Giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
KHỔNG MẠNH HÙNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ THUỘC HUYỆN LÂM THAO - TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
- 2013
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
KHỔNG MẠNH HÙNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ THUỘC HUYỆN LÂM THAO - TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Trọng Xuân
- 2013
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này do bản thân tôi tự thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Trọng Xuân - Phó Tổng biên tập Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế - Viện Kinh tế Việt Nam Các số liệu, tài liệu được lấy từ các nguồn đảm bảo chính xác, trung thực
Người viết cam đoan
Khổng Mạnh Hùng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình, sâu sắc, đầy trách nhiệm và hiệu quả của PGS.TS Nguyễn Trọng Xuân - Phó Tổng biên tập Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế - Viện Kinh tế Việt Nam, đã chỉ bảo và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn
Xin tỏ lòng biết ơn tới quý Thầy cô Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên đã trang bị kiến thức và góp nhiều ý kiến quý báu cho em trong quá trình thực hiện luận văn Em xin được cám ơn Phòng Quản lý sau Đại học và các Khoa - Phòng của nhà trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt thời gian được học tập và nghiên cứu tại trường
Trân trọng cảm ơn lãnh đạo Huyện ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân; lãnh đạo và cán bộ, chuyên viên các các phòng, ban, ngành, đoàn thể thuộc huyện Lâm Thao đã quan tâm, tạo điều kiện cho tôi trong suốt khóa học Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, động viên, khích lệ để tôi hoàn thành khóa học
Tác giả luận văn
Khổng Mạnh Hùng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của Đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
2.1 Mục tiêu tổng quát 4
2.2 Mục tiêu cụ thể 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Đề tài 4
4
3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
4 Bố cục của Luận văn 5
Chương 1: LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 6
1.1 Cơ sở lý luận 6
1.1.1 Một số vấn đề cơ bản về lý luận nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã 6
1.1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về cán bộ, công chức 6
1.1.1.2 Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã 6
1.1.1.3 Khái niệm chất lượng cán bộ, công chức 8
1.1.2 Tiêu chuẩn cán bộ, công chức cấp xã 14
1.1.2.1 Tiêu chuẩn chung 14
1.1.2.2 Tiêu chuẩn cụ thể 15
1.1.3 Vị trí, vai trò của cán bộ, công chức cấp xã đối với sự phát triển 15
1.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ, công chức cấp xã 17
1.1.4.1 Những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp 17
1.1.4.2 Những yếu tố ảnh hưởng gián tiếp 19
1.2 Cơ sở thực tiễn 21
Trang 61.2.1 Tóm lược về thực trạng cán bộ, công chức cấp xã của Việt Nam 21
l.2.2 Kinh nghiệm của một số quốc gia và một số địa phương trong nước về nâng cao chất lượng cán bộ, công chức 29
1.2.2.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 29
1.2.2.2 Kinh nghiệm của Singapore 31
1.2.2.3 Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng 32
1.2.2.4 Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Nam 34
35
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.1 Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết 38
2.2 Phương pháp nghiên cứu 38
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 38
2.2.2 Phương pháp thống kê 39
2.2.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích thông tin 40
2.2.4 Phương pháp so sánh 40
2.2.5 Phương pháp nghiên cứu khảo sát thực tế 41
2.2.6 Phương pháp chuyên gia 41
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 42
2.3.1 Tổng hợp đánh giá về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống 42
2.3.2 Chỉ tiêu về trình độ chuyên môn 42
2.3.3 Chỉ tiêu về trình độ lý luận chính trị 42
Chương 3: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ 45
3.1 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu (điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ) 45
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 45
3.1.1.1 Vị trí địa lý 45
3.1.1.2 Địa hình 46
3.1.1.3 Khí hậu 47
3.1.1.4 Thủy văn 48
Trang 73.1.2 Tình hình Kinh tế - xã hội 48
3.1.2.1 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 48
3.1.2.2 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 49
3.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ 50
3.2.1 Số lượng và cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện 50
3.2.2 Cơ cấu cán bộ, công chức cấp xã theo giới tính 51
3.2.3 Cơ cấu cán bộ, công chức cấp xã theo độ tuổi 53
3.2.4 Trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị của cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Lâm Thao 55
3.2.5 Trình độ quản lý Nhà nước của cán bộ, công chức cấp xã 59
3.3 Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ 60
3.4 Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ 62
3.4.1 Chất lượng cán bộ, công chức cấp xã theo trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị 62
3.4.2 Chất lượng cán bộ, công chức cấp xã theo kỹ năng giải quyết công việc 63
3.4.3 Chất lượng cán bộ, công chức cấp xã theo kinh nghiệm và thâm niên công tác 63
3.4.4 Chất lượng cán bộ, công chức cấp xã theo mức độ sẵn sàng đáp ứng thay đổi công việc 64
3.5 Nhận xét đánh giá chung về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã thuộc địa bàn huyện 65
3.5.1 Ưu điểm 65
3.5.2 Nhược điểm 66
, công chức cấp xã thuộc địa bàn huyện Lâm Thao - tỉnh Phú Thọ 67
3.6.1 Công tác đào tạo, bồi dưỡng 67
Trang 83.6.2 Chế độ, chính sách của Nhà nước, của tỉnh đối với cán bộ, công
chức cấp xã 70
3.6.3 Công tác quy hoạch cán bộ, công chức cấp xã 71
3.6.4 Công tác đánh giá đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 72
Chương 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ THUỘC HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ 73
4.1 Quan điểm, định hướng, mục tiêu nhằm nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ 73
4.1.1 Quan điểm chỉ đạo 73
, công chức cấp xã hiện nay ở huyện Lâm Thao 73
4.1.3 Mục tiêu 74
4.1.3.1 Mục tiêu chung 74
4.1.3.2 Mục tiêu cụ thể 75
4.2 Các giải pháp 75
4.2.1 Giải pháp về tiêu chuẩn chức vụ đối với cán bộ, công chức cấp xã 75
4.2.2 Giải pháp về quy hoạch cán bộ, công chức 77
4.2.3 Giải pháp về đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng 80
4.2.4 Giải pháp về xây dựng kế hoạch và các chính sách hỗ trợ cho cán bộ, công chức cấp xã khi được cử đi đào tạo, bồi dưỡng 81
4.2.5 Giải pháp về công tác đánh giá cán bộ, công chức 83
4.2.6 Giải pháp về nâng cao ý thức tự học đối với cán bộ, công chức cấp xã 86
