Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng tanin của các loại cỏ trồng cũng như cỏtự nhiên trung bình 4,52%, thấp nhất là cỏ Mombasa với hàm lượng tanin3,46% và cao nhất là cỏ TD58 với tanin l
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
KHẢO SÁT HÀM LƯỢNG TANIN TRONG
MỘT SỐ CÂY THỨC ĂN CHO
GIA SÚC NHAI LẠI
TRẦN THỊ CẨM THÚY
AN GIANG, THÁNG 05-2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
KHẢO SÁT HÀM LƯỢNG TANIN TRONG
MỘT SỐ CÂY THỨC ĂN CHO
GIA SÚC NHAI LẠI
Trang 3TS Nguyễn Thị Thu Hồng
Chủ tịch Hội đồng
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Lời nói đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đối vớicác thầy cô của trường, đặc biệt là các thầy cô khoa Nông nghiêp - tài nguyênthiên nhiên của trường Đại học An Giang truyền đạt những kiến thức và kỹnăng trong thời gian em được học tập tại trường
Sau đó em xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Thu Hồng đã nhiệt tìnhhướng dẫn giúp đỡ em trong việc lựa chọn đề tài nghiên cứu, hướng tiếp cận
và giúp em chỉnh sửa những thiếu sót trong quá trình nghiên cứu
Em cũng xin gởi lời cảm ơn đến các Lê Văn Khánh và Nguyễn Quốc Đạt cũngnhư các bạn trong lớp DH18CN đã giúp đỡ, hỗ trợ và động viên tôi trong quátrình thực hiện chuyên đề tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn!
An Giang, ngày 30 tháng 5 năm 2021
Người thực hiện
Trần Thị Cẩm Thúy
Trang 5LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan đây là nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong nghiêncứu này có xuất xứ rõ ràng Những kết luận mới về khoa học của công trìnhnghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác
An Giang, ngày 30 tháng 5 năm 2021
Người thực hiện
Trần Thị Cẩm Thúy
Trang 6Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng tanin của các loại cỏ trồng cũng như cỏ
tự nhiên trung bình 4,52%, thấp nhất là cỏ Mombasa với hàm lượng tanin3,46% và cao nhất là cỏ TD58 với tanin là 6,18% tính trên vật chất khô Đốivới cây họ đậu, kết quả phân tích cho thấy hàm lượng tanin trung bình 8,70%,thấp nhất là Điên điển với hàm lượng tanin 6,91% và cao nhất là Mai dươngvới tanin là 10,19% tính trên vật chất khô Đối với cây đa mục đích, kết quảphân tích cho thấy hàm lượng tanin trung bình 9,64%, hàm lượng tanin biếnđộng tanin từ 5,09 – 18,55% tính trên vật chất khô
Từ khóa: cây cỏ, cây họ đậu, cây đa mục đích, tanin
Trang 7MỤC LỤC
Chấp nhận của hội đồng i
Lời cảm tạ ii
Lời cam kết iii
Tóm tắt iv
Mục lục v
Danh sách bảng vii
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Tính cấp thiết đề tài 1
1.2 Mục tiêu đề tài 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Nội dung nghiên cứu 2
1.5 Những đóng góp của đề tài 2
Chương 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
2.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu 3
2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về tanin đối với gia súc nhai lại 3
2.2.1 Tanin ảnh hưởng trên pH dạ cỏ 5
2.2.2 Tanin ảnh hưởng trên NH3 5
2.2.3 Tanin ảnh hưởng trên sự sinh khí mê tan 5
2.3 Tổng quan về một số cây thức ăn gia súc nhai lại 6
2.3.1 Tổng quan về các loại cỏ 6
2.3.2 Tổng quan về các loại cây họ đậu 9
2.3.3 Tổng quan về các loại cây đa mục đích 12
Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Thời gian và địa điểm 17
3.2 Thiết kế nghiên cứu 17
3.2.1 Thiết kế thí nghiệm 17
3.2.2 Phương pháp tiến hành 17
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 20
4.1 Thành phần hóa học và hàm lượng tanin của cacsc loại cỏ 20
Trang 84.1.1 Thành phần dinh dưỡng các thực liệu 20
4.1.2 Hàm lượng tanin của các loại cỏ 21
4.2 Thành phần hóa học và hàm lượng tanin của các loại cây họ đậu 22
4.2.2 Hàm Lượng tanin của các cây họ đậu 24
4.3 Thành phần hóa học và hàm lượng tanin của các loại cây đa mục đích 25
4.3.1 Thành phần hóa học của các loại cây đa mục đích 25
4.3.2 Hàm lượng tanin của csác cây đa mục đich 27
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 29
5.1 Kết luận 29
5.2 Khuyến nghị 29
Trang 9DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1: Thành phần hóa học của các loại cỏ (% vật chất khô) 20
Bảng 2: Hàm lượng tanin của các loại cỏ (% Tanin) 22
Bảng 3 Thành phần hóa học của các loại cây họ đậu (% vật chất khô) 23
Bảng 4 Hàm lượng tanin của các loại cây họ đậu (% vật chất khô) 24
Bảng 5 Thành phần hóa học của các loại cây đa mục đích (% vật chất khô) 25
Bảng 6 Hàm lượng tanin của các loại cây đa mục đích (% vật chất khô) 27
Trang 10CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU1.1 TÍNH CẤP THIẾT ĐỀ TÀI
Đặc điểm nổi bật về tiêu hóa của gia súc nhai lại là sự lên men thức ăn ở dạ cỏnhờ vào hoạt động của hệ vi sinh vật dạ cỏ Quá trình lên men thức ăn và cácsản phẩm cuối cùng từ quá trình lên men là những yếu tố quan trọng trongviệc cải thiện dinh dưỡng cho gia súc nhai lại Hệ vi sinh vật của gia súc nhailại có khả năng sử dụng nguồn thức ăn thô xơ mà con người và gia súc kháckhông sử dụng được để tạo ra những sản phẩm giá trị cao Điều này cho phépchăn nuôi gia súc nhai lại dựa trên nguồn thức ăn ít bị cạnh tranh và phát triểnbền vững
