có ý nghĩa với các nghiệm thức còn lại.
Bảng 3: Kết quả phân tích chỉ tiêu chiều cao cây (cm) của cải rổ
NT1 4,46 4,97b 6,06ab 6,74b 8,35b 8,80b 11,52b 14,85b NT2 4,46 5,09b 5,70b 6,24b 7,01b 7,87b 10,04b 11,54b NT3 4,57 5,00b 5,21b 5,69b 6,47b 7,44b 8,99b 11,72b NT4 4,50 5,80ab 7,25a 9,01a 14,74a 15,89a 20,10a 25,22a NT5 4,60 5,97a 7,17a 8,55a 11,86a 13,74a 18,39a 22,75a
Ghi chú: Trong cùng một cột, các chữ theo sau giống nhau thì sự khác biệt không có ý nghĩa Ký hiệu "ns" chỉ ra rằng sự khác biệt không có ý nghĩa; ký hiệu "**" thể hiện sự khác biệt ở mức ý nghĩa 1%; và ký hiệu "*" cho thấy sự khác biệt ở mức ý nghĩa 5%.
NT1: 30% đất +30% trấu ủ +40% phân bò;
NT2: 10% xỉ than + 35% đất + 15% trấu ủ + 40% phân bò;
NT3: 15% xỉ than + 25% đất +15% trấu ủ + 40% phân bò;
NT4: 20% xỉ than + 25% đất +15% trấu ủ + 40% phân bò;
NT5: 25% xỉ than + 20% đất + 15% trấu ủ + 40% phân bò
Sau 21 ngày trồng, các nghiệm thức khác nhau cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa 1% Nghiệm thức NT4 đạt chiều cao cây cao nhất là 7,25 cm, không có sự khác biệt ý nghĩa với NT5 và NT1, nhưng lại khác biệt có ý nghĩa so với các nghiệm thức còn lại.
Từ 28 đến 42 ngày sau khi trồng, các nghiệm thức khác biệt có ý nghĩa 1%, với chiều cao dao động từ 5,69 cm đến 15,89 cm Nghiệm thức NT4 không khác biệt với NT5 nhưng có sự khác biệt có ý nghĩa với các nghiệm thức còn lại Đến 49 ngày sau khi trồng, NT4 và NT5 không khác biệt, nhưng NT4 vẫn khác biệt có ý nghĩa 1% so với các nghiệm thức khác Đến 56 ngày sau khi trồng, chiều cao cây ở nghiệm thức NT4 đạt 25,22 cm, cho kết quả tốt hơn so với các nghiệm thức còn lại với mức ý nghĩa 1%.
Thành phần tỷ lệ xỉ than khác nhau ảnh hưởng đến chiều cao cây cải rổ Cụ thể, nghiệm thức NT4 (20% xỉ than + 25% đất + 15% trấu ủ + 40% phân bò) và NT5 (25% xỉ than + 20% đất + 15% trấu ủ + 40% phân bò) cho thấy chiều cao cây cao nhất và phù hợp nhất cho sự phát triển của cây.
Hình 2: Chiều cao sau 14 ngày của cây cải rổ
Kết quả phân tích chỉ tiêu chiều dài lá của cải rổ
Sau 7 ngày trồng, chiều dài lá phát triển chậm và không có sự khác biệt thống kê rõ rệt Tuy nhiên, nghiệm thức NT2 ghi nhận chiều dài lá dài nhất, đạt 3,65 cm so với các nghiệm thức khác.
