Kinh tế học là nghiên cứu về cách mọi người lựa chọn sử dụng các nguồn lực. Nguồn lực bao gồm thời gian và tài năng mà mọi người có sẵn, đất đai, tòa nhà, thiết bị và các công cụ khác cũng như kiến thức về cách kết hợp chúng để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ hữu ích. Các lựa chọn quan trọng liên quan đến việc dành bao nhiêu thời gian cho công việc, cho trường học và giải trí, bao nhiêu tiền để chi tiêu và bao nhiêu để tiết kiệm, cách kết hợp các nguồn lực để sản xuất hàng hóa và dịch vụ, và cách bỏ phiếu và định hình mức thuế và vai trò của chính phủ.
Trang 1UNIT 1PREVIEW
READING
Interest rate: creditors, debtors, debt capital,
Interest is cost of finance, cost of borowing
Kinh tế học là nghiên cứu về cách mọi người lựa chọn sử dụng các nguồn lực.Nguồn lực bao gồm thời gian và tài năng mà mọi người có sẵn, đất đai, tòa nhà,thiết bị và các công cụ khác cũng như kiến thức về cách kết hợp chúng để tạo racác sản phẩm và dịch vụ hữu ích
Các lựa chọn quan trọng liên quan đến việc dành bao nhiêu thời gian cho côngviệc, cho trường học và giải trí, bao nhiêu tiền để chi tiêu và bao nhiêu để tiếtkiệm, cách kết hợp các nguồn lực để sản xuất hàng hóa và dịch vụ, và cách bỏphiếu và định hình mức thuế và vai trò của chính phủ
Thông thường, mọi người dường như sử dụng các nguồn lực của họ để cải thiệnhạnh phúc của họ Hạnh phúc bao gồm sự hài lòng mà mọi người có được từ cácsản phẩm và dịch vụ mà họ chọn để tiêu dùng, từ thời gian họ dành cho việc giải trí
và cho gia đình và cộng đồng cũng như trong công việc, và sự an ninh và dịch vụđược cung cấp bởi các chính phủ hiệu quả Tuy nhiên, đôi khi, mọi người dườngnhư sử dụng các nguồn lực của họ theo những cách không cải thiện được hạnhphúc của họ
Kinh tế học là nghiên cứu về sản xuất và tiêu dùng hàng hoá và dịch chuyển giá trị
để sản xuất và thu được những hàng hoá đó Kinh tế học giải thích cách mà conngười tương tác trong thị trường để đạt được những gì họ muốn hoặc hoàn thànhcác mục tiêu nhất định Vì kinh tế học là động lực tương tác giữa con người vớinhau, nghiên cứu nó thường cho thấy lý do tại sao con người và chính phủ lại hành
xử theo những cách cụ thể
Có hai loại kinh tế học chính: kinh tế học vĩ mô và kinh tế học vi mô Kinh tế học
vi mô tập trung vào các hành động của các cá nhân và các ngành, giống như cácđộng thái giữa người mua và người bán, người đi vay và người cho vay Mặt khác,
Trang 2kinh tế học vĩ mô có một cái nhìn bao quát hơn bằng cách phân tích hoạt động kinh
tế của cả một quốc gia hoặc thị trường quốc tế
Nghiên cứu kinh tế học có thể mô tả tất cả các khía cạnh của nền kinh tế của mộtquốc gia, chẳng hạn như cách một quốc gia sử dụng các nguồn lực của mình, lượngthời gian người lao động dành cho công việc và giải trí, kết quả của việc đầu tư vàocác ngành công nghiệp hoặc các sản phẩm tài chính, tác động của thuế đối với dân
số, và tại sao doanh nghiệp thành công hay thất bại
Những người nghiên cứu kinh tế học được gọi là nhà kinh tế học Các nhà kinh tếhọc tìm cách trả lời những câu hỏi quan trọng về cách mọi người, ngành côngnghiệp và quốc gia có thể tối đa hóa năng suất, tạo ra của cải và duy trì sự ổn địnhtài chính Bởi vì nghiên cứu kinh tế học bao gồm nhiều yếu tố tương tác theonhững cách phức tạp, các nhà kinh tế học có các lý thuyết khác nhau về cách mọingười và chính phủ nên hành xử trong thị trường
Adam Smith, được mệnh danh là Cha đẻ của Kinh tế học, đã thành lập lý thuyếtkinh tế hiện đại đầu tiên, được gọi là Trường phái Cổ điển, vào năm 1776 Smithtin rằng những người hành động vì tư lợi của mình sẽ sản xuất ra hàng hóa và củacải mang lại lợi ích cho toàn xã hội Ông tin rằng các chính phủ không nên hạn chếhoặc can thiệp vào thị trường bởi vì họ có thể tự điều chỉnh và do đó tạo ra của cảivới hiệu quả tối đa Lý thuyết cổ điển hình thành cơ sở của chủ nghĩa tư bản và vẫncòn nổi bật cho đến ngày nay
