1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận môn kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin

33 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch Sử Ra Đời Và Bản Chất Của Tiền Tệ
Tác giả Nguyễn Công Phước, Nguyễn Thị Ngọc Hân, Võ Thụy Ngọc Hạnh, Hà Ngọc Cẩm Tú
Người hướng dẫn Thành viên: Trần Thanh Nhã
Trường học Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kỹ Năng Ứng Dụng Công Nghệ Thông Tin
Thể loại Tiểu luận môn kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP.Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 6,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA TIỀN TỆ (2)
    • 1.1 Khái niệm (5)
    • 1.2 Giá trị và giá cả của tiền tệ (5)
    • 1.3 Thước đo giá trị cảu tiền tệ (6)
    • 2. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH (7)
      • 2.1 Nguồn gốc (7)
      • 2.2 Quá trình hình thành (11)
      • 2.3 Tối ưu hóa thương mại (12)
    • 3. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA TIỀN TỆ (0)
      • 3.1 Giai đoạn 1: Hóa Tệ (13)
      • 3.2 Giai đoạn 2: Tín tệ (14)
      • 3.3 Giai đoạn 3: Bút Tệ (16)
      • 3.4 Giai đoạn 4: Tiền Điện Tử (17)
      • 3.5 Giai đoạn 5: Tiền Kỹ Thuật Số (18)
  • II. BẢN CHẤT VÀ CHỨC NĂNG CỦA TIỀN TỆ (19)
    • 1. BẢN CHẤT (19)
      • 1.1 Sơ lược về bản chất (19)
      • 1.2 Tính chất của tiền tệ (20)
      • 1.3 Giá trị (21)
    • 2. CHỨC NĂNG (21)
      • 2.1 Chức năng thước đo giá trị (21)
      • 2.2 Chức năng phương tiện lưu thông (23)
      • 2.3 Chức năng phương tiện cất trữ (26)
      • 2.4 Chức năng phương tiện thanh toán (26)
      • 2.4 Chức năng tiền tệ thế giới (0)
    • 3. CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ (28)
      • 3.1 Các dạng chính sách tiền tệ (28)
      • 3.2 Các công cụ của chính sách tiền tệ (0)
      • 3.3 Mục tiêu của chính sách tiền tệ (30)

Nội dung

Để khái quát hóa quá trình hình thành và lịch sử phát triển tiền tệ trong các họcthuyết kinh tế của các nhà kinh tế học, nhóm em xin được trình bày tiểu luận “Tìmhiểu lịch sử ra đời của

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TIỂU LUẬN

MÔN: KỸ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG

TIN

ĐỀ TÀI: LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ BẢN CHẤT CỦA TIỀN TỆ

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Trong quá trình hình thành phát triển kinh tế hàng hoá, tiền tệ đã lần lượt tồn tạidưới nhiều hình thái khác nhau nhằm đáp ứng cho nhu cầu phát triển của nền kinh tế,đặc biệt là hoạt động sản xuất, lưu thông, trao đổi hàng hoá Cùng với nó là hệ thốngcác lý thuyết tiền tệ của các nhà kinh tế học qua các thời kỳ đã nghiên cứu về nguồngốc, bản chất, chức năng của tiền tệ, nghiên cứu về quy luật tiền tệ, mức cung, mứccầu tiền tệ để có các chính sách tiền tệ cho phù hợp

Để khái quát hóa quá trình hình thành và lịch sử phát triển tiền tệ trong các họcthuyết kinh tế của các nhà kinh tế học, nhóm em xin được trình bày tiểu luận “Tìmhiểu lịch sử ra đời của tiền tệ Phân tích nguồn gốc, bản chất, các chức năng của tiềntệ” Qua đó, rút ra ý nghĩa của việc nghiên cứu đối với Việt Nam hiện nay Mặc dùnhóm em đã nỗ lực, cố gắng nghiên cứu, tìm hiểu, xong tiểu luận này không tránh khỏinhững khiếm khuyết, rất mong nhận được sự hướng dẫn, góp ý của các thầy cô và cácbạn quan tâm để bổ sung, chỉnh sửa, góp phần hoàn thiện tiểu luận này

Tìm hiểu đề tài này không chỉ cho em biết thêm những kiến thức về lịch sử xuấthiện của tiền tệ mà còn hiểu biết sâu sắc hơn những thực tế xoay quanh chế độ tiền tệ,những ảnh hưởng của tiền tệ với nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế ViệtNam nói riêng

Trân trọng!