Bảng 4: Kết quả phân tích chỉ tiêu chiều dài lá (cm) của cải rổ
NT1 3,42 4,04b 4,56b 5,21b 6,19b 7,20b 8,89b 10,78b NT2 3,65 4,60ab 4,97ab 5,35b 5,81b 6,49b 8,15b 10,16b NT3 3,50 4,01b 4,44b 5,01b 5,52b 6,36b 7,26b 9,72b NT4 3,52 4,87a 5,86a 7,47a 10,14a 12,20a 15,72a 18,91a NT5 3,40 4,94a 5,70a 6,92a 9,49a 10,85a 14,82a 17,52a
Ghi chú: Trong cùng một cột, các chữ theo sau giống nhau không có sự khác biệt có ý nghĩa Ký hiệu "ns" chỉ ra rằng sự khác biệt không có ý nghĩa; ký hiệu "**" thể hiện sự khác biệt ở mức ý nghĩa 1%; và ký hiệu "*" cho thấy sự khác biệt ở mức ý nghĩa 5%.
NT1: 30% đất +30% trấu ủ +40% phân bò;
NT2: 10% xỉ than + 35% đất + 15% trấu ủ + 40% phân bò;
NT3: 15% xỉ than + 25% đất +15% trấu ủ + 40% phân bò;
NT4: 20% xỉ than + 25% đất +15% trấu ủ + 40% phân bò;
NT5: 25% xỉ than + 20% đất + 15% trấu ủ + 40% phân bò
Tới 14 ngày đến 21 ngày sau khi trồng, nghiệm thức NT5 không có sự khác biệt so với NT4 và NT2 nhưng khác biệt so với các nghiệm thức còn lại ở mức 5%
Các ngay tiếp theo, cây có sự phát triển ổn định về chiều dài lá và có sự khác biệt ở mức ý nghĩa 1% giữa các nghiệm thức ở 28 ngày, 35 ngày
Sang 42 đến 49 ngày sau khi trồng, chiều dài lá dao động từ 6,36 đến 15,72 cm Nghiệm thức NT4 có chiều dài lá đạt (15,72 cm) và khác biệt có mức ý nghĩa 1%
Sau 56 ngày, tất cả các nghiệm thức đều cho thấy sự gia tăng đáng kể về chiều dài lá, dao động từ 9,72 cm đến 18,91 cm Trong số đó, nghiệm thức NT4 đạt chiều dài lá cao nhất là 18,91 cm, tiếp theo là NT5 với 17,52 cm, NT1 với 10,78 cm, NT2 với 10,16 cm, và cuối cùng là NT3 với 9,72 cm.
Thí nghiệm cho thấy xỉ than có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển chiều dài của cây cải rổ, với nghiệm thức NT4 (20% xỉ than + 25% đất + 15% trấu ủ + 40% phân bò) và NT5 (25% xỉ than + 20% đất + 15% trấu ủ + 40% phân bò) đạt kết quả tốt hơn so với các nghiệm thức khác.
Hình 3: Chiều dài lá sau 56 ngày của nghiệm thức NT4
Kết quả phân tích chỉ tiêu chiều rộng lá của cải rổ
Kết quả phân tích cho thấy, trong khoảng thời gian từ 7 đến 14 ngày sau khi giao trồng, không có sự khác biệt thống kê giữa các nghiệm thức Nghiệm thức NT4 có chiều rộng lá lớn nhất, đạt 2,52 cm, so với các nghiệm thức khác.
Bảng 5: Kết quả phân tích chỉ tiêu chiều rộng lá (cm) của cải rổ
NT1 1,67 2,09 2.,97bc 2,81b 3,62b 4,17c 5,94b 7,72bc NT2 1,65 2,20 2,36bc 2,70b 3,24b 3,70c 4,70b 6,07c NT3 1,59 1,92 2,07c 2,39b 2,92b 3,47c 4,52b 5,82c NT4 1,89 2,52 3,06a 4,42a 6,15a 7,56a 10,06a 12,76a NT5 1,55 2,47 2,92ab 3,92a 5,34a 5,86b 8,50a 10,88ab
Ghi chú: Trong cùng một cột, các chữ theo sau giống nhau thì sự khác biệt không có ý nghĩa Ký hiệu "ns" chỉ ra rằng sự khác biệt không có ý nghĩa; ký hiệu "**" thể hiện sự khác biệt ở mức ý nghĩa 1%; và ký hiệu "*" cho thấy sự khác biệt ở mức ý nghĩa 5%.