Một lý thuyết thứ hai được gọi là chủ nghĩa Mác tuyên bố rằng chủ nghĩa tư bảncuối cùng sẽ thất bại vì các chủ nhà máy và các giám đốc điều hành bóc lột sức laođộng để tạo ra của cải cho chính họ Karl Marx, tên gọi của lý thuyết, tin rằng sựbóc lột như vậy dẫn đến bất ổn xã hội và xung đột giai cấp Để đảm bảo sự ổn địnhkinh tế và xã hội, ông cho rằng, người lao động nên sở hữu và kiểm soát tư liệu sảnxuất Mặc dù chủ nghĩa Mác đã bị bác bỏ rộng rãi trong các xã hội tư bản, nhưng
mô tả của nó về những sai sót của chủ nghĩa tư bản vẫn còn phù hợp
Một lý thuyết kinh tế gần đây hơn, Trường phái Keynes, mô tả cách các chính phủ
có thể hành động trong các nền kinh tế tư bản để thúc đẩy sự ổn định kinh tế Nókêu gọi giảm thuế và tăng chi tiêu của chính phủ khi nền kinh tế trở nên trì trệ, vàtăng thuế và giảm chi tiêu khi nền kinh tế trở nên quá năng động Lý thuyết nàyảnh hưởng mạnh mẽ đến chính sách kinh tế của Hoa Kỳ ngày nay
Trang 3Như người ta có thể thấy, kinh tế học định hình thế giới Thông qua kinh tế, conngười và quốc gia trở nên giàu có Bởi vì mua và bán là những hoạt động quantrọng để tồn tại và thành công, nghiên cứu kinh tế học có thể giúp người ta hiểuđược suy nghĩ và hành vi của con người.
VOCABULARY EXERCISES
1
Relationships Các mối quan hệ Consumption Sự tiêu thụ
Econometric Kinh tế lượng Economic Thuộc kinh tế
học
Distributing Phân phối
Economists study the ways a society uses scarce resources such as land, labor, rawmaterials, and machinery to produce goods and services They analyze the costsand benefits of (1)distributing and consuming these goods and services.Economists conduct research, collect and analyze data, monitor (2) economictrends, and develop forecasts Their research might focus on topics such as energycosts, inflation, interest rates, farm prices, rents, imports, or employment
Most economists are concerned with practical applications of economic (3)policy
in a particular area, such as finance, labor, agriculture, transportation, real estate,environment, natural resources, energy, or health They use their understanding ofeconomic (4)relationship to advise business firms, insurance companies, banks,securities firms, industry and trade associations, labor unions, (5)governmentagencies, and others On the other hand, economists who are primarilytheoreticians may use mathematical models to develop (6)theories on the causes ofbusiness cycles and inflation, or the effects of unemployment and tax legislation.Depending on the topic under study, (7)economists devise methods and proceduresfor obtaining the data they need For example, sampling techniques may be used to
Trang 4conduct a survey, and (8)econometric modeling techniques may be used to developforecasts Preparing reports usually is an important part of the economist's job He
or she may be called upon to review and (9)analyze all the relevant data, preparetables and charts, and write up the results in clear, concise language Being able topresent economic and statistical concepts in a meaningful way is particularlyimportant for economists whose research is policy directed
Economists who work for government agencies assess economic conditions in theUnited States and abroad and estimate the economic effects of specific changes inlegislation or public policy For example, they may (10)study how the dollar'sfluctuation against foreign currencies affects import and export markets Mostgovernment economists are in the fields of agriculture, business, finance, labor,transportation, utilities, urban economics, or international trade Economists in theU.S