Trang 3

MỤC LỤC

I LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA TIỀN TỆ 6

1 KHÁI NIỆM, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TIỀN TỆ 6

1.1 Khái niệm: 6

1.2 Giá trị và giá cả của tiền tệ 6

1.3 Thước đo giá trị cảu tiền tệ 7

2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH 8

2.1 Nguồn gốc 8

2.2 Quá trình hình thành 11

2.3 Tối ưu hóa thương mại 12

3 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA TIỀN TỆ 13

3.1 Giai đoạn 1: Hóa Tệ 14

3.2 Giai đoạn 2: Tín tệ 14

3.3 Giai đoạn 3: Bút Tệ 16

3.4 Giai đoạn 4: Tiền Điện Tử 17

3.5 Giai đoạn 5: Tiền Kỹ Thuật Số 18

II.BẢN CHẤT VÀ CHỨC NĂNG CỦA TIỀN TỆ 19

1 BẢN CHẤT 19

1.1 Sơ lược về bản chất 19

1.2Tính chất của tiền tệ 20

1.3 Giá trị 21

2 CHỨC NĂNG 21

2.1 Chức năng thước đo giá trị 21

2.2 Chức năng phương tiện lưu thông 22

2.3 Chức năng phương tiện cất trữ 25

2.4 Chức năng phương tiện thanh toán 26

2.4 Chức năng tiền tệ thế giới 27

3 CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 28

3.1 Các dạng chính sách tiền tệ 28

3.2 Các công cụ của chính sách tiền tệ 28

3.3 Mục tiêu của chính sách tiền tệ 29

Trang 4

MỤC LỤC HÌNH ẢN

Hình 1.1 3

Hình 1.2 10

Hình 1.3 11

Hình 1.4 13

Hình 1.5 14

Hình 1.6 15

Hình 1.7 16

MỤC LỤC BẢNG BIỂ B NG 2 1 Ả 26

B NG 2 2 Ả 27

Trang 5

I LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA TIỀN TỆ

1 KHÁI NIỆM, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TIỀN TỆ

1.1 Khái niệm:

Tiền tệ là một

phạm trù kinh tếkhách quan, nó làsản phẩm tự phátcủa nền kinh tếhàng hóa, sảnphẩm của sự pháttriển các hình tháigiá trị Đồng thời

nó cũng là sảnphẩm của sự phát triển mâu thuẫn giữa lao động và phân công lao động xã hộitrong sản xuất hàng hóa Sự ra đời và phát triển của tiền tệ đồng hành với sự rađời và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa

- Bên cạnh đó cũng có một số quan điểm, quan niệm dễ hình dung hơn về khái niệm tiền

1.2 Giá trị và giá cả của tiền tệ

Tiền tệ có giá trị không phải vì nó có giá trị tự thân mà vì những gì tiền tệ có thể trao đổi được Giá trị của tiền tệ là số lượng hàng hóa và dịch vụ mua được bằng một đơn vị của tiền

Hình 1 1

Hình 1 1

Hình 1 1

Trang 6

tệ, ví dụ số lượng hàng hóa và dịch vụ mua được bằng một Dollar Nói cách khác giá trị của tiền tệ là nghịch đảo của giá cả hàng hóa.

 Để thúc đẩy giá trị nội tại của tiền tệ pháp định, các chính phủ thường bắt buộc người dân giao dịch, đóng thuế bằng đồng nội tệ và xử lý hình sự những người không tuân thủ

Vì vậy, giá trị nội tại của tiền pháp định chủ yếu nằm ở sức mạnh của quân đội và cơ quanhành pháp

 Giá cả của tiền tệ chính là lãi suất, nói một cách khác, giá cả của tiền tệ là số tiền mà người ta phải trả cho cơ hội được vay nó trong một khoảng thời gian xác định

 Giá trị của tiền tệ là 1 lượng vàng nguyên chất nhất định làm đơn vị tiền tệ

1.3 Thước đo giá trị cảu tiền tệ

Thước đo giá trị là yêu cầu trước tiên và không thể thiếu của trao đổi hàng hóa Trong

mua bán hay trao đổi hàng hóa, người ta thực hiện theo nguyên tắc ngang giá Muốn đảm bảo được nguyên tắc trao đổi ngang giá thì điều kiện tiên quyết là phải đo lường và xác định được giá trị hàng hóa

Với chức năng thước đo giá trị, tiền tệ có thể giải quyết được yêu cầu này Ngoài việc trao đổi

ra, trong một số hoạt động khác như kế toán, kế hoạch, tài chính, người ta cũng cần đo lường giá trị và sử dụng tiền tệ như những đơn vị tính toán (units of account)

Vấn đề đặt ra là ai là người quyết định lựa chọn và lựa chọn thước đo giá trị dựa trên những

cơ sở nào?