Quần thể vi sinh vật ở dạ cỏ phong phú và phức tạp, có nhiều chức năng tiêuhóa khác nhau, có độ mẫn cảm thấp đối với các chất kháng dinh dưỡng trongthức ăn, có khả năng sử dụng các chất khoáng vô cơ và có khả năng tổng hợpmột số vitamin Bên cạnh đó vấn đề khí mê tan do chăn nuôi gia súc nhai lạigây ra là vấn đề rất được quan tâm với cơ chế đã được làm rõ Giảm thiểu thảikhí mê tan từ gia súc nhai lại đạt được hai mục đích giảm khí nhà kính toàncầu, nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn Có nhiều cách để giảm thải khí mêtan từ gia súc nhai lại như thay đổi con đường trao đổi chất, thay đổi tổ hợp visinh vật dạ cỏ hay tác động để thay đổi sinh lý tiêu hóa dạ cỏ (Martin và cs.,2008) Chiến lược giảm CH4ở dạ cỏ vì thế là tìm cách giảm tạo ra hydro, ngănchăn và hạn chế quá trình hình thành CH4, đưa hydro vào các sản phẩm traođổi chất khác hoặc tạo ra các bể chứa H2 khác Chiến lược dinh dưỡng giảmthiểu mê tan là dựa trên cơ sở các nguyên lý này (O’Mara và cs., 2008)
Sử dụng các hợp chất thứ cấp và chất tách chiết từ thực vật như tanin vàsaponin Đối với các thức ăn chứa Tanin, việc ức chế quá trình sinh mê tanchủ yếu là do tanin đậm đặc (Martin và cs., 2008) Mặc dù tanin chung đượccoi là chất kháng dinh dưỡng, ở nồng độ tanin thấp nhất định làm thay đổi quátrình lên men dạ cỏ và tổng hợp protein của vi sinh vật (Bhatta và cs., 2001).Tanin cũng làm giảm sản xuất CH4 ở dạ cỏ khi khẩu phần có các cây họ đậu(Waghorn cs., 2003) Điều này rất quan trọng đối với chăn nuôi gia súc nhailại hiện nay, trong bối cảnh ngành chăn nuôi cần có các động thái tích cựcgiảm thiểu phát thải khí nhà kính và thích ứng với biến đổi khí hậu (Steinfeld
và cs., 2006)
Trên cơ sở đó đề tài “Khảo sát hàm lượng tanin trong một số cây thức ăn chogia súc nhai lại” được thực hiện
Trang 111.2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
Xác định hàm lượng tanin trong cây thức ăn cho gia súc nhai lại
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu : Có 16 cây thức ăn cho gia súc nhai lại
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Xác định hàm lượng tanin trong cây thức ăn cho gia súc nhai lại
1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Các kết quả của đề là những tài liệu khoa học để tham khảo cho công tácnghiên cứu khoa học và giảng dạy cho các nhà nghiên cứu, giáo viên và sinhviên đại học
Trang 12CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU2.1 GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Khí mê tan tạo ra từ chăn nuôi gia súc nhai lại chủ yếu đến từ quá trình lên menthức ăn ở dạ cỏ, phân gia súc và chịu ảnh hưởng của một số yếu tố như tuổi giasúc, khối lượng, chất lượng thức ăn, hiệu quả tiêu hóa thức ăn (Paustian và cs.,2006) Giảm thiểu thải khí mê tan từ gia súc nhai lại đạt được hai mục đích làgiảm khí nhà kính toàn cầu và nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn (Martin vàcs., 2008) Đối với các thức ăn chứa tanin, có hai cơ chế về hoạt động củatanin là tanin ảnh hưởng trực tiếp đến hình thành khí mê tan và ảnh hưởnggián tiếp đến giảm tạo ra hydro do tỉ lệ phân giải thức ăn ở dạ cỏ thấp hơn(Tavendale và cs., 2005)
Tanin từ các nguồn khác nhau đã được chứng minh là làm giảm sản xuất mê
tan cả trong điều kiện in vitro và in vivo Bổ sung tanin với mức độ 40 g/kg vật
chất khô vào khẩu phần của cừu làm giảm khí mê tan là 13% (Carulla và cs.,2005) Một thí nghiệm trên bò với mức tanin bổ sung 14,6 g/kg vật chất khô
ăn vào giảm khí mê tan đến 30% (Grainger và cs., 2009)
Chiến lược giảm khí mê tan là tìm cách giảm tạo ra hydro, ngăn chăn và hạnchế quá trình hình thành mê tan, đưa hydro vào các sản phẩm trao đổi chấtkhác hoặc tạo ra các bể chứa H2 khác Chiến lược dinh dưỡng giảm thiểu mêtan là dựa trên cơ sở các nguyên lý này Sử dụng các hợp chất thứ cấp và chấttách chiết từ thực vật như tanin và saponin Đối với các thức ăn chứa tanin,việc ức chế quá trình sinh mê tan chủ yếu là do Condensed tanin (Martin và cs.,2008)
Mặc dù tanin được coi là chất kháng dinh dưỡng, nhưng ở nồng độ tanin thấp,tanin làm thay đổi quá trình lên men dạ cỏ và tổng hợp protein của vi sinh vật.Tanin cũng làm giảm sản xuất khí mê tan dạ cỏ khi khẩu phần có hiện diện củacác loại cây họ đậu hoặc chiết xuất tanin (Roth và cs., 2002)
2.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TANIN ĐỐI VỚI GIA SÚC NHAI LẠI
Đặc điểm nổi bật về tiêu hóa của gia súc nhai lại là sự lên men thức ăn ở dạ cỏnhờ vào hoạt động của hệ vi sinh vật dạ cỏ Quá trình lên men thức ăn và cácsản phẩm cuối cùng từ quá trình lên men là những yếu tố quan trọng trongviệc cải thiện dinh dưỡng cho gia súc nhai lại Hệ vi sinh vật của gia súc nhailại có khả năng sử dụng nguồn thức ăn thô xanh mà con người và gia súc độc
vị khác không sử dụng được để tạo ra những sản phẩm giá trị cao Điều này
Trang 13cho phép chăn nuôi gia súc nhai lại dựa trên nguồn thức ăn không cạnh tranhvới con người và phát triển bền vững.