Department of Commerce study domestic production, distribution, and(11)consumption of commodities or services; those in the Federal TradeCommission prepare industry analyses to assist in enforcing Federal statutesdesigned to eliminate unfair, deceptive, or (12)monopolistic practices in interstatecommerce; and those in the Bureau of Labor Statistics analyze data on prices,wages, employment, productivity, and safety and health An economist workingfor a state or local government might analyze regional or local data on trade andcommerce, industrial and commercial growth, and employment andunemployment, and project labor force trends
Trang 5Discuss (v) Thảo luận Ask (v) Hỏi
Develop (v) Bày tỏ, phát triển Publish (v) Công bố
Economists study changes occurring in specific countries or individual sectors of
an economy; some (1) ask fundamental questions about the nature of economicdecisions; some address proposals to (2) change government policies
Leading economists develop issues in two lectures sponsored by the AmericanEconomic Association at its annual meeting The address of the President of theAssociation and an invited lecture called the Ely Lecture, named for a founder ofthe Association, (3) discuss issues of the speakers' choice More economists (4)define their own issues in symposia where they present their work The symposiasometimes address more focused topics than the newspaper headlines and also(5)develop deeper understanding of economic phenomena Economists from allover the world present their latest research at the Annual Meetings of the AmericanEconomic Association and economic agencies (6)publish annual reports thatdiscuss significant issues for the nation and the world
Dịch:
Các nhà kinh tế học nghiên cứu những thay đổi xảy ra ở các quốc gia cụ thể hoặccác khu vực riêng lẻ của nền kinh tế; một số (1) đặt những câu hỏi cơ bản về bảnchất của các quyết định kinh tế; một số đề xuất giải quyết (2) thay đổi các chínhsách của chính phủ
Các nhà kinh tế hàng đầu phát triển các vấn đề trong hai bài giảng được bảo trợ bởiHiệp hội Kinh tế Hoa Kỳ tại cuộc họp thường niên của nó Bài phát biểu của Chủtịch Hiệp hội và một bài giảng được mời gọi là Bài giảng Ely, được đặt tên chomột người sáng lập Hiệp hội, (3) thảo luận về các vấn đề mà diễn giả lựa chọn.Nhiều nhà kinh tế hơn (4) xác định các vấn đề của riêng họ trong các hội nghịchuyên đề, nơi họ trình bày công việc của mình Các hội nghị chuyên đề đôi khi đềcập đến các chủ đề tập trung hơn các tiêu đề của tờ báo và cũng (5) phát triển sựhiểu biết sâu sắc hơn về các hiện tượng kinh tế Các nhà kinh tế từ khắp nơi trênthế giới trình bày nghiên cứu mới nhất của họ tại các Hội nghị thường niên củaHiệp hội Kinh tế Hoa Kỳ và các cơ quan kinh tế (6) công bố các báo cáo thườngniên thảo luận về các vấn đề quan trọng đối với quốc gia và thế giới
Trang 65 Economists in the U.S Department of Commerce study … g) … domesticproduction, distribution, and consumption of commodities or services.
Các nhà kinh tế tại Bộ Thương mại Hoa Kỳ nghiên cứu sản xuất, phân phối
và tiêu dùng hàng hóa hoặc dịch vụ trong nước
6 Economists in the Federal Trade Commission prepare industry analyses …c) …
to assist in enforcing Federal statutes designed to eliminate unfair, deceptive, ormonopolistic practices in interstate commerce
Các nhà kinh tế trong Ủy ban Thương mại Liên bang chuẩn bị các phân tíchngành để hỗ trợ thực thi các quy định của Liên bang được thiết kế để loại bỏ
Trang 7các hành vi không công bằng, lừa đảo hoặc độc quyền trong thương mạigiữa các tiểu bang.
