MỞ ĐẦU Xu thế toàn cầu hóa, đầy mạnh phát triển kỹ thuật công nghệ, các ngành nghề mới liên tục xuất hiện. Đây cũng là biểu hiện của sự thay đổi về mặt xã hội cũng như công việc trong tương lai.Vì vậy việc lựa chọn nghề nghiệp để đảm bảo cuộc sống tương lai ổn định là rất quan trọng. Không khó để bắt gặp những bài viết với tiêu đề đại loại như “HOT JOBS hay “Những ngành nghề khó thất nghiệp, mức lương cao,...”. Đồng ý là danh sách nghề “hot sẽ hữu ích trong việc định hướng nghề nghiệp cho bạn trong tương lai nhưng nếu quá phụ thuộc vào nó thì có thể sự lựa chọn nghề nghiệp của bạn sẽ đi chệch hướng. Danh sách này có thể được tạo nên bằng những khảo sát thống kê và những con số thống kê thì luôn giao động lên xuống thất thường. Bên cạnh đó, thường những thống kê này sẽ phải cập nhật dữ liệu liên tục để phù hợp với thị trường lao động đang biến đổi từng ngày. Vì thế, mọi danh sách công việc trong mơ đều chỉ là thống kê tạm thời và có thể thay đổi khó lường trong tương lai gần. Nhưng bạn đã thực sự hiểu hết những công việc đó hay chưa?. Thường thì những công việc “hot” thường là những công việc có nhiều triển vọng và cơ hội phát triển trong tương lai gần hoặc có mức lương cực “khủng”, khiến bạn ngay lập tức muốn theo đuổi nó. Chính sự kì vọng phi lý này trong thực tế đã tạo nên một mô hình kinh tế. Đó là mô hình cobweb.
Trang 1
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
MÔ HÌNH COBWEB ĐỐI VỚI HỌC SINH SINH VIÊN
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 3
1 Mô hình cobweb 3
1.1 Khái niệm 3
1.2 Sơ lược mô hình cobweb 3
2 Mô hình cobweb trong thị trường công việc kỹ sư 5
2.1 Giai đoạn 1: Đối với sinh viên mới tốt nghiệp 5
2.2 Giai đoạn 2 : Đối với học sinh đang quyết định có tham gia vào nghề kỹ sư hay không? 7
2.3 Giai đoạn 3: Đối với thế hệ học sinh sinh viên sau đang cố gắng quyết định trở thành kỹ sư 8
3 Mô hình cobweb giả định rằng học sinh, sinh viên chưa nhìn nhận rõ về tương lai 10
KẾT LUẬN 12
DANH SÁCH NHÓM 13
Trang 3MỞ ĐẦU
Xu thế toàn cầu hóa, đầy mạnh phát triển kỹ thuật công nghệ, các ngành nghề mới liên tục xuất hiện Đây cũng là biểu hiện của sự thay đổi về mặt xã hội cũng như công việc trong tương lai.Vì vậy việc lựa chọn nghề nghiệp để đảm bảo cuộc sống tương lai ổn định
là rất quan trọng Không khó để bắt gặp những bài viết với tiêu đề đại loại như “HOT JOBS" hay “Những ngành nghề khó thất nghiệp, mức lương cao, ” Đồng ý là danh sách nghề “hot" sẽ hữu ích trong việc định hướng nghề nghiệp cho bạn trong tương lai nhưng nếu quá phụ thuộc vào nó thì có thể sự lựa chọn nghề nghiệp của bạn sẽ đi chệch hướng Danh sách này có thể được tạo nên bằng những khảo sát thống kê và những con số thống
kê thì luôn giao động lên xuống thất thường Bên cạnh đó, thường những thống kê này sẽ phải cập nhật dữ liệu liên tục để phù hợp với thị trường lao động đang biến đổi từng ngày
Vì thế, mọi danh sách công việc trong mơ đều chỉ là thống kê tạm thời và có thể thay đổi khó lường trong tương lai gần Nhưng bạn đã thực sự hiểu hết những công việc đó hay chưa? Thường thì những công việc “hot” thường là những công việc có nhiều triển vọng
và cơ hội phát triển trong tương lai gần hoặc có mức lương cực “khủng”, khiến bạn ngay
lập tức muốn theo đuổi nó Chính sự kì vọng phi lý này trong thực tế đã tạo nên một mô