Nội dung thước đo của tiền tệ :

Chủ thể quyết định và lựa chọn thước đo giá trị tiền tệ :

Thông thường Nhà nước hay chính phủ là người quyết định lựa chọn thước đo giá trị và dân chúng là người sử dụng thước đo đã được chọn lựa đó, nhưng khi cái thước đo mà

Nhà nước chọn không sử dụng được như là một công cụ đo lường, thì tự phát dân chúng sẽ chọn cho mình cái thước đo nào mà họ cho là phù hợp nhất để đo lường giá trị

Việc chọn lựa thước đo giá trị cũng tương tự như lựa chọn các loại thước đo khác như mét để

đo chiều dài, kilogram để đo khối lượng

Mét sở dĩ được sử dụng để đó chiều dài vì người ta thiết kế nó thể hiện được chiều dài, trong khi kilogram dùng để đo khối lượng vì người ta thiết kế nó thể hiện được khối lượng và những sự thể hiện này được tiêu chuẩn hóa, thông qua việc định nghĩa mét cũng như định nghĩa kilogram là gì

Yếu tố xác định đơn vị tiền tệ :

Muốn đo lường giá trị trước hết người ta phải gán cho tiền tệ một giá trị để nó thể hiệnđược giá trị Kế đến người ta phải tiêu chuẩn hóa giá trị của nó thông qua việc định nghĩa đơn

vị tiền tệ quốc gia Đơn vị tiền tệ của một quốc gia được xác định thông qua hai yếu tố:

Trang 7

- Tên gọi của đơn vị tiền tệ: Ví dụ dollar là tên gọi đơn vị tiền tệ của Mỹ, rance trước kia là tên gọi đơn vị tiền tệ của Pháp trong khi đồng là tên gọi đơn vị tiền tệ của Việt Nam.

- Hàm lượng kim loại qui định trong đơn vị tiền tệ đó: Ví dụ hàm lượng kim loại qui định trong đơn vị tiền tệ của Mỹ, tức là 1 dollar, là 0,7366412 gram vàng nguyên chất.Với hàm lượng 0,7366412 gram vàng nguyên chất được gán vào thông qua định nghĩađơn vị tiền tệ của chính phủ, dollar trở nên có giá trị và giá trị của nó được tiêu chuẩn hóa, do vậy, nó đo lường được giá trị

Trước khi có sự lựa chọn đơn vị tiền tệ thống nhất của chính phủ, dân chúng cũng đã

tự phát lựa chọn đơn vị tiền tệ theo sở thích của họ Vì mỗi người có sở thích khác nhau nên lúc đầu đơn vị tiền tệ chưa được thống nhất Điều này gây ra không ít khó khăn trong trao đổi.Sau này Nhà nước đứng ra lựa chọn và công bố đơn vị tiền tệ thông nhất trong cả nước Tuy nhiên, cũng có khi Nhà nước lựa chọn đơn vị tiền tệ này, nhưng dân chúng lại sử dụng đơn vị khác để đo lường giá trị hàng hóa Đó là trường hợp lạm phát tiền tệ khiến cho giá trị của đơn vị tiền tệ sụt giảm nghiêm trọng và sức mua của nó không còn ổn định, nên bị dân chúng từ chối nó với tư cách là một công cụ thước đo giá trị

Từ phân tích thực tiễn thước đo giá trị, chúng ta có thể thấy rằng đơn vị tiền tệ của một quốc gia nào đó muốn làm tốt chức năng thước đo giá trị thì đòi hỏi:

Thứ nhất, đơn vị tiền tệ đó phải có giá trị nội tại của nó, nếu không dù có bắt

buộc dân chúng vẫn không chấp nhận nó như một công cụ thước đo giá trị

Thứ hai, giá trị của đơn vị tiền tệ đó, hay sức mua của đồng tiền, phải ổn định

hoặc có thay đổi thì vẫn không thay đổi nhiều qua thời gian

2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH

2.1 Nguồn gốc

Tiền là hình thái thiết yếu trong thời đại hiện nay Nhờ có sự có mặt của tiền mà mỗi

cá nhân, công ty và nền kinh tế có khả năng thỏa mãn các mục tiêu của mình một cách đơngiản Hình dạng của tiền ngày nay cực kì hoàn thiện và càng ngày đa dạng bởi sự phát triểncủa khoa học công nghệ Tuy vậy để có khả năng sở hữu các dạng tiền tệ như ngày hôm naythì tiền đã trải qua một chu trình ra đời và hoàn thiện rất là lâu dài.Từ thời xa xưa, khi màngười dân trên trái đất sống theo từng bộ lạc trong thời công xã nguyên thủy, mọi của cải vậtchất đều được sử dụng chung, không có có được cá nhân Vì vậy, họ không không thể thiếu sựtrao đổi mà vẫn sở hữu những thứ mình mong muốn theo nguyên tắc “làm theo năng lực,hưởng theo nhu cầu”.Khi chế độ công xã nguyên thủy tan ra, sự tư hữu về của cải và tư liệusản xuất bắt đầu có mặt Lúc này, để sở hữu cái ăn, mỗi cá nhân đều phải tự lao động để làm

ra của cải tuy vậy, mỗi cá nhân trong xã hội đều không thể tự làm ra hết của cải mà mình

Trang 8

muốn hưởng thụ Vì vậy, người ta phải trao đổi của cải với nhau để đáp ứng mong muốn vềcác của cải, vật chất mà họ không làm ra.

Khi nền sản xuất và trao đổi hàng hóa đã phát triển tới một trình độ nhất định, thì giátrị của hàng hóa mới được hiểu hiện hằng tiền – tức là mới có sự ra đời của tiền tệ Tiền tệ rađời là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của các hình thái giá trị Từ hình thái giá trị giảnđơn, là hình thái ban đầu và đơn giản nhất, mà ai cũng có thể thấy được đến hình thái giá trị

mở rộng, qua hình thái giá trị chung và cuối cùng là hình thái tiền tệ

* Hình thái giá trị giản đơn :

Trong hình thái giá trị giản đơn, giá trị (tương đối) của một vật được biểu hiện ở giá trị

sử dụng của một vật khác duy nhất đóng vai trò vật ngang giá “đơn nhất” bộc lộ 3 đặcđiểm:

-Giá trị sử dụng trở thành hình thái biểu hiện của giá trị

- Lao động cụ thể trở thành hình thái biểu hiện của lao động trừu tượng

-Lao động tư nhân trở thành lao động xã hội trực tiếp

C Mác cho rằng : ”Hình thái giá trị tương đối và hình thái vật ngang giá là 2 mặt liênquan với nhau không tách rời được nhau nhưng đồng thời là 2 cực đối lập nhau và khôngdung hòa nhau, nghĩa là 2 cực của cùng một biểu hiện giá trị” Hình thái giá trị giản đơn(hay ngẫu nhiên) là mầm mống phôi thai của hình thái giá trị - tiền tệ, còn hàng hóa – vậtngang giá “đơn nhất” là mầm mống của tiền tệ

* Hình thái giá trị mở rộng :

Xuất hiện sau khi cuộc đại phân công lao động xã hội lần thứ nhất xảy ra, khác cơbản so với hình thái giá trị giản đơn Ở hình thái giá trị mở rộng, giá trị của một vật khôngphải được biểu hiện ở giá trị sử dụng của một vật mà là được biểu hiện ở giá trị sử dụngcủa hàng hóa khác có tác dụng làm vật ngang giá Đây là những vật ngang gif “đặc thù”.Những vật ngang giá đặc thù tồn tại song song với nhau và đều có quyền lực như nhautrong vai trò vật ngang giá

Hình thái giá trị mở rộng, là một bước phát triển mới, tiến bộ so với hình thái giá trịgiản đơn, song bản thân nó cũng bộc lộ nhiều thiếu sót :