7 Economists in the Bureau of Labor Statistics analyze data on …f) … prices,wages, employment, productivity, and safety and health
Các nhà kinh tế tại Cục Thống kê Lao động phân tích dữ liệu về giá cả, tiềnlương, việc làm, năng suất, an toàn và sức khỏe
UNIT 2READING
Nền kinh tế thị trường tự do:
Một hệ thống kinh tế trong đó thị trường - đó là mối quan hệ giữa người sản xuất
và người tiêu dùng, người mua và người bán, nhà đầu tư và người lao động, quản
lý và lao động - được cho là được điều chỉnh bởi quy luật cung và cầu Các công tykinh doanh phải cạnh tranh tự do và bất kỳ nỗ lực nào nhằm cản trở cạnh tranh tự
do (“các hành vi hạn chế”) đều bị pháp luật trừng phạt
Sự can thiệp trực tiếp của chính phủ về mặt lý thuyết bị loại trừ mặc dù chính phủ
sẽ tác động đến tình hình kinh tế thông qua các chính sách tài khóa và ngân sáchcủa mình
Nền kinh tế kế hoạch:
Một hệ thống theo đó cấu trúc của thị trường được nhà nước hoạch định một cách
có chủ ý, trong đó hạn ngạch sản xuất và tiêu dùng được ấn định trước, và ở đókhông có sự cạnh tranh thực sự giữa các tổ chức công nghiệp hoặc thương mại Ví
dụ, trong mô hình Liên Xô cũ, tất cả các phương tiện sản xuất và các kênh phânphối đều do nhà nước kiểm soát Quyền sở hữu tư nhân không tồn tại trong lĩnhvực này
Trên thực tế, có một khoảng cách rất lớn giữa mô hình lý thuyết và thực tế kinh tế:cái gọi là nền kinh tế thị trường ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào kế hoạch và sựcan thiệp của Chính phủ, trong khi ở nền kinh tế kế hoạch, những khái niệm tư bảnchủ nghĩa như lợi nhuận có xu hướng được giới thiệu lại
Trang 8đặc điểm quan trọng là liệu một nền kinh tế đang hướng tới hay thoát khỏi một tìnhtrạng tự do hơn.
VOCABULARY EXERCISES
UNIT 3PREVIEW
Ngành Kinh tế học được phân loại rộng rãi thành: kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô.Kinh tế học vi mô là một nhánh của kinh tế học đề cập đến cách người tiêu dùng vàdoanh nghiệp hành xử trong khi đưa ra quyết định về việc phân bổ các nguồn lựckhan hiếm Nó xem xét một cái nhìn được chia nhỏ về một nền kinh tế và tập trungnhiều hơn vào các lý thuyết cơ bản về cung và cầu Điều này liên quan đến thịtrường nơi diễn ra các giao dịch hàng hóa và dịch vụ Nói chung, kinh tế học vi môphân tích cách thức hành vi của các tác nhân kinh tế, tức là hộ gia đình (người tiêudùng) và doanh nghiệp (nhà cung cấp / nhà sản xuất) ảnh hưởng đến cung và cầuđối với hàng hóa và dịch vụ Đến lượt nó, nó quyết định giá cả và nó ảnh hưởngnhư thế nào đến lượng cầu và lượng cung như thế nào
Kinh tế học vi mô tìm cách phân tích các cơ chế thị trường và xác định giá cảtương đối dẫn đến việc phân bổ các nguồn lực ở mức báo động giữa một số mụcđích sử dụng thay thế Một trong những mục tiêu chính của kinh tế học vi mô lànghiên cứu các tình huống khác nhau mà thị trường bị phá vỡ và phân bổ hiệu quảkhông đạt được Lý tưởng nhất là hiệu quả được tối đa hóa trong điều kiện cạnhtranh hoàn hảo, đóng vai trò như một chuẩn mực để so sánh các cấu trúc thị trườngkhác Kinh tế học vi mô giúp đặt ra các điều kiện lý thuyết cần thiết cho sự cạnhtranh hoàn hảo
READING
CÁC CHỦ ĐỀ VỀ KINH TẾ VI MÔ
Rolling Stones từng nói: “Không phải lúc nào bạn cũng có thể đạt được những gìmình muốn” Đây là sự thật Đối với hầu hết mọi người (ngay cả Mick Jagger), cónhững giới hạn đối với những gì bạn có thể có hoặc làm là một thực tế đơn giảncủa cuộc sống được học từ thời thơ ấu Tuy nhiên, đối với các nhà kinh tế, nó cóthể là một nỗi ám ảnh