Quần thể vi sinh vật ở dạ cỏ phong phú và phức tạp, có nhiều chức năng tiêuhóa khác nhau, có độ mẫn cảm thấp đối với các chất kháng dinh dưỡng trongthức ăn, có khả năng sử dụng các chất khoáng vô cơ và có khả năng tổng hợpvitamin nhóm B và K Bên cạnh đó vấn đề khí mê tan do chăn nuôi gia súcnhai lại gây ra là vấn đề rất được quan tâm với cơ chế đã được làm rõ Cónhiều cách để giảm thải khí mê tan từ gia súc nhai lại như thay đổi con đườngtrao đổi chất, thay đổi tổ hợp vi sinh vật dạ cỏ hay tác động để thay đổi sinh lýtiêu hóa dạ cỏ (Martin và cs., 2008)
Tanin là một nhóm phức hợp của các hợp chất polyphenolic được tìm thấytrong một loạt các loài thực vật thường tiêu thụ bởi gia súc nhai lại Chúngđược chia thành hai nhóm chính một loại tanin có khả năng thủy phân gọi làhydrolysable tanin và một loại không có khả năng thủy hóa gọi là condensedtanin Nồng độ cao của tanin làm giảm lượng thức ăn ăn vào và khả năng tiêuhóa chất dinh dưỡng và nồng độ từ thấp đến vừa phải có thể cải thiện tiêu hóadưỡng chất trong thức ăn Tác động chủ yếu là do giảm sự phân giải proteintrong dạ cỏ và axit amin xuống ruột non Những tác động về dinh dưỡng đượcphản ánh trong năng suất vật nuôi (Frutos và cs., 2004)
Tanin có trong hầu hết các loài thực vật, đặc biệt là các cây bụi và cây họ đậuthân thảo Tanin có nhiều trong các bộ phận của cây trồng như lá non và hoa
(Terril và cs., 1992) Trong các nghiên cứu in vivo với cây nhiệt đới chứa tanin
được thực hiện theo hai cách: một là dùng các chất chiết xuất tanin từ
thực vật (từ một hoặc một số cây thức ăn) và hai là sử dụng cây thức ănchứa tanin cho vật nuôi ăn trực tiếp Các cây thức ăn có thể sử dụng ở dạngtươi hay khô hoặc dạng ủ chua, hoặc dạng bột, viên Đối với các nghiên cứu
sử dụng dạng thức ăn tươi cho gia súc có thể sử dụng hình thức chăn thả trênnhững thảm thực vật tự nhiên có chứa tanin; hoặc trên những cánh đồng chăn
thả như cho cừu ăn lá Acacia cianophylla hoặc thu cắt mang về cho ăn tại
chuồng nuôi (Brunet và cs., 2008)
Tanin có tác dụng bất lợi hay có lợi tùy thuộc vào nồng độ, bản chất của chúng,loài gia súc, trạng thái sinh lý của gia súc và thành phần thực liệu của khẩuphần Các tác giả cho rằng dê có khả năng tiêu thụ một lượng lớn các cây giàutanin mà không biểu hiện triệu chứng ngộ độc, do sự hiện diện của proline cótrong nước bọt, có khả năng phân giải hàm lượng tanin đáng kể, mà điều nàykhông có đối với các loài gia súc nhai lại khác Bên cạnh đó, tác dụng có lợicủa tanin khi thức ăn thô xanh có chứa hàm lượng tanin ăn vào thấp, các
Trang 14protein được bảo vệ khỏi sự phân giải của vi sinh vật do đó tăng số lượngprotein không bị phân giải vào ruột non Ngoài ra, một số lượng lớn sinh khối
vi sinh vật xuống ruột non là hiệu quả của tổng hợp protein của vi sinh vật.Tuy nhiên, nồng độ tanin cao trong khẩu phần có liên quan giảm khả năng tiêuhóa chất hữu cơ (Silanikove và cs., 1997)
Hess và cs (2006) tiến hành thí nghiệm in vitro với 4 khẩu phần gồm cỏ Brachiaria humidicola ăn tự do (đối chứng); 1/3 cỏ Brachiaria humidicola kết hợp với cây họ đậu giàu tanin Calliandra calothyrsus và cây họ đậu tanin thấp Cratylia argentea được bổ sung một mình hoặc kết hợp với nhau thì kết quả là
NH3tăng ở khẩu phần bổ sung Calliandra calothyrsus.
2.2.1 Tanin ảnh hưởng trên pH dạ cỏ
Trong nghiên cứu trên dê được cho ăn khẩu phần giàu tanin, Silanikove và cs.(1993) tìm thấy dịch dạ cỏ của dê thí nghiệm sau khi ăn có sự giảm giá trị pH
và sự gia tăng nồng độ của các axit béo dễ bay hơi Tuy nhiên, các giá trị pH
và axit béo bay hơi vẫn ở ngưỡng sinh lý bình thường, các thông số này vẫn ở
xa ngưỡng có thể gây tác động tiêu cực trên các chỉ tiêu cận lâm sàng của dêthí nghiệm (Silanikove và cs., 1996)
2.2.2 Tanin ảnh hưởng trên NH 3
Ở mức tanin 0; 5; 10; 15; 20 và 25% (tính trên trạng thái khô cơ bản) từquebracho trên khẩu phần cơ bản là cỏ khô, bắp và khô dầu đậu nành, Bhatta
và cs (2009) đã cho thấy NH3 có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P=0.001)với các giá trị giảm theo mức tăng của tanin trong khẩu phần (8,18; 6,63; 6,13;5,49 và 5,53 mg/dL, tương ứng) Đây cũng là khuynh hướng của các mứctanin trên với nguồn tanin từ mimosa với các giá trị NH3 là 8,48; 7,96; 7,34;6,62 và 6,36 mg/dL, tương ứng với các mức bổ sung tanin 0; 5; 10; 15; 20 và25% (tính trên trạng thái khô cơ bản)
2.2.3 Tanin ảnh hưởng trên sự sinh khí mê tan
Khi được bổ sung tanin ở mức trung bình 30 mg/g vật chất khô, khối lượng
phân tử từ Leucaena thấp hơn dẫn đến giảm cả nitơ tiêu hóa và sản xuất khí
mê tan trong ống nghiệm Kết quả này phù hợp với nhận định rằng yếu tố khốilượng phân tử có thể ảnh hưởng đến liên kết protein của condensed tanin(Huang và cs., 2010)
Ức chế khí mê tan, tanin cũng có thể giảm acetate dẫn đến tăng tỉ lệ propionate,kết quả tăng hydro tạo propionate Một khả năng khác là tanin là chất nhậnhydro và làm giảm lượng hydro có sẵn trong dạ cỏ để tạo thành CH4 (Harley
và cs., 2013)
Trang 15Hassanat và Benchaar (2013) kiểm tra tác động của các nguồn tanin với cácnồng độ (20, 50, 100, 150 và 200 g /kg vật chất khô) của condensed tanin (câyacacia và quebracho) và tanin thủy phân (cây chestnut và valonea) khác nhautrên sự lên men vi khuẩn trong ống nghiệm Kết quả cho thấy sản xuất khítổng trong ống nghiệm và tổng số axit béo bay hơi giảm với mức tăng củanồng độ tanin Đối với cây acacia, chestnut hoặc valonea tại mức tanin ≥ 50 g/kg vật chất khô hoặc tanin của quebracho ở ≥ 100 g /kg vật chất khô dẫn đếngiảm (lên đến 40%) khí mê tan sản xuất so với nghiệm thức đối chứng Nguồntanin từ Valonea chỉ có giảm 11% khí CH4sinh ra ở mức 50 g /kg mà khôngảnh hưởng nồng độ axit béo bay hơi Kết luận của nghiên cứu là cung cấptanin từ cây acacia, chestnut hoặc valonea với mức 50 g /kg vật chất khô cókhả năng làm giảm sản xuất CH4 và sự phân giải protein dạ cỏ với các hiệuứng bất lợi tối thiểu trên hiệu quả của quá trình lên men dạ cỏ.