NT1: 30% đất +30% trấu ủ +40% phân bò;
NT2: 10% xỉ than + 35% đất + 15% trấu ủ + 40% phân bò;
NT3: 15% xỉ than + 25% đất +15% trấu ủ + 40% phân bò;
NT4: 20% xỉ than + 25% đất +15% trấu ủ + 40% phân bò;
NT5: 25% xỉ than + 20% đất + 15% trấu ủ + 40% phân bò
Sau 21 ngày trồng, chiều rộng lá giữa các nghiệm thức có sự khác biệt đáng kể ở mức 5% Nghiệm thức NT4 có chiều rộng lá lớn nhất, đạt 3,06 cm, và không có sự khác biệt ý nghĩa với NT5, nhưng lại khác biệt rõ rệt so với các nghiệm thức khác.
Trong các ngày tiếp theo, chiều rộng lá tăng ổn định với sự khác biệt có ý nghĩa 1% Nghiệm thức NT4 đạt chiều rộng lá 7,56 cm, và đến ngày 49, các nghiệm thức cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa 1% Nghiệm thức NT4 có chiều rộng lá lớn nhất, đạt 10,06 cm, không khác biệt có ý nghĩa với NT5 nhưng lại khác biệt có ý nghĩa so với các nghiệm thức còn lại.
Sau 56 ngày trồng, nhận thấy rằng chiều rộng lá trung bình đạt cao nhất ở nghiệm thức NT4 (12,76 cm),tiếp đến nghiệm thức NT5 (10,88 cm), NT1 (7,72 cm), đến NT2 (6,07 cm) và thấp nhất là nghiệm thức NT3 (5,82 cm) và khác biệt thống kê ở mức ý nghĩa 1%
Cấu tạo của xỉ than và nhiệt độ ảnh hưởng đến sự phát triển chiều rộng lá Kết quả phân tích cho thấy, NT4 (20% xỉ than + 25% đất + 15% trấu ủ + 40% phân bò) mang lại chiều rộng lá lớn nhất và phù hợp nhất cho cải rổ.
Hình 4: Hình đo chiều rộng lá sau 56 ngày của NT4
Kết quả phân tích chỉ tiêu số lá cải rổ
Kết quả phân tích từ Bảng 6 cho thấy, số lá từ 7 ngày đến 14 ngày sau khi trồng khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê
Bảng 6: Kết quả phân tích chỉ tiêu số lá cải rổ
NT1 1,87 2,50 3,25ab 3,75b 4,00b 4,62bc 5,87bc 6,50b NT2 1,87 2,37 2,87b 3,50b 4,00b 4,25bc 5,50bc 5,75b NT3 1,62 2,25 2,62b 2,50c 2,75c 3,50c 4,73c 5,62b NT4 2,00 2,87 3,87a 4,87a 6,37a 7,25a 8,25a 9,25a NT5 1,75 2,12 3,12ab 4,00ab 5,00b 5,62b 7,00ab 7,25b
Ghi chú: Trong cùng một cột, các chữ theo sau giống nhau thì sự khác biệt không có ý nghĩa Ký hiệu "ns" chỉ ra rằng sự khác biệt không có ý nghĩa; ký hiệu "**" thể hiện sự khác biệt ở mức ý nghĩa 1%; và ký hiệu "*" cho thấy sự khác biệt ở mức ý nghĩa 5%.
NT1: 30% đất +30% trấu ủ +40% phân bò;
NT2: 10% xỉ than + 35% đất + 15% trấu ủ + 40% phân bò;
NT3: 15% xỉ than + 25% đất +15% trấu ủ + 40% phân bò;
NT4: 20% xỉ than + 25% đất +15% trấu ủ + 40% phân bò;
NT5: 25% xỉ than + 20% đất + 15% trấu ủ + 40% phân bò
Sau 21 ngày trồng, có sự khác biệt có ý nghĩa 5% giữa các nghiệm thức Nghiệm thức NT4 đạt số lá lớn nhất với 3,87 lá, không khác biệt có ý nghĩa so với NT1 (3,25 lá) và NT5 (3,12 lá), nhưng lại khác biệt có ý nghĩa với các nghiệm thức còn lại.