-Một là: Biểu hiện tương đối của giá trị một hàng hóa chưa được hoàn tất vì có nhiều

hàng hóa làm vật ngang giá và có thể kéo dài vô tận

-Hai là: Các hàng hóa biểu hiện cho giá trị của một hàng hóa là không thuần nhất, và

hết sức rời rạc

Trang 9

- Ba là: Nếu giá trị tương đối của mỗi hàng hóa đều biểu hiện ra trong hình thái mởrộng này, thì hình thái giá trị tương đối của mỗi hàng hóa sẽ là một chuỗi biểu hiện giá trị

vô cùng vô tận, khác với hình thái giá trị tương đối của bất kỳ một hàng hóa nào khác C.Mác cho rằng : “Có bao nhiều hàng hóa thì có bấy nhiêu chuỗi khác nhau và vô cùng vôtận về biểu hiện giá trị”

*

Hình thái giá trị chung:

ình thái giá trị chung

xuất hiện là tất yếu để

khắc phục những thiếu

sót nói trên của hình

thái giá trị mở rộng Hình thái này xuất

hiện khi xảy ra cuộc đại phân công lao

động xã hội lần thứ hai Trong hình thái

giá trị chung tất cả các hàng hóa biểu

hiện giá trị của mình ở một hàng hóa

đóng vai trò vật ngang giá Như vậy,

tính chất của hình thái giá trị đã thay đổi

bởi vì các hàng hóa biểu hiện giá trị của

chúng một cách đơn giản và thống nhất

và do vậy nó trở thành hình thái giá trị

phổ biến – một hình thái giá trị như vậy

sẽ được xã hội thừa nhận với sự xuất

hiện của vật ngang giá “phổ biến” làm

cho quá trình trao đổi trở nên thuận tiện

hơn, đơn giản hơn đó là điều kiện quan

trọng để thúc đẩy kinh tế hàng hóa phát

triển

H

Cũng cần phải chú ý rằng ở hình thái giá

trị chung, người ta không trao đổi sản

phẩm hàng hóa trực tiếp như ở hình thái

giá trị giản đơn và hình thái giá trị mở

rộng mà trao đổi một cách gián tiếpthông qua vật ngang giá chung

* Hình thái giá trị – tiền tệ

ật ngang giá chungtrong hình thái giá trịchung được chọn tùytheo tập quán địaphương mang ý nghĩa tượng trưng nhưlông thú, da thú, vỏ sò, chè khô, vòng đá(hóa tệ) những vật này có thể trao đổitrực tiếp với nhiều hàng hóa khác.Nhưng khi lực lượng sản xuất phát triển,thị trường càng mở rộng thì tình trạng

có nhiều vật ngang giá chung gây khókhăn cho lưu thông trao đổi hàng hóa,thì chính những vật ngang giá chungnày lại đấu tranh bài trừ và gạt bỏ lẫnnhau Vật ngang giá chung bằng kimloại thay thế dần vật ngang giá chungkhác và trong những vật ngang giáchung bằng kim loại thì bạc và sau đó làvàng đã chiếm ưu thế tuyệt đối; nó gạt

bỏ tất cả những vật ngang giá khác để

“độc chiếm” vật ngang giá chung Chỉđến lúc này thì hình thái giá trị tiền tệmới được xác lập và vàng với tư cách là

V

Trang 10

vật ngang giá chung đã trở thành tiền tệ.Hình thái giá trị - tiền tệ xuất hiện saucuộc đại phân công lao động lần thứ 3.Ngành Thương nghiệp và thương nhân

ra đời điều đó chứng tỏ sự ra đời củatiền tệ gắn liền với sự phát triển của sảnxuất trao đổi hàng hóa

Trang 11

2.2 Quá trình hình thành

- Lịch sử hình thành và phát triển của tiền tệ trải qua nhiều giai đoạn mà mỗi giai đoạn lại mang các đặc điểm khác nhau Trphát triển của loài người, lúc đầu con người sống thành bầy đàn, kiếm ăn một cách tự nhiên, chưa có chiếm hữu tư nhan, chưa có sản đổi hàng hóa nên chưa có tiền tệ

- Tuy nhiên ngay từ trong xã hội nguyên thủy đã xuất hiện mầm móng của của sự trao đổi Lúc đầu trao đổi mang tính chất ngđược tiến hành trực tiếp vật này lấy vật khác Giá trị (tương đối) của một vật được xác định bởi giá trị sử dụng của một vật khác duvai trò vật ngang giá Khi sự phân công lao động xã hội lần thứ nhất xuất hiện, hoạt động trao đổi diễn ra thường xuyên hơn Tươgiai đoạn phát triển này của trao đổi là hình thái giá trị mở rộng Tham gia trao đổi bây giờ không phải là 2 loại hàng hóa mà là mloại hàng hóa khác nhau Đây là một bước phát triển mới, tiến bộ so với hình thái giá trị giản đơn

