1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích vai trò của thỏa ước lao động tập thể trong việc giải quyết tranh chấp lao động.

15 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích vai trò của thỏa ước lao động tập thể trong việc giải quyết tranh chấp lao động
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Thương Mại
Chuyên ngành Luật Lao Động
Thể loại Bài thảo luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 206,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra các loại sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội. Bên cạnh đó, hợp đồng lao động xuất hiện để điều chỉnh mối quan hệ giữa người sử dụng lao động, người lao động, tổ chức, cá nhân liên quan đến quan hệ lao động. Đời sống kinh tế xã hội phát triển, các khái niệm về luật lao động không còn quá xa lạ với mọi người. Tuy nhiên vẫn có rất nhiều trường hợp thiếu hiểu biết về các điều khoản trong hợp đồng lao động gây ra những thiệt hại đáng kể đặc biệt là cho người lao động những người thường yếu thế hơn so với người sử dụng lao động. Hợp đồng lao động có vai rò rất quan trọng. Thông qua hợp đồng lao động, quyền và nghĩa vụ giữa người lao động và người sử dụng lao động được thiết lập, là cơ sở để giải quyết các tranh chấp (nếu có). Ngoài ra, hợp đồng lao động cũng là một trong những hình thức pháp lí nhất để công dân thực hiện quyền làm chủ của mình, thể hiện qua việc tự do lựa chọn công việc, chỗ làm, mức lương phù hợp. Nhà nước dựa vào điều khoản về luật lao động để quản lí nhân lực đang làm việc tại các công ty, cơ sở sản suất, doanh nghiệp. Xuất phát từ vai trò quan trọng của nó, chúng em sẽ tìm hiểu và nghiên cứu lý thuyết và bài tập tình huống liên quan đến các vấn đề thường xảy ra trong lao động như tranh chấp lao động, tiền lương, kỷ luật lao động,…để có cái nhìn sâu sắc, hiểu biết rõ hơn về hợp đồng lao động

Trang 1

Luật lao động

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC

BÀI THẢO LUẬN Học phần luật lao động

Hà Nội – 2021

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và tìm hiểu bộ môn Luật Lao Động, chúng em đã nhận được

sự quan tâm giúp đỡ, hướng dẫn đầy nhiệt tình và tâm huyết của cô Cô đã giúp chúng

em tích lũy thêm nhiều kiến thức và có cái nhìn sâu sắc và hoàn thiện hơn về những luật lệ trong lao động, đó là những điều rất cần thiết để chúng em có thể biết được những quyền lợi tốt cho bản thân trong quá trình lao động và tránh phạm phải những sai lầm không đáng có Từ những kiến thức mà cô đã truyền tải có lẽ đây sẽ là những hành trang vô cùng quý báu cùng chúng em theo suốt những hành trình của bản thân mình Đây thực sự là một môn học rất bổ ích và có tính thực tế rất cao mà ai cũng nên trang bị cho mình Thông qua bài thảo luận này, chúng em xin trình bày lại những gì

mà mình đã tìm hiểu về vai trò của thỏa ước lao động tập thể trong giải quyết tranh chấp lao động và những hình thức kỷ luật lao động trong bộ môn Luật Lao Động gửi đến cô

Kiến thức thì vô hạn mà sự tiếp nhận kiến thức của bản thân chúng em còn tồn tại những hạn chế nhất định Do đó, trong quá trình hoàn thành bài thảo luận nhóm của chúng em không thể tránh khỏi những thiếu sót.Chúng em rất mong nhận được những đóng góp đến từ cô để bài thảo luận của nhóm chúng em được hoàn thiện hơn

Kính chúc cô sức khỏe, hạnh phúc và thành công trên con đường giảng dạy, sự nghiệp trồng người

Thân,

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

Phần 1: Phân tích vai trò của thỏa ước lao động tập thể trong việc giải quyết tranh chấp lao động Trong tranh chấp lao động cá nhân, khi thỏa thuận trong hợp đồng lao động trái với Thỏa ước lao động tập thể thì áp dụng hợp đồng lao

động hay thỏa ước lao động tập thể? Giải thích vì sao 2

1 Phân tích vai trò của thỏa ước lao động tập thể trong việc giải quyết tranh

chấp lao động 2

2 Trong tranh chấp lao động cá nhân, khi thỏa thuận trong HĐLĐ là trái với

Thỏa ước lao động tập thể thì áp dụng HĐLĐ hay Thỏa ước lao động tập thể ?