2.3 TỔNG QUAN VỀ MỘT SỐ CÂY THỨC ĂN GIA SÚC NHAI LẠI
2.3.1 Tổng quan về các loại cỏ
2.3.1.1 Cỏ Voi
Cỏ Voi có tên khoa học là Penisetum purpureum, một giống cỏ trồng chủ yếu
cho gia súc, phát triển nhanh Cỏ thân đứng, thuộc loài hòa thảo, rễ chùm, mọccao như mía đến 1,2 - 1,8 m, cắt 6 - 9 lứa trong năm, thành phần dinh dưỡngcao hơn nhiều loại cỏ hòa thảo khác.Cỏ Voi là loại cỏ lâu năm,thân đứng,nhiều đốt, những đốt gần gốc thường ra rễ, hình thành cả thân ngầm phát triểntrong đất Lá hình dải, mũi nhọn nhẵn, bẹ lá dẹt ngắn và mềm có khi dài 60 cmrộng 2 cm Hoa hình chùy màu vàng nhạt Rễ phát triển mạnh ăn sâu có khi tới
2 m Tỷ lệ lá /lá + thân là 53% Cỏ đa niên có hình dạng giống cây mía lau,gốc ở miền Nam Châu Phi mọc dại nơi đất ẩm, ngày nay phát triển khắp nơi ởcác vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới Cây trưởng thành cao 3 – 4 m, mọc thànhtừng bụi to, trổ phát hoa dạng đuôi chồn với các gié hoa mọc thẳng gốc vớitrục Cỏ Voi du nhập vào nước ta khá lâu và hiện đã trở thành cây chủ lựcđược trồng từ Nam chí Bắc, do dễ trồng, năng suất cao, chất lượng khá, chịuhạn tốt tuy không bằng cỏ Sả, có thể ngập tạm thời Đây là một loại cỏ đápứng với thâm canh cao độ, nếu được tưới đủ nước trong mùa khô cùng vớiviệc sử dụng phân bón hợp lý, năng suất có thể đạt 300 – 500 tấn chấtxanh/ha/năm Trung bình có thể đạt 100 – 200 tấn/ha/năm
Theo Bùi Quang Tuấn (2005) năng suất cỏ voi 295 tấn/ha/năm, tỉ lệ tiêu hóa in vitro của cỏ voi 30 ngày tuổi là 47,9% Theo Lê Hoa và Bùi Quang Tuấn (2009) tỉ lệ tiêu hóa in vitro cỏ voi là 53,2% Theo Vũ Duy Giảng và cs (2008),
cỏ voi có năng suất chất xanh 100 - 300 tấn/ha/năm Protein đạt 10% sau 6
Trang 16tuần tái sinh, tỉ lệ tiêu hóa in vitro của lá cỏ là 68 - 78%, giá trị NDF là 63% Theo Đoàn Đức Vũ và cs (2000), tỉ lệ tiêu hóa vật chất khô bằng in sacco trên
bò của cỏ voi tại thời điểm 24 giờ là 42,69%
2.3.1.2 Cỏ TD58
Tên khoa học là Panicum maximum là giống cỏ thảo, thân bụi như bụi sả, là
loại cỏ lâu năm, thân cao 2-3 m, không có thân bò Có khả năng chống hạn cao,
có thể chịu được tới 6-7 tháng khô Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng của cỏ
từ 19-23 ℃ Cỏ sống được trên nhiều loại đất nhưng ưa đất nhiều màu và đấtphù sa Tốt nhất ở độ pH = 6, không chịu được đất ẩm kéo dài Cỏ TD58 sinhtrưởng mạnh, năng suất cao, chịu hạn khá, chịu nóng, chịu bóng cây, kiên cố
và dễ trồng Phù hợp với chân ruộng cao, đất pha cát, giàu dinh dưỡng, từtrung tính đến độ pH nhẹ Cỏ TD58 không chịu ngập úng cũng như mùa khôkéo dài Có thể nhân giống bằng hạt hoặc hoặc bằng bụi
Năng suất cỏ TD58 đạt từ 70-100 tấn/ha Có 2 giống cỏ TD58 là: Cỏ Sả lá lớn
và Cỏ sả lá nhỏ Cỏ Sả lá lớn năng suất cao, trồng để thu cắt, cho ăn tươi hoặc
ủ ướp chung với cỏ Voi Cỏ Sả lá nhỏ năng xuất thấp hơn, chịu hạn, chịu dẫmđạp dùng để chăn thả thích hợp hơn Thu hoạch khi non trước khi ra hoa thìchất lượng cỏ cao dê ăn hết nếu băm chặt Thu hoạch muộn thân hoá gỗ giảmchất lượng và giảm độ vừa miệng đối với dê Thành phần: (25-28%) vật chấtkhô; (8,8-10%) protein thô; (30-32%) xơ thô; (11-12%) khoáng tổng số; (1,5-1,6%) béo thô; (43-48%) dẫn xuất không đạm
Cỏ TD58 là giống cỏ chăn nuôi lâu năm, trồng 1 lần cho thu hoạch nhiều lứa
Cỏ từ lúc trồng đến lúc thu hoạch lứa đầu khoảng 2 tháng, sau đấy cứ mỗitháng cho thu hoạch 1 lần Năng suất đạt 280-300 tấn/1ha/1năm, hàm lượngProtein thô đạt 12-14% trên đất tốt, chất khô 22-24% Cỏ lưu gốc 4-6 năm
2.3.1.3 Cỏ Hamill
Giống cỏ Hamil (Panicum maximum cv Hamill) hay còn gọi là cỏ sả lá lớn.