Từ 28 ngày đến 35 ngày, số lá dao động từ 2,50-6,37 lá Trong đó số lá ở nghiệm thức NT4 (6,37 lá) khác biệt với mức ý nghĩa 1% so với NT1 (4,00 lá), NT2 (4,00 lá), NT3( 7,25 lá ) và NT5 (5,00 lá) tại 35 ngày Đến 42 ngày sau khi trồng, số lá cao nhất ở nghiệm thức NT4 (7,25 lá ) khác biệt có ý nghĩa thống kê mức 1%
Tới 49 ngày sau khi trồng, số lá cao nhất ở nghiệm thức NT4 (8,25 lá) khác biệt có ý nghĩa thống kê mức 1% so với các nghiệm thức NT1(5,87 lá), NT2 (5,50 lá), tiếp đến NT3 (4,73 lá ) và cuối cùng NT5 (7,00 lá) Ở thời điểm 56 ngày sau khi trồng, số lá của các nghiệm thức dao động từ 5,62 đến 9,25 lá Trong đó, nghiệm thức NT4 cho số lá cao nhất đạt 9,24 lá và khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 1% so với các nghiệm thức còn lại
Nhiệt độ cao và thành phần xỉ than ảnh hưởng đến sự phát triển số lá của cây cải rổ, dẫn đến sự phát triển chậm (Bảng 2) Phân tích cho thấy NT4 (20% xỉ than + 25% đất + 15% trấu ủ + 40% phân bò) và NT5 (25% xỉ than + 20% đất + 15% trấu ủ + 40% phân bò) mang lại số lá nhiều nhất.
(a) Cải rổ sau 21 ngày (b) Cải rổ sau 35 ngày Hình 5: Cây cải rổ sau 21 ngày (a) và 35 ngày (b) của NT4 a b
Kết quả phân tích chỉ tiêu đường kính thân của cải rổ
Kết quả từ Bảng 7 cho thấy, đường kính thân của cải rổ trồng trên một loại giá thể với các tỷ lệ khác nhau ở 5 nghiệm thức có sự khác biệt rõ rệt tại các thời điểm 21, 28, 35, 42, 49 và 56 ngày, với mức ý nghĩa 1%.
Từ 7 đến 14 ngày, đường kính thân dao động từ 0,12 đến 0,18 cm, không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa các nghiệm thức Đến 21 ngày sau khi trồng, đường kính thân lớn nhất ở nghiệm thức NT4 (0,25 cm), NT1(0,20 cm), tuy nhiên không khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê so với NT5 (0,25 cm), NT2 (0,21 cm) Ở 28 đến 35 ngày sau khi trồng, đường kính thân dao động từ 0,19 cm đến 0,52 cm Trong đó, nghiệm thức NT4 có đường kính thân lớn nhất đạt 0,52 cm và khác biệt có ý nghĩa 1%
Bảng 7: Kết quả phân tích chỉ tiêu đường kính thân (cm) của cải rổ
NT1 0,12 0,17 0,20ab 0,21bc 0,37bc 0,44c 0,61b 0,80bc NT2 0,12 0,18 0,21a 0,24bc 0,35bc 0,39c 0,49b 0,67c NT3 0,12 0,13 0,14b 0,19c 0,31c 0,32c 0,43b 0,46c NT4 0,11 0,17 0,25a 0,32a 0,52a 0,84a 1,05a 1,18a NT5 0,13 0,18 0,24a 0,28ab 0,46ab 0,62b 0,91a 1,11ab
Ghi chú: Trong cùng một cột, nếu các chữ theo sau giống nhau thì sự khác biệt không có ý nghĩa Ký hiệu "ns" chỉ ra rằng sự khác biệt không có ý nghĩa; ký hiệu "**" thể hiện sự khác biệt ở mức ý nghĩa 1%; và ký hiệu "*" cho thấy sự khác biệt ở mức ý nghĩa 5%.