hình kinh tế Đó là mô hình cobweb
Trang 4NỘI DUNG
1 Mô hình cobweb
1.1 Khái niệm
Mô hình cobweb ( hoặc là lý thuyết mạng nhện) là một mô hình kinh tế giải thích tại sao giá cả có thể bị biến động theo chu kỳ trong một số loại thị trường nhất định Nó mô tả cung và cầu theo chu kỳ trên một thị trường mà số lượng sản xuất phải được lựa chọn trước khi quan sát giá cả Kỳ vọng của nhà sản xuất về giá được giả định dựa trên những quan sát về giá trước đó
Mô hình mạng nhện thường dựa trên độ trễ thời gian giữa các quyết định cung
và cầu
1.2 Sơ lược mô hình cobweb
Mô hình cobweb được tạo ra xung quanh điểm cân bằng khi thị trường điều chỉnh theo cú sốc nhu cầu ban đầu Giả định rằng thị trường lao động sẽ điều chỉnh ngay lập tức theo sự thay của đường cung và đường cầu, do đó tiền lương và lao động làm thay đổi nhanh chóng từ mức cân bằng cũ sang mức cân bằng mới Tuy nhiên, nhiều thị trường lao động không nên điều chỉnh quá nhanh mà dịch chuyển theo đường cung và đường cầu Trên thực tế, có một số bằng chứng cho thấy thị trường dành cho lao động có kỹ năng cao như kỹ sư và các chuyên gia chuyên môn khác, thể hiện những giai đoạn bùng nổ và phá sản một cách có hệ thống Điều này gây tranh cãi về quan điểm cho rằng thị trường lao động đạt được trạng thái cân bằng khi cạnh tranh nhanh chóng và rẻ Mức lương đầu vào thể hiện một mô hình bùng nổ
và phá sản có hệ thống khi thị trường từ từ hướng về mức lương cân bằng trong dài hạn
Mô hình mạng nhện có thể có hai loại kết quả :
Nếu đường cung dốc hơn đường cầu, thì sự dao động sẽ giảm về mức độ theo mỗi chu kỳ, do đó, biểu đồ của giá cả và số lượng theo thời gian sẽ giống như một đường xoắn ốc hướng vào trong, như thể hiện trong sơ đồ đầu tiên Đây được gọi là trường hợp ổn định hoặc trường hợp hội tụ Trường hợp hội tụ, mỗi kết quả mới liên tiếp gần hơn với giao điểm của cung và cầu
Trang 5Hình 1: Mô hình mạng nhện hội tụ
Nếu đường cầu dốc hơn đường cung, thì sự dao động sẽ tăng lên theo từng chu
kỳ, do đó giá cả và số lượng xoắn ốc hướng ra ngoài Đây được gọi là trường hợp không ổn định hoặc trường hợp phân kỳ Trường hợp phân kỳ, mỗi kết quả mới liên tiếp cách xa giao điểm của cung và cầu
Sự kết hợp của đường xoắn ốc và các đường cung và cầu thường trông giống như một mạng nhện, do đó có tên là mô hình cobweb
Khi cung và cầu là các hàm tuyến tính, kết quả của mô hình mạng nhện được nêu ở trên dưới dạng độ dốc, nhưng chúng được mô tả phổ biến hơn dưới dạng độ co giãn
Các trường hợp hội tụ đòi hỏi độ dốc của (nghịch đảo) đường cung lớn hơn giá trị tuyệt đối của độ dốc của (nghịch đảo) đường cầu
Hình 2: Mô hình mạng nhện phân kỳ
Trang 62 Mô hình cobweb trong thị trường công việc kỹ sư
Trong loạt các nghiên cứu mang tính khiêu khích, Richard Freeman đã đề xuất một mô hình cho thấy các xu hướng này trong tiền lương đầu vào được tạo ra như thế nào Hai cơ sở giả định chính cho mô hình:
(1)Cần có thời gian để tạo ra đào tạo một kỹ sư mới
(2)Mọi người quyết định trở thành kỹ sư hay không bằng cách xem xét các điều kiện của thị trường lao động kỹ sư tại thời điểm họ nhập học
2.1 Giai đoạn 1:Đối với sinh viên mới tốt nghiệp
Xem xét thị trường dành cho sinh viên kỹ sư mới tốt nghiệp Được nhận ra rằng, thị trường sinh viên mới ra trường thường biến động giữa các giai đoạn dư thừa cầu lao động và thừa cung lao động.