Cỏ có nguồn gốc từ Kenya, được nhập nội vào Việt Nam từ những năm 1990
và đã được đánh giá là giống rất phù hợp trong điều kiện khí hậu, đất đai ViệtNam Giống cỏ cho năng suất chất xanh cao, chất lượng tốt Theo Ngô TấnHiển (1998), cỏ Hamill trồng tại Bình Dương cho năng suất chất xanh vàomùa mưa đạt 66,81-83,33 tấn/ha/năm Khoảng cách lứa cắt thích hợp là 40ngày/lứa
Cỏ Hamill có thể được trồng bằng hạt hay bằng gốc Tuy nhiên, việc trồngbằng gốc có nhiều nhược điểm như: tốn công trồng, số lượng giống lớn, thângiống cồng kềnh khó vận chuyển, giống dễ bị thoái hóa qua các lứa cắt Trong
Trang 17khi đó, trồng bằng hạt có ưu điểm là số lượng giống ít, nhân giống nhanh, đơngiản, cây thích nghi tốt nhờ bộ rễ khỏe…Theo Vũ Kim Thoa & Khổng VănĐĩnh (2000), trồng cỏ bằng hạt mang lại lợi ích đáng kể, năng suất và khả nănglưu gốc tốt hơn trồng bằng thân gốc (năng suất chất xanh cao hơn 4,77 tấn/ha sovới trồng bằng thân gốc Khảo nghiệm của Phạm Văn Quyến và cs (2019) đượctiến hành tại các nông hộ nhằm đánh giá năng suất, chất lượng một số giống cỏ:
Cỏ Ruzi, cỏ sả TD58 và cỏ sả Hamill, kết quả cho thấy năng suất chất xanh của
ba loại cỏ ở năm đầu đạt từ 148,93 đến 221,26 tấn/ha/năm và năm thứ hai đạt185,35 đến 272,94 tấn/ha/năm Chất lượng ba giống cỏ khá tốt, vật chất khô17,34 đến 17,94%, protein thô đạt 1,80 - 2,61% (ở dạng tươi)
2.3.1.4 Cỏ Mombasa
Cỏ có tên khoa học là Panicum maximum cv Mombasa, có nguồn gốc từ
Tanzania Cỏ mọc thành từng bụi lớn, có thể cao đến 2m, có lá lớn chiều rộngkhoảng 3cm và dài tới 97cm lá mọc thẳng và gãy ở ngọn khi cây trưởng thành,thân không có lông hoặc sáp Có hình dáng tương tự cỏ voi lai nhưng nhiều láhơn Cỏ sinh trưởng nhanh và tái sinh tốt, có thể trồng bằng hạt hoặc hom gốc
Cỏ sẽ mất khoảng 75-100 ngày cho lần cắt đầu tiên các lần cắt sau có thể cắt
từ 40 - 45 ngày, tính ngon miệng tốt gia súc rất thích ăn Cỏ có khả năng chịuúng thấp, ngược lại có khả năng chụi hạn tốt và khả năng chịu sống thiếu ánhsáng tốt Nâng suất cao có thể lên đến 20 - 40 tấn chất khô/ ha/ năm Thíchhợp cho làm thức ăn xanh và ủ chua, không thích hợp làm cỏ khô vì đặc điểmkhó khô Về dinh dưỡng cỏ có hàm lượng protein thô từ 8 - 14% (tùy thuộcvào độ phì nhiêu của đất) Theo Hoàng Văn Tạo và Trần Đức Viên (2012)năng suất protein thô là yếu tố rất quan trọng để lựa chọn và sản xuất cây thức
ăn gia súc cho chăn nuôi bò sữa Sản lượng protein ở họ hòa thảo 2,3 - 7,7
tấn/ha/năm và cao nhất là Panicum maximum Mombasa 7,7 tấn/ha/năm Đối
với 3 giống cỏ Mombasa có năng suất protein cao hơn so với cỏ TD58 là 1,0tấn/ha/năm Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng protein thô của cỏMombasa là 12,6% tính trên vật chất khô
2.3.1.5 Cỏ Lông tây
Cỏ có tên khoa học là Brachiaria mutica, tên thường gọi là cỏ lông Para.
Thuộc dòng hòa thảo, cây thân bò Lá cỏ dài, đầu nhọn, hai mặt lá có nhiềulông tơ mịn, có thể nhìn thấy, những cây già lông tơ sẽ đâm nhẹ vào tay khichạm vào Cây phát triển tốt có thể cao tới 1,5 m, cành tương đối cứng, to vàrỗng ruột Mỗi đốt cỏ dài đến 10 - 15 cm, điều này trâu bò cực thích khi nhắmnháp nhai Mắt hai đầu đốt có màu trắng xanh dễ nhận biết, có khả năng đâmchồi nếu đủ độ già cỗi và điều kiện thời tiết thuận lợi Cỏ Lông tây có nguồn
Trang 18gốc từ Nam Mỹ, ngày nay phân bố khắp các vùng nhiệt đới trên thế giới CỏLông tây ưa thích khí hậu nóng ẩm, cỏ sinh trưởng tốt ở các vùng thấp Nhiệt
độ tối thiểu có thể sống là 80C, nhưng lạnh hơn thì cỏ lụi dần Cỏ phát triểnnhanh ở những nơi ẩm ướt tạo thành những thảm cỏ dày và cao Cỏ có khảnăng chịu được ngập nước ngắn ngày, chịu mặn, chịu phèn (Nguyễn ĐăngKhôi và Dương Hữu Thời, 1981) Chu kỳ kinh tế khá dài từ 4 - 5 năm, nhưngnếu khâu cắt thu hoạch không tốt, chu kỳ có thể giảm mạnh từ 1 - 2 năm
Cỏ Lông tây rất thích hợp trồng ở các vùng đồng bằng, năng suất cỏ thay đổinhiều, có nơi đạt 120 tấn/ha trong 5 lần cắt Cỏ Lông tây có thể trồng ở đất bùnlầy, đất ruộng, đất bãi, bờ đê, ven hồ ao, bờ sông suối Cỏ lông Para có thểsống trên nhiều loại đất tốt xấu như đất đỏ, đất mặn, hoặc thậm chí đất phèn
Cỏ có thể sử dụng cỏ cho gia súc ăn dưới dạng cỏ tươi hoặc phơi khô (NguyễnThiện, 2003)
2.3.2 Tổng quan về các loại cây họ đậu
2.3.2.1 Cây Mai dương
Cây Mai dương còn gọi là Trinh Nữ Đầm lầy, có tên khoa học là Mimosa pigra L, thuộc họ Mimosaceae Chi Mimosa có 400 - 450 loài cây Mai dương