4.2.7 Giải pháp về nâng cao chất lượng giảng dạy, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho các cơ sở đào tạo 88
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90
1 Kết luận 90
91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Số lượng và cơ cấu cán bộ, công chức cấp xã năm 2012 51
Bảng 3.2 Tỷ lệ cán bộ cấp xã phân theo giới tính 51
Bảng 3.3 Tỷ lệ công chức cấp xã phân theo giới tính 52
53
Bảng 3.5 Tỷ lệ công chức cấp xã phân theo độ tuổi 54
Bảng 3.6 Phân loại cán bộ xã theo trình độ chuyên môn và lý luận chính trị 57
Bảng 3.7 Phân loại công chức xã theo trình độ chuyên môn và lý luận chính trị 58
Bảng 3.8 Số cán bộ, công chức đã tham gia bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước 59
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài
Tổ chức Nhà nước, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm 4 cấp là Trung ương, tỉnh, huyện và xã Trong đó (xã, phường, thị trấn)
là cấp cơ sở, gần dân nhất, giữ vị trí hết sức quan trọng, là nền tảng của hệ thống chính trị, là cấp trực tiếp tổ chức, vận động nhân dân thực hiện chủ trương đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chăm lo đời sống nhân dân, là “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân Sự thay đổi về kinh tế - xã hội trong những năm đổi mới, đặc biệt trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế đã đặt ra những thách thức lớn đối với việc thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước ở địa phương Trước yêu cầu đó, cán bộ có vai trò cực kỳ quan trọng, là một trong những nhân tố đặc biệt quyết định s
thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém” Thực tiễn chỉ ra rằng, vấn đề đào tạo - bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, đảm bảo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới, thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
là vô cùng bức thiết Trong thời gian qua, công tác quản lý, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã của nước ta
, do dân và vì dân Nội dung, phương pháp, cách làm trong xây dựng và thực hiện chính sách cán bộ, công chức đã có nhiều đổi mới, tiến bộ, mở rộng dân chủ, công khai trong xây dựng và thực hiện chính sách cán bộ Đa số cán bộ, công chức cấp xã phấn khởi và tin tưởng vào thành công của công cuộc đổi mới đất nước, tham gia tích cực vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần to lớn vào
Trang 11quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đã được tăng cường về số lượng và chất lượng Họ được đào tạo - bồi dưỡng để nâng cao trình độ lý luận chính trị, trau dồi kiến thức chuyên môn - nghiệp vụ, đồng thời được trang bị kiến thức cơ bản về quản lý Nhà nước, trình độ và năng lực lãnh đạo bước đầu đã được nâng lên Tuy nhiên, nhìn chung chất lượng đội ngũ cán
bộ, công chức cấp xã còn nhiều mặt hạn chế, cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã chưa thật sự phù hợp, tỷ lệ cán bộ, công chức nữ còn thấp, cơ chế hoạt động còn thiếu đồng bộ Công tác tổ chức cán bộ chưa theo kịp tình hình phát triển đất nước Chính sách cán bộ còn nhiều bất cập, chưa thật sự tạo động lực tốt cho cán bộ, công chức làm việc và cống hiến
Hiện nay chúng ta đang thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, trong bối cảnh quốc tế và trong nước có những biến đổi sâu sắc, đòi hỏi tiếp tục đổi mới hơn nữa công tác nâng cao chất lượng cán bộ, công chức để xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất chính trị vững vàng, năng lực và trình độ chuyên môn cao đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế trong giai đoạn phát triển mới của đất nước
Trong những năm qua tỉnh Phú Thọ đã quan tâm đến các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức, đặc biệt là cán bộ, công chức cấp xã Việc
cử cán bộ, công chức đi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng được thực hiện nghiêm túc theo trình tự, thủ tục đã được uỷ ban nhân dân tỉnh quy định, đảm bảo đúng đối tượng, mục tiêu và nội dung
Mặc dù, cán bộ, công chức cấp xã thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ trong những năm gần đây đã được quan tâm, nhất là công tác đào tạo, bồi dưỡng nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều tồn tại, vẫn còn bất cập so với yêu cầu của phát triển Việc đánh giá, tổng kết một cách có hệ thống chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
Trang 12cán bộ, công chức cấp xã
Có một thực tế hiện nay là hầu hết số cán bộ, công chức cấp xã lấy từ nguồn tại chỗ, được xét tuyển và bố trí vào làm việc, sau đó mới đưa đi đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị theo hình thức vừa học vừa làm Số cán bộ, công chức này thường có tâm lý đi học để lấy bằng cấp, đủ điều kiện để được làm việc lâu dài ở cấp xã, hoặc để được đề bạt bổ nhiệm, chưa thực sự xác định đi học để có chuyên môn, nghiệp vụ nhằm nâng cao chất lượng đáp ứng tốt hơn cho công việc mình được giao Một số công chức chuyển từ công chức chuyên trách (làm công tác đảng, đoàn thể) sang công chức cơ sở, chuyên môn đào tạo không phù hợp với vị trí chức danh đảm nhận Số cán bộ, công chức được đào tạo bài bản tham gia thi tuyển vào làm việc ở cấp xã ít, một phần do số lượng biên chế cấp xã có hạn, một phần
do bản thân số người học cao đẳng, đại học chính quy không muốn thi tuyển vào làm việc ở cấp xã do chế độ đãi ngộ, điều kiện làm việc không đáp ứng yêu cầu của họ Bên cạnh đó, các chính sách thu hút người có trình độ cao đẳng, đại học về làm việc ở cấp xã chưa thực sự phù hợp
Trước yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới cũng như quá trình hội nhập quốc tế đòi hỏi phải nâng cao trình độ của đội ngũ cán
bộ, công chức, làm việc gì cũng cần đến tính chuyên nghiệp, vừa thành thạo trong công việc, vừa có thái độ giao tiếp tận tình, lịch sự, có ý thức cộng đồng trách nhiệm trong các mối quan hệ giao tiếp hàng ngày Chỉ có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu cải cách bộ máy hành chính cũng như thủ tục hành chính còn nhiều rườm rà, vướng mắc, gây khó cho người dân
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn nội dung: “Giải pháp
nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã thuộc huyện Lâm Thao- tỉnh Phú Thọ” để làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ kinh tế
Trang 132 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá đúng thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lƣợng cán
bộ, công chức cấp xã thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới trong giai đoạn hiện nay
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của Đề tài
Trang 144 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo… nội dung chính của Luận văn được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nâng cao chất lượng cán