- Phân công lao động xã hội và sản xuất phát triển thì hình thức trao đổi hàng hóa trực tiếp ngày càng bộc lộ các nhược điểm hàng hóa chỉ được trao đổi với nhau khi các người chủ của nó có ý cùng muốn trao đổi, ý muốn trùng khớp Như vậy cùng với scủa sản xuất thì trao đổi trực tiếp ngày càng khó khăn và làm cho mâu thuẫn trong lao động, và phân hóa lao động ngày càng tănghỏi phải có một thứ hàng hóa đặc biệt đóng vai trò vật ngang giá chung tất ra từ tất cả các thứ hàng hóa khác và các hàng hóa khácđổi được với nó Thích ứng với giai đoạn phát triển này của trao đổi là hình thái giá trị chung Nhưng trong giai đoạn này, tác dngang giá chung vẫn chưa cụ thể tại một thứ hàng hóa nào trong những vùng khác nhau thì có những thứ hàng hóa khác nhau có távật ngang giá chung vẫn chưa cụ thể tại một thứ hàng hóa nào

- Cuộc phân công lao động xã hội lần thứ hai xuất hiện thủ công nghiệp thoát khỏi nông nghiệp làm cho sản xuất hàng hóa pthị trường mở rộng Tình trạng nhiều hàng hóa có tác dụng vật ngang giá chung phát sinh mâu thuẫn với nhu cầu ngày càng trường, thị trường đòi hỏi phải thống nhất một vật ngang giá đơn nhất Khi vật ngang giá chung cố định ở một loại hàng hóa thì thái tiền tệ Khi đó tất cả các loại hàng hóa được biểu hiện giá trị của nó trong một thứ hàng hóa, thứ hàng hóa đó trở thành vậ

11

Trang 12

- Như vậy tiền tệ xuất hiện sau một quá trình phát triển lâu dài của trao đổi và của các hình thái giá trị Tóm lại tiền tệ là mlịch sử, nó là sản phẩm tự phát của nền kinh tế

2.3 Tối ưu hóa thương mại

o Người ta tin rằng đầu tiên hàng hóa và các dịch vụ được trao đổi trực tiếp với nhau (thương mại trao đổi) Vì điều nàydụng nên hàng hóa và dịch vụ được trao đổi với các loại hàng hóa khác mà có thể được tiếp tục trao đổi một cách dễ dàng Lo

là tiền này là những vật có giá trị đẹp hay hữu ích như bò, lạc đà, lông súc vật, dao, xẻng, vòng trang sức, đá quý, muối vkhác Khi người ta khám phá ra rằng một số vật không còn được sử dụng nữa mà chỉ được tiếp tục trao đổi thì các bản sao ch

và ít có giá trị hơn của các vật này được sử dụng làm phương tiện thanh toán Thuộc về các loại hàng hóa trở thành tiền là cáđến khi người Trung Quốc tiến quân vào năm 1950 (chữ "bối" 貝 trong "bảo bối" 寶貝 chỉ đến con sò)

o Đó là các hình thức thanh toán đầu tiên trước khi có tiền (Tiền trong tiếng La tinh là pecunia bắt nguồn từ pecus có ngh

vì đồng tiền kim loại đầu tiên của La Mã tượng trưng cho giá trị của một con bò.) Khả năng có thể đếm được, dễ bảo toàn, dễ

đã đóng một vai trò quan trọng trong việc lựa chọn vật liệu cũng như khả năng có thể giữ được giá trị Các thỏi hay sợi dâythiếc hay bạc đáp ứng được các yêu cầu này vì có giá trị bền vững và có thể bảo toàn dễ dàng

o Các đồng tiền kim loại đầu tiên được người Lydia ở phía Tây của Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay đúc từ vàng, trong thời gian giữaTCN, có nhiều kích thước và giá trị khác nhau và được dùng như là một phương tiện thanh toán để đơn giản hóa việc trả lươngngười lính đánh thuê Một lượng nhất định của các hạt bụi vàng được nấu chảy thành đồng tiền và sau đó hình của nhà vua đlên trên Nhà vua người Lydia cuối cùng, Croesus, vì thế mà mang danh là giàu có vô hạn Các đồng tiền kim loại này đã là

là phải cân thì có thể đếm được

Các chỉ trích và phê phán về thuyết cho rằng tiền hình thành từ thương mại trao đổi xuất phát từ những người đại diện cho