3

Phần 2: Anh Tạ Quang Chiến là kỹ sư điện tử của Công ty cổ phần sản xuất bao

bì Thành Tây (hai bên ký kết với nhau hợp đồng lao động không xác định thời hạn từ ngày 2/3/2017, mức lương theo hợp đồng là 11,5 triệu VNĐ/tháng, hỗ trợ xăng xe là 1,5 triệu VNĐ/tháng, ăn trưa là 750.000VNĐ/tháng, ngày nghỉ hàng tuần là thứ 7 và chủ nhật.) Ngày 27/4/2021 anh Chiến cùng 2 anh kỹ sư điện tử cùng phòng (anh Nguyễn Tuấn Chi, Vũ Văn Vụ) tổ chức chơi đánh bạc (có dùng tiền mặt) tại công ty tại giờ nghỉ trưa Vụ việc bị giám đốc công ty là ông Đỗ Hải

An phát hiện Ngày 28/4/2021, ông Hải An đã ra quyết định số 02, điều chuyển 3 anh này xuống làm công nhân của phân xưởng B vì có sự vi phạm kỷ luật căn cứ vào nội quy lao động của công ty Anh Chiến không đồng ý với quyết định này vì cho rằng, việc chơi bài của 3 anh có tính chất vui chơi, giải trí và không gây ra

thiệt hại gì cho công ty Anh Chiến yêu cầu công ty xem xét giải quyết 5

1 Theo quan điểm anh(chị), việc ông An đưa ra quyết định số 02 điều 03

chuyển 03 NLĐ nói trên là đúng hay sai? Giải thích tại sao 5

2 Với hành vi vi phạm nói trên của 3 kỹ sư điện tử, anh chị hãy tư vấn cho

Giám đốc công ty một hình thức kỷ luật lao động phù hợp? 7

3 Giả sử anh Chiến bị áp dụng hình thức kỷ luật lao động sa thải, anh(chị) hãy

tính tiền lương cho anh Chiến từ ngày 1/4/2021 đến ngày 28/4/2021, biết rằng

trong thời gian này anh Chiến làm thêm 1 ngày chủ nhật và nửa ngày thứ 7 8

KẾT LUẬN 10

Trang 4

Luật lao động GVHD: Nguyễn Thị Kim Thanh

LỜI MỞ ĐẦU

Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra các loại sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội Bên cạnh đó, hợp đồng lao động xuất hiện để điều chỉnh mối quan hệ giữa người sử dụng lao động, người lao động, tổ chức, cá nhân liên quan đến quan hệ lao động

Đời sống kinh tế xã hội phát triển, các khái niệm về luật lao động không còn quá xa

lạ với mọi người Tuy nhiên vẫn có rất nhiều trường hợp thiếu hiểu biết về các điều khoản trong hợp đồng lao động gây ra những thiệt hại đáng kể đặc biệt là cho người lao động - những người thường yếu thế hơn so với người sử dụng lao động Hợp đồng lao động có vai rò rất quan trọng Thông qua hợp đồng lao động, quyền và nghĩa vụ giữa người lao động và người sử dụng lao động được thiết lập, là cơ sở để giải quyết các tranh chấp (nếu có) Ngoài ra, hợp đồng lao động cũng là một trong những hình thức pháp lí nhất để công dân thực hiện quyền làm chủ của mình, thể hiện qua việc tự

do lựa chọn công việc, chỗ làm, mức lương phù hợp Nhà nước dựa vào điều khoản về luật lao động để quản lí nhân lực đang làm việc tại các công ty, cơ sở sản suất, doanh nghiệp Xuất phát từ vai trò quan trọng của nó, chúng em sẽ tìm hiểu và nghiên cứu lý thuyết và bài tập tình huống liên quan đến các vấn đề thường xảy ra trong lao động như tranh chấp lao động, tiền lương, kỷ luật lao động,…để có cái nhìn sâu sắc, hiểu biết rõ hơn về hợp đồng lao động Trước hết là học tập tốt môn luật lao động, rồi tích lũy kiến thức cho học tập, thực hành cho công việc sau này Đây là bài tiểu luận đầu tiên, chắc chắn sẽ có nhiều thiếu sót, vì vậy chúng em rất mong được sự đóng góp ý kiến từ thầy cô và các bạn Qua đó, chúng em có thể sữa chữa những sai sót, bổ sung thêm kiến thức kinh nghiệm và có một cách nhìn toàn diện, rõ ràng hơn nữa về học phần này