bộ, công chức cấp xã
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng chất lượng cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ
Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ
Trang 15Chương 1
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số vấn đề cơ bản về lý luận nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã
1.1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về cán bộ, công chức
Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008 thì cán bộ, công chức được hiểu
như sau:
- Khái niệm cán bộ: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê
chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương,
ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
- Khái niệm công chức: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật
1.1.1.2 Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã
Trang 16Điều 4 Luật Cán bộ, công chức 2008 quy định:
- Khái niệm cán bộ cấp xã: Cán bộ xã, phường, thị trấn (cán bộ cấp xã) là
công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong thường trực hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, bí thư, phó bí thư đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội
1) Bí thư đảng ủy;
2) Phó bí thư đảng ủy;
3) Thường trực đảng ủy;
4) Chủ tịch hội đồng nhân dân;
5) Phó chủ tịch hội đồng nhân dân;
6) Chủ tịch uỷ ban nhân dân;
7) Phó chủ tịch uỷ ban nhân dân;
8) Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
9) Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
10) Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
11) Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam;
12) Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam;
- Khái niệm công chức cấp xã: Công chức cấp xã là công dân Việt Nam
được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Các chức danh thuộc công chức cấp xã:
Trang 177) Văn hóa - xã hội;
ơ
1.1.1.3 Khái niệm chất lượng cán bộ, công chức
- Khái niệm chất lượng
Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 2000 định nghĩa: "Chất lượng: Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc" Khi đánh giá chất lượng đội ngũ cán
bộ, công chức một vấn đề đặt ra là hiểu cho đúng thế nào là chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức Chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức được xem dưới nhiều góc độ khác nhau:
+ Chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức được thể hiện thông qua hoạt động của toàn bộ bộ máy tổ chức các cơ quan Nhà nước, ở việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan đó
+ Chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức được đánh giá dưới góc độ phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao cũng như hiệu quả công tác của họ
+ Chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức là chỉ tiêu tổng hợp chất lượng của từng cán bộ, công chức Đối với đội ngũ cán bộ, công chức, muốn xác định chất lượng cao hay thấp ngoài việc đánh giá phẩm chất đạo đức phải
có hàng loạt chỉ tiêu đánh giá trình độ năng lực và sự tín nhiệm của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn Các lớp đào tạo huấn luyện đã qua; bằng cấp (kể cả ngoại ngữ, tin học) về chuyên môn, kỹ thuật, quản lý Nhà nước, pháp luật v.v ; độ tuổi, thâm niên công tác v.v
+ Chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức còn được đánh giá dưới góc độ khả năng thích ứng, xử lý các tình huống phát sinh của người cán bộ, công chức đối với nhiệm vụ được giao
Bên cạnh đó, nhiệm vụ của cán bộ, công chức và hoạt động công vụ gắn liền với cán bộ, công chức là một loại lao động đặc thù để thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể, quản lý Nhà nước; thực hiện chủ trương,
Trang 18đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nhằm đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào đời sống, phục vụ nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị
Từ những góc độ khác nhau nêu trên, có thể đưa ra chất lượng đội ngũ
cán bộ, công chức: Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực và khả năng thích ứng, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao của họ
- Những tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ, công chức
Công tác đánh giá cán bộ, công chức là công tác vô cùng phức tạp, nhạy cảm, là cơ sở cho việc xây dựng, quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng, bố trí sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với cán bộ, công chức Chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức được xác định trên cơ sở tiêu chí về phẩm chất chính trị, đạo đức, trình
độ năng lực phù hợp với vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ của đội ngũ cán
bộ, công chức về khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao Có thể đánh giá cán bộ, công chức qua các tiêu chí cụ thể sau đây:
*Tiêu chí thứ nhất: Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống
Tiêu chuẩn này biểu hiện ở bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường của giai cấp công nhân, trung thành với lý tưởng cách mạng, với Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Theo khái niệm của Ban Tổ chức Trung ương, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống là:
+ Nhận thức, tư tưởng chính trị và việc chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước
+ Thực hiện nghiêm chỉnh quyền và nghĩa vụ của cán bộ, công chức theo các quy định hiện hành
+ Tinh thần học tập, nâng cao trình độ; tính trung thực, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm trong công tác; tinh thần tự phê bình và phê bình
Trang 19+ Giữ gìn đạo đức, lối sống lành mạnh; chống quan liêu, tham nhũng lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác
+ Đoàn kết, thân ái trong công tác, có tinh thần phục vụ nhân dân Người cán bộ, công chức muốn xác lập được uy tín của mình trước nhân dân, trước hết họ phải là người cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức tốt Xây dựng các tiêu chuẩn đạo đức của người cán bộ, công chức và hình thành ở họ các phẩm chất đạo đức tương ứng với vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức là việc làm cần thiết và cấp bách, nhất là trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đang có sự chuyển biến nhanh chóng và xã hội xuất hiện nhiều vấn đề hết sức phức tạp, trong đó phải kể đến trình độ dân trí ngày một nâng cao, và sự đòi hỏi của xã hội đối với đội ngũ cán bộ, công chức ngày một cao hơn Thêm vào đó công tác quản
lý kinh tế, quản lý xã hội cũng đòi hỏi người cán bộ, công chức phải tạo lập cho mình một uy tín nhất định đối với quần chúng nhân dân
* Tiêu chí thứ hai: Trình độ, năng lực