Nợ (tiếng Anh: Debitism), đặc biệt là Paul C Martin Lý luận được đưa ra là sử dụng một vật trao đổi thứ ba trước tiên là sẽ làm cđổi phức tạp thêm Từ một giao dịch biến thành hai giao dịch Điều quyết định chính là chức năng của tiền, dùng để nối tiếp thời gicầu cần dùng hàng hóa A và sự sản xuất hàng hóa B

12

Trang 13

Hình 1.1

 Trong suốt quá trình phát triển hơn 5000 năm của tiền tệ, từ thời kì hoang sơnhất cho đến nay thì tiền bao gồm 7 loại:

Đồng thời những phân loại tiền này cũng được chia ra thành từng giai đoạn phát triển…

3.1 Giai đoạn 1: Hóa Tệ

Từ thời xa xưa, khi người dân có nhu cầu trao đổi hàng hóa thì tiền tệ ở đây được biểuhiện là những hàng hóa thiết yếu hay là vật dụng quan trọng được coi là quý hiếm của các

13

Hàng đ i hàng ổ

V t đ i hàng ậ ổ Tiềền vàng Tiềền kim lo i ạ Tiềền giấấy Tiềền đi n t ệ ử , bán đi n t ệ ử Tiềền mã hóa

Trang 14

địa phương như gia súc, gia cầm, vỏ sò, vỏ ốc,…

Mãi đến sau này khi lực lượng sản xuất phát triển, con người khai thác được nhữngkhoáng sản như than, sắt, bạc, vàng,… thì những kim loại quý hiếm này được công nhận như

là những loại tiền tệ

Tuy nhiên, việc trao đổi mang tính bộc phát này lại ẩn chứa nhiều nhược điểm Nódiễn ra trong phạm vi hẹp, bị giới hạn về mặt lãnh thổ, không gian khá nhiều

Trong thời kì này, để thống nhất một loại tiền để thanh toán trao đổi, những người dân

đã chọn vàng làm vật ngang giá chung Lịch sử đã chứng kiến sự thống trị đặc biệt lâu dài củavàng bởi vì nó có những lợi thế hơn hẳn những kim loại khác Đặc tính về lý hóa của vànghoàn toàn có thể đáp ứng được tiêu chuẩn để làm tốt vai trò tiền tệ Nếu xét trong bảng tuầnhoàn hóa học, các loại khí và chất lỏng hoàn toàn phi thực tế khi dùng chúng là tiền để traođổi Các nguyên tố nhóm Lantan và actinides đều là những nguyên tố có khả năng bị phânhủy và trở thành những chất phóng xạ gây nguy hiểm cho chính bản thân bạn và những ngườixung quanh Kim loại kiềm và kiềm thổ nằm phía trái của bảng tuần hoàn nên chúng có thểphản ứng cao ở áp suất và nhiệt độ thích hợp, thậm chí là ở nhiệt độ phòng và có khả năngbốc cháy Nguyên tố bạc cũng đã từng được sử dụng như một loại tiền tệ nhưng do đặc tính bịxỉn màu theo thời gian nên nó đã bị loại bỏ

3.2 Giai đoạn 2: Tín tệ

Chính vì để khắc phục được những trở ngại của đồng tiền vàng, tiền xu đã ra đời.Những đồng xu đầu tiên được làm bằng đồng và sau đó là sắt, vì những vật liệu này khá cứngnên chúng có thể được sử dụng để chế tạo vũ khí, đồng xu rất tiện lợi vì người dùng có thểđếm chúng thay vì tính theo trọng lượng Giá trị kim loại đúc thành tiền và giá trị ghi trên bề

14

Hình 1 2

Trang 15

mặt của đồng tiền không có một sự liên kết nào cả, có thể gắn cho mỗi loại đồng xu một giátrị riêng biệt là được.