có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Châu Mỹ từ Mexico qua trung Mỹ đến bắcArgentina và lan rộng khắp các vùng nhiệt đới Cây Mai dương là cỏ dại ởMalaysia, Myanmar, Lào, Cambodia và Việt Nam (Lonsdale và cs., 1995).Cây Mai dương được Linnaeus mô tả là một loài riêng lần đầu tiên vào năm
1759 Ở Việt Nam tất cả các loài Mimosa được gọi là cây xấu hổ ở Miền Bắc
và cây mắc cỡ ở Miền Nam Mimosa pigra là một loài cây bụi mọc ở nơi đất
trống, ẩm ướt ở vùng nhiệt đới, có thể cao đến 6m (Lonsdale, 1992)
Cây Mai dương cũng được sử dụng như một thức ăn cơ bản trong khẩu phần
dê thịt Kết quả thí nghiệm nuôi dưỡng cho thấy mức tăng trọng bình quân khi
sử dụng Mai dương tươi trong khẩu phần cao hơn Mai dương héo (103 so với91,7 g/ngày) và có bổ sung rau muống (102 g/ngày) so với không bổ sung(92,4 g/ngày) Mức vật chất khô và protein thô ăn vào, cũng như tỉ lệ tiêu hoábiểu kiến đưa ra cũng theo khuynh hướng trên (Nguyen Thi Thu Hong và cs.,2008b) Kết quả trên phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thiện (2003) ở giaiđoạn 3 - 6 tháng tuổi tăng trọng bình quân trên ngày của dê lai bách thảo từ 70
- 110 g/con/ngày Điều này cho thấy khi sử dụng khẩu phần 100% Mai dươngvẫn đảm bảo mức tăng trọng của dê thịt, bên cạnh đó sử dụng Mai dương héotrong khẩu phần cho dê thật sự hữu dụng bởi vì khi mùa vụ bận rộn ngườichăn nuôi có thể thu cắt Mai dương trữ lại một vài ngày vẫn có thể cho dê ăn
mà không ảnh hưởng đến sự tăng trưởng
Trang 192.3.2.2 Cây Bình linh
Cây bình linh còn có tên gọi khác là keo dậu, giang tây, táo nhơn (Trung Bộ)
hay bọ chít Tên khoa học là Leucaena leucocephala Bình linh có nguồn gốc
ở vùng nhiệt đới Trung Mỹ, là loài cây bụi, thuộc họ đậu và sinh trưởng ởvùng nhiệt đới Loại cây này khi còn non rất hợp với khẩu vị của vật nuôi,protein tương đương với cây so đũa; trâu, bò, dê, cừu đều ăn được (NguyễnThành Hải, 1988) Bình linh mọc tự nhiên ở những vùng ven biển, dọc duyênhải miền trung, cây bình linh chính thức nhập từ Úc vào Việt Nam năm 1990,trong quá trình triển khai dự án nghiên cứu và phát triển bò thịt do viện nghiêncứu chăn nuôi quốc gia chủ trì Đây là một trong những cây họ đậu thân gỗdùng lá làm thức ăn gia súc, gia cầm rất có giá trị
Bình linh là cây họ đậu lâu năm thân bụi hoặc thân gỗ, có thể cao đến 10 m, lárộng, kép lông chim dài từ 15 – 20 cm Lá chét nhỏ hơi thuôn xếp thành 11 –
17 cặp dọc theo lá chét của lá lông chim Hoa màu trắng hoặc vàng và pháttriển thành quả phẳng dài khoảng 20 cm, chứa những hạt màu nâu đen hìnhovan, hạt dài 6 mm, rễ có thể đâm sâu từ 2,5 – 4 m Cây bình linh chịu hạn rấttốt có thể duy trì bộ lá xanh trong suốt mùa khô Nó có thể làm cây che bóngmát cho cây khác, có thể sinh trưởng trên nhiều loại đất, nhưng phải là đấtthoát nước, đất không quá chua (pH > 5), ưa đất nhiều mùn, thích hợp vớinhững vùng có lượng mưa trên 800 mm/năm, khí hậu vùng nhiệt đới, khả năngchịu lạnh và sương muối kém (Nguyễn Thiện, 2003)
Bột Bình linh là thức ăn bổ sung caroten, vitamin, khoáng chất cho gia cầm vàgia súc non Cây bình linh có hàm lượng vật chất khô là 26%, lượng proteinthô trong lá bình linh khá cao (270 - 280 g/kg), tỷ lệ xơ thấp (155 g/kg) vàhàm lượng caroten khá cao (200 mg) Bình linh có chứa độc tố mimosin nênchỉ sử dụng dưới 25% trong khẩu phần cho gia súc nhai lại, dưới 10% đối vớiheo và dưới 5% đối với gia cầm Tuy nhiên ở nhiều vùng thì nó lại bị coi làloại thực vật xâm hại (Vũ văn Dũng, 2006)
Theo Ngo Van Man và cs., (1995) đã tiến hành một số nghiên cứu cho việckhai thác vai trò của cây họ đậu, trong đó có Bình linh, trong việc cung cấpthức ăn gia súc, làm phân xanh và nguồn củi trong hệ thống canh tác Kết quảcho thấy chiều cao cây tại thời điểm 5 tháng trồng là 102 cm với tốc độ tăngtrưởng bình quân 7,8 cm/2 tuần Sinh khối chất xanh (kg/ha) của ba lần thuhoạch sau 16 tháng trồng với lần thứ nhất 1.537 kg; lần thứ hai 4.326 kg; lần 3
là 4.051 kg; tổng cộng 3 lần thu cắt là 9.914 kg Năng suất chất khô của Bìnhlinh sau 3 lần thu hoạch của lá là 2.322 kg/ha và cọng là 1.330 kg/ha Các báocáo cũng cho thấy tỷ lệ trong khẩu phần ăn với các loài cây họ đậu thì Bình
Trang 20linh là ngon miệng nhất đối với dê, với một tỷ lệ trong khẩu phần 21 - 53%tính trên vật chất khô.