Trang 5

Phần 1: Phân tích vai trò của thỏa ước lao động tập thể trong việc giải quyết tranh chấp lao động Trong tranh chấp lao động cá nhân, khi thỏa thuận trong hợp đồng lao động trái với Thỏa ước lao động tập thể thì áp dụng hợp đồng lao động hay thỏa ước lao động tập thể? Giải thích vì sao

1 Phân tích vai trò của thỏa ước lao động tập thể trong việc giải quyết tranh chấp lao động

- Khái niệm thỏa ước lao động tập thể: Thỏa ước lao động là thỏa ước lao động

được hình thành từ sự thỏa thuận, thương lượng giữa tập thể người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ) về các vấn đề như an toàn, vệ sinh lao động, thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi, tiền lương, tiền thưởng…

- Vai trò của thỏa ước lao động:

Thứ nhất, thỏa ước lao động tập thể tạo nên sự cộng đồng trách nhiệm của cả

hai bên trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh trên cơ sở pháp luật lao động

Thứ hai, thực hiện ký thỏa ước lao động tập thể góp phần điều hòa lợi ích, hạn

chế cạnh tranh không cần thiết, tạo ra những điều kiện cho sự gắn bó chặt chẽ giữa người lao động và người sử dụng lao động

Thứ ba, thỏa ước lao động tập thể là cơ sở pháp lý quan trọng để xem xét giải

quyết tranh chấp lao động

Thứ tư, thỏa ước lao động tập thể là nguồn quy phạm đặc biệt bổ sung cho luật

lao động

- Khái niệm tranh chấp lao động: Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền

và lợi ích phát sinh trong quan hệ lao động giữa người lao động, tập thể lao động với người sử dụng lao động Nói cách khác, tranh chấp lao động là những mâu thuẫn bất đồng không thể tự dàn xếp được giữa cá nhân hoặc tập thể người lao động và người sử dụng lao động liên quan đến quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ lao động.Tranh chấp lao động bao gồm hai loại: tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể

Khi có tranh chấp xảy ra, thiệt hại luôn thuộc về phía người lao động, họ có thể

bị đơn phương chấm dứt hợp đồng, bị trừ lương, bị xử lý kỉ luật… trái quy định pháp luật lao động, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi vật chất, đời sống cá nhân, gia đình gặp khó khăn

Đối với tranh chấp lao động cá nhân, cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào các điều khoản hai bên đã ký kết để giải quyết tranh chấp Bên cạnh hợp đồng lao động, thì thỏa ước lao động tập thể cũng là căn cứ quan trọng để giải quyết tranh chấp Khi

Trang 6

giải quyết tranh chấp giữa NLĐ và NSDLĐ, cơ quan trước hết sẽ xem xét những thỏa thuận trong hợp đồng có phù hợp với thỏa ước lao động tập thể hay không Nếu thỏa thuận trong hợp đồng lao động trái với thỏa ước lao động tập thể và gây bất lợi cho NLĐ thì cơ quan có thẩm quyền sẽ áp dụng các quy định trong thỏa ước lao động tập thể để giải quyết quyền lợi cho NLĐ

Mặt khác, tranh chấp lao động tập thể thường là những tranh chấp về thỏa ước

Do đó, trong trường hợp này, thỏa ước lao động tập thể đương nhiên là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết các tranh chấp đó

2 Trong tranh chấp lao động cá nhân, khi thỏa thuận trong HĐLĐ là trái với Thỏa ước lao động tập thể thì áp dụng HĐLĐ hay Thỏa ước lao động tập thể ?

Xem xét dưới góc độ Hợp đồng lao động và Thỏa ước lao động tập thể hợp pháp và được pháp luật công nhận:

- Khi có tranh chấp lao động cá nhân mà thỏa thuận trong Hợp đồng lao động là trái với Thỏa ước lao động tập thể thì áp dụng Thỏa ước lao động tập thể Bởi lẽ:

Thứ nhất,

- Tranh chấp lao động cá nhân là sự xung đột về quyền, quyền lợi giữa cá nhân người lao động với chủ sử dụng lao động về vấn đề việc làm, tiền lương, phúc lợi … cũng như các chế độ, quyền, quyền lợi khác trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động

- Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động

về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên

trong quan hệ lao động ( Khoản 1, Điều 13, BLLĐ 2019)

- Thỏa ước lao động tập thể là thỏa thuận đạt được thông qua thương lượng tập thể và

được các bên ký kết bằng văn bản Thỏa ước lao động tập thể bao gồm thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể ngành, thỏa ước lao động tập thể

có nhiều doanh nghiệp và các thỏa ước lao động tập thể khác ( Khoản 1,Điều 75)

Thứ hai,

- Nguyên tắc của Hợp đồng lao động được giao kết tự do nhưng không được trái pháp

luật, Thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội.(Điều 15)

- Nội dung Thỏa ước lao động tập thể không được trái với quy định của pháp luật;

khuyến khích có lợi hơn cho người lao động so với quy định của pháp luật (Khoản 2,

Điều 75)

Trang 7

Thứ ba, mức độ bao quát:

- Hợp đồng lao động được kí bởi cá nhân người lao dộng và người sử dụng lao động

- Thỏa ước lao động tập thể là sự thỏa thuận mang tính tập thể, là sự cam kết giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động về điều kiện lao động, điều kiện sử dụng lao động trong doanh nghiệp

- Đối với thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, trước khi ký kết, dự thảo thỏa ước

lao động tập thể đã được các bên đàm phán phải được lấy ý kiến của toàn bộ người lao động trong doanh nghiệp Thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp chỉ được ký kết khi

có trên 50% người lao động của doanh nghiệp biểu quyết tán thành (Khoản 1, Điều

76)

Thứ tư, mức độ pháp lí chặt chẽ:

- Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thỏa ước lao động tập thể được ký kết, người sử

dụng lao động tham gia thỏa ước phải gửi 01 bản thỏa ước lao động tập thể đến cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính

( Điều 77)

- Trường hợp quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên trong hợp đồng lao động đã giao

kết trước ngày thỏa ước lao động tập thể có hiệu lực thấp hơn quy định tương ứng của thỏa ước lao động tập thể thì phải thực hiện theo thỏa ước lao động tập thể Quy định của người sử dụng lao động chưa phù hợp với thỏa ước lao động tập thể thì phải được sửa đổi cho phù hợp; trong thời gian chưa sửa đổi thì thực hiện theo nội dung tương

ứng của thỏa ước lao động tập thể ( Khoản 2, Điều 79)

- Nội dung của thỏa ước là sự cụ thể hóa các quy định của luật lao động phù hợp với điều kiện, khả năng doanh nghiệp và đã được đăng ký Do đó, khi thỏa ước lao động tập thể có hiệu lực thì nội dung của nó mang tính quy phạm với các bên Vì vậy, khi có tranh chấp, cơ quan có thẩm quyền có thể dựa vào thỏa ước để xem xét các giá trị pháp

lý của quan hệ tranh chấp và lấy đó làm căn cứ xác định quyền và nghĩa vụ của các bên như tiền lương, trợ cấp… mà không cần viện dẫn các quy định của Bộ luật lao động

- Thỏa ước lao động tập thể khi đã có hiệu lực pháp luật trở thành căn cứ để các bên thiết lập, điều chỉnh quan hệ hợp đồng lao động vì thỏa ước là văn bản pháp lý mà nội dung của nó là quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động Điều có ý nghĩa

ở đây là trên cơ sở những quy định có tích chất chung chung của Bộ luật lao động thông qua thỏa ước quyền và nghĩa vụ các bên, đặc biệt là của người lao động được

Trang 8

ghi nhận một cách cụ thể, rõ rang cùng với một cơ chế đảm bảo thực hiện trên cơ sở cam kết phù hợp với điều kiện, khả năng của các bên

Chính vì thế người ta coi thỏa ước là một “bộ luật con” của doanh nghiệp, là nguồn quy phạm tại chỗ, bổ sung một cách kíp thời cho pháp luật lao động để giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng

Như vậy, trên thực tế dù không có thỏa ước, hợp đồng lao động vẫn thể được xác lập nhưng khi có thỏa ước lao động tập thể thì nó trở thành căn cứ, cơ sở làm cho các bên trong thỏa thuận của các bên trong hơp đồng lao động chi tiết, cụ thể và điều quan trọng là sự ràng buộc, khả năng hiện thực hóa các cam kết trong hợp đồng lao động là rất cao Và đặc biệt, khi Hợp đồng lao động trái với Thỏa ước lao động tập thể thì ta áp dụng Thỏa ước lao động tập thể

Phần 2: Anh Tạ Quang Chiến là kỹ sư điện tử của Công ty cổ phần sản xuất bao

bì Thành Tây (hai bên ký kết với nhau hợp đồng lao động không xác định thời hạn từ ngày 2/3/2017, mức lương theo hợp đồng là 11,5 triệu VNĐ/tháng, hỗ trợ xăng xe là 1,5 triệu VNĐ/tháng, ăn trưa là 750.000VNĐ/tháng, ngày nghỉ hàng tuần là thứ 7 và chủ nhật.) Ngày 27/4/2021 anh Chiến cùng 2 anh kỹ sư điện tử cùng phòng (anh Nguyễn Tuấn Chi, Vũ Văn Vụ) tổ chức chơi đánh bạc (có dùng tiền mặt) tại công ty tại giờ nghỉ trưa Vụ việc bị giám đốc công ty là ông Đỗ Hải

An phát hiện Ngày 28/4/2021, ông Hải An đã ra quyết định số 02, điều chuyển 3 anh này xuống làm công nhân của phân xưởng B vì có sự vi phạm kỷ luật căn cứ vào nội quy lao động của công ty Anh Chiến không đồng ý với quyết định này vì cho rằng, việc chơi bài của 3 anh có tính chất vui chơi, giải trí và không gây ra thiệt hại gì cho công ty Anh Chiến yêu cầu công ty xem xét giải quyết.

1 Theo quan điểm anh(chị), việc ông An đưa ra quyết định số 02 điều 03 chuyển

03 NLĐ nói trên là đúng hay sai? Giải thích tại sao

Từ tình huống trên nhóm em sẽ chia ra 2 trường hợp:

Trường hợp 1: không chứng minh được lỗi của người lao động ( không

có bằng chứng )

Bộ luật lao động 2019 quy định như sau:

Điều 122 Nguyên tắc, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật lao động

1 Việc xử lý kỷ luật lao động được quy định như sau:

a) Người sử dụng lao động phải chứng minh được lỗi của người lao động;

b) Phải có sự tham gia của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà người lao động đang bị xử lý kỷ luật là thành viên;

Trang 9

c) Người lao động phải có mặt và có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc tổ chức đại diện người lao động bào chữa; trường hợp là người chưa đủ 15 tuổi thì phải

có sự tham gia của người đại diện theo pháp luật;

d) Việc xử lý kỷ luật lao động phải được ghi thành biên bản.

2 Không được áp dụng nhiều hình thức xử lý kỷ luật lao động đối với một hành vi

vi phạm kỷ luật lao động.

3 Khi một người lao động đồng thời có nhiều hành vi vi phạm kỷ luật lao động thì chỉ áp dụng hình thức kỷ luật cao nhất tương ứng với hành vi vi phạm nặng nhất.

4 Không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động đang trong thời gian sau đây:

a) Nghỉ ốm đau, điều dưỡng; nghỉ việc được sự đồng ý của người sử dụng lao động;

b) Đang bị tạm giữ, tạm giam;

c) Đang chờ kết quả của cơ quan có thẩm quyền điều tra xác minh và kết luận đối với hành vi vi phạm được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 125 của Bộ luật này;

d) Người lao động nữ mang thai; người lao động nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

5 Không xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động vi phạm kỷ luật lao động trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.

6 Chính phủ quy định trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật lao động.

Theo khoản 1 Điều 125 của Bộ luật lao động hành vi đánh bạc trong giờ làm việc, tại nơi làm việc của người lao động sẽ bị áp dụng hình thức xử lý kỷ luật Tuy nhiên, khi tiến hành xử lý kỷ luật đối với người lao động vi phạm thì NSDLĐ phải tuân thủ nghiêm ngặt trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 122 Bộ luật lao động Căn cứ Khoản 1 Điều 122 Bộ luật lao đông thì NSDLĐ phải triệu tập đầy đủ các thành viên tham gia cuộc họp xử lý kỷ luật, trong đó có mặt người lao động vi phạm (trừ trường hợp đã được triệu tập hợp lệ 02 lần mà cố tình vắng mặt) Tại cuộc họp, NSDLĐ có nghĩa vụ chứng minh hành vi vi phạm của NLĐ: cung cấp các chứng cứ nghe được, nhìn được, thấy được và có thật; NLĐ có quyền tự bào chữa cho mình

Trang 10

Theo điểm a Khoản 1 Điều 122 Bộ luật lao động 2019 về Nguyên tắc, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật lao động thì đối với vụ việc trên, nếu trong trường hợp ông An phát hiện được một nhóm NLĐ tụ tập đánh bạc tại đơn vị trong giờ làm việc nhưng ông lại không kịp xử lý tình huống để ghi lại sự việc trên làm căn cứ xử lý kỷ luật (không lập được biên bản, không ghi hình, chụp hình, không người làm chứng, không tang vật, công cụ thực hiện hành vi vi phạm, những người vi phạm không thừa nhận hành vi của mình, ) Thì chỉ với những tài liệu, chứng cứ hiện tại theo chúng emviệc ông An ra Quyết định số 02 điều chuyển 3 NLĐ nói trên là chưa đúng vì không đủ căn cứ xử lý kỷ luật, trừ trường hợp những người vi phạm tự nhận hành vi của mình

Trường hợp 2: Chứng minh được lỗi của người lao động (có bằng chứng)

Theo em việc ông An ra Quyết định số 02 điều chuyển 3 NLĐ nói trên là đúng

Để áp dụng các hình thức kỷ luật đối với người lao động thì trước hết căn cứ vào nội quy nơi làm việc Trong trường hợp không có nội quy thì sẽ căn cứ vào điều luật để dưa ra các hình thức kỷ luật phù hợp đối với người lao động Trường hợp trên dù là 3NLD đánh bạc trong giờ nghỉ giải lao và với giá trị nhỏ tuy nhiên thời gian nghỉ giải lao đó vẫn được tính vào giờ làm việc và có trả lương Vì vậy hành

vi đánh bạc của 3 NLĐ là hành vi đánh bạc trong giờ làm việc và đã vi phạm kỷ luật lao động, công ty có quyền xử phạt 3 người theo nội quy Đồng thời, công ty cần thực hiện xử lý kỷ luật theo nguyên tắc, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật quy định tại Điều 70 của Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn một số nội dung tại Bộ Luật lao động 2019.Như vậy theo em việc ông An ra Quyết định số

02 điều chuyển 3 NLĐ nói trên là đúng

2 Với hành vi vi phạm nói trên của 3 kỹ sư điện tử, anh chị hãy tư vấn cho Giám đốc công ty một hình thức kỷ luật lao động phù hợp?

Với hành vi vi phạm nói trên của 3 kỹ sư điện tử thì hình thức xử lí KLLĐ phù hợp là: kéo dài thời hạn nâng lương không quá 06 tháng và cách chức hoặc nặng hơn là sa thải Vì:

- Kéo dài thời hạn nâng lương không quá 06 tháng: vì đây là lần đầu 3 kỹ sư điện

tử vi phạm và hành vi có tính chất vui chơi, giải trí và không gây thiệt hại gì cho công ty nên ta có thể áp dụng hình thức này

- Cách chức: Lý do đánh bạc của 3 kỹ sư điện tử đó là có tính chất vui chơi, giải trí

và không gây thiệt hại gì cho công ty Ngoài ra, ta sẽ xem xét 3 anh này có lập công gì cho công ty từ trước đó hay không để có thể áp dụng hình thức kỷ luật này

Ngày đăng: 07/06/2023, 17:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w