Bên cạnh sự xuất hiện của tiền xu, tiền giấy lần đầu tiên xuất hiện tại Trung Quốctrong những năm 600 đến 1455, chủ yếu lưu hành ở thời nhà Tống Những tờ giấy bạc gọi làJiaozi đã được sử dụng từ thế kỷ 7 sau Công nguyên Đây có thể coi là bước tiến vượt bậctrong xã hội loài người khi nói về lịch sử hình thành tiền tệ Tiền giấy có hai loại: tiền giấykhả hoán và tiền giấy bất khả hoán

Tiền giấy khả hoán được ông Palmstruck - người sáng lập ra ngân hàng Stockholm của ThụyĐiển tạo nên đầu tiên vào thế kỷ 17 Đây là một tờ giấy được in và lưu hành thành tiền, thaythế cho tiền vàng hoặc bạc mà người dân gửi vào ngân hàng Người sở hữu tờ tiền này có thểđến ngân hàng để đổi với số lượng vàng hoặc bạc bằng giá trị ghi trên giấy hoặc dùng làmtiền nếu cần

Tiền giấy bất khả hoán là tiền giấy bắt buộc lưu hành và mọi người không thể mangchúng đến ngân hàng để đổi lấy vàng hoặc bạc Là loại tiền giấy được các quốc gia trên thếgiới sử dụng phổ biến nhất hiện nay

Ở Việt Nam, tiền giấy ra đời từ thế kỷ 15 dưới thời Hồ Quý Ly

Tại Pháp, tiền giấy trở nên bất khả hoán vào năm 1720, từ năm 1848 đến năm 1850, từ năm

1870 đến năm 1875, từ năm 1914 đến năm 1828, và cuối cùng là từ 01-10-1936 cho đến ngàynay

Nhiều quốc gia đã phát hành tiền giấy bất khả hoán trong cuộc nội chiến 1862-1863 Sau khinội chiến kết thúc, nó lại trở về khả hoán từ năm 1879

Cũng có thể nói, Chiến tranh thế giới thứ nhất và cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 lànguyên nhân chính dẫn đến việc sử dụng rộng rãi tiền giấy không chuyển nhượng ( bất khảhoán) ở nhiều quốc gia

Sự ra đời của tín tệ, đặc biệt là tiền giấy bất khả hoán đánh dấu sự thay thế cho tiền đủgiá (tiền vàng) giúp khắc phục được tình trạng thiếu phương tiện trong lưu thông (do vàngngày càng khan hiếm trong tự nhiên, mà khối lượng hàng hóa lưu thông, trao đổi ngày cànglớn) Đồng thời, việc sử dụng các loại tín tệ cũng làm giảm đáng kể chi phí lưu thông

15

Trang 16

Tuy nhiên, việc lưu thông tín tệ, vì bản chất không có giá trị nội tại như vàng bạc,…nên tín tệ không có khả năng tự điều tiết và do đó, nếu đơn vị phát hành không quản lý điềutiết tốt, việc lưu thông tín tệ dễ rơi vào bất ổn Một ví dụ minh chứng rõ ràng nhất cho điềunày đó chính là siêu lạm phát ở Zimbabwe , bên cạnh đó một số tín tệ như tiền giấy còn có1

nguy cơ bị các đối tượng trục lợi làm giả hàng loạt

3.3 Giai đoạn 3: Bút Tệ

G

ắn liền với sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng, trong lưu thôngxuất hiện một hình thái tiền tệ mới, phát triển nhanh và mạnh mẽ, đó là bút tệ.Bút tệ hay còn gọi là tiền ghi sổ được tạo ra khi phát tín dụng thông qua tàikhoản tại ngân hàng, do vậy, bút tệ không có hình thái vật chất, nó chỉ lànhững con số được thể hiện trên tài khoản ngân hàng Thực chất, bút tệ là tiền phi vật chất,nhưng nó cũng có những tính chất giống như tiền giấy là được sử dụng trong thanh toán quanhững công cụ thanh toán của ngân hàng như: séc, lệnh chuyển tiền… Bên cạnh đó, nó còn cónhững ưu điểm hơn hẳn tiền giấy, đó là: an toàn hơn, dễ dàng chuyển đổi sang tiền giấy, thanhtoán rất tiện lợi, xác minh nhanh chóng

G

1 Zimbabwe là m t quốốc gia nằằm kín trong l c đ a miềằn nam Châu Phi.ộ ụ ị ở

16

Hình 1 3

Ngày đăng: 07/06/2023, 17:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w