NT1: 30% đất +30% trấu ủ +40% phân bò;
NT2: 10% xỉ than + 35% đất + 15% trấu ủ + 40% phân bò;
NT3: 15% xỉ than + 25% đất +15% trấu ủ + 40% phân bò;
NT4: 20% xỉ than + 25% đất +15% trấu ủ + 40% phân bò;
NT5: 25% xỉ than + 20% đất + 15% trấu ủ + 40% phân bò
Sang 42 ngày sau khi trồng, nghiệm thức NT4 có đường kính thân đạt 0,84 cm, tuy nhiên có sự khác biệt có ý nghĩa so với các nghiệm thức còn lại
Sau 49 ngày trồng, nghiệm thức NT4 cho thấy sự tăng trưởng nhanh chóng với đường kính thân đạt 1,05 cm, khác biệt có ý nghĩa so với các nghiệm thức khác, ngoại trừ NT5 Đến 56 ngày sau khi trồng, đường kính thân lớn nhất cũng thuộc về nghiệm thức NT4 với giá trị 1,18 cm, không có sự khác biệt ý nghĩa với NT5 nhưng vẫn khác biệt rõ rệt so với các nghiệm thức còn lại.
Kết quả phân tích chỉ tiêu đường kính thân của cải rổ cho thấy NT4 (20% xỉ than + 25% đất + 15% trấu ủ + 40% phân bò) và NT5 (25% xỉ than + 20% đất + 15% trấu ủ + 40% phân bò) đạt được đường kính thân lớn nhất so với các nghiệm thức khác.
Hình 6: Hình đo đường kính thân của cây cải rổ
Kết quả phân tích chỉ tiêu hàm lượng diệp lục tố (spad) của cải rổ
Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng diệp lục tố của cây cải rổ ở giai đoạn 7 ngày sau khi trồng không có sự khác biệt thống kê giữa các nghiệm thức.
Bảng 8: Sau 56 ngày thí nghiệm hàm lượng diệp lục tố (SPAD) của cải rổ
NT1 36,37 35,75b 37,34 39,86 37,91ab 39,67 36,86b 37,36b NT2 37,12 36,15b 36,85 38,52 36,15b 38,00 36,15b 36,61b NT3 35,89 35,36b 37,45 38,67 35,74b 38,30 37,20b 37,04b NT4 35,86 38,17ab 36,40 39,37 41,37a 42,95 41,56a 41,86a NT5 34,35 40,66a 35,80 42,10 39,47ab 39,67 39,96ab 38,60ab
Ghi chú: Trong cùng một cột, các chữ theo sau giống nhau thì sự khác biệt không có ý nghĩa Ký hiệu "ns" chỉ ra rằng sự khác biệt không có ý nghĩa; ký hiệu "**" thể hiện sự khác biệt ở mức ý nghĩa 1%; và ký hiệu "*" cho thấy sự khác biệt ở mức ý nghĩa 5%.
NT1: 30% đất +30% trấu ủ +40% phân bò;
NT2: 10% xỉ than + 35% đất + 15% trấu ủ + 40% phân bò;
NT3: 15% xỉ than + 25% đất +15% trấu ủ + 40% phân bò;
NT4: 20% xỉ than + 25% đất +15% trấu ủ + 40% phân bò;
NT5: 25% xỉ than + 20% đất + 15% trấu ủ + 40% phân bò
Sau 14 ngày trồng, nghiệm thức NT5 đạt hàm lượng diệp lục tố cao nhất với giá trị 40,66, vượt trội hơn so với NT4 (38,17) và có sự khác biệt thống kê ở mức ý nghĩa 5% so với các nghiệm thức NT2 (36,15), NT3 (35,36), NT4 (38,17) và NT1 (35,75).