2.3.2.3 Cây Điên điển
Điên điển (Sesbania sesban (Merr) L, là cây có tốc độ phát triển nhanh, cây họ
đậu lâu năm cao 8 m, rễ nông và thân có đường kính 12 cm Lá hình lông chimvới 6 đến 27 cặp, mỗi lá đơn dài 26 mm, rộng 5 mm Chùm hoa dài 30 cm có
2 đến 20 bông màu vàng Trái thẳng hoặc hơi cong, vỏ dài 30 cm, có chứa 10
-50 hạt (Heering và cs., 1992) Điên điển là cây có tốc độ phát triển nhanh, cây
họ đậu lâu năm cao 8 m, rễ nông và thân có đường kính 12 cm Lá hình lôngchim với 6 đến 27 cặp, mỗi lá đơn dài 26 mm, rộng 5 mm Chùm hoa dài 30
cm có 2 đến 20 bông màu vàng Trái thẳng hoặc hơi cong, vỏ dài 30 cm, cóchứa 10 - 50 hạt (Heering và cs., 1992)
Điên điển là nguồn thức ăn giàu protein Hàm lượng protein trên 22 % và đạt
30 % Lá điên điển (thân + lá) có vách tế bào chứa NDF < 30 % vật chất khô.Đây là một trong các cây họ đậu chứa ít tanniniferous, tanin cô đặc khoảng0,2 % hoặc 0,3 % làm thức ăn gia súc Lá điên điển có chứa lượng lớn saponin(105 g/kg nguyên liệu) có thể làm giảm sản xuất khí mê tan trong dạ cỏ nhưngcũng có (tanin) làm giảm sức khoẻ và tăng trưởng của động vật (Goel và cs.,2008)
Điên điển được cung cấp như thức ăn bổ sung protein cho bò có thể được ăn ởmức 25 % trong khẩu phần Tại Việt Nam, điên điển được bổ sung cho bò địa
phương chăn thả trên những đồng cỏ tự nhiên (Hymenachne acutigluna và Paspalum atratum) mang lại tốc độ tăng trưởng cao (+ 20 %) (Nguyễn Thị
Hồng Nhân và cs., 2009)
Tiêu hoá vật chất khô trong ống nghiệm khoảng 75 % Lá điên điển được sửdụng như là nguồn protein bổ sung trong chế độ ăn dựa trên chất xơ, ảnhhưởng ngày càng tăng về chế độ ăn vật chất khô, chất hữu cơ, protein thô, xơthô và chất xơ trung tính (Tessema và cs., 2004) Nhiều thí nghiệm chỉ ra rằng
lá điên điển tăng cường tiêu hoá vật chất khô, chất hữu cơ và protein thô tổng
ở trên bò, cừu và dê ở một chế độ ăn uống cơ bản (Nguyễn Thị Hồng Nhân vàcs., 2009) Lá điên điển có tác dụng tích cực vào duy trì N cao hơn so các cây
họ đậu khác làm thức ăn gia súc và tăng N duy trì trong khẩu phần (Sampathi
và cs., 1999)
Trang 212.3.3 Tổng quan về các loại cây đa mục đích
mì phụ thuộc vào tuổi trưởng thành, mật độ cây, độ phì nhiêu của đất, mùa vụ,khí hậu và giống Tại Việt Nam, theo điều tra ghi nhận trên các điểm trồngkhoai mì thuộc vùng Đông Nam Bộ, năng suất lá khoai mì tươi tận thu biếnđộng từ 1,87 - 2,64 tấn/ha (Nguyễn Hoài Nam, 2002)
Theo Vũ Duy Giảng và cs (2008), ngọn lá mì có protein thô 18 - 20%, tuynhiên có chứa độc tố cyanoglucoside làm gia súc chậm lớn, có thể chết khi ănnhiều Ngọn lá mì ủ chua dùng 10 - 20% vật chất khô trong khẩu phần nuôi bò.Theo Bùi Đức Lũng (2005), tốt nhất là phơi khô ngọn lá mì và làm thành bộtcho bò ăn
Cây khoai mì được trồng phổ biến ở Việt Nam để chế biến tinh bột hoặc sửdụng củ và phụ phẩm sau chế biến làm thức ăn gia súc Ngoài ra, lá mì cũngđược sử dụng làm thức ăn cho gia súc Sản lượng lá mì bị ảnh hưởng bởigiống khoai mì, chế độ bón phân sau thu hoạch lá, khoảng cách thời gian thuhoạch và số lần thu hoạch lá Những nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy sảnlượng lá mì dao động từ 4,5–7,9 tấn/ha Hàm lượng tanin của khoai mì daođộng từ 35,4–44,0 g/kg vật chất khô, lá mì già có hàm lượng chất tanin caohơn so với lá mì non (Khuc Thi Hue và cs., 2012)
2.3.3.2 Cây Mít
Cây Mít là một loài thực vật ăn quả được trồng phổ biến ở Việt Nam, có tên
khoa học là Artocarpus heterophyllus L., thuộc họ Dâu tằm (Moraceae) Đây
là loài thực vật thân gỗ có tán dài, cao khoảng 8 – 25 m Thân cây to, có vỏxanh hay đen bao quanh và có nhiều nhựa trắng; tán lá rộng, hình chóp, dàikhoảng 3,5 m đến 6,7 m; cành non có nhiều lông phún, nhiều lá và cho hoaquả quanh năm Mít có khả năng chịu hạn cao, khi cây đã phát triển, khôngcần tưới nước; tuy nhiên trong điều kiện thâm canh, tưới nước là biện phápcần thiết để tăng năng suất Mít có bộ rễ khỏe và ăn sâu nên có thể trồng trênnhiều loại đất khác nhau miễn là chân đất phải sâu và thoát nước tốt Mít cókhả năng thích nghi cao trên nhiều loại đất đai và các mức đầu tư khác nhau.Khi đầu tư chăm sóc, Mít đạt năng suất khá cao và có hiệu quả cao Lá Mít có
Trang 227 – 15 cm, đầu có mũi tù ngắn, mép lá nguyên và ở những cây non thườngchia 3 thùy, mặt trên màu lục đậm bóng Cuống lá dài 1 - 2,5 cm Lá kèm lớn,dính thành mo ôm cành, sớm rụng (Hồ Đình Hải, 2014)
Lá Mít còn làm thuốc lợi sữa cho trâu, bò, người, là thức ăn của trâu, bò, dê,hươu, nai…có chất nhựa màu trắng, khô rất dính có thể dùng làm chất dính(Lý Thị Lẹ, 2006) Việc sử dụng của lá Mít và lá cây bụi khác là một thực tếphổ biến để nuôi dê ở các khu vực khác của Đông Nam Á (Nguyen Thi Mui