W0
Hình 3: Mô hình cobweb trong thị trường công việc kỹ sư
Chart Title
Trang 7Ban đầu, thị trường lao động có trình độ đầu vào này đang đạt trạng thái cân bằng khi đường cung S cắt đường cầu D, do đó E0 là sinh viên kỹ thuật mới ra trường
và có mức lương đầu vào là W0
Chart Title
Hình 4: Thị trường kỹ sư ở mức cân bằng
Giả sử, có sự gia tăng đột ngột về cầu đối với các kỹ sư mới được đào tạo Đường cầu về kỹ sư dịch chuyển sang D’ và các công ty kỹ thuật muốn thuê những
kỹ sư mới E* với mức lương W*
E0
Trang 8Chart Title
Hình 5: Cầu về kỹ sư tăng
Công ty sẽ vô cùng khó khăn trong việc tuyển dụng số lượng kỹ sư mới theo mong muốn của họ Các kỹ sư mới sẽ không bỗng dưng đến một cách đơn giản chỉ vì công ty muốn thuê họ Cần thời gian để đào tạo các kỹ sư mới Bởi vì, hằng năm các trường kỹ thuật chỉ đào tạo ra các kỹ sư E0, nên đường cung ngắn hạn hoàn toàn không co giãn tại người lao động E0 Sự kết hợp của đường cung không co giãn (nghĩa là, một đường thẳng đứng đi qua người lao động E0) và sự dịch chuyển của đường cầu làm tăng mức lương đầu vào của kỹ sư lên W1
Trang 9Chart Title
Hình 6: Cung không co dãn tại Eo
2.2 Giai đoạn 2: Đối vớ học sinh đang quyết định có nên tham gia vào nghè kỹ sư hay không?
Trong khi tất cả những điều này đang diễn ra trên thị trường lao động kỹ sư, thì thế hệ trung học và sinh viên đại học mới đang quyết định có nên tham gia vào nghề
kỹ sư hay không Những sinh viên này nhận thấy mức lương tương đối cao trong thị trường kỹ thuật, và do đó cũng là động lực lớn để trở thành kỹ sư Trên thực tế, với mức lương hiện tại W1, tổng số người E1 sẽ muốn ghi danh vào các trường kỹ thuật
Do đó, sau một vài năm, các kỹ sư E1 mới gia nhập vào thị trường Tại thời điểm mà nhóm kỹ sư này tham gia vào thị trường, nguồn cung kỹ sư mới lại không
co giãn hoàn toàn ở lao động E1 Do đó, tình hình hiện tại của thị trường hiện được tóm tắt bởi đường cung không co giãn (một đường thẳng đứng đi qua người lao động E1) và đường cầu D’ (giả sử rằng trong điều kiện cầu không đổi) Trạng thái cân bằng xảy ra ở mức lương W2, thấp hơn đáng kể so với mức lương mà các kỹ sư mới nghĩ rằng họ sẽ nhận được Trên thực tế, những sinh viên tốt nghiệp trung học phổ thông và đại học cho rằng, họ sẽ nhận được mức lương W1 và do đó đã có tình trạng
dư thừa cung kỹ sư (cung vượt quá cầu về kỹ sư)
Trang 102.3 Giai đoạn 3: Thế hệ học sinh sinh viên khác đang cố gắng quyết định trở thành kỹ sư
Nhưng đây chưa phải là kết thúc của câu chuyện Vẫn còn một thế hệ học sinh trung học và sinh viên đại học khác đang cố gắng quyết định trở thành kỹ sư Với mức lương thấp hiện tại của W2, nghề kỹ sư trông không hấp dẫn lắm, và do đó sẽ có
ít người quyết định theo học trường kỹ sư Đường cung trong Hình8 ngụ ý rằng với mức lương W2, chỉ những người E2 mới trở thành kỹ sư (xảy tình trạng thiếu hụt về cũng kỹ sư )
Hình 7: Dư thừa cung kỹ sư