Năng lực là một khái niệm rộng, tuỳ thuộc vào môi trường và trách nhiệm, vị thế của mỗi người, mỗi cán bộ, công chức trong những điều kiện cụ thể; là những phẩm chất mà nhờ chúng, con người tiếp thu tương đối dễ dàng những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và tiến hành một hoạt động nào đấy một cách có kết quả
Trình độ, năng lực biểu hiện ở sự hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; trình độ học vấn, chuyên môn, kiến thức về khoa học lãnh đạo, quản lý; năng lực dự báo
và định hướng sự phát triển, tổng kết thực tiễn, tham gia xây dựng đường lối, chính sách, thuyết phục các tổ chức nhân dân thực hiện; ý thức tham gia đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, và pháp luật của Nhà nước Theo Ban Tổ chức Trung ương thì trình độ, năng lực được thể hiện: " Lãnh
Trang 20đạo, quản lý, nghiên cứu bổ sung đường lối, phát triển lý luận, sản xuất kinh doanh ; Năng lực tư duy, khả năng hiểu biết và vận dụng đúng đắn đường lối của Đảng, và Nhà nước vào thực tiễn, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ hiện tại cho sự phát triển sau này"
Năng lực là tổng hợp các đặc điểm phẩm chất tâm lý, trình độ phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định bảo đảm cho hoạt động đó đạt được kết quả Năng lực hình thành một phần dựa trên cơ sở tư chất tự nhiên của cá nhân, và một phần lớn dựa trên quá trình đào tạo, giáo dục và hoạt động thực tiễn, cũng như tự rèn luyện của cá nhân
Năng lực thể hiện ở chỗ, còn người làm việc tốn ít sức lực, ít thời gian,
ít chi phí mà kết quả lại tốt Việc phát hiện ra năng lực của con người thường căn cứ vào những dấu hiệu: Sự hứng thú đối với công việc nào đó; sự dễ dàng tiếp thu kỹ năng nghề nghiệp; hiệu sức lao động trong lĩnh vực đó
Năng lực: Có năng lực chung và năng lực chuyên môn, giữa chúng có mối quan hệ ảnh hưởng, tương hỗ lẫn nhau Năng lực chung cho phép con người có thể thực hiện có kết quả những hoạt động khác nhau như hoạt động học tập, lao động Năng lực chuyên môn cho phép người ta làm tốt một loại công việc nào đó như âm nhạc, hội họa, văn học, toán học
Năng lực con người thường được gắn liền với sở thích của người ấy Con người có sở thích, hứng thú về một hoạt động nào đấy thường nói lên năng lực của người đó về mặt hoạt động đó Năng lực không chỉ thể hiện trong những hoạt động lao động trí óc thuần tuý mà thể hiện trong cả hoạt động thể lực Năng lực thể hiện trong quá trình hoạt động, người lười biếng, trốn tránh hoạt động lao động trí óc cũng như lao động chân tay thì năng lực không thể phát triển được
Đối với cán bộ, công chức, năng lực thường bao gồm những tố chất cơ bản về đạo đức cách mạng, về tinh thần phục vụ nhân dân, về trình độ kiến thức pháp luật, kinh tế, văn hoá, xã hội Sự am hiểu và nắm vững đường lối,
Trang 21chính sách của Đảng, Nhà nước, thành thạo nghiệp vụ chuyên môn, kỹ thuật
xử lý thông tin để giải quyết các vấn đề đặt ra trong các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, quản lý Nhà nước một cách khôn khéo, minh bạch, dứt khoát, hợp lòng dân mà không trái pháp luật Người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải được đào tạo sâu về lĩnh vực mình phụ trách, phải am hiểu công việc chuyên môn do mình phụ trách, phải có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn Đồng thời, người cán bộ, công chức phải có sự ham mê, yêu nghề, chịu khó học hỏi, tích luỹ kinh nghiệm Người cán bộ, công chức phải có khả năng thu thập thông tin, chọn lọc thông tin, khả năng quyết định đúng đắn, kịp thời Vì vậy, việc nâng cao nhận thức, trình độ hiểu biết và năng lực tổ chức thực hiện cho cán bộ, công chức là vấn đề quan trọng trong mục tiêu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
* Tiêu chí thứ ba: Khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao
Khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao là khả năng làm tốt mọi công việc, đạt được chất lượng, hiệu quả công việc thực tế, luôn phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Theo khái niệm của Ban Tổ chức Trung ương:
Kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao thể hiện ở khối lượng, chất lượng, hiệu quả công tác trên các lĩnh vực:
+ Lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu bổ sung đường lối, phát triển lý luận, sản xuất kinh doanh
+ Năng lực tư duy, khả năng hiểu biết và vận dụng đúng đắn đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hiện tại và cho sự phát triển sau này
Như vậy giữa trình độ, năng lực với khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao có mối liên hệ khăng khít với nhau Đội ngũ cán bộ, công chức của nước ta hiện nay tuy đông nhưng chưa mạnh, nhiều yếu kém như một số báo
chí đã nêu 30% cán bộ, công chức năng lực trình độ yếu, tình trạng " sáng cắp
Trang 22ô đi, chiều cắp ô về" Do những hạn chế về phẩm chất, trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị, quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế đã dẫn tới hạn chế trong năng lực quản lý điều hành công việc, lúng túng trong việc lập kế hoạch đưa ra không phù hợp thực tiễn
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức phù hợp với công cuộc đổi mới, vừa thuận theo quy luật tất yếu, khách quan, phục vụ nhân dân tốt hơn Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức còn là sự trẻ hoá đội ngũ, là nhu cầu, là đòi hỏi của giai đoạn mới, làm cho đội ngũ cán bộ, công chức tràn đầy sức sống, đội ngũ cán bộ, công chức không được trẻ hoá thì thiếu sức sống, bảo thủ Nơi nào mà cán bộ cấp trên biết lựa chọn dìu dắt, có nhiều cán bộ mới ở đó công việc tiến triển tốt Đội ngũ cán bộ không được tri thức hoá và chuyên môn, chuyên nghiệp hoá thì khó mà hoàn thành nhiệm vụ Cán bộ, công chức có tư cách, tác phong tốt, phải toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân, dám nói thật, dám bảo vệ cái đúng, đấu tranh chống những tiêu cực, quan liêu, tham nhũng trong đội ngũ cán bộ, công chức Có mối quan hệ tốt với các đồng nghiệp và quần chúng nhân dân
Năng lực của một con người không phải là bất biến suốt đời, mà là một quá trình vận động Khi nói về phẩm chất, năng lực của người cán bộ Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nói: Người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, người có tài mà không có đức thì vô dụng Nhưng chữ " đức" ở đây phải được hiểu cho đúng Không thể coi những người gọi dạ, bảo vâng, đúng cũng gật, sai cũng gật không có chính kiến gì là những người
có chữ "đức" Trong khi đó lại coi những người có chính kiến rõ ràng, dám đấu tranh phê bình, dám chống lại những sai trái như quan liêu, tham nhũng lại bị coi là kiêu căng tự mãn, là thiếu "đức" Nói về tiêu chuẩn cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng cả "đức" và "tài", trong đó coi "đức" là gốc Người chỉ rõ yêu cầu đối với cán bộ là: "Phải có chính trị trước rồi có chuyên môn; chính trị là đức, chuyên môn là tài Có tài mà không có đức là
