Tăng cường hiệu quả trong công tác quản lý và khai thác thông tin cơ bản của công trình hồ chứa nước Lanh Ra, từ đó hỗ trợ vận hành tưới, duy tu, sửa chữa công trình phù hợp, hỗ trợ số l
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
NGUYỄN LÊ QUỐC HUY
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC
QUẢN LÝ VẬN HÀNH HỒ CHỨA NƯỚC LANH RA, HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NĂM 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
NGUYỄN LÊ QUỐC HUY
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN
LÝ VẬN HÀNH HỒ CHỨA NƯỚC LANH RA, HUYỆN NINH PHƯỚC,
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Họ và tên: Nguyễn Lê Quốc Huy
Lớp: 25QLXD11-NT
Chuyên ngành đào tạo: Quản lý xây dựng
Đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao năng lực quản lý vận hành hồ chứa nước Lanh Ra, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận”
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Tác giả luận văn
Trang 4ii
LỜI CÁM ƠN
Qua thời gian thực hiện nghiên cứu, có một số khó khăn trong việc thu thập, biên tập số liệu và tìm hiểu thực tế, nhưng với sự giúp đỡ tận tình của thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè cùng với sự nỗ lực của bản thân, luận văn đã được hoàn thành
Bản thân xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy PGS.TS Nguyễn Hữu Huế đã hướng dẫn chỉ bảo tận tình trong suốt quá trình thực hiện luận văn Và tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo và các thầy (cô) trường Đại học Thủy lợi, Ban lãnh đạo và phòng Đào tạo, Viện Đào tạo và Khoa học ứng dụng Miền Trung, gia đình, bạn bè đã động viên, khích lệ và tạo điều kiện để tác giả hoàn thành khóa học và luận văn này Luận văn là nghiên cứu mà bản thân đã dành nhiều tâm huyết và công sức Xin cảm ơn
và tặng thành quả này cho những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp thân yêu
Trang 5iii
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU x
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT xii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VẬN HÀNH HỒ CHỨA THỦY LỢI 4 1.1 Tổng quan về đầu tư xây dựng, sửa chữa, nâng cấp đập, hồ chứa thủy lợi ở Việt Nam 4
1.2 Một số khái niệm liên quan công tác quản lý vận hành an toàn đập, hồ chứa nước 5 1.3 Công tác quản lý vận hành an toàn đập đối với hồ chứa thủy lợi ở Việt Nam 7
1.3.1 Những mặt đạt được 7
1.3.2 Tồn tại, hạn chế 10
1.3.3 Nguyên nhân 14
1.4 Các sự cố thường gặp ảnh hưởng an toàn đập, hồ chứa nước 14
1.4.1 Nước tràn qua đỉnh đập 14
1.4.2 Thấm trong thân đập 16
1.4.3 Thấm qua mang công trình 16
1.4.4 Thấm qua nền đập 17
1.4.5 Thấm qua bờ vai đập 17
1.4.6 Sạt, sập mái thượng lưu đập 17
1.4.7 Sạt, sập mái hạ lưu đập 17
1.4.8 Nứt ngang đập 18
1.4.9 Nứt dọc đập 18
1.4.10 Các sự cố thường gặp ảnh hưởng an toàn đập đã xảy ra trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận 18
1.5 Một số sự cố đập, hồ chứa 19
1.5.1 Đập Gleno (Italia) 19
1.5.2 Đập Bản Kiều (Trung Quốc) 21
1.5.3 Đập Đầm Hà Động (Quảng Ninh, Việt Nam) 22
1.5.4 Đập Lanh Ra (Ninh Thuận, Việt Nam) 24
Trang 6iv
1.6 Ý nghĩa và tầm quan trọng trong công tác quản lý vận hành hồ chứa 25 Kết luận Chương 1 26 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VẬN HÀNH ĐẬP,
HỒ CHỨA THỦY LỢI 27 2.1 Các quy định pháp luật về công tác quản lý vận hành đập, hồ chứa Thủy lợi 27 2.2 Năng lực quản lý vận hành đập, hồ chứa nước 32 2.2.1 Năng lực chung của doanh nghiệp quản lý vận hành công trình thủy lợi 32 2.2.2 Năng lực của bộ phận chuyên môn nghiệp vụ doanh nghiệp quản lý vận hành công trình thủy lợi 32 2.2.3 Năng lực tối thiểu của tổ chức quản lý vận hành đập, hồ chứa nước 32 2.2.4 Năng lực thực thi các nội dung pháp luật an toàn đập, hồ chứa nước 34 2.2.5 Năng lực thực hiện các quy định quản lý vận hành đập, hồ chứa nước 35 2.2.6 Năng lực trang thiết bị, nhiên liệu phục vụ công tác quản lý vận hành đập,
hồ chứa nước 40 2.2.7 Năng lực tài chính trong công tác bảo trì, sữa chữa đập, hồ chứa nước 40 2.2.8 Kinh phí, chế độ cho người lao động trong công tác quản lý vận hành đập,
hồ chứa nước 40 2.3 Tổng quan đập, hồ chứa nước trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận do Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Ninh Thuận quản lý 40 2.4 Đánh giá năng lực quản lý vận hành đập, hồ chứa nước tại Công ty 44 2.4.1 Năng lực chung của doanh nghiệp quản lý vận hành công trình thủy lợi 44 2.4.2 Năng lực của bộ phận chuyên môn nghiệp vụ doanh nghiệp quản lý vận hành công trình thủy lợi 44 2.4.3 Năng lực tổ chức, đơn vị quản lý vận hành đập, hồ chứa nước 44 2.4.4 Năng lực thực thi các nội dung pháp luật an toàn đập, hồ chứa nước 44 2.4.5 Năng lực thực hiện các quy định quản lý vận hành đập, hồ chứa nước 61 2.4.6 Năng lực trang thiết bị, nhiên liệu phục vụ công tác quản lý vận hành đập,
hồ chứa nước 61 2.4.7 Năng lực tài chính trong công tác bảo trì, sữa chữa đập, hồ chứa nước 63 2.4.8 Kinh phí, chế độ cho người lao động trong công tác quản lý vận hành đập,
hồ chứa nước 64 Kết luận Chương 2 65
Trang 7v
CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG HỆ THỐNG CƠ SỞ DỮ LIỆU NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ VẬN HÀNH HỒ CHỨA NƯỚC LANH RA, HUYỆN NINH
PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN 66
3.1 Giới thiệu về Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Ninh Thuận 66 3.1.1 Mô hình hoạt động và cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty 66
3.1.2 Mục tiêu hoạt động 69
3.1.3 Ngành, nghề kinh doanh 69
3.2 Đánh giá và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực quản lý vận hành đập, hồ chứa nước tại Công ty 69
3.3 Trách nhiệm xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về đập, hồ chứa nước 71
3.4 Công trình hồ chứa nước Lanh Ra 71
3.4.1 Giới thiệu chung 71
3.4.2 Mục tiêu, nhiệm vụ công trình 72
3.4.3 Các hạng mục và thông số kỹ thuật chính công trình 72
3.4.4 Phân loại đập, hồ chứa nước Lanh Ra 74
3.5 Năng lực quản lý vận hành trực tiếp hồ chứa nước Lanh Ra hiện nay 75
3.5.1 Nhân sự 75
3.5.2 Thực thi các nội dung pháp luật an toàn đập, hồ chứa nước 75
3.5.3 Thực hiện các quy định quản lý vận hành đập, hồ chứa nước 77
3.5.4 Trang thiết bị, nhiên liệu, điều kiện phục vụ công tác quản lý vận hành đập, hồ chứa nước 77
3.5.5 Đánh giá chung về năng lực quản lý vận hành đập, hồ chứa nước Lanh Ra 82 3.6 Hiện trạng lưu trữ hồ sơ, dữ liệu phục vụ công tác quản lý đập, hồ chứa nước Lanh Ra 82
3.6.1 Lưu trữ hồ sơ, dữ liệu tại nhà quản lý đập, hồ chứa nước Lanh Ra 82
3.6.2 Lưu trữ hồ sơ, dữ liệu tại phòng Quản lý nước và công trình thuộc Công ty 84 3.6.3 Các tồn tại trong công tác lưu trữ hồ sơ, dữ liệu phục vụ công tác quản lý vận hành hồ Lanh Ra tại Công ty 87 3.7 Phân cấp quản lý trong công tác quản lý vận hành đập, hồ chứa nước Lanh Ra
88
Trang 8vi
3.8 Đề xuất xây dựng Hệ thống cơ sở dữ liệu nâng cao năng lực quản lý vận hành
hồ chứa nước Lanh Ra, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận 89
3.8.1 Các cơ sỡ dữ liệu đập, hồ chứa nước cần xây dựng 89
3.8.2 Lựa chọn ứng dụng xây dựng Hệ thống cơ sở dữ liệu hồ chứa nước Lanh Ra 90 3.8.3 Ưu điểm nổi bật của Hệ thống cơ sở dữ liệu hồ chứa nước Lanh Ra 91
3.8.4 Cách xây dựng Hệ thống cơ sở dữ liệu đập, hồ chứa nước Lanh Ra 92
3.8.5 Cách quản lý, khai thác Hệ thống cơ sở dữ liệu đập, hồ chứa nước Lanh Ra 92 3.8.6 Nội dung chủ yếu của Hệ thống cơ sở dữ liệu đập, hồ chứa nước Lanh Ra 95 3.8.7 Kết quả xây dựng Hệ thống cơ sở dữ liệu đập, hồ chứa nước Lanh Ra 95
3.8.8 Hiệu quả nổi bật nhất của Hệ thống cơ sở dữ liệu đập, hồ Lanh Ra 120
Kết luận Chương 3 121
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 122
TÀI LIỆU THAM KHẢO 124
Trang 9vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Hiệu quả thực thi một số nội dung an toàn đập 11
Hình 1.2 Đập Đồng Đáng tỉnh Thanh Hóa và đập Phân Lân tỉnh Vĩnh Phúc bị sự cố nước tràn đỉnh đập dẫn đến vỡ đập trong trận lũ năm 2013 15
Hình 1.3 Đập Lanh Ra vỡ đập trong giai đoạn thi công năm 2011, nguyên nhân được xác định do đơn vị thi công không bảo đảm tiến độ đắp đập theo đúng cao trình thiết kế kỹ thuật, khi xuất hiện lũ tiểu mãn cuối tháng 5/2011, đập bị sạt lở và vỡ gần 10m 15
Hình 1.4 Nước thấm ra chân đập hồ Núi Một, huyện Thuận Nam, Ninh Thuận, sự cố xảy ra đầu năm 2020 (hồ Núi Một bắt đầu tích nước từ năm 2017) Nước thấm thành dòng tụ lại dưới chân đập, vùng hạ lưu sau đập luôn có hiện tượng ẩm ướt 16
Hình 1.5 Đập Gleno trước khi vỡ đập 20
Hình 1.6 Đập Gleno sau khi vỡ đập 20
Hình 1.7 Đập Bản Kiều sau khi vỡ đập 21
Hình 1.8 Đập Bản Kiều sau khi được sữa chữa, khôi phục lại 22
Hình 1.9 Đập Đầm Hà Động trước khi bị vỡ 22
Hình 1.10 Đập phụ số 2 bị tràn và vỡ 23
Hình 1.11 Đập chính bị tràn và hư hại nặng 23
Hình 1.12 Nước đổ về hạ du gây nhiều thiệt hại về sản xuất, giao thông, 24
Hình 1.13 Đập Lanh Ra đang trong giai đoạn thi công bị vỡ do mưa lớn, lũ về 24
Hình 1.14 Diện tích hoa màu sản xuất của nông dân xã Phước Vinh bị thiệt hại 25
Hình 2.2 Thi công đập chính hồ chứa nước Sông Cái (tháng 10/2020) 42
Hình 2.3 Kết quả thực hiện các nội dung an toàn đập tại Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Ninh Thuận 61
Hình 3.1 Sơ đồ bộ máy Công ty 68
Hình 3.1 Phối cảnh hồ chứa nước Lanh Ra 72
Hình 3.2 Khuôn viên nhà quản lý hồ chứa nước Lanh Ra 79
Hình 3.3 Nhà quản lý hồ chứa nước Lanh Ra 79
Hình 3.4 Đường quản lý hồ chứa nước Lanh Ra 80
Hình 3.5 Còi thông báo xả lũ hồ Lanh Ra 80
Hình 3.6 Trạm quan trắc mưa tự động tại hồ Lanh Ra 81
Hình 3.7 Trạm quan trắc mực nước tự động tại hồ 81
Hình 3.8 Sổ ghi chép số liệu quan trắc hằng ngày tại hồ 82
Hình 3.9 Biểu đồ điều phối hồ chứa nước Lanh Ra treo tại phòng làm việc 83
Hình 3.10 Bản đồ tổng thể hệ thống kênh hồ Lanh Ra treo tại phòng làm việc 83
Hình 3.11 Phân công quản lý công trình thủy lợi theo địa bàn tại phòng QLNCT 84
Hình 3.12 Sổ quan trắc tại phòng QLNCT các năm về trước, tần suất quan trắc từng bước được tăng dần qua các năm nên sổ quan trắc ngày càng dày hơn 86
Trang 10viii
Hình 3.13 Sổ quan trắc tại phòng QLNCT năm 2018, 2019; tần suất quan trắc khá dày
86
Hình 3.15 Bảng mực nước cập nhật lúc 19h ngày 16/10/2020 87
Hình 3.16 Các cấp quản lý đập, hồ chứa nước Lanh Ra 89
Hình 3.19 Các loại cơ sở dữ liệu đập, hồ chứa nước cần xây dựng 90
Hình 3.20 Dữ liệu tổng hợp 92
Hình 3.21 Khả năng chia sẻ dữ liệu thông qua địa chỉ Gmail dễ dàng và đủ bảo mật 93 Hình 3.22 Quản lý, sử dụng Hệ thống cơ sở dữ liệu đập, hồ Lanh Ra 94
Hình 3.23 Khai thác hệ thống cơ sở dữ liệu khi đi thực địa kiểm tra công trình 95
Hình 3.24 Giao diện tổng thể 96
Hình 3.25 Phạm vi khu tưới 96
Hình 3.26 Thông tin khu tưới 97
Hình 3.27 Các vùng nguy cơ cao thiếu nước trong công tác điều tiết tưới 97
Hình 3.28 Vùng có nguy cơ thiếu nước khi xảy ra hạn hán (đập Chính) 98
Hình 3.29 Cơ cấu cây trồng phân theo Lúa/Màu 98
Hình 3.30 Cơ cấu cây trồng phân theo Lúa/Màu (Đập chính) 99
Hình 3.31 Cơ cấu cây trồng phân theo Lúa/Màu (Đập phụ) 99
Hình 3.32 Các khu tưới động lực (khu tưới của 3 Trạm bơm) 100
Hình 3.33 Thông tin Hệ thống tiếp nước cho khu tưới Lanh Ra (2 Trạm bơm) 100
Hình 3.34 Phạm vi cắm mốc bảo vệ hồ chứa nước Lanh Ra 101
Hình 3.35 Tọa độ mốc chỉ giới bảo vệ hồ lòng hồ chứa nước Lanh Ra 101
Hình 3.36 Thông số kỹ thuật và ảnh hồ chứa nước Lanh Ra 102
Hình 3.37 Thông số kỹ thuật và ảnh đập Chính 102
Hình 3.38 Thông số kỹ thuật và ảnh đập phụ hồ Lanh Ra 103
Hình 3.39 Thông số kỹ thuật và ảnh tràn xả lũ Lanh Ra 103
Hình 3.40 Thông số kỹ thuật và ảnh cống lấy nước đập chính Lanh Ra 104
Hình 3.41 Thông số kỹ thuật và ảnh cống lấy nước đập phụ Lanh Ra 104
Hình 3.42 Nhà quản lý hồ Lanh Ra 105
Hình 3.43 Thông số và ảnh các kênh thuộc hệ thống hồ Lanh Ra 105
Hình 3.44 Tận dụng được lợi thế từ chức năng dẫn đường đến vị trí công trình của GoogleMaps; điều này đặc biệt hữu dụng đối với cán bộ kỹ thuật phòng quản lý nước và công trình tại Công ty vì công việc phải liên quan đến vài chục hệ thống Thủy lợi 106
Hình 3.45 Bật/tắt các lớp để tìm kiếm nhanh các đối tượng 106
Hình 3.46 Tìm kiếm đối tượng 107
Hình 3.47 Kết quả tìm kiếm đối tượng liên quan đến Trạm bơm 107
Hình 3.48 Đường quá trình lũ đến và lũ xả tháng 11/2013 108
Hình 3.49 Đường quá trình lũ đến và lũ xả tháng 12/2016 109
Hình 3.50 Đường quá trình lũ đến và lũ xả tháng 5/2017 111
Hình 3.51 Đường quá trình lũ đến và lũ xả tháng 10/2017 112
Trang 11ix
Hình 3.52 Đường quá trình lũ thiết kế hồ Lanh Ra (Q max= 747m3/s; t = 24 giờ) 115
Hình 3.53 Mực nước vận hành hồ Lanh Ra từ 31/8/2013 đến 31/8/2014 115
Hình 3.54 Mực nước vận hành hồ Lanh Ra từ 31/8/2014 đến 31/8/2015 116
Hình 3.55 Mực nước vận hành hồ Lanh Ra từ 31/8/2015 đến 31/8/2016 116
Hình 3.56 Mực nước vận hành hồ Lanh Ra từ 31/8/2016 đến 31/8/2017 117
Hình 3.57 Mực nước vận hành hồ Lanh Ra từ 31/8/2017 đến 31/8/2018 117
Hình 3.58 Mực nước vận hành hồ Lanh Ra từ 31/8/2018 đến 31/8/2019 118
Hình 3.59 Mực nước vận hành hồ Lanh Ra từ 31/8/2019 đến 31/8/2020 118
Hình 3.60 Mực nước vận hành hồ Lanh Ra từ 31/8/2020 đến 31/10/2020 119
Hình 3.61 Số liệu quan trắc khí tượng thủy văn hồ Lanh Ra theo chuỗi thời gian 120
Trang 12x
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Các sự cố thường gặp ảnh hưởng an toàn đập đã xảy ra trên địa bàn tỉnh
Ninh Thuận 19
Bảng 2.1 Chín hành vi vi phạm quy định về vận hành công trình thủy lợi và vi phạm quy định trong việc thực hiện quy trình vận hành hồ chứa thủy lợi 30
Bảng 2.2 Tổng hợp quy định pháp luật về an toàn đập (16 nội dung) 34
Bảng 2.3 Phân loại đập, hồ chứa nước 41
Bảng 2.4 Các hồ chứa dự kiến đầu tư xây dựng theo các giai đoạn 42
Bảng 2.5 Nhân sự và trình độ quản lý vận hành, khai thác tại Công ty 44
Bảng 2.6 Hiện trạng lập, điều chỉnh quy trình vận hành hồ chứa nước 45
Bảng 2.7 Mức xử phạt về việc thực hiện Quy trình vận hành hồ chứa nước theo Nghị định 104/2017/NĐ-CP (được sửa đổi bởi Nghị định 65/2019/NĐ-CP) 46
Bảng 2.8 Hiện trạng lập quy trình vận hành cửa van 47
Bảng 2.9 Hiện trạng lắp đặt thiết bị quan trắc khí tượng thủy văn chuyên dùng 50
Bảng 2.10 Hiện trạng Kiểm định an toàn đập, hồ chứa nước 52
Bảng 2.11 Mức xử phạt liên quan đến công tác thực hiện Kiểm định an toàn đập, hồ chứa nước theo Nghị định 104/2017/NĐ-CP (Sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 65/2019/NĐ-CP) 53
Bảng 2.12 Hiện trạng sửa chữa, nâng cấp đập, hồ chứa nước 54
Bảng 2.13 Hiện trạng lắp đặt hệ thống giám sát, vận hành, thiết bị thông tin, cảnh báo an toàn đập và vùng hạ du đập 54
Bảng 2.14 Hiện trạng cắm mốc phạm vi bảo vệ đập, hồ chứa 56
Bảng 2.15 Hiện trạng xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đập, hồ chứa nước 58
Bảng 2.16 Hiện trạng thực thi pháp luật an toàn đập tại Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Ninh Thuận 59
Bảng 2.17 Bảng thống kê trang thiết bị phục vụ công tác tìm kiếm cứu nạn tại Công ty 62
Bảng 2.18 Nguồn tài chính trong quản lý, khai thác công trình thủy lợi 63
Bảng 2.19 Đánh giá chung năng lực quản lý vận hành của Công ty 70
Bảng 3.1 Các thông số kỹ thuật chính của công trình 73
Bảng 3.2 Phân loại đập, hồ chứa nước Lanh Ra 75
Bảng 3.3 Hiện trạng thực hiện pháp luật an toàn đập đối với hồ chứa nước Lanh Ra 75 Bảng 3.4 Bảng vật tư, phương tiện, trang thiết bị, nhu yếu phẩm 78
Bảng 3.5 Năng lực quản lý vận hành đập, hồ Lanh Ra 82
Bảng 3.6 Các loại hồ sơ cần thiết trong quá trình quản lý vận hành đập, hồ chứa nước Lanh Ra hiện nay 84
Bảng 3.7 Quá trình xả lũ hồ Lanh Ra tháng 11/2013 108
Bảng 3.8 Quá trình xả lũ hồ Lanh Ra tháng 12/2016 109
Bảng 3.9 Quá trình xả lũ hồ Lanh Ra tháng 5/2017 111
Trang 13xi Bảng 3.10 Quá trình xả lũ hồ Lanh Ra tháng 10/2017 113
Trang 14xii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ODA Hình thức đầu tư nước ngoài, hỗ trợ phát triển chính thức
QLCT Quản lý công trình
Trang 151
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, với lượng mưa bình quân năm tương đối lớn (khoảng 1960mm), tuy nhiên, lại phân bố rất không đều giữa các vùng và giữa các mùa Vì vậy, hồ chứa đóng vai trò rất quan trọng trong việc tích trữ và phân phối nguồn nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đảm bảo an ninh nguồn nước, góp phần ổn định phát triển bền vững tài nguyên nước
Bằng nhiều nguồn vốn, đến nay, Nhà nước và nhân dân đã đầu tư xây dựng được 6.755 đập, hồ chứa thủy lợi các loại với tổng chiều dài đập khoảng 1.182 km Trong đó có 419 đập dâng có chiều cao trên 5m; có 6.336 hồ chứa thủy lợi gồm: 04 hồ quan trọng đặc biệt , 864 hồ lớn (131 hồ trên 10 triệu m3, 194 hồ có dung tích từ 3-10 triệu m3, và 544
hồ có dung tích dưới 3 triệu m3 nhưng chiều cao đập trên 15m); 1.511 hồ chứa vừa (313
hồ có dung tích từ 1-3 triệu m3, 636 hồ có dung tích từ 0,5-1 triệu m3 và 562 hồ có chiều cao đập từ 10-15m) và 3.957 hồ chứa nhỏ (1.237 hồ có dung tích từ 0,2-0,5 triệu m3, 2.720 hồ có dung tích dưới 0,2 triệu m3) Các hồ thủy lợi có tổng dung tích trữ khoảng 14,5 tỷ m3 (Bắc Bộ: 2,2 tỷ m3; Bắc Trung bộ 6,0 tỷ m3, Nam Trung bộ 2,35 tỷ m3, Tây Nguyên 1,8 tỷ m3, Đông Nam bộ và Kiên Giang, An Giang 2,15 tỷ m3), tạo nguồn nước tưới cho gần 1,1 triệu ha đất nông nghiệp (Bắc bộ 230.000 ha; Bắc Trung bộ 330.000
ha, Nam Trung bộ 195.000 ha, Tây Nguyên 185.000 ha, Đông Nam bộ và An Giang, Kiên Giang 135.000 ha), cấp khoảng 1,5 tỷ m3 nước cho sinh hoạt, công nghiệp; giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì nhịp độ phát triển của ngành nông nghiệp và của nền kinh tế
Bên cạnh mặt ưu điểm và lợi ích, hồ chứa nước luôn tiềm ẩn nguy cơ sự cố, có khi dẫn đến thảm hoạ như đã từng xảy ra ở một số nước trên thế giới, như: (i) sự cố vỡ đập thủy điện Sepien Senamnoi, tỉnh Attapeu, Nam Lào (ngày 25/07/2018), đã gây ngập cho 10 bản ở hạ lưu và làm cô lập hoàn toàn huyện Sanamxay, trong đó có 5 bản ở huyện Sanamxay bị ngập hoàn toàn, trên 1.300 hộ gia đình với 6.600 người dân bị ảnh hưởng;
Trang 162 Mục đích của Đề tài
Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao năng lực quản lý vận hành hồ chứa nước Lanh
Ra, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: năng lực quản lý vận hành hồ chứa thủy lợi
Phạm vi nghiên cứu: xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu nhằm nâng cao năng lực quản lý vận hành hồ chứa nước Lanh Ra, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận
4 Cách tiếp và phương pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận
Tiếp cận lý thuyết, tìm hiểu các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan
Tiếp cận thực tế, tìm hiểu các nghiên cứu liên quan đến công tác nâng cao năng lực quản
lý, vận hành hồ chứa nước thủy lợi ở Việt Nam nói chung, và tỉnh Ninh Thuận nói riêng
Phương pháp nghiên cứu
Tổng hợp, kế thừa các kết quả nghiên cứu từ trước đến nay về công tác quản lý, vận hành hồ chứa thủy lợi
Nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu, văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước về công tác quản lý, vận hành hồ chứa thủy lợi
Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa, thống kê, phân tích và chỉnh biên số liệu Ứng dụng các phần mềm chuyên dụng
Trang 173
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Tăng cường hiệu quả công tác quản lý vận hành hồ chứa nhằm đảm bảo an toàn đập, hồ chứa nước và phát huy hiệu quả của hồ chứa
Tăng cường hiệu quả trong công tác quản lý và khai thác thông tin cơ bản của công trình
hồ chứa nước Lanh Ra, từ đó hỗ trợ vận hành tưới, duy tu, sửa chữa công trình phù hợp,
hỗ trợ số liệu để lập các báo cáo liên quan
6 Kết quả đạt được
Nêu được tổng quan các vấn đề liên quan đến công tác quản lý vận hành hồ chứa; Phân tích hiện trạng, hạn chế và nguyên nhân trong công tác quản lý vận hành hồ chứa tại Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Ninh Thuận;
Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về hồ chứa nước Lanh Ra
Trang 184
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VẬN HÀNH
HỒ CHỨA THỦY LỢI
1.1 Tổng quan về đầu tư xây dựng, sửa chữa, nâng cấp đập, hồ chứa thủy lợi ở Việt Nam
Bằng nhiều nguồn vốn, đến nay, Nhà nước và nhân dân đã đầu tư xây dựng được 6.755 đập, hồ chứa thủy lợi các loại với tổng chiều dài đập khoảng 1.182 km Trong đó có 419 đập dâng có chiều cao trên 5m; có 6.336 hồ chứa thủy lợi gồm: 04 hồ quan trọng đặc biệt (Cửa Đạt, Ngàn Trươi, Tả Trạch và Dầu Tiếng) , 864 hồ lớn (131 hồ trên 10 triệu m3, 194 hồ có dung tích từ 3-10 triệu m3, và 544 hồ có dung tích dưới 3 triệu m3 nhưng chiều cao đập trên 15m); 1.511 hồ chứa vừa (313 hồ có dung tích từ 1-3 triệu m3, 636
hồ có dung tích từ 0,5-1 triệu m3 và 562 hồ có chiều cao đập từ 10-15m) và 3.957 hồ chứa nhỏ (1.237 hồ có dung tích từ 0,2-0,5 triệu m3, 2.720 hồ có dung tích dưới 0,2 triệu
m3) Các hồ thủy lợi có tổng dung tích trữ khoảng 14,5 tỷ m3 (Bắc Bộ: 2,2 tỷ m3; Bắc Trung bộ 6,0 tỷ m3, Nam Trung bộ 2,35 tỷ m3, Tây Nguyên 1,8 tỷ m3, Đông Nam bộ và Kiên Giang, An Giang 2,15 tỷ m3), tạo nguồn nước tưới cho gần 1,1 triệu ha đất nông nghiệp (Bắc bộ 230.000 ha; Bắc Trung bộ 330.000 ha, Nam Trung bộ 195.000 ha, Tây Nguyên 185.000 ha, Đông Nam bộ và An Giang, Kiên Giang 135.000 ha), cấp khoảng 1,5 tỷ m3 nước cho sinh hoạt, công nghiệp; giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì nhịp
độ phát triển của ngành nông nghiệp và của nền kinh tế
Giai đoạn từ năm 2003 đến nay, Chính phủ và các địa phương đã đầu tư trên 49.000 tỷ đồng để xây dựng mới các hồ chứa lớn, tăng khả năng tích trữ nguồn nước phục vụ dân sinh, phát triển kinh tế xã hội và sửa chữa nâng cấp, đảm bảo an toàn cho các đập, hồ chứa thủy lợi hiện có, cụ thể:
Đầu tư khoảng hơn 33.400 tỷ đồng để xây dựng mới các hồ chứa lớn với tổng dung tích tăng thêm 3,91 tỷ m3, góp phần quan trọng trong cắt giảm lũ, hạn chế ngập úng, đảm bảo an toàn cho vùng hạ du Từ 2019 đến năm 2020, sẽ tiếp tục đầu tư khoảng 17.600
tỷ đồng để hoàn thành 02 dự án dở dang giai đoạn trước (Hệ thống thủy lợi Tân Mỹ, tỉnh Ninh Thuận và hồ Bản Lải, tỉnh Lạng Sơn, kinh phí 6.966 tỷ đồng) và xây dựng mới các hồ chứa với tổng dung tích tăng thêm khoảng 970 triệu m3 Các hồ chứa lớn
Trang 195
được xây dựng đã góp phần quan trọng trong cắt giảm lũ, hạn chế ngập úng, đảm bảo
an toàn cho vùng hạ du
Đầu tư gần 16.000 tỷ đồng để sửa chữa, nâng cấp đảm bảo an toàn cho khoảng hơn 800
hồ chứa nước Trong đó, các địa phương đã đầu tư gần 10.800 tỷ đồng cho hơn 560 hồ
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đầu tư khoảng 5.200 tỷ đồng để nâng cấp 249
hồ chứa (Vốn Trái phiếu Chính phủ khoảng 1.540 tỷ đồng cho 40 hồ; vốn Ngân sách nhà nước khoảng 1.260 tỷ đồng cho 47 hồ; vốn ODA khoảng 1.450 tỷ đồng cho 71 hồ,
hỗ trợ các địa phương 950 tỷ đồng xử lý cấp bách cho 93 hồ trong các năm 2013, 2014) Trong đó, từ nguồn vốn vay ODA (Dự án WB3, WB5, WB7, ADB Tây Nguyên) đã nâng cấp sửa chữa được 71 hồ chứa theo tiêu chuẩn quốc tế (các dự án này đã tập trung sửa chữa các chứa lớn, việc tính toán lũ đã được áp dụng tiêu chuẩn của ICOLD như: Dầu Tiếng, Cấm Sơn, Yên Lập, Kẻ Gỗ, Phú Ninh, Bến Châu, Đồng Nghệ, Hòa Trung,
Đá Bàn…)
Thời gian tới, Trung ương sẽ tiếp tục hỗ trợ đầu tư, nâng cấp đảm bảo an toàn cho khoảng 541 hồ chứa nước, cụ thể: (i) hoàn thành nâng cấp 02 hồ (hồ Pa Khoang, hồ Xạ Hương) có dung tích trên 10 triệu m3 trong kế hoạch trung hạn 2016-2020 của Bộ Nông nghiệp và PTNT (167 tỷ đồng); (ii) hoàn thành xử lý cấp bách 84 hồ chứa bị ảnh hưởng
do lũ bão năm 2017 (500 tỷ đồng); (iii) nâng cấp, sửa chữa 450 hồ chứa đảm bảo an toàn công trình và nâng cấp 5 hồ lớn không đủ khả năng xả lũ trong dự án WB8
1.2 Một số khái niệm liên quan công tác quản lý vận hành an toàn đập, hồ chứa nước
Đập là công trình được xây dựng để dâng nước hoặc cùng các công trình có liên quan tạo hồ chứa nước
Hồ chứa nước là công trình được hình thành bởi đập dâng nước và các công trình có liên quan để tích trữ nước, có nhiệm vụ chính là điều tiết dòng chảy, cắt, giảm lũ, cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt, phát điện và cải thiện môi trường; bao gồm hồ chứa thủy lợi và hồ chứa thủy điện
Công trình có liên quan là công trình xả nước, công trình lấy nước, tuyến năng lượng, công trình thông thuyền và công trình cho cá đi
Trang 20cá nhân tự đầu tư xây dựng (đập, hồ chứa nước); chủ sở hữu đập, hồ chứa, thủy điện là
tổ chức, cá nhân tự đầu tư xây dựng hoặc được chuyển giao sở hữu đập, hồ chứa nước Chủ quản lý đập, hồ chứa nước thủy lợi là cơ quan chuyên môn thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thủy lợi thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân các cấp hoặc tổ chức được Nhà nước giao quyền, trách nhiệm đại diện chủ sở hữu; tổ chức thủy lợi cơ sở; tổ chức, cá nhân tự đầu tư xây dựng đập, hồ chứa nước thủy lợi
Tổ chức, cá nhân khai thác đập, hồ chứa nước là tổ chức, cá nhân được giao quản lý, khai thác đập, hồ chứa nước
Vùng hạ du đập là vùng bị ngập lụt khi hồ xả nước theo quy trình; xả lũ trong tình huống khẩn cấp hoặc vỡ đập
Tình huống khẩn cấp là trường hợp mưa, lũ vượt tần suất thiết kế; động đất vượt tiêu chuẩn thiết kế trên lưu vực hồ chứa nước hoặc tác động khác gây mất an toàn cho đập Kiểm định an toàn đập là hoạt động kiểm tra, đánh giá chất lượng hoặc nguyên nhân hư hỏng, đánh giá an toàn của đập, hồ chứa nước và các công trình có liên quan đến hồ chứa nước thông qua đo đạc, quan trắc, thí nghiệm kết hợp với việc tính toán, phân tích
Hệ thống giám sát vận hành là hệ thống bao gồm thiết bị để kết nối số liệu quan trắc khí tượng thủy văn chuyên dùng, tình hình ngập lụt hạ du đập; camera giám sát vận hành công trình và phần mềm hỗ trợ điều hành đập, hồ chứa nước theo diễn biến thực tế [1]
Trang 21Hệ thống văn bản pháp luật về quản lý an toàn đập đã được xây dựng hoàn thiện, đồng
bộ tạo hành lang pháp lý để nâng cao hiệu lực quản lý và hiệu quả thực hiện, cụ thể: + Luật Thủy lợi đã được Quốc Hội thông qua ngày 19/6/2017 và có hiệu lực thi hành
từ ngày 01/7/2018;
+ Các văn bản như Nghị định 114/2018/NĐ-CP ngày 04/9/2018 của Chính phủ về quản
lý an toàn đập, hồ chứa nước; Nghị Định 67/2018/NĐ-CP ngày 14/5/2018 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều của Luật Thủy lợi; Nghị định 129/2017/NĐ-CP ngày 16/11/2017 của Chính phủ về quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác kết cấu hạ tầng thủy lợi; Chỉ thị số 22/CT-Ttg ngày 07/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ
về việc tăng cường quản lý, đảm bảo an toàn đập, hồ chứa nước đã được ban hành nhằm cụ thể hóa các quy định trong Luật Thủy lợi và đồng bộ với các quy định tại các văn bản pháp luật khác liên quan đến an toàn đập, như Luật phòng, chống thiên tai; Luật Tài nguyên nước; Luật Xây dựng; Luật Bảo vệ môi trường; Luật Khí tượng Thủy văn
Hệ thống văn bản quy phạm này đã khắc phục được những tồn tại trong các văn bản pháp quy về quản lý an toàn đập, hồ chứa nước trước đây như:
+ Chưa phân định rõ trách nhiệm của chủ đập và chủ quản lý, do vậy chưa rõ trách nhiệm của chủ thể cấp kinh phí và chủ thể thực hiện các nội dung về quản lý an toàn đập (bảo dưỡng sửa chữa thường xuyên, kiểm định an toàn đập, sửa chữa, nâng cấp đập, lập phương án phòng, chống lũ lụt cho vùng hạ du, cắm mốc phạm vi bảo vệ đập, );
+ Các quy định về phân công, phân cấp vai trò, trách nhiệm và sự phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước giữa các Bộ, ngành và địa phương, về quản lý an toàn đập chưa đầy đủ và rõ ràng;
+ Các hoạt động về lập quy trình vận hành điều tiết hồ chứa nước, quy định về báo cáo hiện trạng an toàn đập, kiểm định an toàn đập và phương án phòng, chống lũ, lụt cho
Trang 22Công tác phổ biến, tuyên truyền các văn bản pháp luật đã được quan tâm, triển khai Năm 2018, tổ chức 7 hội nghị phổ biến pháp luật, trong đó có các nội dung về quản lý
an toàn đập cho các đối tượng trên phạm vi cả nước
1.3.1.2 Công tác đầu tư xây dựng, sửa chữa, nâng cấp đập, hồ chứa thủy lợi
Bằng nhiều nguồn vốn, đến nay, Nhà nước và nhân dân đã đầu tư xây dựng được 6.755 đập, hồ chứa thủy lợi các loại với tổng chiều dài đập khoảng 1.182 km Trong đó có 419 đập dâng có chiều cao trên 5m; có 6.336 hồ chứa thủy lợi gồm: 04 hồ quan trọng đặc biệt (Cửa Đạt, Ngàn Trươi, Tả Trạch và Dầu Tiếng) , 864 hồ lớn (131 hồ trên 10 triệu
m3, 194 hồ có dung tích từ 3-10 triệu m3, và 544 hồ có dung tích dưới 3 triệu m3 nhưng chiều cao đập trên 15m); 1.511 hồ chứa vừa (313 hồ có dung tích từ 1-3 triệu m3, 636
hồ có dung tích từ 0,5-1 triệu m3 và 562 hồ có chiều cao đập từ 10-15m) và 3.957 hồ chứa nhỏ (1.237 hồ có dung tích từ 0,2-0,5 triệu m3, 2.720 hồ có dung tích dưới 0,2 triệu
m3) Các hồ thủy lợi có tổng dung tích trữ khoảng 14,5 tỷ m3 (Bắc Bộ: 2,2 tỷ m3; Bắc Trung bộ 6,0 tỷ m3, Nam Trung bộ 2,35 tỷ m3, Tây Nguyên 1,8 tỷ m3, Đông Nam bộ và Kiên Giang, An Giang 2,15 tỷ m3), tạo nguồn nước tưới cho gần 1,1 triệu ha đất nông nghiệp (Bắc bộ 230.000 ha; Bắc Trung bộ 330.000 ha, Nam Trung bộ 195.000 ha, Tây Nguyên 185.000 ha, Đông Nam bộ và An Giang, Kiên Giang 135.000 ha), cấp khoảng 1,5 tỷ m3 nước cho sinh hoạt, công nghiệp; giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì nhịp
độ phát triển của ngành nông nghiệp và của nền kinh tế
1.3.1.3 Tổ chức quản lý, khai thác an toàn đập, hồ chứa thủy lợi từng bước được củng
cố, kiện toàn
Về quản lý nhà nước:
+ Trung ương đã thành lập Vụ An toàn đập thuộc Tổng cục Thủy lợi, có nhiệm vụ tham mưu giúp Tổng cục trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước về an toàn đập, hồ chứa thủy lợi
Trang 239
+ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã thành lập Hội đồng tư vấn đánh giá
an toàn đập, hồ chứa theo quy định của Nghị định số 114/2018/NĐ-CP với nhiệm
vụ kiểm tra, nghiên cứu, phân tích, đánh giá, tư vấn về mức độ an toàn, phương án tích nước và giải pháp đảm bảo an toàn cho các đập, hồ chứa do Bộ Nông nghiệp và PTNT quản lý Đây là những dấu mốc có tính bước ngoặt về tổ chức quản lý nhà nước đối với công tác quản lý an toàn đập, hồ chứa thủy lợi
Về công tác khai thác đập, hồ chứa thủy lợi:
+ Đối với các đập, hồ chứa thủy lợi vừa và lớn trở lên hiện này hầu hết đã được giao cho các doanh nghiệp quản lý, khai thác Trong đó:
+ Các đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT trực tiếp quản lý, khai thác hồ Cửa Đạt,
Tả Trạch, Dầu Tiếng – Phước Hòa Bộ Nông nghiệp và PTNT đang triển khai các thủ tục để trực tiếp tổ chức quản lý, khai thác hoặc phân cấp quản lý các công trình thủy lợi theo quy định của Luật Thủy lợi;
+ Ở địa phương, hồ chứa vừa, lớn được giao cho các công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi cấp tỉnh quản lý, khai thác bao gồm: 2.236 đập dâng, hồ chứa thủy lợi liên huyện, liên xã hoặc hồ chứa có dung tích từ 1,0 triệu m3 trở lên Với lực lượng quản lý, vận hành đập, hồ chứa có trình độ, được được đào tạo, đáp ứng các yêu cầu của công tác quản lý, khai thác, nên công tác bảo đảm an toàn đập, hồ chứa được thực hiện tốt, phát huy tối đa hiệu quả các đập, hồ chứa phục vụ sản xuất, dân sinh;
+ Về quản lý 4.519 đập, hồ chứa thủy lợi vừa và nhỏ: hiện dang được giao cho cấp huyện, xã quản lý, khai thác, trong đó nhiều nơi đã thành lập được các tổ chức thủy lợi cơ sở với mô hình là Hợp tác xã hoặc tổ hợp tác để quản lý, khai thác, đạt hiệu quả cao như một số mô hình ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Đắc Lắc, Bình Định
1.3.1.4 Khoa học công nghệ
Việc nghiên cứu ứng dụng các công nghệ mới trong công tác đảm bảo an toàn đập, hồ chứa đã và đang nhận được sự quan tâm của các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học, bước đầu đã đạt được một số kết quả cụ thể: Xử lý hư hỏng của cống lấy nước như công nghệ sửa chữa cống dưới đập bằng phương pháp luồn ống thép, Công nghệ chống thấm
Trang 241.3.2.1 Hiệu quả thực thi pháp luật về an toàn đập trên thực tế còn hạn chế
Mặc dù tình hình thực hiện các văn bản pháp lý về an toàn đập, hồ chứa thủy lợi đã cơ bản cải thiện, tuy nhiên mức độ áp dụng trên thực tế còn thấp
Tính đến ngày 31/5/2019, kết quả thực hiện các quy định của pháp luật về an toàn đập,
hồ chứa nước như sau:
+ Kê khai đăng ký an toàn đập, hồ chứa nước: 2.645/6.755 đập, hồ chứa (chiếm 39%) + Kiểm định an toàn đập, hồ chứa nước: 285/6.755 đập, hồ chứa (chiếm 4,0%, bao gồm 131 hồ lớn và 154 hồ vừa và nhỏ)
+ Lập quy trình vận hành hồ chứa nước: 646/6755 đập, hồ chứa (chiếm 10,0%, hiện mới có số hồ chứa xây dựng được quy trình vận hành, chủ yếu là các các hồ chứa có cửa van và một số hồ chứa lớn, phần lớn các hồ chứa có tràn tự do và đập dâng chưa
Trang 2511
+ Một số tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật phục vụ tính toán khảo sát, thiết kế, thi công, nghiệm thu công trình được xây dựng đã quá lâu, nhiều số liệu đã cũ nhưng chưa được sửa đổi, cập nhật cho phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu, diễn biến của lưu vực thực tế như hiện nay, ví dụ như Quy phạm tính toán các đặc trưng thủy văn C6-
77
Hình 1.1 Hiệu quả thực thi một số nội dung an toàn đập
1.3.2.2 Bảo trì, sửa chữa, nâng cấp đảm bảo an toàn đập, hồ chứa Thủy lợi
Công tác đầu tư nâng cấp, sửa chữa, đảm bảo an toàn đập, hồ chứa thủy lợi chưa đáp ứng yêu cầu:
Trong những năm gần đây, mặc dù được sự quan tâm của Chính Phủ, các Bộ, ngành, địa phương, nhiều đập, hồ chứa đã được sửa chữa, nâng cấp Tuy nhiên với số lượng hồ chứa lớn, nằm rải rác ở nhiều địa phương, nhiều hồ chứa được xây dựng từ những năm sau chiến tranh với những hạn chế về tài liệu khí tượng thủy văn, địa hình, địa chất và phương pháp tính toán dẫn đến chất lượng thiết kế chưa phù hợp với thực tế, mức đảm bảo an toàn chưa cao, đặc biệt đối với các hồ nhỏ; nhiều hồ chứa do nhân dân tự đắp không có hồ sơ khảo sát thiết kế; kỹ thuật thi công lạc hậu; qua thời gian 30-40 năm khai thác sử dụng không được duy tu bảo dưỡng nên đã xuống cấp Mặt khác, do nguồn
Trang 2612
lực hạn chế, thời gian qua hầu như mới chỉ sửa chữa, nâng cấp được cho đa số các hồ chứa có dung tích trên 3 triệu m3 và sửa chữa cấp bách cho một số hồ chứa xung yếu, nên số lượng hồ chứa bị xuống cấp ở nước ta vẫn còn rất nhiều; nhất là với các hồ chứa vừa và nhỏ, nhiều hồ tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cao trong điều kiện mưa, lũ cực đoan hiện nay
Theo báo cáo đánh giá công trình trước mùa mưa lũ năm 2019 của các địa phương, hiện
cả nước có khoảng 1.730 hồ chứa bị hư hỏng, xuống cấp; trong đó đã xác định được nguồn vốn để sửa chữa cho 541 hồ; như vậy, còn khoảng 1.189 hồ chứa chưa có nguồn vốn để sửa chữa nâng cấp
Các dạng hư hỏng chính hay gặp hiện nay là:
+ Đập đất: không đủ mặt cắt; trượt sạt mái thượng hạ lưu; lớp gia cố bị hỏng; nứt thân đập; thấm lớn qua thân và nền đập do chất lượng thi công và công nghệ chống thấm kém, gây xói ngầm; có tổ mối trong thân đập
+ Cống lấy nước: thân cống bị hư hỏng, mục ruỗng; mang cống bị thấm, hư hỏng tiêu năng sau cống
+ Tràn xả lũ: hư hỏng thân tràn; hư hỏng bể tiêu năng, thiếu khả năng xả lũ Về năng lực xả lũ của các hồ chứa: Với các hồ lớn hầu hết đã được sửa chữa nâng cấp theo Quy chuẩn 04-05:2012/BNNPTNT, tuy nhiên, vẫn còn khoảng 65 hồ xây dựng trước năm 2003, tính toán thiết kế theo tiêu chuẩn cũ TCVN 5060-90, chưa được kiểm tra, đánh giá theo Quy chuẩn 04-05:2012/BNNPTNT Với các hồ chứa vừa và nhỏ: có khoảng 192 hồ được xây dựng trước những năm 2003 chưa đáp ứng được khả năng thoát lũ theo QCVN 04-05:2012/BNNPTNT, cần tiếp tục rà soát, đánh giá
Về bảo trì đập, hồ chứa thủy lợi: Trong những năm qua, các đập, hồ chứa thủy lợi không được bảo trì theo đúng các quy định, hầu hết các đập, hồ chứa thủy lợi chưa xây dựng quy trình, định mức bảo trì; nguồn kinh phí để bảo trì đập, hồ chứa thủy lợi gần như không có dẫn đến tình trạng hầu hết đập, hồ chứa không được bảo trì nên bị xuống cấp nhanh chóng
Trang 2713
1.3.2.3 Bộ máy tổ chức quản lý, khai thác còn chưa hoàn thiện
Về tổ chức quản lý nhà nước: Ở trung ương, mặc dù đã thành lập được tổ chức về quản
lý an toàn đập thuộc Tổng cục Thủy lợi, tuy nhiên tổ chức mới thành lập với lực lượng còn rất mỏng, thiếu kinh nghiệm thực tế trong quản lý an toàn đập, hồ chứa thủy lợi Trong khi đó, lực lượng quản lý nhà nước về an toàn đập, hồ chứa nước ở địa phương hầu như chưa được tăng cường, các địa phương chưa thành lập được Hội đồng tư vấn đánh giá an toàn đập, hồ chứa thuộc phạm vi quản lý của tỉnh nên khó đáp ứng tốt trong việc thực thi nhiệm vụ quản lý an toàn đập, hồ chứa nước trong điều kiện hiện nay
Về tổ chức quản lý, khai thác: Nhân lực của các tổ chức khai thác đập, hồ chứa thủy lợi,
kể các các doanh nghiệp và tổ chức thủy lợi cơ sở đông nhưng không mạnh, thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao Nhiều cán bộ, công nhân chưa qua đào tạo hoặc nhiều năm không được đào tạo, tập huấn để cập nhật lại các quy định, kiến thức mới nên chất lượng, hiệu quả trong việc thực thi nhiệm vụ hoặc tham mưu chỉ đạo, hoạt động chưa cao
1.3.2.4 Ứng dụng khoa học công nghệ trong hiện đại hóa quản lý an toàn đập, hồ
chứa thủy lợi chưa đáp ứng yêu cầu
Nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý vận hành, đảm bảo an toàn đập còn hạn chế, hiệu quả chưa cao:
Mặc dù đã đạt được một số kết quả bước đầu trong việc nghiên cứu ứng dụng các công nghệ mới để xử lý các dạng hư hỏng của đập, hồ chứa như công nghệ chống thấm cho đập đất; công nghệ ứng phó với sự cố tràn đỉnh đập đất; công nghệ xử lý hư hỏng của cống lấy nước, nhưng mới triển khai ứng dụng ở một vài công trình cụ thể, chưa được
áp dụng rộng rãi trong xử lý sự cố hoặc sửa chữa nâng cấp đập, hồ chứa nước
Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về quản lý an toàn đập, hồ chứa thủy lợi còn nghèo nàn, lạc hậu: Hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin, tự động hóa trong công tác quan trắc và giám sát công trình hồ chứa rất phổ biến và được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia Bộ Nông nghiệp và PTNT đã chỉ đạo xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu và phần mềm quản lý chung, thống nhất và ứng dụng công nghệ thông tin để tự động hóa vận hành hồ chứa đảm bảo an toàn, hiệu quả Tuy nhiên, đến nay, còn chưa hoàn thiện
Trang 2814
1.3.3 Nguyên nhân
1.3.3.1 Nguyên nhân khách quan
Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động nặng nề nhất của biến đổi khí hậu
- nước biển dâng, thiên tai có diễn biến ngày càng cực đoan và phức tạp Hiện tượng El Nino, La Nina có khả năng xuất hiện thường xuyên hơn; các trận mưa với cường độ vượt tần suất thiết kế của công trình xuất hiện ngày càng nhiều khiến lũ thượng nguồn
về nhanh chưa được lường hết trong quy trình vận hành đã tác động bất lợi đến an toàn đập, nhất là những đập, hồ chứa thiếu khả năng xả dẫn đến nguy cơ mất an toàn tăng cao
Kinh tế phát triển nhanh, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, phát triển kinh tế xã hội đang diễn ra với tốc độ nhanh trên phạm vi cả nước đã và đang gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến công tác thủy lợi như phát triển cơ sở hạ tầng công nghiệp, đô thị tại những vùng thấp, trũng, vùng ven sông làm giảm không gian chứa và thoát lũ; xây dựng cơ sở
hạ tầng giao thông không đủ khẩu độ thoát lũ, không đảm bảo ổn định mái dốc đối với các tuyến đường phải đào, đắp dẫn đến gia tăng nguy cơ ngập lụt, sạt lở đất
1.3.3.2 Nguyên nhân chủ quan
Các doanh nghiệp quản lý khai thác hoạt động chậm đổi mới theo cơ chế thị trường, duy trì quá lâu cơ chế bao cấp, thiếu cơ chế phát huy tiềm năng, lợi thế để khai thác tổng hợp
hồ chứa nước, dẫn tới cơ chế tài chính thiếu bền vững, chủ yếu phụ thuộc vào ngân sách nhà nước, đồng thời, hạn chế thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân, hạn chế cơ chế cạnh tranh cho đầu tư xây dựng, quản lý khai thác hồ chứa thủy lợi
Khoa học công nghệ chưa bám sát hoặc dự báo đúng nhu cầu thực tế, chậm áp dụng công nghệ tiên tiến trong dự báo, cảnh báo sớm và hỗ trợ ra quyết định trong vận hành
Trang 2915
V lớn hơn vận tốc cho phép của đất đắp sẽ phát sinh xói Xói tập trung và phát triển mạnh nhất ở vùng chân mái và mở rộng lên cao dẫn đến sập mái, vỡ đập Nguyên nhân gây ra tình trạng nước tràn qua đỉnh đập có thể bao gồm:
+ Mô hình lũ thiết kế không phù hợp với lũ thực tế trên lưu vực;
+ Tràn qua đỉnh đập do công trình xả thiết kế không đảm bảo;
+ Tràn qua đỉnh đập do động đất hoặc do các khối sạt lở lớn đổ vào hồ chứa ở vùng gần đập; [2]
Hình 1.2 Đập Đồng Đáng tỉnh Thanh Hóa và đập Phân Lân tỉnh Vĩnh Phúc bị sự cố
nước tràn đỉnh đập dẫn đến vỡ đập trong trận lũ năm 2013
Hình 1.3 Đập Lanh Ra vỡ đập trong giai đoạn thi công năm 2011, nguyên nhân được xác định do đơn vị thi công không bảo đảm tiến độ đắp đập theo đúng cao trình thiết
kế kỹ thuật, khi xuất hiện lũ tiểu mãn cuối tháng 5/2011, đập bị sạt lở và vỡ gần 10m
Trang 3016
1.4.2 Thấm trong thân đập
Công tác đắp nếu không quản lý chặt chẽ chất lượng đất, chiều dày lớp đổ, số lần đầm, cùng với việc xử lý tiếp giáp giữa các lớp đắp dễ phát sinh thành các dòng thấm ngang lớn trong đập
Bản thân đất đắp đập có chất lượng không tốt: hàm lượng cát, bụi, dăm sạn nhiều, hàm lượng sét ít, đất bị tan rã mạnh Kết quả khảo sát sai với thực tế, khối lượng khảo sát không đủ, không thí nghiệm đầy đủ các chỉ tiêu cơ lý lực học cần thiết, từ đó đánh giá sai chất lượng đất đắp
Thiết bị lọc trong đập không làm việc hoặc không đạt hiệu quả mong muốn hoặc chất lượng đất trong thân đập không đúng với các chỉ tiêu thiết kế
Hình 1.4 Nước thấm ra chân đập hồ Núi Một, huyện Thuận Nam, Ninh Thuận, sự cố xảy ra đầu năm 2020 (hồ Núi Một bắt đầu tích nước từ năm 2017) Nước thấm thành dòng tụ lại dưới chân đập, vùng hạ lưu sau đập luôn có hiện tượng ẩm ướt
1.4.3 Thấm qua mang công trình
Khi trong đập đất có bố trí công trình bê tông (cống, tràn, ) thì ở vị trí tiếp giáp của công trình với đất đắp đập là nơi thường gây ra sự cố về thấm
Trang 3117
Yêu cầu xử lý tiếp giáp giữa công trình và đập rất cao, bao gồm việc tạo ra đường thấm dài hơn bằng các đai bao quanh công trình, quét bitum dày phủ mặt bê tông tiếp giáp, đất đắp quanh mang được dùng có tính sét cao và được đầm nén bằng những công cụ đặc biệt
1.4.4 Thấm qua nền đập
Đánh giá sai tình hình địa chất nền, để sót lớp thấm mạnh không được xử lý
Biện pháp thiết kế xử lý nền không đảm bảo chất lượng
Xử lý tiếp giáp nền và thân đập không tốt do thiết kế không đề ra biện pháp xử lý hoặc
do khi thi công không thực hiện tốt biện pháp xử lý
Chất lượng xử lý nền kém: khoan phụt không đạt yêu cầu; hốt không sạch lớp bồi tích; thi công chân khay, sân phủ kém dẫn đến thủng lớp cách nước
1.4.5 Thấm qua bờ vai đập
Hiện tượng mất ổn định do thấm dẫn đến hư hỏng bờ vai đập thường xảy ra ở vùng bờ vai là đất có độ rỗng lớn, xốp và đất bụi có tính dính kết yếu, các đá nứt nẻ lớn Xử lý tiếp giáp giữa đập đắp và đập bê tông với bờ vai không đúng cách cũng tạo ra sự cố này
1.4.6 Sạt, sập mái thượng lưu đập
Hiện tượng rút nước nhanh không kiểm soát trong thời kỳ hồ đầy nước là nguy cơ gây sập mái (trượt mái) nguy hiểm nhất Nước rút nhanh làm cho cung trượt nặng thêm, trong cung trượt xuất hiện dòng thấm chảy về mái thượng lưu kéo cung trượt đi xuống Dưới tác dụng của 2 loại lực nói trên, có thể dẫn đến hiện tượng sập mái Hiện tượng này cũng có thể xảy ra khi đập có biểu hiện mất ổn định, yêu cầu phải hạ thấp nhanh nước trong hồ Để hạn chế, loại bỏ sự cố này cần thiết rút nước có kiểm soát, khống chế tốc độ rút nước (cm/ngày), giới hạn rút nước cho phép nhằm giữ mái được ổn định mà vẫn ứng cứu được đập [2]
1.4.7 Sạt, sập mái hạ lưu đập
Sạt mái hạ lưu đập có thể xẩy ra khi bố trí các công trình xả nước ở trong đập hoặc ở vai đập Các đập tràn bê tông, đường ống xả trên tuyến đập nên mặt hạ lưu chịu tác động
Trang 3218
trực tiếp của dòng chảy tiêu năng Hình thức tiêu năng bể thường ít gây sự hư hại hơn hình thức tiêu năng mũi phun Do cấu tạo đá nền thường không đồng nhất, trong nền thường có các mạch yếu xen kẹp, các đứt gãy nên chế độ thủy lực ở vùng tiêu năng thường bị biến dạng không như tính toán Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc hình thành các vụng, hang hốc ở chân mái làm mất ổn định đập [2]
1.4.8 Nứt ngang đập
Nứt ngang đập là sự cố thuộc dạng nguy hiểm, khó xử lý, đặc biệt ở những đập có chiều cao lớn Thông thường, trên tuyến đập, cao độ ở vùng lòng dẫn chính thường ở thấp hơn rất nhiều so với các cao độ ở thềm Nhiều khi thân và lòng sông chuyển tiếp bằng một bậc thụt thẳng đứng Chiều cao đập ở lòng sông và thềm chênh nhau lớn thì kết quả lún
ở 2 vị trí này cũng vậy Nếu không cải tạo mặt bằng bờ tiếp giáp thì về lâu dài ở vị trí này sẽ phát sinh các vết nứt ngang đập, hình thành những vết nứt cắt ngang toàn mặt cắt đập [2]
1.4.9 Nứt dọc đập
Nguyên nhân gây nứt là tình trạng ổn định của cung trượt thấp Trong các đập phân khối, khi bố trí lăng trụ chống thấm nằm dọc mái thượng lưu nếu không kiểm soát cẩn thận có thể phát sinh hiện tượng trượt theo mặt tiếp xúc giữa 2 khối mà không phải trượt theo cung tràn như thường dùng trong tính ổn định mái [2]
1.4.10 Các sự cố thường gặp ảnh hưởng an toàn đập đã xảy ra trên địa bàn tỉnh
Trang 33Tên hồ chứa Giai đoạn xảy ra
sự cố
1 Nước tràn qua đỉnh đập X Hồ Lanh Ra thi công
Hồ Sông Biêu,
Đập Gleno được xây dựng trên sông Gleno ở Valle di Scalve, Italia trong những năm
1916 - 1923 nhằm mục đích thủy điện Tuy nhiên, chỉ sau 40 ngày sau khi nước được chứa đầy phần lòng hồ, thì một phần lớn của đập đã bị vỡ vào ngày 1/12/1923
Trong vòng vài phút, khối nước trong hồ ở độ cao khoảng 1.535 m (so với mực nước biển) đổ ập xuống tàn phá dữ dội làng mạc và thị trấn trong thung lũng phía dưới, khiến
356 người thiệt mạng Những nỗ lực khắc phục đã hoàn toàn thất bại
Nguyên nhân là do thi công không đảm bảo, mắc nhiều sai phạm kỹ thuật, xi măng và cát lẫn nhiều tạp chất, thép được đem dùng lại từ những vật dụng hư hỏng trong Chiến tranh thế giới I (1914 - 1918) [3]
Trang 3420 Hình 1.5 Đập Gleno trước khi vỡ đập
Hình 1.6 Đập Gleno sau khi vỡ đập
Trang 3521
1.5.2 Đập Bản Kiều (Trung Quốc)
Đập Bản Kiều được bắt đầu xây dựng vào năm 1951 và hoàn thành 1 năm sau đó, với mục đích kiểm soát lũ lụt ở hạ lưu và thủy điện Hồ chứa tổng cộng 492 triệu m3 nước Tháng 8/1975, mưa đặc biệt lớn ở thượng nguồn sông Hoài do ảnh hưởng của cơn bão lớn thứ 3 của Trung Quốc trong năm, dẫn đến trận Đại hồng thủy Trước đó con đập này
có xuất hiện một số vết nứt và một số lỗi xây dựng khác, và đã được sửa chữa
Sự cố xảy ra làm 26.000 người bỏ mạng trong lũ lụt và 145.000 người khác thiệt mạng
do dịch bệnh và nạn đói sau đó, 11 triệu người trở thành vô gia cư
Nguyên nhân vỡ đập được đánh giá nhận định là lỗi trong giai đoạn thiết kế hồ chứa và các nguyên tắc chế ngự sông Hoài là nguyên nhân dẫn đến thảm họa Trong quá trình gấp rút xây hồ chứa đập Bản Kiều, cảnh báo của một số nhà khoa học về khâu kiểm soát
lũ đã bị bỏ qua Hồ chứa được thiết kế chỉ chứa 492 triệu m3 nhưng phải gánh đến 697 triệu m3 trong lũ lụt năm 1975 [3]
Hình 1.7 Đập Bản Kiều sau khi vỡ đập
Trang 3622
Hình 1.8 Đập Bản Kiều sau khi được sữa chữa, khôi phục lại
1.5.3 Đập Đầm Hà Động (Quảng Ninh, Việt Nam)
Đập được xây dựng trên sông Đầm Hà, tại xã Quảng Lợi, huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh Đập chính cao 31,5m; chiều dài ở đỉnh đập 244m Có 3 đập phụ, trong dó, đập phụ 2 cao 12m Hồ chứa có dung tích 12,3 triệu m3 Đập tràn rộng 27m, có 3 khoang cửa Công trình có nhiệm vụ cấp nước sinh hoạt cho 29 nghìn dân, tưới tự chảy cho 3500ha canh tác, góp phần cải thiện môi sinh [4]
Hình 1.9 Đập Đầm Hà Động trước khi bị vỡ
Trang 3723
Sau trận mưa lớn trên thượng nguồn sông Đầm Hà, lúc 7h sáng 30/10/2014, lũ về tràn đập Đầm Hà Động, gây vỡ đập phụ 2, hư hại nặng đập chính Nước đổ xuống hạ du đã gây thiệt hại lớn về sản xuất, đường giao thông và nhất là ngập nặng tại thị trấn Đầm
Hà Không có thiệt hại về người
Hình 1.10 Đập phụ số 2 bị tràn và vỡ
Hình 1.11 Đập chính bị tràn và hư hại nặng
Trang 3824
Nguyên nhân sự cố đánh giá do công tác vận hành xả lũ không đảm bảo, cửa số 1 và số
2 được mở hết khẩu độ, riêng cửa số 3 gặp sự cố và bị sập xuống không hoạt động; bên cạnh đó, tổng lượng lũ về thực tế trong trận lũ là 30 triệu m3, lớn gấp đôi so với tổng lượng lũ theo thiết kế chỉ có 15 triệu m3;
Hình 1.12 Nước đổ về hạ du gây nhiều thiệt hại về sản xuất, giao thông,
nhất là tại thị trấn Đầm Hà
1.5.4 Đập Lanh Ra (Ninh Thuận, Việt Nam)
Trận mưa kéo dài trong ngày 30/5/2011 cộng với lưu lượng nước từ đầu nguồn đổ về mạnh đã làm vỡ đập chắn đất và một phần lớn bê tông của hồ chứa nước Lanh Ra ở xã Phước Vinh, huyện Ninh Phước đang trong giai đoạn hoàn thiện
Nguyên nhân vỡ đập chắn là do đơn vị thi công không bảo đảm tiến độ đắp đất đê bao cho thân đập theo đúng cao trình thiết kế kỹ thuật, nên khi xuất hiện lũ tiểu mãn vào cuối tháng 5/2011, đập chắn đã không chặn được nước lũ đổ về nên bị sạt lở và vỡ gần 10m [5]
Hình 1.13 Đập Lanh Ra đang trong giai đoạn thi công bị vỡ do mưa lớn, lũ về
Trang 3925
Hình 1.14 Diện tích hoa màu sản xuất của nông dân xã Phước Vinh bị thiệt hại
do hồ Lanh Ra vỡ
1.6 Ý nghĩa và tầm quan trọng trong công tác quản lý vận hành hồ chứa
Các hồ chứa thủy lợi tại Việt Nam tạo nguồn nước tưới cho gần 1,1 triệu ha đất nông nghiệp, cấp khoảng 1,5 tỷ m3 nước cho sinh hoạt, công nghiệp; giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì nhịp độ phát triển của ngành nông nghiệp và của nền kinh tế
Việc thực hiện tốt công tác quản lý vận hành hồ chứa giúp đảm bảo phát huy hiệu quả, vai trò của hồ chứa trong phục vụ đa mục tiêu phòng chống lũ, cấp nước, cải tạo môi trường… Phục vụ phát triển dân sinh, kinh tế và tham gia phòng, chống lũ đảm bảo an toàn cho hạ du
Trái lại, nếu thực hiện không tốt công tác quản lý vận hành hồ chứa có thể dẫn đến các
sự cố gây ảnh hưởng an toàn đập, hồ chứa nước; tệ hơn nữa là các sự cố vỡ đập gây thiệt hại nặng nề cho vùng hạ du Trong bối cảnh diễn biến thời tiết bất thường, nhất là thời điểm mưa lũ cực đoan như hiện nay, công tác quản lý vận hành và sử dụng đập, hồ chứa thủy lợi càng trở nên quan trọng
Trang 4026
Kết luận Chương 1
Trong chương 1 của luận văn, học viên đã trình bày những vấn đề cơ bản liên quan đến công tác quản lý, vận hành an toàn đập đối với hồ chứa thủy lợi ở Việt Nam Khái quát được những hạn chế trong công tác quản lý, vận hành an toàn đập nói chung
Chương I cũng đã nêu ra các nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan đối với các tồn tại, hạn chế trong đến công tác quản lý, vận hành an toàn đập Qua đó thấy tính cần thiết phải nâng cao công tác quản lý vận hành đập Từ đó đưa ra giải pháp trong chương 3 của luận văn