và cs., 2001) Lá Mít tươi có thể là một nguồn thức ăn có giá trị cho động vậtnhai lại khi kết hợp với các nguồn ni tơ như lá cây họ đậu (Kusmartono, 2007).Theo Nguyễn Thị Mùi và cs (2001), báo cáo rằng tỷ lệ tiêu hóa của lá Mít ở
dê là 52,6%
2.3.3.3 Cây Mía
Cây mía, về mặt thực vật học thuộc chi Andropogonae của họ Gramineae, bộGlumiflorae, lớp Monocotyledoneae, phân ngành Angiospermae, ngànhEmbryophyta siphonogama Chi phụ là Sacharae và loài là Saccharum
Theo Paturau (1989) các sản phẩm phụ chính của ngành mía đường là ngọnmía, bã mía và rỉ mật đường Nếu như sản lượng mía thế giới đạt đến mức 60triệu tấn, thì số lượng các sản phẩm phụ được sản xuất hàng năm này xấp xỉnhư sau: ngọn mía 200 triệu tấn; bã mía 60 triệu tấn; rỉ mật đường 16 triệu tấn.Trong đó, bã mía được sử dụng chủ yếu làm nhiên liệu để tạo ra hơi nướctrong các nhà máy mía và một phần nhỏ để sản xuất bột giấy và ván ép
Mía là một loại cây trồng có năng suất sinh khối cao hơn nhiều loại cây cỏnhiệt đới khác Hơn nữa, theo Preston (1989) cây mía có một số đặc điểm nổitrội để có thể dùng như một loại cây thức ăn đầy tiềm năng cho gia súc ở cácnước nhiệt đới
Theo Nguyễn Xuân Trạch, cây mía có các đặc điểm là cây trồng hàng nămnhưng chu kỳ kinh tế của ruộng mía lại có thể kéo dài vài ba năm, thậm chí 5-
7 năm Khối lượng và chất lượng dinh dưỡng của cây mía tăng theo khoảngcách thu hoạch, với các giá trị tối ưu có thể đạt được với khoảng cách thuhoạch giữa 12-18 tháng Đặc điểm này hoàn toàn trái ngược với hầu hết cácloại cỏ nhiệt đới khác là những cây thường có năng suất và chất lượng giảmxuống khi khoảng cách giữa các lứa cắt tăng lên Hàm lượng vật chất khô củamía trung bình là 30%, cao hơn hầu hết các loại cỏ khác Nghiên cứu củaNguyễn Văn Hải (2009) tiến hành chế biến ngọn lá mía cho bò sữa kết quảcho thấy đã cải thiện được năng suất sữa của bò
Trang 232.3.3.4 Cây Lục bình
Lục bình tên khoa học là Eichhornia crasspes, là loài ngoại lai có sức xâm
thực mạnh trên các mặt nước có nhiều hữu cơ, hay lưu vực Cây lục bình Nam
Bộ có nguồn gốc từ Brazil còn được gọi là bèo Nhật Bản, được du nhập vàoViệt Nam năm 1905, là loài thực vật sống ở ao hồ, đầm và sông rạch, pháttriển mạnh Lục bình là loài cỏ thủy sinh, cao từ 0,1 - 0,3 m, thân ngắn cóchùm lông ở giữa, lá đơn, phiến tròn dài 4 - 8 cm, bìa nguyên, gân hình cung,mịn, cuống lá rất xốp thường phù to tạo thành phao nổi hình lọ, to ở cây non,hay kéo dài đến 3 cm ở cây già (Vũ Văn Dũng, 2005)
Ở Việt Nam, lục bình thường phát triển rất mạnh ở ao hồ, ven sông, sốngthành quần thể sát bờ sông hoặc kênh rạch Lục bình sinh trưởng bằng cách đẻnhánh, thân gồm nhiều bẹ nổi trên mặt nước Bộ rễ vừa hút chất dinh dưỡngnuôi cây vừa có tác dụng cải tạo nguồn nước, điều hòa môi trường sinh thái.Trong môi trường thuận lợi, lục bình có thể tăng diện tích gấp đôi sau 10ngày Theo Le Thi Men và cs (2002), việc sử dụng lục bình nuôi heo thịt ởcác mức độ 1, 3, 5 % trong khẩu phần ở trạng thái khô hoàn toàn cho kết quảdiện tích cơ thăn và độ dày mỡ lưng có khuynh hướng cải thiện ở các khẩuphần ăn cao lục bình, chất lượng đạm trong cơ thăn thịt heo tăng, độ mềm mỡheo giảm đáng kể Hiệu quả về mặt thức ăn đạt được cao hơn từ 8 - 12 % khikhẩu phần thức ăn có sử dụng lục bình ở mức độ 3 % và 5 % Theo Solly và cs.(1984), bổ sung lục bình cho heo, cừu thì khả năng sinh trưởng không bị ảnhhưởng Thức ăn có lục bình không làm tăng tính ngon miệng ở vịt thịt
2.3.3.5 Rau muống
Tên khoa học là Ipomoea aquatica là một loại rau rất phổ biến tại Việt Nam.
Rau muống có tác dụng làm thức ăn cho người và động vật, ngoài ra nó còn cótác dụng giải độc, bệnh đau dạ dày,… Rau muống sinh trưởng nhanh trongmùa mưa, kém chịu lạnh, được sử dụng rộng rãi trong chăn nuôi (nhất là chănnuôi heo) Trong điều kiện thuận lợi về thời tiết, đủ phân bón thì rau muống cónăng suất và chất lượng cao Hàm lượng chất khô ở rau muống trung bình 100g/kg rau tươi
Trong 1 kg chất khô có 2.450- 2.500 kcal (10,3 – 10,5 MJ) năng lượng trao đổi;
170 – 250 g protein thô, 130 – 200 g đường, 100 – 115 g khoáng tổng số nêngia súc rất thích ăn Có hai giống rau muống chính là trắng và đỏ Rau muốngtrắng có thể trồng cạn và gieo bằng hạt Giá trị dinh dưỡng của Rau muống đỏcao hơn Rau muống trắng Rau muống là loại thức ăn phổ biến, có dinh dưỡngcao Rau muống đã được trồng từ những thập niên 1960 và cho đến ngày nay
Nó được sử dụng như là món ăn giàu dinh dưỡng ở Châu Á với protein thô