Trang 23hỏng Đức phải có trước tài" Để nhấn mạnh tiêu chuẩn đạo đức của người cán bộ cách mạng, Bác viết: "Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức; không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân"
Yêu cầu đặt ra hiện nay là xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước
Họ phải có tinh thần yêu nước sâu sắc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tận tụy phục vụ và gắn bó mật thiết với nhân dân, xây dựng được lòng tin trong nhân dân, cần kiệm, liêm chính, chí công
vô tư, có ý thức tổ chức kỷ luật, trung thực không cơ hội, không tham nhũng, quan liêu và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng Có sự hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Có trình độ văn hoá, chuyên môn, đủ năng lực và sức khoẻ để làm việc, đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ mà tổ chức giao
Để đào tạo được đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu, phải xây dựng được những tiêu chuẩn khi lựa chọn cán bộ, công chức Cán bộ, công chức phải được giáo dục, đào tạo bồi dưỡng bằng nhiều hình thức khác nhau như: Tự học, tự đào tạo, đưa đi đào tạo tập trung, đào tạo tại chức ở trong nước và ngoài nước, cả ngắn hạn và dài hạn, trong thực tiễn và cán bộ, công chức phải gần gũi với nhân dân, phải am hiểu được tâm tư nguyện vọng của
nhân dân
1.1.2 Tiêu chuẩn cán bộ, công chức cấp xã
1.1.2.1 Tiêu chuẩn chung
Cán bộ, công chức cấp xã phải đáp ứng những tiêu chuẩn sau đây: + Có tinh thần yêu nước sâu sắc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có năng lực tổ chức vận động nhân dân thực hiện một cách
Trang 24hiệu quả chủ trương đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước
+ Cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng Có ý thức tổ chức kỷ luật trong công tác Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm
+ Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, am hiểu quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, có trình độ văn hoá đạt chuẩn theo quy định, có trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp, có đủ năng lực
và sức khoẻ để thực thi nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao
tổ chức chính trị - xã hội ở cấp Trung ương quy định
+ Tiêu chuẩn cụ thể của cán bộ, công chức chuyên trách cấp xã làm việc trong hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân cấp xã do Bộ Nội vụ quy định
1.1.3 Vị trí, vai trò của cán bộ, công chức cấp xã đối với sự phát triển
- Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có vai trò quyết định trong việc triển khai tổ chức thực hiện thắng lợi các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước tại cơ sở Là những người giữ vai trò trụ cột, có tác dụng chi phối mọi hoạt động tại cơ sở, cán bộ, công chức cấp xã không những phải nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách của tổ chức Đảng, Nhà nước, đoàn thể cấp trên để tuyên truyền, phổ biến, dẫn dắt,
nhiệm vụ, biện pháp cụ thể hóa đường lối, chủ trương chính sách ấy cho phù
Trang 25- Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có vai trò quyết định trong việc xây dựng, củng cố tổ chức bộ máy chính quyền cơ sở, phát triển phong trào cách mạng của quần chúng ở cơ sở Họ là trụ cột, tổ chức sắp xếp, tập hợp lực lượng, là linh hồn của các tổ chức trong hệ thống chính trị cấp xã, là trung tâm đoàn kết, tập hợp mọi tiềm năng, nguồn lực ở địa phương, động viên mọi tầng lớp nhân dân ra sức thi đua hoàn thành thắng lợi các mục tiêu về kinh tế
xã hội, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của cơ sở Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đ
Thúc đẩy mọi hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và
người dẫn dắt, định hướng các phong trào quần chúng ở cơ sở, tổng kết rút kinh nghiệm, biểu dương và nhân rộng các điển hình tiên tiến trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, xây dựng đời sống văn hóa, phòng chống các tệ nạn xã hội tại cơ sở Qua đó, họ đóng góp tích cực vào việc xây dựng, hoàn thiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
- Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là những người trực tiếp gần gũi, gắn bó với nhân dân, sống, làm việc và hàng ngày có mối quan hệ chặt chẽ với nhân dân Họ thường xuyên lắng nghe, tham khảo ý kiến của nhân dân Trong quá trình triển khai, vận động, dẫn dắt nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, họ tạo ra cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân Thông qua họ mà ý Đảng, lòng dân tạo thành một khối thống nhất, làm cho Đảng, Nhà nước "ăn sâu, bám rễ" trong quần chúng nhân dân, tạo nên quan hệ máu thịt giữa Đảng - Nhà nước với nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước Như vậy, chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước có đi vào cuộc sống, trở thành hiện thực sinh động hay không, tùy thuộc phần lớn vào sự tuyên truyền và tổ chức vận động nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
Trang 26- Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã còn là một trong những nguồn quan trọng cung cấp nguồn cán bộ cho h , cấp tỉnh và cấp Trung ương Qua thực tế, có thể khẳng định rằng, cơ sở là môi trường rèn luyện, giáo
Thực tế cho thấy những cán bộ đã kinh qua công tác ở cơ sở khi được luân chuyển về cấp h , cấp tỉnh hoặc cấp Trung ương, được phân công đảm nhiệm các vị trí công tác cao hơn thường vững vàng, có bản lĩnh, thích ứng nhanh với nhiệm vụ mới và có khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Với ý nghĩa đó, có thể nói xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
, công chức
vào việc hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển ki
1.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ, công chức cấp xã
1.1.4.1 Những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp
, bồi dưỡng chưa thực sự đáp ứng
, công chức cấp xã thể hiện qua những nội dung cơ bản sau:
Một là,
, bồi dưỡng nhiều khi không gắn với quy hoạch Do đó, tình trạng người cần đi học thì
Trang 27không được đi học, người không cần đi học lại được cử đi học Nhiều người
đi học về không được bố trí công việc, một số người sau khi được đào tạo, bồi dưỡng thì đến tuổi nghỉ hưu Như vậy sẽ gây lãng phí lớn trong đào tạo và sử dụng cán bộ
Hai là, , bồi dưỡng vẫn còn lỏng lẻo chưa chặt chẽ,
,
, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
Ba là, , công chức cấp xã ở trường chính trị tỉnh và trung tâm bồi dưỡng chính trị, trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện là chủ yếu và rất quan trọng Ở đó cán bộ, công chức cấp xã không chỉ được truyền thụ kiến thức văn hoá, chuyên môn nghiệp vụ mà còn được trang bị những kiến thức về lý luận chính trị, quản lý Nhà nước Thông qua việc đào tạo, bồi dưỡng không chỉ giúp cán bộ, công chức cấp xã hiểu thêm đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước mà còn giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng cho cán bộ, công chức