Điều quan trọng đầu tiên của kinh tế vi mô là về giới hạn - thu nhập hạn chế màngười tiêu dùng có thể chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ, ngân sách giới hạn và bí
Trang 9quyết kỹ thuật mà các công ty có thể sử dụng để sản xuất mọi thứ và số giờ giớihạn trong một tuần mà người lao động có thể phân bổ cho việc làm hoặc giải trí.Nhưng kinh tế học vi mô cũng là những cách để tận dụng tối đa những giới hạnnày Chính xác hơn, đó là về việc phân bổ các nguồn lực khan hiếm Ví dụ, kinh tếhọc vi mô giải thích cách người tiêu dùng có thể phân bổ tốt nhất thu nhập hạn chếcủa họ cho các hàng hóa và dịch vụ khác nhau có sẵn để mua Nó giải thích cáchngười lao động có thể phân bổ tốt nhất thời gian của họ cho lao động thay vì giảitrí, hoặc cho một công việc thay vì một công việc khác Và nó giải thích cách cáccông ty có thể phân bổ tốt nhất các nguồn tài chính hạn chế để thuê thêm côngnhân thay vì mua máy móc mới và sản xuất một bộ sản phẩm so với một bộ sảnphẩm khác.
Trong một nền kinh tế kế hoạch hóa như Cuba, Triều Tiên hoặc Liên Xô cũ, cácquyết định phân bổ này hầu hết do chính phủ đưa ra Các công ty được cho biết sảnxuất cái gì và bao nhiêu, và sản xuất như thế nào; người lao động có ít sự linh hoạttrong việc lựa chọn công việc, giờ làm việc, hoặc thậm chí nơi họ sống; và ngườitiêu dùng thường có số lượng hàng hóa rất hạn chế để lựa chọn Kết quả là, nhiềucông cụ và khái niệm kinh tế vi mô không phù hợp ở các quốc gia đó
Trong các nền kinh tế thị trường hiện đại, người tiêu dùng, người lao động vàdoanh nghiệp có nhiều lựa chọn và linh hoạt hơn khi phân bổ các nguồn lực khanhiếm Kinh tế học vi mô mô tả sự đánh đổi mà người tiêu dùng, người lao động vàdoanh nghiệp phải đối mặt, đồng thời chỉ ra cách thức thực hiện tốt nhất những sựđánh đổi này
Ý tưởng về sự đánh đổi tối ưu là một chủ đề quan trọng trong kinh tế vi mô Hãyxem xét nó chi tiết hơn
Người tiêu dùng
Người tiêu dùng có thu nhập hạn chế, có thể chi tiêu cho nhiều loại hàng hóa vàdịch vụ khác nhau hoặc để dành cho tương lai Lý thuyết người tiêu dùng mô tảcách người tiêu dùng, dựa trên sở thích của họ, tối đa hóa hạnh phúc của họ bằngcách đổi lấy việc mua nhiều hơn một số hàng hóa với việc mua ít hơn những ngườikhác Chúng ta cũng sẽ xem người tiêu dùng quyết định tiết kiệm bao nhiêu thunhập của họ, từ đó đổi lấy tiêu dùng hiện tại để tiêu dùng trong tương lai
Công nhân
Người lao động cũng phải đối mặt với những ràng buộc và đánh đổi Đầu tiên, mọingười phải quyết định xem có nên gia nhập lực lượng lao động hay không và khinào Bởi vì các loại công việc - và mức lương tương ứng - có sẵn cho một người
Trang 10lao động phụ thuộc một phần vào trình độ học vấn và tích lũy kinh nghiệm, người
ta phải đánh đổi khả năng làm việc ngay bây giờ (và kiếm thu nhập tức thì) bằngviệc tiếp tục học (và hy vọng kiếm được thu nhập cao hơn trong tương lai) Thứhai, người lao động phải đối mặt với sự đánh đổi trong việc lựa chọn việc làm của
họ Ví dụ: trong khi một số người chọn làm việc cho các tập đoàn lớn cung cấpdịch vụ đảm bảo việc làm nhưng tiềm năng thăng tiến hạn chế, những người khácthích làm việc cho các công ty nhỏ, nơi có nhiều cơ hội thăng tiến hơn nhưng lạikém an toàn hơn Cuối cùng, người lao động đôi khi phải quyết định xem họ muốnlàm việc bao nhiêu giờ mỗi tuần, do đó đánh đổi sức lao động để giải trí