Từ 21 đến 28 ngày, hàm lượng diệp lục tố dao động từ 35,80 đến 42,10 không có khác biệt về mặt thống kê giữa các nghiệm thức Đến 35 ngày sau khi trồng, hàm lượng diệp lục tố dao động từ 35,74 đến 41,37 Trong đó, nghiệm thức NT4 có hàm lượng diệp lục tố tốt nhất (41,37) và tiếp đến NT5 (39,47), NT1(37,91), khác biệt thống kê ở mức ý nghĩa 5% so với nghiệm thức NT2 (36,15), NT3 (35,74)
Sang 42 ngày sau khi trồng, hàm lượng diệp lục tố cao nhất ở nghiệm thức NT4 (41,56) và không có khác biệt về mặt thống kê giữa các nghiệm thức
Sau 49 ngày trồng, nghiệm thức NT4 ghi nhận hàm lượng diệp lục tố cao nhất với 41,56, tiếp theo là NT5 với 39,96, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê ở mức 1% Đến giai đoạn 56 ngày, hàm lượng diệp lục tố tiếp tục tăng ổn định, NT4 đạt 41,86, NT5 đạt 38,60, và sự khác biệt có ý nghĩa 5% so với các nghiệm thức NT1 (37,36), NT2 (36,61) và NT3 (37,04).
Tóm lại, đất trồng tốt giúp cho cây sinh trưởng tốt làm cho hàm lượng diệp lục tố cây phát trển và cho năng suất cao.
Chỉ tiêu năng suất lý thuyết của cải rổ
Bảng 9: Chỉ tiêu năng suất lý thuyết (g) của cải rổ
Nghiệm thức Năng suất lý thuyết (g)
Ghi chú: Trong cùng một cột các chữ theo sau giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa.**: khác biệt ở mức ý nghĩa 1%
NT1: 30% đất +30% trấu ủ +40% phân bò;
NT2: 10% xỉ than + 35% đất + 15% trấu ủ + 40% phân bò;
NT3: 15% xỉ than + 25% đất +15% trấu ủ + 40% phân bò;
NT4: 20% xỉ than + 25% đất +15% trấu ủ + 40% phân bò;
NT5: 25% xỉ than + 20% đất + 15% trấu ủ + 40% phân bò
Kết quả từ Bảng 8 cho thấy năng suất lý thuyết của cây cải rổ có sự khác biệt đáng kể với mức ý nghĩa 1% Cụ thể, nghiệm thức NT4 đạt khối lượng năng suất cao nhất là 130,88 g, trong khi nghiệm thức NT3 ghi nhận khối lượng năng suất thấp nhất là 44,50 g.
Chỉ tiêu năng suất thực tế của cải rổ
Bảng 10: Chỉ tiêu năng suất thực tế (g) của cải rổ
Nghiệm thức Năng suất thực tế (g)
Ghi chú: Trong cùng một cột các chữ theo sau giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa **: khác biệt ở mức ý nghĩa 1%
NT1: 30% đất +30% trấu ủ +40% phân bò;
NT2: 10% xỉ than + 35% đất + 15% trấu ủ + 40% phân bò;
NT3: 15% xỉ than + 25% đất +15% trấu ủ + 40% phân bò;
NT4: 20% xỉ than + 25% đất +15% trấu ủ + 40% phân bò;
NT5: 25% xỉ than + 20% đất + 15% trấu ủ + 40% phân bò
Kết quả từ Bảng 9 cho thấy, năng suất thực tế của cây cải rổ cao nhất đạt 120,00 g ở nghiệm thức NT4, có sự khác biệt có ý nghĩa 1% so với các nghiệm thức khác, trong khi nghiệm thức NT3 ghi nhận khối lượng năng suất thấp nhất là 39,50 g.