Tuy nhiên hiện nay, nhiều cơ sở đào tạo, bồi dưỡn
Do kinh phí hạn hẹp nên hàng năm số lượng cán bộ, công chức cấp xã được đào tạo, bồi dưỡng còn ít trong khi nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng ngày càng cao
Bốn là, nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng dành cho cán bộ, công
chức
, công
Trang 28chức cấp xã làm việc còn khái lược sơ sài, vì vậy khi đi học về khó áp dụng vào thực tiễn để giải quyết công việc
Năm là,
1.1.4.2 Những yếu tố ảnh hưởng gián tiếp
Ngoài những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp như đã nêu trên, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã còn một số yếu tố ảnh hưởng gián tiếp từ công tác bầu cử, tuyển dụng, từ chế độ chính sách chưa thực sự thu hút được những người có đủ năng lực, trình độ vào làm việc ở cấp xã, dẫn đến số người cần phải đi đào tạo bồi dưỡng lớn trong khi điều kiện, khả năng của các
cơ sở đào tạo, ngân cách địa phương không đáp ứng yêu cầu
* Về cơ chế tuyển dụng, bầu cử cán bộ, công chức
Cán bộ cấp xã đều thực hiện theo cơ chế Đảng cử, dân bầu Do vậy nếu công tác cán bộ không được quan tâm, không làm tốt công tác nhân sự dễ dẫn đến tình trạng “phân chia” chức vụ mà không chú trọng đến trình độ, năng lực của người được đề cử
, trình
, ảnh hưởng đến chất lượng của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
Việc tu
, vùng dân tộc thiểu số việc tuyển dụng nhiều khi mang tính hình thứ
Trang 29kém về phẩm chất, năng lực, trình độ làm ảnh hưởng đến chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
* Về chế độ chính sách
Hầu hết các chế độ chính sách về cán bộ, công chức của các địa phương trong toàn quốc đều chú trọng thu hút nhân lực vào làm ở các cơ quan cấp tỉnh, cấp huyện hoặc các đơn vị sản xuất kinh doanh mà ít chú trọng đến cán
bộ, công chức ở cơ sở Do vậy, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vừa yếu lại vừa thiếu Trừ một số cán bộ, công chức được tăng cường từ cấp huyện còn lại nhiều cán bộ, công chức cơ sở, nhất là vùng nông thôn, miền núi cơ bản
Trong khi đó số sinh viên tốt nghiệp các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học chưa có việc làm rất nhiều nhưng do chưa có chủ trương chính sách thu hút phù hợp, số lượng biên chế có hạn nên không bổ sung được lực lượng này vào đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
Chế độ, chính sá
, qui hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng đến kiểm tra, giám sát Do vậy, gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng độ , công chức cấp xã
* Công tác quản lý, kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
hoạt động nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Thông qua công tác này mới có thể phát hiện được những tiêu cực, bất cập nảy sinh từ cán
bộ và công tác cán bộ Qua đó kịp thời khen thưởng những nhân tố tích cực, xử
lý nghiêm minh những sai phạm, có như vậy mới tạo được niềm tin của nhân
Trang 30dân đối với Đảng, Nhà nước, đồng thời nắm được thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, từ đó có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ đối với những cán bộ, công chức chưa đạt chuẩn, luân chuyển, thay thế cán bộ, công chức yếu kém Tăng cường cán bộ, công chức có chất lượng cho những nơi thiếu ổn định, mất đoàn kết nội bộ
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tóm lược về thực trạng cán bộ, công chức cấp xã của Việt Nam
Hiện nay, nước ta có 11.112 xã, phường, thị trấn với tổng số 222.735 cán bộ, công chức và 317.766 cán bộ không chuyên trách cấp xã Đây là những người trực tiếp đưa chủ trương, đường lối, nghị quyết của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân, tuyên truyền, vận động và tổ chức nhân dân thực hiện Kết quả thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở cơ sở cũng như năng lực lãnh đạo, uy tín chính trị, bản chất của Đảng, Nhà nước ta gắn liền với năng lực, trách nhiệm thực thi nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ này Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ vừa là yêu cầu cơ bản, vừa là đòi hỏi cấp thiết trong giai đoạn hiện nay
Thực hiện chiến lược cán bộ trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm, coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, trong đó có đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở Bộ Chính trị các khóa VIII, IX, X đã ban hành nhiều nghị quyết, quyết định, quy định về công tác cán bộ Nhờ đó, công tác cán bộ và chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp có chuyển biến rõ rệt Thực hiện chủ trương của Đảng, từ năm 2003 đến nay, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản nhằm chuẩn hóa, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã như: Nghị định số 114/2003/NĐ-CP về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn; Nghị định số 121/2003/NĐ-CP về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn; Quyết định số 03/2004/QĐ-TTg phê duyệt
Trang 31định hướng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn đến năm 2010; Quyết định số 31/2006/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng chủ tịch hội đồng nhân dân, chủ tịch uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn giai đoạn 2006-2010; Nghị định số 92/2009/NĐ-CP về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; Nghị định số 112/2011/NĐ-CP về công chức xã, phường, thị trấn; Quyết định số 170/QĐ-TTg phê duyệt Dự án thí điểm chọn 600 trí thức trẻ ưu tú, có trình độ đại học tăng cường về làm phó chủ tịch uỷ ban nhân dân các xã thuộc 62 huyện nghèo… Bộ Nội vụ có Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV về việc ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn
Nhờ sự quan tâm của Trung ương Đảng và Chính phủ, sự chủ động, tích cực của các cấp ủy đảng và hệ thống chính trị các cấp, về cơ bản, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đã được nâng lên một bước
* Về đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp xã
- Năm 2002:
+ Về chuyên môn, nghiệp vụ: Số cán bộ chuyên trách cấp xã có trình
độ đại học là 5,50%; cao đẳng 1,83%; trung cấp 18,02%; sơ cấp 12,66%; chưa qua đào tạo 61,99%;
+ Về trình độ lý luận chính trị: Cao cấp 1,50%; trung cấp 38,60%; sơ cấp 23,30%; chưa qua đào tạo 35,60%
- Năm 2012:
+ Về chuyên môn, nghiệp vụ: Số cán bộ chuyên trách cấp xã có trình
độ tương ứng: Đại học 19,92% (tăng 14,42%); cao đẳng 5,18% (tăng 3,35%); trung cấp 39,62% (tăng 21,6%); sơ cấp 7,33% (giảm 5,33%); chưa qua đào tạo 30,95% (giảm 31,04%);