Công ty
Các công ty cũng phải đối mặt với những giới hạn về loại sản phẩm mà họ có thểsản xuất và các nguồn lực sẵn có để sản xuất chúng Ví dụ, Ford Motor Companyrất giỏi trong việc sản xuất ô tô và xe tải, nhưng lại không có khả năng sản xuấtmáy bay, máy tính hoặc dược phẩm Nó cũng bị hạn chế về nguồn lực tài chính vànăng lực sản xuất hiện tại của các nhà máy Với những hạn chế này, Ford phảiquyết định sản xuất bao nhiêu loại xe mỗi loại Nếu nó muốn tạo ra một tổng sốlớn hơn số lượng ô tô và xe tải năm sau hoặc năm sau thì phải quyết định thuêthêm công nhân, xây dựng nhà máy mới hay làm cả hai Lý thuyết của công ty mô
tả cách thức có thể thực hiện tốt nhất những sự đánh đổi này
Một chủ đề quan trọng thứ hai của kinh tế học vi mô là vai trò của giá cả Tất cảnhững sự đánh đổi được mô tả ở trên đều dựa trên mức giá mà người tiêu dùng,người lao động và doanh nghiệp phải đối mặt Ví dụ, một người tiêu dùng đổi thịt
bò lấy thịt gà một phần dựa trên sở thích của họ đối với từng loại, nhưng cũng dựatrên giá của chúng Tương tự như vậy, người lao động đánh đổi sức lao động đểgiải trí một phần dựa trên “giá” mà họ có thể nhận được cho sức lao động của mình
- tức là tiền lương Và các công ty quyết định thuê thêm công nhân hay mua thêmmáy một phần dựa trên mức lương và giá máy
Kinh tế học vi mô cũng mô tả cách xác định giá cả Trong nền kinh tế kế hoạchhoá tập trung, giá cả do chính phủ quy định Trong nền kinh tế thị trường, giá cảđược xác định bởi sự tương tác của người tiêu dùng, người lao động và doanhnghiệp Những tương tác này xảy ra trên thị trường - tập hợp người mua và ngườibán cùng xác định giá của hàng hóa Ví dụ trên thị trường ô tô, giá ô tô bị ảnhhưởng bởi sự cạnh tranh giữa Ford, General Motors, Toyota và các nhà sản xuấtkhác và cũng bởi nhu cầu của người tiêu dùng Vai trò trung tâm của thị trường làchủ đề quan trọng thứ ba của kinh tế học vi mô
Trang 11BÀI TÓM TẮT 3 UNIT
Economics is the study of how people choose to use resources to improve theirwell-being There are 2 main types of economics: microeconomics andmacroeconomics Microeconomics focuses on the actions of individuals andindustries Macroeconomics, analyses the economic activity of an entire country orthe international marketplace There are 3 economic theories First theory isClassical School of Adam Smith He believe that people who acted in their ownself- interest produced goods and wealth that benefited all of society Governmentshould not restrict or interfere in markets Second theory is Marxism states:believed that such exploitation of factory owners and CEOs leads to social unrestand class conflict Laborers should own and control the means of production Andthird theory is The Keynesian School: describes how governments can act withincapitalistic economies to promote economic stability Studying economics can helpone understand human thought and behavior
Curently, there are 3 main economic systems: Free market economy, plannedeconomy and mixed economy In the free market economy, the relation betweenproducers and consumers, buyers and sellers is regulated by the law of supply anddemand Companies compete freely and government influences the economythrough its fiscal and budgetary policies In the planned economy, production andconsumption quotas are fixed beforehand and there is no real competition betweenindustrial or commercial organizations In the mixed economy, goods and servicesare produced by the government and some by private enterprise