Chart Title
Trang 11
Khi những sinh viên này tốt nghiệp và tham gia vào thị trường lao động, mức lương đầu vào tăng lên mức W3 vì nguồn cung quá thấp Và mức lương cao này khiến thế hệ sinh viên tiếp theo cung quá mức cho thị trường, …
Chart Title
Hình 8: Với mức lương W2 chỉ những người E2 mới tham gia học
Chart Title
Trang 123 Mô hình cobweb giả định học sinh, sinh viên chưa nhìn nhận rõ về tương lai
Có hai giả định chính trong mô hình cobweb Giả thiết đầu tiên là khá hợp lý;
là cần có thời gian để đào tạo các kỹ sư mới, để nguồn cung kỹ sư có thể được coi là hoàn toàn không co giãn trong thời gian ngắn Tuy nhiên, giả thiết thứ hai còn rất nhiều tranh cãi Về bản chất, cho rằng sinh viên rất mông lung khi họ cân nhắc có nên trở thành kỹ sư hay không Sinh viên khi chọn nghề kỹ sư chỉ hoàn toàn dựa trên mức lương mà họ hiện đang thấy được trong thị trường kỹ sư và không cố gắng "nhìn vào tương lai" khi so sánh các lựa chọn thay thế khác nhau của họ Các kỹ sư tiềm năng có động lực rất lớn khi có được đầy đủ thông tin về xu hướng tiền lương mới Nếu họ biết những xu hướng này, họ có thể dễ dàng suy ra những gì sẽ xảy ra với họ khi nhóm của họ tham gia thị trường Sự thật là, ngay cả khi nhiều sinh viên trong số này không thèm bận tâm thu thập tất cả các thông tin liên quan, thì một người nào đó
sẽ làm Thông tin sau đó có thể được bán cho sinh viên, có những người sẽ sẵn sàng trả tiền để có được thông tin có giá trị về triển vọng tiền lương trong tương lai của họ
Trên thực tế mô hình cobweb được tạo ra bởi những sinh viên có những “kì vọng phi lý” Họ không xem xét đầy đủ lịch sử mức lương trong thị trường lao động
kỹ sư khi chọn một nghề nghiệp Những sinh viên có tính đến toàn bộ lịch sử tiền lương được cho là có “kỳ vọng hợp lý” Nếu sinh viên có kỳ vọng hợp lý, họ sẽ do
dự hơn nhiều khi tham gia vào thị trường lao động kỹ sư khi mức lương cao ngất ngưỡng và sẵn sàng gia nhập hơn nhiều khi mức lương hiện tại thấp
Trang 13KẾT LUẬN
Sau khi phân tích mô hình ta thấy, thị trường luôn biến động, luôn thay đổi theo thời gian nhưng đến lúc lại quay về điểm ban đầu như một quy luật tuần hoàn Mức lương đầu vào thể hiện một mô hình bùng nổ và phá sản có hệ thống khi thị trường từ
từ đi (hướng) về mức lương cân bằng trong dài hạn W* và việc làm E*
Bằng chứng thực nghiệm của mô hình cobweb đã hỗ trợ mạnh mẽ ở nhiều thị trường chuyên nghiệp Có vẻ như sinh viên dự đoán sai về các cơ hội kiếm tiền trong tương lai Tuy nhiên, điều đáng chú ý là không phải chỉ có sinh viên dự đoán sai tương lai Có một số bằng chứng cho thấy ngay cả đến các chuyên gia cũng có xu hướng dự đoán sai về các mức thu nhập trong tương lai Sự không chắc chắn trong việc dự báo tương lai có thể buộc sinh viên phải đặt nặng vào mức lương mà họ hiện đang quan sát được, và do đó tạo ra nguy cơ khó khăn trong thị trường lao động chuyên nghiệp