Trang 32+ Về trình độ lý luận chính trị: Cao cấp 4,75% (tăng 3,25%); trung cấp 61,5% (tăng 22,9%); sơ cấp 16,29% (giảm 7,01%); chưa qua đào tạo 17,46% (giảm 18,14%)
* Về đội ngũ công chức chuyên môn cấp xã
- Năm 2002:
+ Về chuyên, nghiệp vụ: Đội ngũ công chức chuyên môn là: đại học 4,21%; cao đẳng 1,43%; trung cấp 26,69%; sơ cấp 8,51%; chưa qua đào tạo 57,16%
+ Về trình độ lý luận chính trị: Cao cấp 0,77%; trung cấp 20,77%; sơ cấp 23,72%; chưa qua đào tạo 54,74%
- Năm 2012:
+ Về chuyên môn, nghiệp vụ: Đại học 24,70% (tăng 20,49%); cao đẳng 6,09% (tăng 4,66%); trung cấp 58,49% (tăng 31,8%); sơ cấp 3,09% (giảm 5,42%); chưa qua đào tạo 7,63% (giảm 49,53%)
+ Về trình độ lý luận chính trị: Cao cấp 0,73% (giảm 0,04%); trung cấp 36,88% (tăng 16,11%); sơ cấp 21,06% (giảm 2,66%); chưa qua đào tạo 41,33% (giảm 13,41%)
Những năm gần đây, việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở đã được các cấp ủy đảng coi trọng và thực hiện một cách bài bản, đồng bộ hơn,
từ khâu quy hoạch, tạo nguồn đến đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, điều động… Nhiều cấp ủy đã luân chuyển, tăng cường cán bộ cấp trên về làm bí thư, phó bí thư, chủ tịch, phó chủ tịch uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn; cán bộ luân chuyển về cơ sở đã phát huy tác dụng, từng bước trưởng thành, thúc đẩy phong trào địa phương phát triển Nhờ công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ được coi trọng, nên số cán bộ chuyên trách năm 2012 so với năm 2002 đạt chuẩn về chuyên môn là 64,72% (tăng 39,37%), đạt chuẩn về lý luận chính trị là 66,25% (tăng 26,15%); số công chức chuyên môn đạt chuẩn là 89,28% (tăng 56,95%) và đạt chuẩn về lý luận
Trang 33chính trị là 37,61% (tăng 16,07%) Một số địa phương có chính sách thu hút cán bộ trẻ, tiếp nhận sinh viên tốt nghiệp các trường cao đẳng, đại học về công tác ở cấp xã Các tỉnh biên giới tăng cường cán bộ, sĩ quan biên phòng
về tham gia công tác ở các xã biên giới, xã vùng khó khăn, góp phần củng cố
hệ thống chính trị, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ sở
Nhìn chung, đa số cán bộ, công chức cơ sở được rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, có bản lĩnh chính trị vững vàng, gương mẫu chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có ý thức tổ chức, kỷ luật, gắn bó mật thiết với nhân dân, nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân Nhiều cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn có ý thức trách nhiệm, thái độ cầu thị, khắc phục khó khăn, nỗ lực phấn đấu công tác và học tập, rèn luyện, hăng hái chăm lo việc làng, việc xã, đóng góp tích cực vào
sự phát triển của địa phương Thái độ giao tiếp của đa số công chức thực thi nhiệm vụ ở cơ sở với các tổ chức, công dân có chuyển biến rõ rệt, có ý thức trách nhiệm, tận tình và chu đáo, ứng xử đúng mực, đóng vai trò then chốt trong việc đưa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với dân, trực tiếp chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân
Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở và yêu cầu ngày càng cao trong lãnh đạo, quản lý, điều hành quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế - xã hội, quản
lý đô thị, xây dựng nông thôn mới… ở cấp xã hiện nay, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại nhiều địa phương còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém cả về số lượng và chất lượng
Về số lượng, vấn đề nan giải đặt ra đối với các xã, phường, thị trấn hiện nay là vừa thừa, lại vừa thiếu cán bộ Số cán bộ được hưởng lương, phụ cấp, bồi dưỡng… từ ngân sách ở cấp xã và dưới xã trung bình khoảng 200 người/xã, có phường lên tới 600 người, dẫn đến tổng số cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách cấp xã và dưới cấp xã cả nước
Trang 34hiện khoảng 2,3 triệu người và xu hướng còn tăng thêm, trong khi đó nhiều nơi lại đang rất thiếu những cán bộ có trình độ, năng lực chuyên môn, có khả năng làm việc tốt Đây thực sự là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước và
là bài toán khó cho việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ này
Bên cạnh những chuyển biến tích cực, trình độ, kiến thức và năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở còn nhiều mặt hạn chế; tỷ lệ cán bộ chưa đạt chuẩn về chuyên môn còn cao (chiếm 38,28%), tỷ lệ công chức chưa đạt chuẩn về chuyên môn còn 10,72% Tỷ lệ cán bộ, công chức chưa qua bồi dưỡng lý luận chính trị còn nhiều (cán bộ chuyên trách còn 17,46%; công chức chuyên môn là 41,33%) Thực tế cho thấy, việc chuẩn hóa đội ngũ cán
bộ, công chức cấp xã vừa qua mới chỉ tập trung vào việc chuẩn hóa bằng cấp Không ít cán bộ, công chức đương nhiệm phải “chạy xô” học hành, thi cử lấy bằng cấp để đáp ứng yêu cầu “chuẩn hóa” Hơn nữa, nếu trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã hiện nay chỉ đạt trình độ chuyên môn là trung cấp thì không đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành việc phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh, quốc phòng ở đơn vị hành chính cơ sở, đặc biệt khi chúng ta triển khai thực hiện mô hình chính quyền đô thị, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới với rất nhiều nội dung, tiêu chí đòi hỏi phải có kiến thức khoa học, công nghệ, kiến thức quản lý hành chính, xây dựng, quản
lý kinh tế…
phát triển nhưng vẫn còn nhiều mặt yếu kém, tỷ lệ chưa được chuẩn hóa còn cao, chưa đáp ứng mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) đã đề ra Cụ thể như sau:
Những vấn đề đặt ra:
Trang 35tranh của nền kinh tế đất nước Từ khi tham gia vào tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), để nâng cao năng lực cạnh tranh, n
hệ thống, tỷ lệ cán bộ chưa đạt chuẩn còn cao; chưa được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ còn nhiều (cả nước còn 38,58% số cán bộ chưa được đào tạo
về chuyên môn, nghiệp vụ từ sơ cấp trở lên)
- Một số cán bộ chủ chốt ở cơ sở tuổi cao, năng lực hạn chế nhưng chưa
đủ điều kiện về tuổi và thời gian đóng bảo hiểm xã hội để nghỉ chế độ nên không bố trí được cán bộ trẻ thay thế Một số cán bộ cơ sở tuy đã nghỉ việc nhưng chưa giải quyết được về chế độ, chính sách, ảnh hưởng đến tư tưởng của số cán bộ trẻ đang công tác
Trang 36- Do không quy định chức danh cán bộ văn phòng đảng ủy là cán bộ cấp xã nên nhiều cơ sở phó bí thư đảng ủy phải k
:
Một là, tăng cường và đổi mới mạnh mẽ nội dung, hình thức đào tạo,
bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng
Trang 37cán bộ, công chức xuất phát từ yêu cầu người học với các kiến thức thiết thực cần cho công việc, tăng cường khả năng thực hành, không nên bồi dưỡng kiến thức lý thuyết đơn thuần Trong đó, chú ý bồi dưỡng kiến thức,
kỹ năng, nghiệp vụ, cập nhật những chủ trương, chính sách mới và những kinh nghiệm thực tế thường xảy ra ở cơ sở Tiếp tục đổi mới, bổ sung, hoàn thiện giáo trình, tài liệu bồi dưỡng cho sát với chức năng, nhiệm vụ của từng đối tượng Về lâu dài, trong chiến lược con người, cần đào tạo những cán bộ, công chức chuyên nghiệp, nhưng trước mắt, phải kịp thời bổ sung kiến thức để giúp cán bộ, công chức tự tin khi làm việc với dân Cùng với
đó, cần thay đổi quan niệm của người sử dụng cán bộ, công chức, sử dụng theo kiểu chuyên sâu với các kiến thức thực sự Thay thế dần cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn thấp, đặc biệt là các cán bộ chủ chốt Xóa bỏ hội chứng bằng cấp và tổ chức sát hạch trình độ chuyên môn khi tuyển lựa cán bộ, công chức Kiên quyết không tuyển dụng, quy hoạch, phân công,
bố trí những cán bộ, công chức trình độ học vấn thấp, không đáp ứng tiêu chuẩn vào đội ngũ cán bộ chủ chốt
Hai là, đẩy mạnh việc quy hoạch cán bộ, công chức cấp xã, gắn việc
quy hoạch với công tác đào tạo, bồi dưỡng Xây dựng và thực hiện tiêu chuẩn hóa cán bộ, công chức cấp xã làm căn cứ để thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cho sát với tình hình thực tiễn
Ba là, tăng cường việc xâ
, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức cấp xã Tiếp tục củng cố hoàn thiện và tăng cường cơ sở vật chất cho các cơ
sở đào tạo, đầu tư trang thiết bị dạy học đáp ứng yêu cầu dạy học theo phương pháp tiên tiến
Bốn là,
Trang 38-
-
Năm là, , thỏa đáng sẽ khuyến khích cán
bộ, công chức cấp xã phát huy tính tích cực, sáng tạo, tinh thần trách nhiệm, toàn tâm toàn ý với công việc và không ngừng học tập nâng cao trình độ, năng lực công tác Chế độ, chính sách này cần có tính đồng bộ và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương
Các địa phương cần dành một khoản ngân sách hợp lý đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã và xem đó là nhiệm vụ thường xuyên, ổn định và lâu dài Ngoài ra, cần có thêm chế độ, chính sách đãi ngộ đặc biệt như
“chiêu hiền đãi sĩ”, “thu hút chất xám” bên cạnh chính sách đãi ngộ tại chỗ người đương chức, nhằm thu hút những người có tài, có đức về cơ sở công tác, thì cần dành một khoản kinh phí thỏa đáng để đầu tư mua sắm trang thiết
bị, phương tiện phục vụ cho công việc
l.2.2 Kinh nghiệm của một số quốc gia và một số địa phương trong nước về nâng cao chất lượng cán bộ, công chức
1.2.2.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
gồm công chức cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và hương trấn Cấp thôn
có các công chức nhà nước biên chế ngành giáo dục, y tế là biên chế sự nghiệp không nằm trong 08 triệu này 08 triệu công chức chia ra ở cấp Trung ương, tỉnh, huyện hơn 05 triệu, cấp hương, trấn hơn 02 triệu
Biên chế ngành giáo dục 14 triệu người, cả nước có hơn 1.000 trường đại học, trong đó có 200 trường do Trung ương trực tiếp quản lý Ngân sách
Trang 39nhà nước Trung ương đảm bảo chi cho các trường đại học do Trung ương quản lý, ngân sách địa phương đảm bảo chi cho sự nghiệp phổ cập giáo dục,
hệ thống các trường đại học, dạy nghề do địa phương quản lý Trung Quốc cũng đang từng bước thực hiện xã hội hoá giáo dục
- Về tổ chức chính quyền địa phương: Cả nước gồm 31 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; 2.000 quận, huyện; 50.000 hương trấn Tất cả các đơn
vị hành chính tỉnh, huyện, hương trấn đều có đại biểu nhân dân (như Hội đồng nhân dân ở Việt Nam) Hương trấn là cấp chính quyền cơ sở, bình quân
có 02 - 03 vạn dân, nơi nhiều có đến 100.000 dân, nhưng cũng có nơi ở vùng dân tộc thiểu số chỉ có vài trăm người Thôn không là cấp chính quyền do đó không có đại hội đại biểu nhân dân cùng cấp là công chức Nhà nước
Trung Quốc áp dụng biện pháp thi tuyển công chức để giữ vững, làm chặt đầu vào Thực hiện đánh giá công chức hàng năm, nếu 02 năm liền công chức không đạt yêu cầu sẽ bị buộc thôi công chức Trong cả nước có khoảng 5.000 công chức bị thôi chức trong vài năm gần đây thông qua biện pháp này Sau 05 năm phải thực hiện luân chuyển công chức ở các vị trí quản lý về người, vật tư, tài sản, cấp văn bằng, biển số, giấy phép tức là các lĩnh vực trọng điểm thường hay nảy sinh tiêu cực Nhằm nâng cao khả năng của cán
bộ, giữ khí thế cải cách bảo đảm sự liêm khiết của công chức
- Về chế độ lương công chức: Chế độ lương công chức hình thành từ năm 1949, được cải cách một bước vào năm 1993 và hiện nay vẫn đang áp dụng Hệ thống lương công chức (không áp dụng cho các ngành sự nghiệp giáo dục, y tế) bao gồm 15 cấp khác nhau, mỗi cấp được chia ra nhiều bậc khác nhau
Từ năm 2003 đến nay, Trung Quốc thực hiện nhiều bước cải cách hành chính với mục tiêu đưa cải cách vào chiều sâu nhằm thực sự thay đổi chức năng của chính quyền theo phương châm: Chuyển từ chính quyền vô hạn (cái
gì cũng làm) sang chính quyền hữu hạn (quản lý bằng pháp luật, chỉ làm
Trang 40những việc thuộc chức năng đích thực của quản lý hành chính Nhà nước)
Trong lĩnh vực cải cách công vụ và công chức, Trung Quốc áp dụng rộng rãi hình thức thi tuyển với nguyên tắc là công khai, bình đẳng, cạnh tranh và tự do được nhân dân và bản thân công chức đồng tình Đối với cán
bộ quản lý, khi cần bổ sung một chức danh nào đó thì thực hiện việc đề cử công khai và tổ chức thi tuyển Một trong những biện pháp được Trung Quốc
áp dụng để tinh giản biên chế có hiệu quả là phân loại cán bộ, công chức Hàng năm, cán bộ, công chức được đánh giá và phân ra ba loại: Xuất sắc, hoàn thành công việc và không hoàn thành công việc Công chức bị xếp vào loại thứ ba đương nhiên bị thôi việc
Hiện nay, tổng số công chức của Trung Quốc vào khoảng 08 triệu người trong đó 61% tốt nghiệp đại học trở lên Biện pháp quan trọng nhất để tinh giản biên chế là sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp; chuyển một bộ phận lớn các đơn vị sự nghiệp công thành doanh nghiệp để xoá bỏ chế độ bao cấp
1.2.2.2 Kinh nghiệm của Singapore
Vấn đề cải cách hành chính ở Singapore được đặt ra khá sớm Từ đầu
nhữ
cách hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước Đặc biệt năm 1991, Chính phủ đề ra chương trình cải cách công vụ mang tên “Nền công vụ thế kỷ 21” Mục tiêu của chương trình là xây dựng nền công vụ có hiệu quả, hiệu lực, công chức nêu cao tinh thần liêm chính, tận tụy và có chất lượng dịch vụ cao
Trong lĩnh vực cải cách chế độ công vụ, Singapore ưu tiên đầu tư cho việc đào tạo công chức; đổi mới tổ chức gắn với tạo cơ chế phù hợp; đồng thời nâng cao chất lượng phục vụ với tiêu chí làm hài lòng khách hàng Để thực hiện mục tiêu đề ra, Chính phủ Singapore đã áp dụng nhiều biện pháp trong đó có các biện pháp như: Sử dụng bộ quy chuẩn ISO-9000 trong bộ máy hành chính, coi đây vừa là công cụ cải tiến lề lối làm việc, vừa là công cụ đánh giá hiệu quả, phân loại công chức Singapore đề ra chương trình nhằm