Microeconomics is a branch of economics that deals with the how consumers andfirms behave while making decisions on the allocation of scarce resources.Microeconomics analyzes how the behavior of economic agents (consumers,firms) affect supply and demand for goods and services
Dịch:
Kinh tế học là nghiên cứu về cách mọi người chọn sử dụng các nguồn lực để cảithiện hạnh phúc của họ Có 2 loại kinh tế học chính: kinh tế học vi mô và kinh tếhọc vĩ mô Kinh tế học vi mô tập trung vào hành động của các cá nhân và cácngành Kinh tế học vĩ mô, phân tích hoạt động kinh tế của toàn bộ quốc gia hoặcthị trường quốc tế Có 3 lý thuyết kinh tế Lý thuyết đầu tiên là Trường phái Cổđiển của Adam Smith Ông tin rằng những người hành động vì lợi ích cá nhân của
Trang 12họ đã sản xuất ra hàng hóa và của cải mang lại lợi ích cho toàn xã hội Chính phủkhông nên hạn chế hoặc can thiệp vào thị trường Lý thuyết thứ hai là chủ nghĩaMarx tuyên bố: tin rằng sự bóc lột như vậy đối với các chủ nhà máy và các giámđốc điều hành sẽ dẫn đến bất ổn xã hội và xung đột giai cấp Người lao động nên
sở hữu và kiểm soát tư liệu sản xuất Và lý thuyết thứ ba là Trường phái Keynes:
mô tả cách các chính phủ có thể hành động trong các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa
để thúc đẩy sự ổn định kinh tế Nghiên cứu kinh tế học có thể giúp người ta hiểuđược suy nghĩ và hành vi của con người
Hiện nay, có 3 hệ thống kinh tế chính: Kinh tế thị trường tự do, kinh tế kế hoạch vàkinh tế hỗn hợp Trong nền kinh tế thị trường tự do, quan hệ giữa người sản xuất
và người tiêu dùng, người mua và người bán được điều chỉnh bởi quy luật cungcầu Các công ty cạnh tranh tự do và chính phủ ảnh hưởng đến nền kinh tế thôngqua các chính sách tài khóa và ngân sách Trong nền kinh tế kế hoạch, hạn ngạchsản xuất và tiêu dùng được ấn định từ trước và không có sự cạnh tranh thực sự giữacác tổ chức công nghiệp hoặc thương mại Trong nền kinh tế hỗn hợp, hàng hóa vàdịch vụ do chính phủ và một số doanh nghiệp tư nhân sản xuất
Kinh tế học vi mô là một nhánh của kinh tế học đề cập đến cách người tiêu dùng vàdoanh nghiệp hành xử trong khi đưa ra quyết định về việc phân bổ các nguồn lựckhan hiếm Kinh tế học vi mô phân tích cách thức hành vi của các tác nhân kinh tế(người tiêu dùng, doanh nghiệp) ảnh hưởng đến cung và cầu đối với hàng hóa vàdịch vụ
UNIT 4
Kinh tế vĩ mô cung cấp cho chúng ta cái nhìn tổng thể về bối cảnh kinh tế của đấtnước Thay vì xem xét hành vi của các doanh nghiệp riêng lẻ và người tiêu dùng -được gọi là kinh tế vi mô - mục tiêu của kinh tế vĩ mô là xem xét các xu hướngkinh tế tổng thể như mức độ việc làm, tăng trưởng kinh tế, cán cân thanh toán, lạmphát, v.v
Giống như tốc độ của động cơ được điều chỉnh bởi nguồn cung cấp nhiên liệu của
nó, kinh tế vĩ mô chịu ảnh hưởng chủ yếu của các chính sách kinh tế vĩ mô, baogồm chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa Chính sách tiền tệ kiểm soát cungtiền của một quốc gia do Ngân hàng Trung ương của mỗi quốc gia giám sát, trongkhi chính sách tài khóa kiểm soát thu nhập và chi tiêu của chính phủ nằm trong tay
Bộ Tài chính Mục tiêu cơ bản của hai chính sách kinh tế vĩ mô chính này là thúcđẩy tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát