1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng mô hình kinh tế để lượng hóa tác động của thiên tai đến doanh thu nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh nghệ an có xét đến biến đổi khí hậu

99 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ứng dụng mô hình kinh tế để lượng hóa tác động của thiên tai đến doanh thu nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An có xét đến biến đổi khí hậu
Tác giả Nguyễn Hoàng Thái
Người hướng dẫn TS. Trần Khắc Thạc, TS. Đỗ Văn Quang
Trường học Trường Đại học Thủy lợi
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI NGUYỄN HOÀNG THÁI ỨNG DỤNG MÔ HÌNH KINH TẾ ĐỂ LƯỢNG HÓA TÁC ĐỘNG CỦA THIÊN TAI ĐẾN DOANH THU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN T

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

NGUYỄN HOÀNG THÁI

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH KINH TẾ ĐỂ LƯỢNG HÓA TÁC ĐỘNG CỦA THIÊN TAI ĐẾN DOANH THU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN CÓ XÉT ĐẾN

BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, NĂM 2022

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

NGUYỄN HOÀNG THÁI

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH KINH TẾ ĐỂ LƯỢNG HÓA TÁC ĐỘNG CỦA THIÊN TAI ĐẾN DOANH THU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN CÓ XÉT ĐẾN

BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 8340410

2 TS ĐỖ VĂN QUANG

HÀ NỘI, NĂM 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu có) đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định

Tác giả luận văn

Nguyễn Hoàng Thái

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới toàn thể thầy cô giáo trường Đại học Thủy lợi, đã trang bị cho tôi những kiến thức cơ bản quan trọng trong thời gian học vừa qua Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy cô, đặc biệt là TS Trần Khắc Thạc và TS Đỗ Văn Quang - người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp tôi có những định hướng đúng đắn trong suốt quá trình thực hiện đề tài này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Sở NN&PTNT tỉnh Nghệ An, Chi cục thuỷ lợi tỉnh Nghệ

An và cá nhân, tổ chức tỉnh Nghệ An đã tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu thực tế vấn đề, chia sẻ các ý kiến, kinh nghiệm một cách chân thành, giúp tôi thực hiện đề tài thuận lợi

Do trình độ và thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên đề tài không thể tránh khỏi những sai sót, nhược điểm Vì vậy, tôi mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến một cách thẳng thắn, chân thành của các thầy cô giáo trong Khoa để đề tài thêm hoàn thiện và có

ý nghĩa trong thực tiễn Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Mục đích của đề tài 2

2.1 Mục tiêu chung 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

3.2.1 Phạm vi về nội dung 3

3.2.2 Phạm vi về không gian 3

3.2.3 Phạm vi về thời gian 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

5.1 Ý nghĩa khoa học 4

5.2 Ý nghĩa thực tiễn 4

6 Kết quả dự kiến đạt được 5

7 Nội dung của luận văn 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MÔ HÌNH VÀ ỨNG DỤNG MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG ĐỂ ĐO LƯỜNG TÁC ĐỘNG CỦA THIÊN TAI VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TỚI NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 6

1.1 Một số vấn đề cơ bản về thiên tai và tác động của thiên tai tới nuôi trồng thủy sản 6 1.1.1 Khái niệm, phân loại và đặc điểm của thiên tai 6

Trang 6

1.1.1.1 Khái niệm 6

1.1.1.2 Phân loại và đặc điểm thiên tai 7

1.1.2 Tác động của một số loại hình thiên tai cơ bản đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản 9 1.2 Một số vấn đề cơ bản về BĐKH và tác động của BĐKH tới hoạt động nuôi trồng thủy sản 10 1.2.1 Khái niệm BĐKH 10

1.2.2 Tác động của BĐKH đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản 12

1.3 Các kịch bản BĐKH 13

1.4 Phương pháp trong đo lường tác động của thiên tai và BĐKH tới hoạt động sản xuất trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản 18

1.4.1 Lựa chọn mô hình đánh giá tác động của thiên tai và BĐKH tới các hoạt động sản xuất trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản 18

1.4.1.1 Các mô hình cân bằng riêng đánh giá tác động của thiên tai, BĐKH 18

1.4.1.2 Các mô hình cân bằng tổng quát đo lường tác động của thiên tai, BĐKH đến nông nghiệp 21

1.4.1.3 Cơ sở thực tiễn đánh giá tác động của thiên tai, BĐKH trong nước và nước ngoài 22 1.4.2 Phương pháp tính toán thiệt hại của thiên tai và BĐKH theo các kích bản BĐKH khác nhau 31

1.4.3 Đề xuất mô hình nghiên cứu thực nghiệm 32

1.4.3.1 Dữ liệu nghiên cứu 32

1.4.3.2 Mô hình nghiên cứu 32

CHƯƠNG 2 ỨNG DỤNG MÔ HÌNH KINH TẾ ĐỂ LƯỢNG HÓA TÁC ĐỘNG CỦA THIÊN TAI TỚI DOANH THU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN CỦA HỘ NÔNG DÂN TẠI TỈNH NGHỆ AN CÓ XÉT ĐẾN BĐKH 35

2.1 Tổng quan về tỉnh Nghệ An và nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh 35

2.1.1 Vị trí địa lý 35

2.1.2 Địa hình 36

Trang 7

2.1.3 Khí hậu, thủy văn 36

2.1.4 Tài nguyên đất đai 37

2.1.4 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 38

2.2 Thực trạng chung ảnh hưởng của thiên tai và BĐKH tới kinh tế nông nghiệp và lĩnh vực nuôi trồng thủy sản tỉnh Nghệ An 39

2.2.1 Ảnh hưởng của thiên tai 39

2.2.2 Biến đổi khí hậu 42

2.3 Đánh giá tác động của thiên tai và BĐKH tới doanh thu nuôi trồng thủy sản của hộ nông dân tại tỉnh Nghệ An 44

2.3.1 Thống kê mô tả một số biến số đưa vào mô hình 44

2.3.2 Đánh giá tác động của thiên tai và BĐKH tới hoạt động sản xuất của lĩnh vực nuôi trồng thủy sản tại tỉnh Nghệ An 46

2.4 Tính toán thiệt hại của biến đổi khí hậu tới hoạt động sản xuất trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản của hộ nông dân tại tỉnh Nghệ An 52

CHƯƠNG 3 DỰ BÁO VÀ GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU TÁC ĐỘNG CỦA THIÊN TAI ĐẾN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN CỦA HỘ NÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN CÓ XÉT ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 56

3.1 Dự báo thiệt hại của nuôi trồng thủy sản theo các kịch bản biến đổi khí hậu 56 3.2 Giải pháp giảm thiểu tác động của thiên tai, BĐKH tới hoạt động nuôi trồng thủy sản đến năm 2030 58

3.2.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 58

3.2.2 Các giải pháp giảm thiểu tác động của thiên tai và BĐKH tới hoạt động nuôi trồng thủy sản đến năm 2030 59

3.2.3 Kế hoạch thực hiện các giải pháp giảm thiểu tác động của thiên tai và BĐKH tới hoạt động nuôi trồng thủy sản 69

3.3 Kiến nghị 70

KẾT LUẬN 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

PHỤ LỤC 83

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

Hình 3.1 Vị trí địa lý tỉnh Nghệ An 35

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Một số nghiên cứu đánh giá tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu trong nước

và nước ngoài 22

Bảng 2.1 Tổng lượng mưa qua từng thập kỷ ở Nghệ An 42

Bảng 2.2 Số ngày có lượng mưa lớn và lượng mưa ngày lớn nhất tại trạm TV Vinh 43

Bảng 2.3 Số ngày có lượng mưa lớn và lượng mưa ngày lớn nhất tại trạm Quỳnh Lưu 43

Bảng 2.4 Số đợt nắng nóng xảy ra ở Nghệ An trong những năm gần đây 43

Bảng 2.5 Số cơn bão ảnh hưởng trực tiếp từ 1991-2018 44

Bảng 2.6 Thống kê mô tả một số biến số 45

Bảng 2.7 Kết quả hồi quy tác động của thiên tai đến doanh thu nuôi trồng thủy sản trường hợp không có biện pháp ứng phó 47

Bảng 2.8 Kết quả hồi quy tác động của thiên tai đến doanh thu nuôi trồng thủy sản trường hợp có biện pháp ứng phó 47

Bảng 2.9 Kết quả hồi quy tác động của thiên tai có xét tới yếu tố biến đổi khí hậu đến doanh thu nuôi trồng thủy sản trường hợp không có biện pháp ứng phó 49

Bảng 2.10 Kết quả hồi quy tác động của thiên tai có xét tới yếu tố biến đổi khí hậu đến doanh thu nuôi trồng thủy sản trường hợp có biện pháp ứng phó 50

Bảng 2.11 Kết quả ước lượng thiệt hại của các yếu tố thiên tai tới doanh thu tôm trung bình của 150 hộ dân (có biện pháp thích ứng) 52

Bảng 2.12 Kết quả ước lượng thiệt hại của các yếu tố BĐKH tới doanh thu tôm trung bình của 150 hộ dân (có biện pháp thích ứng) 53

Bảng 3.1 Ước tính thiệt hại về doanh thu (%) theo các kịch bản biến đổi khí hậu khác nhau 57

Bảng 3.2 Ước tính thiệt hại về doanh thu (giá trị) theo các kịch bản biến đổi khí hậu khác nhau 57

Trang 10

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ATNĐ Áp thấp nhiệt đới

BĐKH Biến đổi khí hậu

CSHT Cơ sở hạ tầng

GEM Mô hình cân bằng tổng quát

IAM Mô hình đánh giá tích hợp

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức to lớn đối với mỗi quốc gia

Đó là sự thay đổi đáng kể trong khí hậu như nhiệt độ hay mưa kéo dài trong một khoảng thời gian, thường là nhiều thập kỷ, dù là do thay đổi tự nhiên hoặc hoạt động của con người [1] BĐKH sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới Trong những năm gần đây, do tác động của BĐKH, các loại hình thiên tai như bão, lũ lụt, hạn hán, xâm ngập mặn và các hiện tượng thời tiết cực đoan khác (rét đậm, nắng nóng kéo dài) ngày càng khốc liệt và diễn biến thất thường cả về tần suất và cường độ Với đường bờ biển kéo dài, nền kinh tế còn nhiều khó khăn cộng thêm quá trình công nghiệp hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ khiến Việt Nam là một trong 5 quốc gia dễ bị tổn thương nhất trên thế giới do sự BĐKH [2], và nó đang ngày càng tác động xấu đến nền kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp

Thiên tai, BĐKH có ảnh hưởng rõ ràng nhất tới các hoạt động nuôi trồng thủy sản, nó tác động đến các hệ sinh thái biển, ven biển (rừng ngập mặn, cửa sông, đầm phá ven biển) và nước ngọt (dòng chảy và chất lượng nước) dẫn đến làm thay đổi cơ cấu mùa vụ

và giảm năng suất, chất lượng thủy sản nuôi trồng Sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam còn phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết, khi nhiệt độ tăng, tính biến động dị thường của thời tiết và khí hậu càng làm các ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp trở nên nghiêm trọng hơn Sự bất thường về chu kì khí hậu không chỉ dẫn tới sự ra tăng về dịch bệnh, dịch hại và sự giảm sút năng suất mùa màng mà còn gây ra các rủi ro nghiêm trọng khác

Nghệ An là tỉnh ven biển miền Trung, có đường bờ biển kéo dài 82km; một trong số những địa phương “nhạy cảm” với biến đổi khí hậu, các hiện tượng thời tiết cực đoan với tần suất và mức độ khốc liệt ngày càng cao như bão, áp thấp nhiệt đới, lũ lụt, hạn hán, úng hạn và xâm nhập mặn, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất của người nông dân Trong những năm qua ở Nghệ An đã có những biểu hiện nhiệt độ trung bình có xu hướng tăng lên, mỗi năm bình quân có tới 8-10 đợt nắng nóng, lượng mưa nhiều vùng đã giảm

rõ rệt (10-15%) làm cho hạn hán ngày càng trầm trọng hơn, nước mặn lấn sâu hơn

Trang 12

Trong hai thập kỷ qua, số lượng cơn bão tác động đến Bắc Trung Bộ là 38 cơn bão, trong đó trực tiếp vào Nghệ An là 10 cơn bão (chiếm 26%)

Do đó đề tài: “Ứng dụng mô hình kinh tế lượng để lượng hóa tác động của thiên tai

đến doanh thu nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An có xét đến biến đổi khí hậu” là một đề tài cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn Đề tài cung cấp thêm thông

tin nhằm đánh giá và dự báo tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu, hoạch định các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu tại địa phương kịp thời, có những giải pháp hỗ trợ kinh tế nông nghiệp phát triển bền vững

2 Mục đích của đề tài

2.1 Mục tiêu chung

Mục đích của nghiên cứu là đánh giá tác động của thiên tai và BĐKH tới nuôi trồng thủy sản tại Nghệ An Kết quả nghiên cứu sẽ giúp tìm hiểu các nhân tố có tác động tích cực, nhân tố có tác động tiêu cực tới nuôi trồng thủy sản với cường độ tác động mạnh yếu ra sao, đồng thời mô hình cũng là cơ sở tính toán thiệt hại do BĐKH gây ra theo các kịch bản BĐKH khác nhau

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Xây dựng được các biến số và mối tương quan giữa các tác động của thiên tai (bão, hạn, mặn) đến nuôi trồng thủy sản của các hộ nông dân tại Nghệ An

- Nghiên cứu lựa chọn mô hình kinh tế phù hợp để lượng hóa tác động của các yếu tố

do thiên tai (bão, hạn, mặn) đến nuôi trồng thủy sản của các hộ nông dân tại Nghệ An

có xét đến yếu tố biến đổi khí hậu

- Tính toán các thiệt hại về doanh thu hoạt động nuôi trồng thủy sản của các hộ nông dân theo các kịch bản biến đổi khí hậu khác nhau ở Nghệ An

- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm giảm thiểu tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu tới doanh thu nuôi trồng thủy sản của các hộ nông dân tại Nghệ An

Trang 13

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu tới doanh thu nuôi trồng thủy sản của hộ nông dân tại Nghệ An

Biến đổi khí hậu: Có xét đến biến đổi khí hậu (khí tượng, nhiệt độ, mưa, nước biển dâng, yếu tố cực đoan) ứng với các kịch bản biến đổi khí hậu do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố Theo kịch bản BĐKH của Bộ Tài nguyên & Môi trường thì chỉ đưa ra kịch bản

là trung bình (RCP 4.5) và cao (RCP 8.5), không có kịch bản thấp (RCP 2.6) Đề tài tập trung vào hai yếu tố đặc trưng cơ bản nhất của biến đổi khí hậu là nhiệt độ và lượng mưa

Đối tượng con nuôi thủy sản: Tôm

Số mẫu khảo sát: 151 hộ nuôi tôm

3.2.2 Phạm vi về không gian

Triển khai nghiên cứu tại các xã thuộc huyện Thanh Chương, Yên Thành, Nghĩa Đàn, Thành phố Vinh, Quỳnh Lưu Đây là một trong những huyện chịu ảnh hưởng nặng nề của các thiên tai về hạn hán, xâm ngập mặn, bão tại Nghệ An

3.2.3 Phạm vi về thời gian

Sử dụng số liệu thứ cấp thu thập từ năm 2008 đến nay, đồng thời dữ liệu sơ cấp được thu thập trong năm 2020 thông qua khảo sát hộ nông dân tỉnh Nghệ An

Trang 14

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp nghiên cứu định lượng chủ yếu như sau:

- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Tổng hợp tổng quan nghiên cứu của các nghiên

cứu đã thực hiện có liên quan từ đó phân tích, đánh giá và tìm ra khoảng trống nghiên cứu của Luận văn

- Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu: Luận văn thu thập dữ liệu và thực hiện xử lý

dữ liệu trên phần mềm Stata

- Phương pháp nghiên cứu định lượng: Luận văn sử dụng mô hình Ricardo dạng dữ liệu

chéo để lượng hoá tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu tới doanh thu nuôi trồng thủy sản đối với hộ nông dân tại Nghệ An

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

5.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ đóng góp vào cơ sở lý luận về nghiên cứu tác động kinh tế của thiên tai, biến đổi khí hậu đến doanh thu nuôi trồng thủy sản đối với hộ nông dân trong điều kiện của tỉnh Nghệ An

Việc đánh giá, lượng hóa các tác động kinh tế của thiên tai (bão, hạn, mặn) và các yếu

tố biến đổi khí hậu đến doanh thu nuôi trồng thủy sản đối với hộ nông dân sẽ là cơ sở

để đề xuất các chính sách hợp lý góp phần mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường trong việc phòng chống, ứng phó và giảm nhẹ các tác động của thiên tai, biến đổi gây ra

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể tham khảo áp dụng phục vụ công tác quản lý nhằm phòng chống, ứng phó và giảm thiểu tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu cho tỉnh Nghệ An chịu ảnh hưởng của thiên tai và biến đổi khí hậu đối với hộ nông dân

Trang 15

6 Kết quả dự kiến đạt được

- Hệ thống hóa được cơ sở lý thuyết về thiên tai và biến đổi khí hậu, xây dựng được các biến số và mối tương quan giữa các tác động của thiên tai (bão, hạn, mặn) và biến đổi khí hậu đến nuôi trồng thủy sản của các hộ nông dân tại Nghệ An

- Đánh giá được tác động của các yếu tố do thiên tai (bão, hạn, mặn) và biến đổi khí hậu đến doanh thu nuôi trồng thủy sản của các hộ nông dân tại Nghệ An

- Tính toán các thiệt hại về doanh thu lĩnh vực doanh thu nuôi trồng thủy sản của các hộ nông dân theo các kịch bản biến đổi khí hậu khác nhau ở Nghệ An

- Đề xuất một số giải pháp kiến nghị chủ yếu nhằm giảm thiểu tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu tới doanh thu nuôi trồng thủy sản của các hộ nông dân tại Nghệ An

7 Nội dung của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn được cấu trúc với 3 chương nội dung chính sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận tác động của thiên tai và BĐKH tới nuôi trồng thủy sản

Chương 2: Ứng dụng mô hình kinh tế để lượng hóa tác động của thiên tai và BĐKH tới doanh thu nuôi trồng thủy sản của hộ nông dân tại tỉnh Nghệ An có xét đến BĐKH

Chương 3: Dự báo và giải pháp giảm thiểu tác động của thiên tai đến nuôi trồng thủy sản của hộ nông dân trên địa bàn tỉnh tỉnh Nghệ An có xét đến BĐKH

Trang 16

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MÔ HÌNH VÀ ỨNG DỤNG MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG ĐỂ ĐO LƯỜNG TÁC ĐỘNG CỦA THIÊN TAI VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TỚI NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

1.1 Một số vấn đề cơ bản về thiên tai và tác động của thiên tai tới nuôi trồng thủy sản

1.1.1 Khái niệm, phân loại và đặc điểm của thiên tai

1.1.1.1 Khái niệm

Thiên tai là hiệu ứng của một tai biến tự nhiên như lũ lụt, bão, phun trào núi lửa, động đất hay sạt lở đất có thể ảnh hưởng tới môi trường và dẫn tới những thiệt hại về tài chính, môi trường và/hay con người Thiệt hại do thảm hoạ tự nhiên phụ thuộc vào khả năng chống đỡ và phục hồi của con người với thảm hoạ Sự hiểu biết này được tập trung trong công thức: “Thảm hoạ xảy ra khi rủi ro xuất hiện cùng sự dễ bị tổn thương” Một rủi ro thiên nhiên vì thế không thể dẫn tới thảm hoạ tự nhiên tại các khu vực không dễ bị tổn thương, ví dụ những trận động đất lớn tại các khu vực không có người ở [3]

Theo luật Phòng chống thiên tai số 33, Quốc hội 13 (2013) thì “Thiên tai” được định nghĩa là hiện tượng tự nhiên bất thường có thể gây thiệt hại về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và các hoạt động kinh tế - xã hội, bao gồm: Bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa

đá, sương muối, động đất, sóng thần và các loại thiên tai khác Thiên tai đang có xu hướng cực đoan hơn bởi tác động của biến đổi khí hậu

Thiên tai còn được hiểu là sự gián đoạn các hoạt động kinh tế, xã hội gây tổn thất về người, tài sản, môi trường và điều kiện sống do các hiểm họa tự nhiên gây ra Trong thực tế việc phân biệt khái niệm về hiểm họa (thường đề cập đến một hiện tượng vật lý)

và khái niệm về thiên tai là rất quan trọng Một hiểm họa khi xảy ra không nhất thiết sẽ dẫn tới một thiên tai Tuy nhiên, nếu hiểm họa gây nên những ảnh hưởng nghiêm trọng tới cộng đồng và có phạm vi ảnh hưởng rộng, dẫn tới các thiệt hại lớn và gây gián đoạn cuộc sống bình thường của cộng đồng thì lúc đó thiên tai sẽ xảy ra [4]

Trang 17

Theo báo cáo đặc biệt của Việt Nam về quản lý rủi ro thiên tai và các hiện tượng cực đoan nhằm thúc đẩy thích ứng với biến đổi khí hậu (SREX Việt Nam) thiên tai được hiểu là các hiểm họa tự nhiên tương tác với các điều kiện dễ bị tổn thương của xã hội làm thay đổi nghiêm trọng trong chức năng bình thường của một cộng đồng hay một xã hội, dẫn đến các ảnh hưởng bất lợi rộng khắp đối với con người, vật chất, kinh tế hay môi trường, đòi hỏi phải ứng phó khẩn cấp để đáp ứng các nhu cầu cấp bách của con người và có thể phải cần đến sự hỗ trợ từ bên ngoài để phục hồi [5]

Thiên tai còn được hiểu theo một khái niệm khác như sau: “Các hiểm họa tự nhiên tương tác với các điều kiện dễ bị tổn thương của xã hội làm thay đổi nghiêm trọng chức năng bình thường của một cộng đồng hay một xã hội, dẫn đến các ảnh hưởng bất lợi rộng khắp đối với con người, vật chất, kinh tế hay môi trường, đòi hỏi phải ứng phó khẩn cấp

để đáp ứng các nhu cầu cấp bách của con người và có thể phải cần đến sự hỗ trợ từ bên ngoài để phục hồi” [6]

1.1.1.2 Phân loại và đặc điểm thiên tai

Thiên tai được phân loại bao gồm: Bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần và các loại thiên tai khác Trong phạm vi đề tài này tập trung đánh giá ba hiện tượng thiên tai quan trọng tác động trực tiếp tới Nghệ An: Bão, hạn, xâm nhập mặn

* Bão

Bão là một dạng thiên tai rất thường xuyên ở Việt Nam, ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới đối với nước ta diễn ra từ tháng 3 đến tháng 12, bão ảnh hưởng tập trung từ tháng 6 đến tháng 11 và nhiều nhất trong hai tháng (tháng 9 và tháng l0) Trong vòng hơn 50 năm (1956-2019) đã có hơn 500 cơn bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến Việt Nam, trong đó 31% đổ bộ vào Bắc Bộ, 36% đổ bộ vào Bắc và Trung Trung Bộ, 33% đổ bộ vào Nam Trung Bộ và Nam Bộ Khi bão đổ bộ vào đất liền, gió mạnh sẽ gây thiệt hại đi kèm theo lũ và sạt lở đất (chưa kể tới mưa lớn và nước dâng do bão) Hiện tượng giảm áp suất không khí trong bão có thể tạo nên hiện tượng nước biển dâng cục

bộ, mà hệ quả của nó là gây ngập lụt nghiêm trọng vùng ven biển

Trang 18

Mùa bão của mỗi khu vực khác nhau (gồm những tháng liên tục có số bão và áp thấp nhiệt đới trung bình tháng đạt từ 8% số bão trung bình năm của cả khu vực) Giai đoạn

từ tháng 8 đến tháng 12 số bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng trực tiếp đến khu vực từ Quảng Ninh - Thanh Hóa chỉ bằng 50 - 60%, nhưng đối với các khu vực từ Nghệ An - Nam Bộ từ 80 - 100% tổng số bão và áp thấp nhiệt đới cả năm [7]

Quỹ đạo của bão và áp thấp nhiệt đới trên biển Đông phức tạp và không theo quy luật thông thường, không có hướng di chuyển rõ rệt Theo thông báo của Việt Nam cho Công ước khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH, những năm gần đây quỹ đạo của bão có xu hướng dịch chuyển về phía Nam, nhưng đa số không thể dự báo, xác định chính xác đường đi của bão

Do tác động của biến đổi khí hậu, dự báo trong tương lai gần số lượng cơn bão có cường

độ mạnh sẽ gia tăng và khó dự báo sớm Chính vì thế cần có các giải pháp sớm, phù hợp nhằm phòng tránh và hạn chế thiệt hại do bão gây ra

* Hạn

Hạn là hiện tượng được tạo thành bởi sự thiếu hụt nghiêm trọng lượng mưa trong thời gian kéo dài, làm giảm hàm lượng ẩm trong không khí và hàm lượng nước trong đất, làm suy kiệt dòng chảy sông suối, hạ thấp mực nước ao hồ, mực nước trong các tầng chứa nước dưới đất Hạn xảy ra dẫn đến tình trạng thiếu nước, gây ảnh hưởng xấu đến

sự sinh trưởng của cây trồng, làm môi trường suy thoái gây đói nghèo dịch bệnh làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và các hoạt động sản xuất của người dân đặc biệt là sản xuất nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp và chăn nuôi, nếu xắp xếp theo thứ tự gây thiệt hại về tài sản và sinh mạng trên toàn cầu thì hạn hán đứng thứ 4 sau lũ lụt, động đất và bão [8]

Trong những năm gần đây, hạn hán liên tiếp xảy ra ở nhiều vùng trong cả nước và ngày càng nghiêm trọng Đây là một thách thức lớn đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Hạn hán là hậu quả trực tiếp của biến đổi khí hậu nhưng cũng còn một nguyên nhân quan trọng khác là hoạt động của con người tác động đến thiên nhiên, tàn phá rừng,

mở rộng canh tác tràn lan, xây dựng hồ đập không có quy hoạch hợp lý đã dẫn đến suy

Trang 19

giảm nguồn nước trong khi nhu cầu sử dụng nước cho sản xuất và sinh hoạt, phát triển kinh tế không ngừng tăng lên

* Xâm nhập mặn

Xâm nhập mặn là hiện tượng nước mặn với nồng độ mặn bằng 4‰ xâm nhập sâu vào nội đồng khi xảy ra triều cường, nước biển dâng hoặc cạn kiệt nguồn nước ngọt Xâm nhập mặn - yếu tố quan trọng trong quản lý chất lượng nước vùng cửa sông và ven biển

là một quá trình phức tạp liên quan đến thủy động lực học và vận chuyển chất trong sông Trong thực tiễn, sự tương tác giữa nước ngọt và nước biển diễn ra dưới sự tác động của lưu lượng dòng chảy trong sông, thủy triều, gió; các nhân tố này ảnh hưởng đến khả năng xáo trộn pha loãng của nước sông với nước biển Rõ ràng ba yếu tố kể trên

và yếu tố địa hình của từng khu vực cửa sông dao dộng theo từng địa điểm khác nhau,

do đó xâm nhập mặn tại các lưu vực sông cũng mang nhiều tính chất đặc trưng khác nhau Bên cạnh đó, tác động của biến đổi khí hậu đã làm thay đổi chế độ dòng chảy trong sông, nước biển dâng dẫn đến diễn biến của xâm nhập mặn ngày càng gay gắt và tác hại ngày càng lớn Ngoài ra, hoạt động của con người nhờ xây dựng hồ chứa, dập dâng, kênh dẫn, khai thác cát, kè bờ biển và cửa sông cũng tác động đáng kể đến diễn biến xâm nhập mặn [9]

1.1.2 Tác động của một số loại hình thiên tai cơ bản đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản

Thiên tai đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực và phát triển hoạt động nuôi trồng thủy sản, biểu hiện thông qua: giảm sản lượng, năng suất, chất lượng thủy sản, diện tích nuôi trồng thủy sản giảm hoặc biến mất cùng với đó là tăng nguy cơ xuất hiện các loại dịch bệnh Thiên tai cũng làm thay đổi quy luật của các con sông gây nên hạn hán, cũng như làm thay đổi điều kiện sinh sống của các loại sinh vật, làm mất đi hoặc thay đổi các mắt xích trong chuỗi thức ăn dẫn đến tình trạng biến mất của một số loài sinh vật và ngược lại xuất hiện nguy cơ gia tăng các loại dịch bệnh [10]

Tác động của Bão: Gió mạnh trong bão và mưa có thể làm hư hỏng hệ thống ao hồ, lồng

bè trong nuôi trồng thủy sản, làm trôi các loại thủy hải sản nuôi của các hộ dân; mưa, bão cũng là yếu tố làm mất cân bằng nồng độ mặn trong nước, không đảm bảo điều kiện

Trang 20

để các loại con giống có thể sống khỏe mạnh, cho năng suất cao nhất Đây là những điều kiện làm ảnh hưởng đến hoạt động nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là với hộ dân, những vùng, khu vực không đủ điều kiện để đầu tư cơ sở hạ tầng thủy sản đảm bảo để chống lại các hiện tượng thiên tai

Tác động của hạn: Hạn hán có thể làm giảm năng suất, sản lượng, doanh thu của hoạt động nuôi trồng thủy hải sản; hạn hán có thể ảnh hưởng đến các vật nuôi, gia súc, gia cầm do thiếu nước cho chăn nuôi (bị chết hoặc giảm năng suất) Hạn hán làm ảnh hưởng đến thu nhập của người dân và có tác động lớn đến nền kinh tế của nơi xảy ra thiên tai Ngoài ra, một thiệt hại gián tiếp là khi hạn hán xảy ra làm cho lưu lượng nước trong sông, nước ngầm bị suy kiệt dẫn đến hiện tượng xâm nhập mặn, nhiễm mặn ở khu vực cửa sông, ven biển

Tác động của xâm nhập mặn: Xâm nhập mặn vừa là kết quả của những hiện tượng thiên tai khác và đồng thời là nguyên nhân góp phần cùng các thiên tai khác ảnh hưởng không nhỏ đến toàn bộ đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân trong khu vực Xâm nhập mặn cũng làm sức đề kháng của con nuôi thủy sản (tôm, cá, ) bị giảm, tạo điều kiện cho dịch bệnh phát sinh và gây hại trên diện rộng

1.2 Một số vấn đề cơ bản về BĐKH và tác động của BĐKH tới hoạt động nuôi trồng thủy sản

1.2.1 Khái niệm BĐKH

Có nhiều quan niệm về BĐKH được đưa ra, nhìn chung BĐKH được hiểu như sau:

BĐKH trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo Theo nghiên cứu mới nhất của các nhà khoa học trên thế giới, BĐKH đã xảy ra trên phạm vi toàn cầu, gây tác động ngày càng mạnh mẽ đến mọi quốc gia và sự sống trên trái đất BĐKH làm cho thiên tai, thảm hoạ, đặc biệt là bão, lũ lụt, hạn hán, động đất, sóng thần ngày càng gia tăng về tần suất [11]

BĐKH là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn BĐKH có thể do các quá trình tự

Trang 21

nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thường xuyên của con người, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển [1]

Trong những năm gần đây, theo chính sách môi trường, BĐKH thường nhắc đến sự thay đổi thời tiết Sự biến đổi này có thể là thay đổi thời tiết quanh một mức trung bình Hoặc

sự biến đổi này có thể là sự thay đổi thời tiết bình quân Các hiện tượng này gọi chung

là sự nóng lên toàn cầu

Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, BĐKH đó là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng, nguyên nhân chủ yếu do các loại khí nhà kính được phát thải từ hoạt động của con người Quan điểm của IIED cho rằng, biến đổi khí hậu là sự thay đổi hình thái thời tiết và nhiệt độ trong một khoảng thời gian ngắn, trung, hoặc dài hạn mà đã xảy ra hoặc dự báo sẽ xảy ra phần lớn do hiệu ứng khí nhà kính được sản sinh ra từ hoạt động của con người Hay biến đổi khí hậu là sự biến đổi các giá trị trung bình nhiều năm của các yếu tố khí tượng, như nhiệt độ, lượng mưa độ ẩm, lượng nước bốc hơi của khí quyển trên trái đất [12]

Để cung cấp một cách đầy đủ nhất về khái niệm BĐKH, Công ước khung của Liên Hợp Quốc đưa ra khái niệm: BĐKH là do hoạt động của con người gây ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và do sự biến động tự nhiên của khí hậu quan sát được trong thời kỳ có thể so sánh được Biểu hiện của BĐKH

đó là sự thay đổi về nhiệt độ, sói mòn, xâm nhập mặn và các hiện tượng thời tiết cực đoan Nguyên nhân của BĐKH do hai yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan Nguyên nhân khách quan là do sự biến đổi của tự nhiên như: Sự biến đổi các hoạt động của mặt trời, sự thay đổi quỹ đạo trái đất, sự thay đổi vị trí và quy mô các châu lục, sự biến đổi các dòng hải lưu, sự lưu chuyển trong nội bộ hệ thống khí quyển Nguyên nhân thứ hai

là nguyên nhân do con người xuất phát từ sự thay đổi mục đích sử dụng đất và nguồn nước, và sự gia tăng lượng phát thải khí CO2 và khí nhà kính từ các hoạt động của con người Theo báo cáo của (IPCC, 2012b) có bằng chứng cho thấy rằng hoạt động của con người đã có ảnh hưởng làm thay đổi một số cực đoan khí hậu như làm tăng nồng độ khí nhà kính trong khí quyển Có nhiều khả năng là những ảnh hưởng do con người gây nên dẫn đến sự tăng lên của nhiệt độ tối thấp và tối cao ngày ở quy mô toàn cầu Ở mức độ

Trang 22

khẳng định trung bình có thể thấy rằng các hoạt động của con người cũng đã góp phần tăng lượng mưa cực đoan ở quy mô toàn cầu

1.2.2 Tác động của BĐKH đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản

Ở Việt Nam, tác động của BĐKH cũng đã được nhận thấy qua nhiều dấu hiệu, bằng chứng Trước hết, những diễn biến bất thường của thời tiết, khí hậu trong nhiều năm gần đây có thể được cho là có liên quan đến sự biến đổi của các hệ thống hoàn lưu khí quyển, đại dương quy mô lớn, cũng như sự biến đổi trong hoạt động của gió mùa châu Á Nhìn chung, BĐKH đã làm gia tăng những hiện tượng cực đoan, dẫn đến sự gia tăng các thiên tai có nguồn gốc khí tượng, tác động xấu đến nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội

và môi trường [13]

Tác động của BĐKH đối với hoạt động của nuôi trồng thủy sản được xem xét bởi 2 yếu

tố là nhiệt độ và lượng mưa, cụ thể như sau:

Nhiệt độ tăng lên đối với nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, làm có thể thay đổi quy luật của các mùa vụ nuôi trồng thủy sản trong năm, có thể trong năm có 3 vụ, hai vụ hoặc thậm chí là một vụ Điều này đưa đến yêu cầu phải tăng cường công nghệ vào hoạt động nuôi trồng thủy sản Bên cạnh đó, nhiệt độ tăng và tính biến động của nhiệt độ lớn hơn,

kể cả các nhiệt độ cực đại và cực tiểu, cùng với biến động của các yếu tố thời tiết khác

và thiên tai làm tăng khả năng phát triển dịch bệnh trong quá trình nuôi trồng thủy sản (tôm, cá…) Diện tích nuôi trồng thủy hải sản bị thu hẹp, nồng độ mặn trong nước thay đổi sẽ khiến cho nhiều vùng ven biển, khu vực đồng bằng bị nhiễm mặn, thành phần của nước thay đổi khiến cho điều kiện sống của các loại thủy hải sản không đảm bảo về chất lượng nguồn nước dẫn đến diện tích nuôi trồng thủy sản bị thu hẹp

Nhiệt độ tăng do BĐKH cũng dẫn đến thiếu hụt nguồn nước sử dụng cho nuôi trồng thủy sản; nhiệt độ tăng lên khiến cho lượng nước bốc hơi cũng tăng cao dẫn đến lượng nước trong các ao hồ, bè đập nuôi trồng hải sản bị co hẹp, thậm chí người dân phải bỏ mùa vụ trong năm [7]

Lượng mưa giảm có thể dẫn đến tình trạng thiếu nước, hạn hán tác động đến cơ cấu mùa

vụ và năng suất nuôi trồng thủy sản Lượng mưa tăng làm gia tăng tình trạng ngập lụt

và khiến mùa vụ nuôi trồng bị thay đổi: Khoảng giữa tháng 6 đến tháng 9 và tháng 12

Trang 23

đến tháng 4 là thời vụ chính cho nông nghiệp, nhưng những năm gần đây những cơn lũ

có chiều hướng thay đổi, đã ảnh hưởng tới mùa vụ [7] Những cơn mưa lớn, kéo dài làm cho các yếu tố thủy, lý, hóa môi tường ao nuôi thay đổi theo chiều hướng xấu, dễ dẫn đến dịch bệnh, từ đó gây ảnh hưởng đến hiệu quả nuôi thủy sản [14]

1.3 Các kịch bản BĐKH

Theo kịch bản BĐKH của Bộ TN & MT công bố năm 2016 thì chỉ đưa ra kịch bản

là trung bình (RCP 4.5) và cao (RCP 8.5), không có kịch bản thấp (RCP 2.6)

* Kịch bản nồng độ khí nhà kính trung bình (RCP4.5)

- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm tăng 1,9÷2,40C ở phía Bắc và 1,7÷1,90C ở phía Nam Vào đầu thế kỷ, nhiệt độ trung bình năm trên toàn quốc có mức tăng phổ biến từ 0,6÷0,80C Vào giữa thế kỷ, mức tăng từ 1,3÷1,70C Trong đó, khu vực Bắc Bộ (Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ) có mức tăng từ 1,6÷1,70C; khu vực Bắc Trung Bộ

từ 1,5÷1,60C; khu vực phía Nam (Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ) từ 1,3÷1,40C Đến cuối thế kỷ, ở phía Bắc nhiệt độ tăng chủ yếu từ 1,9÷2,40C và ở phía Nam từ 1,7÷1,90C

+ Nhiệt độ mùa đông (tháng XII - II): Theo kịch bản RCP4.5, vào đầu thế kỷ, nhiệt độ trung bình mùa đông trên toàn quốc có mức tăng phổ biến từ 0,6÷0,80C Vào giữa thế

kỷ, mức tăng phổ biến từ 1,2÷1,60C Trong đó, Bắc Bộ có mức tăng cao nhất (1,5÷1,60C), sau đó là Nam Bộ và Tây Nguyên; mức tăng thấp nhất là Trung Bộ (1,2÷1,40C) Đến cuối thế kỷ, mức tăng phổ biến từ 1,5÷2,20C, tăng cao nhất ở Bắc Bộ

từ 1,7÷2,30C; trong đó Nam Trung Bộ và Nam Bộ có mức tăng thấp nhất

+ Nhiệt độ mùa hè (tháng VI - VIII): Theo kịch bản RCP4.5, vào đầu thế kỷ, nhiệt độ trung bình mùa hè trên toàn quốc có mức tăng phổ biến từ 0,6÷0,80C Vào giữa thế kỷ,

Trang 24

mức tăng phổ biến từ 1,6÷2,00C ở phía Bắc; từ 1,3÷1,70C ở phía Nam Đến cuối thế kỷ, mức tăng phổ biến trên toàn quốc là từ 1,8÷2,80C, trong đó phía Bắc vẫn có xu thế tăng cao hơn phía Nam

+ Nhiệt độ mùa thu (tháng IX - XI): Theo kịch bản RCP4.5, vào đầu thế kỷ, nhiệt độ trung bình mùa thu trên toàn quốc có mức tăng phổ biến từ 0,6÷0,70C Vào giữa thế kỷ, mức tăng phổ biến từ 1,3÷1,90C, tăng cao nhất ở Bắc Bộ (1,6÷1,90C); tiếp đến là Bắc Trung Bộ (1,3÷1,70C); Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và Nam Bộ có mức tăng thấp hơn,

từ 1,3÷1,50C Đến cuối thế kỷ, mức tăng phổ biến từ 1,7÷2,50C, trong đó, ở phía Bắc (từ Nghệ An trở ra) có mức tăng trên 20C và ở phía Nam (từ Hà Tĩnh trở vào) có mức tăng dưới 20C [12]

- Lượng mưa: Theo kịch bản RCP4.5, vào đầu thế kỷ, lượng mưa năm có xu thế tăng ở

hầu hết cả nước, phổ biến từ 5÷10% Vào giữa thế kỷ, mức tăng phổ biến từ 5÷15% Một số tỉnh ven biển Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ có thể tăng trên 20% Đến cuối thế kỷ, mức biến đổi lượng mưa năm có phân bố tương tự như giữa thế kỷ, tuy nhiên vùng có mức tăng trên 20% mở rộng hơn

+ Lượng mưa mùa đông: Theo kịch bản RCP4.5, vào đầu thế kỷ, lượng mưa mùa đông

có xu thế tăng ở hầu hết cả nước, phổ biến từ 5÷12% Vào giữa thế kỷ, xu thế giảm ở Tây Bắc, phần lớn Việt Bắc, mức giảm nhiều nhất là 10% Các khu vực khác tăng phổ biến từ 5÷20%, nhiều nhất là Nam Bộ, nam Tây Nguyên, phía tây Trung Bộ Đến cuối thế kỷ, xu thế giảm ở phần lớn Đông Bắc, một phần Đồng bằng Bắc Bộ và một phần sát biên giới phía bắc thuộc Tây Bắc và Đông Bắc với mức giảm nhiều nhất đến 15% Hầu hết các tỉnh từ Quảng Bình trở vào có mức tăng phổ biến từ 20÷25%

+ Lượng mưa mùa xuân: Theo kịch bản RCP4.5, vào đầu thế kỷ, lượng mưa mùa xuân

có xu thế giảm nhẹ ở phía Bắc, tăng từ 5÷10% ở phía Nam Vào giữa thế kỷ, xu thế tăng

ở các tỉnh phía Bắc (từ Quảng Trị trở ra) và giảm ở nhiều tỉnh phía Nam (từ Thừa Thiên

- Huế trở vào) Mức tăng phổ biến từ 5÷10% Một phần Tây Bắc và một phần Đông Bắc

có mức tăng nhiều nhất, trên 15% Lượng mưa có xu thế giảm ở hầu hết các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ và Nam Bộ (từ Thừa Thiên - Huế đến Cà Mau) với mức giảm dưới

Trang 25

10% Đến cuối thế kỷ, lượng mưa có xu thế tăng từ 3÷10% trên cả nước, một số nơi thuộc Đông Bắc, Việt Bắc tăng nhiều hơn

+ Lượng mưa mùa hè: Theo kịch bản RCP4.5, vào đầu thế kỷ, lượng mưa mùa hè có xu thế tăng ở hầu hết cả nước, phổ biến từ 3÷12% Vào giữa thế kỷ, xu thế tăng phổ biến

từ 5÷15% trên phần lớn lãnh thổ, trừ Nam Trung Bộ, đông Tây Nguyên và một phần phía tây Nam Bộ có xu thế giảm từ 3÷15% Tăng nhiều nhất ở Đông Bắc và Tây Bắc; ít nhất ở Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ Đến cuối thế kỷ, sự biến đổi có xu thế tương tự như giữa thế kỷ, tuy nhiên khu vực lượng mưa giảm mở rộng hơn về phía Bắc Mức tăng ở Đông Bắc, Tây Bắc nhiều nhất cả nước, phổ biến từ 15÷25% Tây Nguyên

và phía tây Nam Bộ có mức tăng ít nhất cả nước, dưới 5%

+ Lượng mưa mùa thu: Theo kịch bản RCP4.5, vào đầu thế kỷ, lượng mưa mùa thu có

xu thế tăng, phổ biến từ 10÷25% Vào giữa thế kỷ, xu thế tăng ở hầu hết các vùng với mức phổ biến từ 15÷35% Phần lớn Đông Bắc, từ Thanh Hóa đến Nghệ An và từ Thừa Thiên - Huế đến Bình Định tăng nhiều nhất (30% đến trên 40%) Đến cuối thế kỷ, biến đổi lượng mưa mùa thu có xu thế tương tự như giữa thế kỷ nhưng mức độ nhiều hơn: tăng nhiều nhất ở Đồng bằng Bắc Bộ và Đông Bắc (30÷50%), tăng ít nhất ở nam Tây Nguyên và phía bắc Tây Bắc (dưới 10%) [12]

* Kịch bản nồng độ khí nhà kính cao (RCP8.5)

- Nhiệt độ: Nhiệt độ tăng 3,3÷4,00C ở phía Bắc và 3,0÷3,50C ở phía Nam Nhiệt độ cực trị có xu thế tăng rõ rệt Vào đầu thế kỷ, nhiệt độ trung bình năm trên toàn quốc có mức tăng phổ biến từ 0,8÷1,10C Vào giữa thế kỷ, mức tăng phổ biến từ 1,8÷2,30C Trong

đó, khu vực phía Bắc tăng phổ biến từ 2,0÷2,30C và ở phía Nam từ 1,8÷1,90C Đến cuối thế kỷ, nhiệt độ ở phía Bắc tăng từ 3,3÷4,00C và ở phía Nam từ 3,0÷3,50C

+ Nhiệt độ mùa đông (tháng XII - II): Theo kịch bản RCP8.5, vào đầu thế kỷ, nhiệt độ trung bình mùa đông trên toàn quốc có mức tăng phổ biến từ 0,8÷1,20C Vào giữa thế

kỷ, mức tăng phổ biến từ 1,8÷2,20C; Trung Bộ có mức tăng thấp nhất (1,6÷1,90C) Đến cuối thế kỷ, mức tăng phổ biến từ 2,8÷3,80C, tăng thấp nhất vẫn là khu vực Trung Bộ,

từ 2,8÷3,20C

Trang 26

+ Nhiệt độ mùa xuân (tháng III - V): Theo kịch bản RCP8.5, vào đầu thế kỷ, nhiệt độ trung bình mùa xuân trên toàn quốc có mức tăng phổ biến từ 0,8÷1,10C Vào giữa thế

kỷ, mức tăng phổ biến từ 1,8÷2,20C, trong đó Tây Bắc và Đông Bắc có mức tăng cao nhất (2,0÷2,20C); tiếp đến là Đồng bằng Bắc Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ; thấp nhất là Trung Bộ có mức tăng từ 1,7÷1,90C Đến cuối thế kỷ, mức tăng phổ biến từ 3,0÷3,90C, trong đó tăng cao nhất vẫn là khu vực Tây Bắc và Đông Bắc

+ Nhiệt độ mùa hè (tháng VI - VIII): Theo kịch bản RCP8.5, vào đầu thế kỷ, nhiệt độ trung bình mùa hè trên toàn quốc có mức tăng phổ biến từ 0,8÷1,00C Vào giữa thế kỷ, mức tăng phổ biến từ 2,1÷2,50C ở các khu vực phía Bắc; từ 1,8÷2,10C ở các khu vực phía Nam Đến cuối thế kỷ, nhiệt độ tăng phổ biến từ 3,7÷4,30C ở phía Bắc và từ 3,2÷3,70C ở phía Nam [12]

+ Nhiệt độ mùa thu (tháng IX - XI): Theo kịch bản RCP8.5, vào đầu thế kỷ, nhiệt độ trung bình mùa thu trên toàn quốc có mức tăng phổ biến từ 0,8÷1,20C Vào giữa thế kỷ, mức tăng phổ biến từ 2,0÷2,50C ở Bắc Bộ và Thanh Hóa - Nghệ An, trong đó Tây Bắc

có mức tăng thấp hơn so với Đông Bắc và Đồng bằng Bắc Bộ Ở phía Nam (từ Hà Tĩnh trở vào) tăng chủ yếu từ 1,8÷20C, trong đó Nam Bộ có mức tăng thấp hơn so với Tây Nguyên và Trung Bộ Đến cuối thế kỷ, xu thế biến đổi nhiệt độ trung bình mùa thu tương

tự như giữa thế kỷ nhưng với mức tăng cao hơn, phổ biến từ 3,5÷4,30C ở phía Bắc và 3,2÷3,50C ở phía Nam

- Lượng mưa: Theo kịch bản RCP8.5, mức tăng nhiều nhất có thể trên 20% ở hầu hết

Bắc Bộ, Trung Trung Bộ, một phần Nam Bộ và Tây Nguyên Giá trị trung bình của lượng mưa 1 ngày lớn nhất có xu thế tăng trên toàn lãnh thổ Việt Nam (10÷70%) so với trung bình thời kỳ cơ sở Vào đầu thế kỷ, lượng mưa năm có xu thế tăng ở hầu hết cả nước, phổ biến từ 3÷10% Vào giữa thế kỷ, xu thế tăng tương tự như kịch bản RCP4.5 Đáng chú ý là vào cuối thế kỷ mức tăng nhiều nhất có thể trên 20% ở hầu hết diện tích Bắc Bộ, Trung Trung Bộ, một phần diện tích Nam Bộ và Tây Nguyên

+ Lượng mưa mùa đông: Theo kịch bản RCP8.5, vào đầu thế kỷ, lượng mưa mùa đông

có xu thế giảm nhẹ ở phía Bắc, Tây Nguyên, xu thế tăng ở khu vực phía Nam Vào giữa thế kỷ, xu thế giảm ở phần lớn Đông Bắc và tây Bắc Bộ, nhiều nhất đến 10% Các khu

Trang 27

vực còn lại có xu thế tăng, nhiều nhất đến 20% Đến cuối thế kỷ, xu thế giảm ở phần lớn Đông Bắc, Tây Bắc, nam Tây Nguyên và cực nam Trung Bộ Mức giảm phổ biến từ 5÷15%, giảm nhiều nhất ở cực nam Trung Bộ Những nơi khác có xu thế tăng, mức tăng phổ biến từ 10÷40%, riêng phần lớn Nam Bộ có mức tăng từ 50÷80%, cao nhất cả nước

+ Lượng mưa mùa xuân: Theo kịch bản RCP8.5, vào đầu thế kỷ, lượng mưa mùa xuân

có xu thế giảm ở hầu hết cả nước, phổ biến dưới 8% Vào giữa thế kỷ, xu thế biến đổi gần tương tự như kịch bản RCP4.5, với khác biệt đáng kể nhất là xu thế giảm mạnh hơn

ở khu vực Nam Trung Bộ Đến cuối thế kỷ, lượng mưa mùa xuân có xu thế tăng từ 3÷15% trên phần lớn cả nước, trừ một phần nhỏ ở Bắc Đông Bắc, Nam Tây Bắc, cực nam Trung Bộ và cực nam Nam Bộ có xu thế giảm

+ Lượng mưa mùa hè: Theo kịch bản RCP8.5 sự biến đổi của lượng mưa mùa hè có xu thế tương tự kịch bản RCP4.5 Vào đầu thế kỷ, xu thế tăng phổ biến từ 5÷15% Vào giữa thế kỷ, xu thế tăng trên phần lớn cả nước, chỉ giảm ở một phần nhỏ Nam Trung Bộ và Tây Nguyên (dưới 5%) Tăng nhiều nhất ở Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung Bộ, nam Tây Nguyên và phía đông Nam Bộ, phổ biến từ 15÷25%, tăng ít nhất ở Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và phía tây Nam Bộ, dưới 5% Đến cuối thế kỷ, mức giảm của lượng mưa mùa hè có thể đến 15%

+ Lượng mưa mùa thu: Theo kịch bản RCP8.5, vào đầu thế kỷ, lượng mưa mùa thu có

xu thế tăng ở hầu hết cả nước, phổ biến từ 10÷20% Vào giữa thế kỷ, xu thế tăng ở hầu hết các vùng, phổ biến từ 15÷30%, trong đó nhiều nhất ở Đông Bắc, ven biển Đồng bằng Bắc Bộ, phần lớn miền Trung Lượng mưa giảm ở một phần nhỏ thuộc nam Tây Nguyên, cực nam Trung Bộ và một số tỉnh thuộc Tây Bắc và Đông Bắc Đến cuối thế

kỷ, xu thế tăng trên toàn lãnh thổ (20÷70%), các tỉnh miền Bắc và miền Trung (30÷70%), Nam Bộ (10÷30%), ít nhất là ở một phần cực nam Trung Bộ và nam Tây Nguyên (dưới 10%)

* Nhận xét về 2 kịch bản BĐKH RCP4.5 và RCP8.5

- Về nhiệt độ, RCP 8.5 cho xu thế tăng nhiều hơn so với RCP 4.5 vì thế khi đánh giá hạn

hán sử dụng kịch bản RCP 8.5 sẽ cho kết quả bất lợi hơn vì làm gia tăng lượng bốc hơi

Trang 28

Tương tự, về lượng mưa năm thì nhìn chung RCP 4.5 cho lượng mưa năm trung bình nhiều hơn so với RCP 8.5 ở đa số khu vực cũng như thời đoạn nên RCP 8.5 sẽ bất lợi hơn ở bài toán hạn hán

- Về lượng mưa cực đoan, kịch bản RCP 8.5 cho xu thế tăng mạnh hơn, nên sẽ tác động

đến lũ và hạ tầng nhiều hơn so với RCP 4.5

1.4 Phương pháp trong đo lường tác động của thiên tai và BĐKH tới hoạt động sản xuất trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản

1.4.1 Lựa chọn mô hình đánh giá tác động của thiên tai và BĐKH tới các hoạt động sản xuất trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản

1.4.1.1 Các mô hình cân bằng riêng đánh giá tác động của thiên tai, BĐKH

Các mô hình cân bằng riêng phần trong các nghiên cứu kinh tế về tác động của thiên tai, BĐKH được chia thành hai hướng phân tích Thứ nhất là dựa trên các mô hình mô phỏng tăng trưởng cây trồng và thứ hai là sử dụng các mô hình kinh tế lượng [15]

Mô hình mô phỏng cây trồng: Một số nghiên cứu sử dụng các mô hình mô phỏng cây

trồng “crop simulation models” để đánh giá tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu tuy nhiên chỉ xem xét các thay đổi trong sản xuất một loại cây trồng nhất định (chủ yếu là ngô, lúa gạo, bông, đậu) Các mô hình phân tích mặt địa lý của cây trồng và mô phỏng hay so sánh sản xuất cây trông trong các điều kiện thời tiết khác nhau Các mô hình này tập trung vào các kết quả về sinh thái học của thiên tai, biến đổi khí hậu lên cây trồng

và đất Theo mô hình này, hành vi của người nông dân không được xem xét và cố định yếu tố về quản lý Ngoài ra, loại cây trồng và diện tích là xác định cho một số loại ngũ cốc chính và một số địa bàn hạn chế [16]

Mô hình tiếp cận hàm sản xuất: Một số nghiên cứu lại đo lường độ nhạy của sản lượng

đối với khí hậu bằng cách sử dụng các mô hình năng suất thực nghiệm áp dụng phương pháp tiếp cận hàm sản xuất Những thay đổi trong các kịch bản khí hậu có thể được mô phỏng sử dụng mô hình General Circulation Model (GCM) [17]

Ý tưởng chính của tiếp cận này là tăng trưởng của sản xuất nông nghiệp sẽ phụ thuộc vào các biến số khí hậu và đất đai Theo đó các biến số đặc trưng cho khí hậu và đất đai

là các biến ngoại sinh trong mô hình để ước lượng hàm sản xuất Theo cách tiếp cận

Trang 29

hàm sản xuất, quy mô của mẫu được xem như yếu tố thứ cấp [18] Một số sử dụng các phương pháp ước lượng hàm sản xuất để đánh giá tác động của thiên tai, BĐKH Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại sử dụng các kết quả phân tích nông học hoặc các mô hình thực nghiệm trong các mô hình lập trình toán (Kaiser & cộng sự, 1993; Finger & Schmid, 2007) Nhược điểm chính của mô hình hàm sản xuất đó là cố định vụ mùa và địa điểm cũng như bỏ qua các phương thức, chiến lược thích ứng với thiên tai, BĐKH của người nông dân [19]

Mô hình Ricardo: Để khắc phục hạn chế này, Mendelsohn et al đã đề xuất mô hình

Ricardo Phương pháp chuẩn “vàng” trong phân tích tác động của thiên tai, BĐKH đến nông nghiệp là mô hình Ricardo do Mendelsohn et al phát triển [20]

Đặc trưng cơ bản nhất của mô hình Ricardo là coi các thích ứng với thiên tai, BĐKH như một “hộp đen” Thực tế, mô hình tiến hành ước lượng mối quan hệ giữa các đầu ra của sản xuất nông nghiệp với các biến số khí hậu và các biến kiểm soát phù hợp với dạng dữ liệu chéo Khi đó, mô hình sẽ ngầm xem xét các chiến lược thích ứng với thiên tai, BĐKH của người nông dân mà không cần cụ thể hoá các chiến lược như các biến giải thích cụ thể Do vậy một yếu điểm của mô hình Ricardo dạng truyền thống có thể phát sinh nếu nghiên cứu muốn ước lượng tác động của các chiến lược thích ứng của người nông dân với BĐKH Gần đây, một số nghiên cứu đang tìm cách khắc phục các hạn chế của mô hình dạng truyền thống bằng cách sử dụng các mô hình kinh tế lượng hồi quy dựa trên các số liệu điều tra nông nghiệp Các biến số đại diện cho các chiến lược thích ứng của người nông dân với thiên tai, BĐKH được đưa vào như các biến giải thích hoặc bằng mô hình hoá thích ứng như một biến phụ thuộc [21]

Mô hình Ricardo dạng truyền thống với dữ liệu chéo và giả định giá cả thị trường là cố định được sử dụng phổ biến để ước lượng tác động của các biến khí hậu và ngoài khí hậu (ví dụ như địa lý, kinh tế xã hội) tới sản xuất nông nghiệp Các nghiên cứu sử dụng tiếp cận Ricardo để xem xét độ nhạy của nông nghiệp trước các tác động của thiên tai

và những thay đổi của khí hậu có thể kể đến các ứng dụng ở khu vực châu Âu, ở Mỹ và một số nước đang phát triển như Brazil, Ấn Độ, Bangladesh và Nam Phi Tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu theo tiếp cận Ricardo phụ thuộc rất lớn vào vị trí địa lý Nhìn chung, tiếp cận Ricardo có xu hướng chỉ ra tác động tiêu cực của thiên tai, biến đổi khí

Trang 30

hậu đối với các khu vực có vĩ độ thấp và cho thấy tác động tích cực tạo các nước ôn đới

và gần các cực [22] Đặc điểm của phương pháp tiếp cận Ricardo là tự động kết hợp sự thích ứng của người nông dân bằng cách bao gồm các điều chỉnh mà người nông dân thực hiện để điều chỉnh hoạt động của họ nhằm ứng phó với BĐKH Ví dụ như chiến lược thích ứng của nông dân là lựa chọn cây trông ở đâu, tuỳ thuộc vào ảnh hưởng của hiện tượng khí hậu ấm lên Chuyển đổi cây trồng tối ưu do đó là một yếu tố quan trọng cần xem xét khi đo lường tác động của thiên tai, BĐKH tới nông nghiệp Tiếp cận Ricardo cũng được một số nghiên cứu sử dụng bởi nó cung cấp một khuôn khổ để thực hiện các đánh giá so sánh của kịch bản có và không có kịch bản “thích ứng” để thấy các biện pháp thích ứng có thể giảm thiểu các tác động như thế nào Trong khi đó nghiên cứu của Shaikh tại Bangladesh cho thấy nông dân có thể giảm thiểu tổn thất do thiên tai gây ra bằng cách tối ưu hoá quy mô trang trại và thị trường cho thuê đất có thể là một công cụ hiệu quả trong việc giảm thiểu rủi ro thiên tai và các chính sách thiên tai [23]

Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp tiếp cận Ricardo cho dạng dữ liệu chéo theo từng năm nghiên cứu đơn lẻ có thể cho kết quả không ổn định theo thời gian Các nghiên cứu gần đây bắt đầu sử dụng dạng dữ liệu mảng thay cho dữ liệu chéo để ước lượng mô hình Ricardo Các nghiên cứu ban đầu cho rằng giá cả hàng hoá được giữ cố định theo thời gian Trong các nghiên cứu gần đây, giả định giá cả cố định đã được nới lỏng [24] Ví

dụ như nghiên cứu của Deschenes & Greenstone, thay vì phân tích dữ liệu chéo, cho rằng nên tập trung vào sự thay đổi của nhiệt độ theo thời tiết để đánh giá chính xác tác động của thiên tai, BĐKH bởi khí hậu là một biến thời tiết dài hạn Những người nông dân có thể thực hiện nhiều phương thức để thích ứng với những thay đổi của thời tiết

Ví dụ như họ có thể loại cây trồng trong các vụ mùa và loại vật nuôi nào có thể tăng lên

Do vậy, các phân tích các thời kỳ khác nhau của khí hậu có thể cung cấp thước đo chính xác hơn cho BĐKH Hai hướng tiếp cận mô hình dữ liệu mảng có thể áp dụng là mô hình hai giai đoạn của Cheng Hsiao và mô hình dữ liệu “gộp chung” Sử dụng dữ liệu của Mỹ, nghiên cứu đã chỉ ra kết quả mô hình với khả năng dự đoán cao hơn Cụ thể các phân tích chỉ ra rằng người nông dân ở vùng Tây nước Mỹ sẽ bị ảnh hưởng trong khi người dân ở miền bắc nước Mỹ có thể hưởng lợi từ biến đổi khí hậu Sự thiệt hại có thể lớn hơn ở các nước nhiệt đới như Nam Mỹ hoặc châu Mỹ la tinh Nhìn chung, các nghiên cứu nước ngoài sử dụng mô hình Ricardo để đánh giá tác động của thiên tai,

Trang 31

BĐKH tới nông nghiệp được ứng dụng khá nhiều Tuy nhiên, đa phần các nghiên cứu

sử dụng dạng dữ liệu chéo và ít phân tích mô hình Ricardo trong mối tương quan về không gian theo vùng địa lý mà chủ yếu xem xét riêng lẻ từng địa bàn cụ thể

Các mô hình khác: Để khắc phục nhược điểm của mô hình Ricardo, một số nghiên cứu

đề xuất sử dụng lập trình toán để xem xét các chiến lược thích ứng của người nông dân Gần đây nhất là các ứng dụng mô hình lập trình toán sử dụng PMP (Positive mathematical Programming) Phương pháp này khắc phục được các hạn chế truyền thống của các phương pháp lập trình tuyến tính ví dụ như thiếu thông tin về quan hệ đầu vào và sản lượng dựa trên hàm chi phí Mô hình này đặc biệt phù hợp với phân tích tác động của hạn hán với nông nghiệp Tuy nhiên, do mô hình này cần những nguồn dữ liệu

có thể khó thu thập như yêu cầu về nguồn nước của cây trồng, sự sẵn có tài nguyên nước

và cách ước lượng cũng khá phức tạp nên khả năng ứng dụng của phương pháp này cũng

Vì lý do đó, một số nghiên cứu đã phát triển các mô hình kinh tế tổng quát (GEM) nhằm đưa ra bức tranh tổng quan hơn về tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu trong mối tương quan đồng thời của rất nhiều ngành, nhiều lĩnh vực

Mô hình cân bằng tổng quát (General Equilibrium Model - GEM): Mô hình cân bằng

tổng quát xem xét sự cân bằng trên toàn bộ các thị trường, coi thị trường là một hệ thống phức tạp với nhiều cấu phần khác nhau (ví dụ như ngành, các nhân tố sản xuất, thể chế, các điều kiện kinh tế quốc tế) Ưu điểm của GEM là khá rõ ràng, đo lường tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu trên các ngành kinh tế khác nhau nhưng đây cũng chính là nhược điểm của GEM GEM bị hạn chế ở chỗ mô hình tập hợp các ngành khác nhau lại trong một thực thể mà không xem xét đến đặc tính kinh tế và không gian của từng ngành

Ví dụ như nếu xét ngành nông nghiệp, GEM sẽ không xem xét các đặc tính địa phương của sản xuất nông nghiệp mà coi nông nghiệp là một ngành tổng thể ở cấp độ quốc gia

Trang 32

Ngoài ra, GEM cũng không xem xét đến khía cạnh thích ứng với thiên tai, biến đổi khí hậu của nông dân và mô hình này khá phức tạp trong quá trình ước lượng cũng như thu thập số liệu

Mô hình đánh giá tích hợp (Intergrated Assessment Models - IAM): Cuối cùng, các

nghiên cứu đã phát triển một mô hình đánh giá tích hợp (IAM) trong đó kết hợp việc sử dụng GCM với các dữ liệu về trồng trọt, sử dụng đất và các mô hình kinh tế IAM mô

tả nguyên nhân và tác động của biến đổi khí hậu vào một khuôn khổ duy nhất để đưa đến thông tin hữu ích cho các nhà hoạch định [25] Nhược điểm của mô hình này là năng suất được coi là biến ngoại sinh ngay cả khi có mối tương quan khá chặt chẽ với khí hậu

và khả năng ước lượng mô hình là rất phức tạp do cần thích hợp nhiều quan hệ tương tác vào trong một mô hình và nguồn dữ liệu khó thu thập

Mỗi mô hình đều có các ưu điểm và nhược điểm khác nhau, và phản ánh các mức độ phức tạp khác nhau tuỳ theo đặc thù và bối cảnh áp dụng nhất định Trong đó các mô hình cân bằng riêng mà điển hình là mô hình Ricardo thường được lựa chọn để đánh giá tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu trong một thị trường cụ thể trong khi mô hình cân bằng tổng quát thường áp dụng cho các nghiên cứu trên toàn bộ thị trường Các mô hình đều chủ yếu đo lường tác động biến đổi khí hậu tới nông nghiệp dưới dạng dữ liệu chéo trong một năm nhất định

1.4.1.3 Cơ sở thực tiễn đánh giá tác động của thiên tai, BĐKH trong nước và nước ngoài

Bảng 1.1 Một số nghiên cứu đánh giá tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu trong

nước và nước ngoài

Tên đề tài/bài

báo/nghiên cứu

Lĩnh vực

sản xuất nông nghiệp

của hộ gia đình nông

thôn Tây Nguyên, tạp

Sản xuất nông nghiệp

Phương pháp thống kê mô tả, với 3.704 mẫu thuộc 12 tỉnh thành phố của CIEM

Biến chịu tác động:

Biến thiên tai, BĐKH: Lũ lụt, hạn hán, bão, thiên tai khác

32,76% hộ cho thấy thiên tai hạn hán, lũ lụt ảnh hưởng đến người dân Đa số các nông hộ ở Tây Nguyên thường

Trang 33

Tên đề tài/bài

báo/nghiên cứu

Lĩnh vực

(2015)“Tác động của

BĐKH đến hoạt động

sản xuất nông nghiệp

và di dân của người

nông dân

Sản xuất nông nghiệp

Phương pháp định tính tổng hợp thống kê và phân tích

Các biến chịu tác động: diện tích canh tác, năng suất, chất lượng nông sản

Các biến về thiên tai, BĐKH là nhiệt độ tăng, xâm nhập mặn, giá rét kéo dài

Nhiệt độ tăng 10% thì nhu cầu tưới nước cho cây trồng tăng 10%

Huỳnh Công Lực,

Nguyễn Thị Hòa

(2017),“Nghiên cứu dự

báo tác động của biến

đổi khí hậu đến năng

suất lúa vùng đồng

bằng song Cửu Long”

Trổng trọt (lúa)

Hồi quy OLS

Dữ liệu chuỗi thời gian 1995-

2015 Hồi quy theo từng tỉnh

và từng vụ mùa theo kịch bản BĐKH

Biến chịu tác động: Năng suất lúa

Biến số thiên tai BĐKH: Sự thay đổi nhiệt độ, lượng mưa của các tháng trong

vụ lúa

Nhiệt độ trong các tháng khác nhau

có tính chất tác động khác nhau tới năng suất lúa

Huỳnh Thị Lan Hương

Mô hình cây trồng và phần mềm DSSAT

hỗ trợ ra quyết định trong hệ thống trồng trọt theo các kịch bản BĐKH

Biến chịu tác động: Nhu cầu

nghiệp, diện tích trồng trọt, năng suất lúa

Biến số thiên tai BĐKH: Lượng mưa, nhiệt độ, lượng bốc hơi, nước biển dâng, dòng chảy

Xu hướng BĐKH theo hướng tăng nhiệt độ các tháng mùa đông và thay đổi quy luật phân

bổ nhiêt độ, mưa làm suy giảm năng suất lúa

Trang 34

Tên đề tài/bài

báo/nghiên cứu

Lĩnh vực

Phương pháp

sử dụng Biến số đầu vào Kết quả

Nguyen Thi Lan

Ricardo dạng

dữ liệu chéo dựa vào dữ liệu điều tra mức sống hộ gia đình VHLSS

2012

Biến chịu tác động: Doanh thu

vụ mùa ròng Biến độc lập:

nhiệt độ mùa khô, mùa mưa, diện tích, biến tương tác, lượng mưa, diện tích mưa, tuổi, trình

độ, nước tưới, quy mô hộ, tín dụng,

Giảm lượng mưa

và nhiệt độ ảnh hưởng đến doanh thu ròng Các biện pháp thích ứng cần tập trung vào thay đổi mùa vụ, phát triển loại cây trồng mới, đào tạo người nông dân phát triển hỗ trợ tài chính

Ứng phó với biến đổi

Ricardo với số quan sát điều tra là 342 hộ gia đình (chọn mẫu

19 quận)

Biến phụ thuộc:

Thu nhập hộ nông dân ròng, lựa chọn vụ mùa của nông dân Biến độc lập:

Nhiệt độ, lượng mưa, đặc điểm của đất, các biến kiểm soát

Mùa khô: Tăng lượng mưa đến 130mm/tháng sẽ làm tăng doanh thu

và vào mùa khô là 70mm/tháng Tăng nhiệt độ 1 độ thì

25$/hecta cây trồng

Lê Thị Phương Mai và

cộng sự (2016) “Đánh

giá tác động của biến

đổi khí hậu và giải

pháp ứng phó trong mô

hình tôm sú Quảng

canh cải tiến ở Đồng

Bằng Sông Cửu Long”

Thủy sản (nuôi trồng)

Phân tích xử lý

số liệu điều tra dựa trên hỗ trợ của phần mềm SPSS

Số lượng mẫu khảo sát 94 hộ tại 3 tỉnh

Biến chịu tác động: Năng suất nuôi tôm, lợi nhuận

Biến số thiên tai BĐKH: giải pháp ứng phó ứng dụng của người nông dân,

sự thay đổi lượng mưa, nhiệt độ, độ mặn, thủy triều

92-98% hộ nhận thức sự thay đổi

và tác động của thời tiết Giải pháp ứng phó KHKT chiếm 70-90% so với các giải pháp khác Năng suất

và lợi nhuận giữa các nhóm không

có ý nghĩa

Trang 35

Tên đề tài/bài

báo/nghiên cứu

Lĩnh vực

Phương pháp

sử dụng Biến số đầu vào Kết quả

Vũ Văn Doanh LATS

2018 “ Đánh giá tác

động của biến đổi khí

hậu đến nuôi trồng

thủy sản ven biển

Huyện Nghĩa Hưng,

tỉnh Nam Định và đề

xuất mô hình nuôi

thích ứng với biến đổi

khí hậu”

Thủy sản (nuôi trồng)

Phương pháp phân tích chi phí lợi ích

Chi phí, lợi ích của nuôi tôm Các biến thiên tai, BĐKH: nắng nóng, mưa lớn, rét đậm, rét hại

Mưa lớn gây ảnh hưởng nhất tới nuôi trồng tôm Nên kết hợp mô hình nuôi tôm kết hợp cá mú sẽ mang lại lợi ích hơn

Cao Lê Quyên LATS

2015 “Nghiên cứu tác

động của biến đổi khí

hậu đến nuôi tôm nước

lợ ven biển tỉnh Thanh

Hóa”

Thủy sản (nuôi trồng)

Phương pháp đánh giá tác động định tích

Hồi quy OLS

đa biến Mô hình tương quan Pearson

Biến chịu tác động: sản lượng tôm nuôi

Biến độc lập: Số ngày có nhiệt độ trên 350C, biến chính sách, nhiệt

độ trung bình năm, diện tích nuôi tôm năm, số lượng lao động, thời gian

Tác động mạnh nhất là thay đổi cường độ và tần xuất bão, lũ Nhiệt

độ tăng tác động mạnh nhất vào sức khỏe tôm nuôi, tiếp đến là diện tích nuôi và môi trường ao nuôi CSHT bị tác động mạnh do bão lũ Nguyễn Ngọc Thanh

Định tính kết hợp định lượng dựa vào mô hình tính tổn thương V (E, S,AC)

Biến chịu tác động: Sản lượng khai thác

Biến BĐKH: Số ngày trên 350C và

số ngày dưới

100C, số ngày mưa trên 50mm,

số cơn bão Các biến kiểm soát: lao động, chính sách,

Các cơn bão ảnh hưởng trực tiếp, thao đổi nhiệt độ lượng mưa đều có ảnh hưởng đến nuôi trồng thủy sản Đánh bắt hải sản

Trang 36

Tên đề tài/bài

báo/nghiên cứu

Lĩnh vực

Phương pháp

sử dụng Biến số đầu vào Kết quả

Luận cứ khoa học cho

việc lựa chọn và hoàn

thiện các mô hình thích

ứng với biến đổi khí

hậu dựa vào cộng đồng

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá mức độ thích ứng với BĐKH của các

mô hình trồng trọt, chăn nuôi thủy sản

Các loại thiên tai:

Bão, áp thấp nhiệt đới Lũ, lụt, Hạn hán và xâm nhập mặn

Đề xuất nhân rộng các mô hình như

mô hình Nhà chòi,

Mô hình nuôi cá lồng, mô hình tưới tiết kiệm nước, mô hình nuôi cá vùng

lũ, mô hình chuồng lợn thích ứng, mô hình trổng rau thích ứng

Tài liệu hướng dẫn

đánh giá tác đong của

BĐKH và các định các

giải pháp thích ứng –

Viện KH khí tượng

Thủy Văn và Môi

trường do UNDP tài

trợ

Trồng trọt Chăn nuôi Thủy sản

Phương pháp điều tra phỏng vấn, thống kê, lượng hóa chi phí, phân tích

độ nhạy, phân tích ngưỡng, phương pháp

ma trận đánh giá

Các biến đưa vào khác nhau tùy theo lĩnh vực địa bàn như gia tăng

số ngày mưa trong tháng, số ngày nắng nóng trên 350C, nước biển dâng, bão, gia tăng cường

độ tần suất lũ lụt, gia tăng lượng mưa

Tài liệu hướng dẫn các bước thực hiện

Lê Xuân Quang 2014

Phương pháp

dự kiến tác động, phương pháp tương tự thực nghiệm, phương pháp lượng giá tổn thất của ICG

Các dạng tác động: thay đổi tiến độ thời gian thi công, hư hỏng giảm tuổi thọ, tăng mức độ phá hoại công trình, chi phí xây dựng, sửa chữa

Các biến thiên tai, BĐKH: Nước biển dâng, bão,

Thiệt hại do tác động BĐKH từ

1979 đến 2010 ước khoảng 3250

tỷ, đến 2020 ước khoảng 7296 tỷ và đến 2030 ước khoảng 8755 tỷ đồng Trong đó Thủy lợi bị thiệt hại nặng nhất

Trang 37

Tên đề tài/bài

báo/nghiên cứu

Lĩnh vực

“Tác động của BĐKH

đến nông nghiệp, nông

thôn Việt Nam, thực

trạng và giải pháp ứng

phó”, Tạp chí khoa học

xã hội Việt Nam

Trồng trọt, thủy sản, hạ tầng nông thôn

Định tính dựa theo các kịch bản nước biển dâng và số liệu thiệt hại thực tế (ĐB Sông Cửu Long và Tp HCM)

Biến chịu tác động: An ninh lương thực quốc gia, thiệt hại sản lượng lúa, nuôi trồng thủy sản,

hạ tầng nông thôn

Nước biển dâng 1m có 38,29% diện tích đất tự nhiên và 32,16% diện tích đất nông nghiệp bị ngập trong nước và nguy cơ mất 7,6 triệu tấn lúa/năm Nguyen Tuan Anh

sở hạ tầng nông nghiệp

Điều tra và phân tích định tính

Biến chịu tác động: vụ lúa, chăn nuôi, cơ sở

hạ tầng nông nghiệp, sinh kế nông dân

Biến thiên tai, BĐKH: bão, lụt, hạn

Thiên tai chủ yếu tạo ra tác động tiêu cực tới các hoạt động sản xuất nông nghiệp dẫn tới nhiều diện tích canh tác bị khô hạn và thiệt hại hoàn toàn, phá huỷ kênh tưới, công trình thuỷ lợi

Nguồn: Đỗ Văn Quang, Đề tài cấp bộ 2021

Các nghiên cứu, đề tài đánh giá tác động của thiên tai, BĐKH tới nông nghiệp khá nhiều, liên quan đến nhiều khía cạnh, lĩnh vực khác nhau Một số nghiên cứu cũng đi sâu đánh giá tác động tới các lĩnh vực trồng trọt, thủy sản và cơ sở hạ tầng nhưng còn đơn lẻ, rời rạc mà chưa có hệ thống Cụ thể trong lĩnh vực trồng trọt, lúa là cây trồng được lựa chọn nhiều nhất trong các nghiên cứu [26] với biến số chính sử dụng để đánh giá tác động đó

là năng suất lúa, nhu cầu nước, diện tích canh tác; Trong lĩnh vực chăn nuôi, các nghiên cứu có phần khiêm tốn hơn, các nghiên cứu về lĩnh vực thủy sản tập trung cả khía cạnh nuôi trồng và khai thác thủy sản với đối tượng nuôi trồng thủy sản thường được sử dụng

là tôm và các biến số chính sử dụng để đánh giá tác động như năng suất nuôi; sản lượng [27] Trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, các nghiên cứu thường tập trung vào đối tượng cơ

Trang 38

sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn [28] với các biến số chịu tác động chính như mức độ phá hoại công trình, chi phí sửa chữa, xây dựng, thay đổi tiến độ thời gian thi công , ngoài ra, một số các nghiên cứu sử dụng thêm đối tượng chịu tác động là thu nhập của

hộ nông dân [29]; sinh kế của người dân

Các biến số biểu thị cho thiên tai và biến đổi khí hậu được sử dụng cũng có sự khác nhau nhất định tuỳ theo đối tượng chịu tác động Các biến số biển thị thiên tai thường tập trung vào ba loại loại hình thiên tai chính có tác động nặng nề nhất đó là lụt (quy mô lụt, tần suất), bão (tần suất bão, cấp độ bão), hạn hán (số ngày nắng nóng, số ngày nắng nóng kéo dài ) Các biến số chính yếu đưa vào để biểu thị cho biến đổi khí hậu thường là thay đổi nhiệt độ, thay đổi lượng mưa, xâm nhập mặn, lượng bốc hơi (trong lĩnh vực trồng trọt); biến gia tăng số ngày mưa, số ngày nắng trên 350C, số ngày dưới 100C trong tháng, gia tăng tần suất lũ lụt, lượng mưa, độ mặn (trong lĩnh vực Thuỷ sản); chi phí sửa chữa, xây dựng, mức độ hư hỏng, thay đổi thời gian thi công (cơ sở hạ tầng)

Các phương pháp sử dụng trong các nghiên cứu như đã đề cập ở trên cũng rất đa dạng

và phong phú trong đó tập trung đánh giá dựa trên các tiếp cận kỹ thuật các mô hình mô phỏng, tiếp cận khía cạnh địa lý, sinh học, thủy văn, quan trắc, sức khỏe cộng đồng như một số nghiên cứu sử dụng các mô hình mô phỏng, mô hình kỹ thuật tác động của biến đổi khí hậu [31, 32, 33]

Các nghiên cứu theo tiếp cận kinh tế thường dừng lại ở các tiếp cận định tính, phân tích thống kê hay phân tích chi phí - lợi ích Phần nhiều nghiên cứu xem xét tính định tính tập trung vào các vùng ven biển, vùng rừng ngập mặn, vùng đồng bằng [26, 28] Gần đây, một số nghiên cứu và đề tài đã bước đầu sử dụng các mô hình kinh tế để đánh giá tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu [29, 34]

Các nghiên cứu, đề tài nhìn chung đã chỉ ra những tác động của thiên tai và BĐKH đối với nông nghiệp là rất đáng kể và thường cho thấy các tác động mang tính tiêu cực bao gồm: (i) Vấn đề an ninh lương thực không được đảm bảo do suy giảm năng suất cây trồng [30]; (ii) thay đổi nguồn nước do nhiều vùng bị cạn kiệt nhưng nhiều vùng lại bị ngập lụt, nước biển dâng; (iii) Ảnh hưởng đến hệ sinh thái như mất cân bằng, suy giảm

đa dạng sinh học [35 36]; (iv) hiện tượng thời tiết cực đoan khó dự báo tăng lên Thay

Trang 39

đổi về điều kiện thời tiết khí hậu sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến cơ cấu mùa vụ, khả năng tích lũy quang hợp và vì thế sẽ làm thay đổi năng suất cây trồng theo hướng bất lợi và làm gia tăng chi phí đầu tư [36, 37] Hơn thế nữa, nước biển dâng, mưa bất thường

sẽ gây nên tình trạng ngập lụt cục bộ và xâm lấn mặn là nguyên nhân có thể mất tới 2 triệu ha trong tổng số 4 triệu ha đất trồng lúa, an ninh lương thực sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng [38] Một số nghiên cứu tác động về thiên tai, biến đổi khí hậu tại khu vực Miền Trung cũng đưa ra một số kết quả đáng ghi nhận Như nghiên cứu của Malin về sự tổn thương của người dân tại hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế dưới tác động của trận lụt 1999 [39] Nghiên cứu đã chỉ ra một số người dân nghèo tại các vùng lụt mất gần như toàn bộ mùa màng và đất đai

Một số kết quả nghiên cứu định lượng về kinh tế cũng chỉ ra những nhận định rất đáng ghi nhận Như nghiên cứu đánh giá tác động của thiên tai, BĐKH tới thu nhập ròng của người nông dân [29] với bộ dữ liệu điều tra VHLSS năm 2012 tại khu vực Tây Bắc và kết quả đã cho thấy có mối quan hệ không tuyến tính giữa doanh thu ròng và khí hậu Hay nghiên cứu của Dung, 2011 thì đánh giá tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu tới thu nhập của gia đình người nông dân sử dụng bộ dữ liệu VHLSS năm 2008 và chỉ ra

cả nhiệt độ và lượng mưa đều tác động tới thu nhập ròng của gia đình người nông dân Trong đó các gia đình thuộc nhóm 1 (sống ở vùng đất thấp và trông các loại cây trồng như gạo và rau) chịu tác động tiêu cực trong khi các gia đình thuộc nhóm 2 (sống ở khu vực đồng bằng lớn như sông Hồng và sông Mekong) lại hưởng lợi từ tác động của biến đổi khí hậu Hoặc như nghiên cứu do UNDP tài trợ về kinh tế thiên tai, biến đổi khí hậu (ECCA) triển khai năm 2012 trên phạm vi cả nước sử dụng tiếp cận Ricardo với mẫu điều tra 18 hộ gia đình ở mỗi quận/huyện và chọn 2-3 quận/huyện ở mỗi vùng Đối tượng chủ yếu của nghiên cứu này là các loại cây trồng như gạo, rau, trái cây, ngũ cốc Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng trong những mùa mưa, dưới tác động của BĐKH, doanh thu thuần sẽ giảm, ngược lại với mùa khô Ảnh hưởng của nhiệt độ vào mùa mưa nếu ở mức vượt quá 260C, phản ánh sự BĐKH, nhưng sẽ không làm tăng đáng kể doanh thu thuần Và khi nhiệt độ tăng thêm 10C vào mùa mưa sẽ làm giảm khoảng 62$ trên một hecta Trái lại nếu nhiệt độ tăng thêm 10C vào mùa khô sẽ làm cho doanh thu thuần tăng thêm khoảng 87$/hecta Đặc điểm chính của các nghiên cứu này là sử dụng bộ dữ liệu về điều tra mức sống hằng năm Việt Nam (VHLSS) của Tổng cục thống kê với biến

Trang 40

phụ thuộc chủ yếu sử dụng là thu nhập ròng của người nông dân Các nghiên cứu này đều sử dụng mô hình Ricardo nhưng dưới dạng dữ liệu chéo tức là nghiên cứu tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu trong một năm nhất định nên kết quả nghiên cứu chưa phản ánh chính xác và đầy đủ xu hướng tác động của thiên tai, BĐKH tới nông nghiệp

Nhìn chung, vấn đề nghiên cứu các hiện tượng khí hậu và thiên tai nói chung ngoài một

số các dự án do UNDP tài trợ ở mức định hướng, hướng dẫn đánh giá thì các nghiên cứu chưa được đề cập một cách hệ thống và ít đánh giá tác động của biến đổi khí hậu dựa trên tiếp cận các mô hình kinh tế lượng một cách đầy đủ và toàn diện Các nghiên cứu ứng dụng kinh tế lượng để đánh giá hiệu quả của các chính sách, giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu hầu như không có

Về phương pháp đo lường hiệu quả, ở Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp hầu như chưa có nghiên cứu nào thực hiện đánh giá và đo lường tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu một cách tổng thể và toàn diện tới hiệu quả ngành nông nghiệp sử dụng phương pháp SFA Hiện tại mới có một số nghiên cứu bước đầu đo lường đánh giá hiệu quả sử dụng đất, hiệu quả vụ mùa, hiệu quả sản xuất nông nghiệp, sử dụng nước tưới [40, 41]

Ví dụ kết quả nghiên cứu của Hong, N.B & Yabe, M [41] cho thấy hiệu quả sử dụng nước tưới trung bình của các hộ trồng chè quy mô nhỏ là 42,19%, cho thấy vẫn còn sự lãng phí nước đáng kể Giới tính, nhận thức tình trạng thiếu nước, các biện pháp bảo tồn nước và đất, thu nhập bình quân của nông dân và cơ sở hạ tầng có tác động đánh kể tới hiệu quả sử dụng nước tưới

Như đã đề cập ở trên, mỗi mô hình đều có các ưu điểm và nhược điểm khác nhau và phản ánh các mức độ phức tạp khác nhau tuỳ theo đặc thù và bối cảnh áp dụng nhất định Trong đó các mô hình cân bằng riêng mà điển hình là mô hình Ricardo thường được lựa chọn để đánh giá tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu trong một thị trường

cụ thể trong khi mô hình cân bằng tổng quát thường áp dụng cho các nghiên cứu trên toàn bộ thị trường Các nghiên cứu nước ngoài sử dụng mô hình Ricardo để đánh giá tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu tới nông nghiệp được ứng dụng khá nhiều

Ngày đăng: 07/06/2023, 16:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w