Thực hiện chính sách hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi là phải đảm bảo đầy đủ và tiến tới tăng diện tích đất nông nghiệp được tưới tiêu, đồng thời đẩy mạnh sự quản
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng những số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cũng cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm
ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./
Tác giả luận văn
Nguyễn Hữu Hào
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy PGS.TS Đoàn Doãn Tuấn, TS Đỗ Văn Quang là người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo tận tình để tôi có thể hoàn thành Luận văn này Xin chân thành cảm ơn Ban Chủ nhiệm Khoa Sau đại học, tập thể giảng viên, cán bộ, nhân viên Khoa Sau đại học, cùng toàn thể bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo, cán bộ ngành thủy lợi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu và những thông tin cần thiết liên quan Cảm ơn gia đình, các anh chị đồng nghiệp, bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ KHAI THÁC QUẢN LÝ HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI VÀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ TIỀN SỬ DỤNG SẢN PHẨM DỊCH VỤ CÔNG ÍCH THỦY LỢI 6
1.1 Một số khái niệm 6
1.1.1 Hệ thống công trình thủy lợi 6
1.1.2 Tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi 6
1.1.3 Khái niệm chính sách hỗ trợ 7
1.1.4 Khái niệm sản phẩm, dịch vụ công ích 7
1.2 Tổng quan về quản lý khai thác và chính sách hỗ trợ tiền sử dụng dịch vụ công ích thủy lợi ở nước ta 8
1.2.1 Hiện trạng hệ thống thủy lợi tưới ở nước ta 8
1.2.2 Tổ chức quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi ở nước ta 12
1.2.3 Nội Dung hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm dịch vụ công ích thủy lợi 16
1.3 Tiêu chí đánh giá hiệu quả chính sách hỗ trợ tiền sử dụng dịch vụ công ích thủy lợi 18
1.3.1 Mô hình quản lý và tổ chức bộ máy 18
1.3.2 Công tác quản lý và mức độ hoàn thành kế hoạch 20
1.3.3 Năng lực lãnh đạo trong quản lý 23
1.3.4 Mức độ kiểm soát các quy trình 23
1.4 Kinh nghiệm về khai thác và hỗ trợ giá dịch vụ thủy lợi 24
1.4.1 Trong nước 24
1.4.2 Ngoài nước 28
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách hỗ trợ tiền sử dụng dịch vụ công ích thủy lợi 32
1.5.1 Nhóm nhân tố Chủ quan 32
1.5.2 Nhóm nhân tố khách quan 36
Kết luận Chương 1 38
Trang 4CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ KINH PHÍ SỬ DỤNG SẢN PHẨM DỊCH VỤ CÔNG ÍCH THỦY LỢI TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 39
2.1 Thực trạng về hệ thống thủy lợi 39
2.1.1 Khái quát về tình hình kinh tế -xã hội tỉnh Thái Nguyên 39
2.1.2 Thực trạng hệ thống thủy lợi Tỉnh Thái nguyên 50
2.2 Thực trạng tổ chức quản lý, khai thác hệ thống thủy lợi Tỉnh Thái Nguyên 52
2.2.1 Thực trạng phát triển hệ thống thủy lợi Tỉnh Thái Nguyên 52
2.2.2 Tình hình sử dung các công trìn thủy lợi của tỉnh quản lý 53
2.2.3 Tình hình quản lý, khai thác các công trình thủy lợi của Công ty TNHH một thành viên KTCTTL tỉnh Thái Nguyên 54
2.2.4 Tình hình quản lý, khai thác các công trình thủy lợi của các địa phương trong Tỉnh 56
2.2.5 Tình hình duy tu, bảo dưỡng và sửa chữa các công trình thủy lợi của Tỉnh qua 3 năm 59
2.3 Thực trạng triển khai Chính sách hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm dịch vụ công ích thủy lợi và kết quả đạt được 61
2.3.1 Thực trạng sử dụng chính sách hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm dịch vụ công ích thủy lợi trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên 61
2.3.2 Thực trạng sử dụng chính sách hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm dịch vụ công ích thủy lợi trên bàn 3 huyện nghiên cứu điển hình tại tỉnh Thái Nguyên 62
2.3.3 Thực trạng thực hiện thu thủy lợi phí và sử dụng kinh phí thủy lợi 65
2.4 Đánh giá chung về triển khai chính sách hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm dịch vụ công ích thủy lợi 74
2.4.1 Kết quả đạt được 75
2.4.2 Tồn tại và nguyên nhân 78
Kết luận Chương 2 82
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ TIỀN SỬ DỤNG SẢN PHẨM DỊCH VỤ CÔNG ÍCH THỦY LỢI VÀ HIỆU QUẢ QLKT CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 83
Trang 53.1 Định hướng công tác quản lý, khai thác hệ thống công trình thủy lợi và mục tiêu
đề ra 83
3.2 Đề xuất giải pháp cải thiện chính sách hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi phù hợp đối với tổ chức quản lý, khai thác công trình thủy lợi 84
3.2.1 Đẩy mạnh việc thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi 84
3.2.2 Huy động tối đa cộng đồng hưởng lợi tham gia vào việc quản lý và sử dụng các công trìnhcông trình thủy lợi 87
3.2.3 Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ trực tiếp quản lý và sử dụng các công trình thủy lợi 89
3.2.4 Đẩy nhanh công tác chuyển giao quyền khai thác, quản lý và sử dụng các công trình cho địa phương và cộng đồng hưởng lợi 90
3.2.5 Đẩy mạnh công tác quản lý, bảo dưỡng và sửa chữa các công trình thủy lợi 91
3.3 Kiến nghị 95
Kết luận Chương 3 96
KÊT LUẬN 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức quản lý, khai thác công trình thủy lợi tỉnh Tuyên Quang 27
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Các loại tiêu chí phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi đượ áp dụng
ở các tỉnh điều tra 14Bảng 1.2 Định lượng các tiêu chí phân cấp quản lý theo quy mô công trình thuỷ lợi ở các tỉnh điều tra 15Bảng 2.1 Tình hình quản lý, khai thác các công trìnhthủy lợi của công ty TNHH MTV khai thác thủy lợi tỉnh Thái Nguyên năm 2019 54Bảng 2.2 Tình hình quản lý, khai thác các công trình thủy lợi của các địa phương trong Tỉnh năm 2019 56Bảng 2.3 Tình hình duy tu bảo dưỡng và sửa chữa các công trình thủy lợi của Tỉnh từ năm 2017 – 2019 60Bảng 2.4 Mức tăng giá trị sản lượng nông nghiệp của Tỉnh 61Bảng 2.5 Tình hình sử dụng các công trình thủy lợi ở 3 huyện nghiên cứu năm 2019 63Bảng 2.6: Định mức thu thủy lợi phí của Tỉnh Thái Nguyên 65Bảng 2.7:Tình hình thu thủy lợi phí của Tỉnh (năm 2019) 66Bảng 2.8 Tình hình sử dụng thủy lợi phí và thủy lợi nội đồng của 3 huyện nghiên cứu 2017-2019 68Bảng 2.9 Tình hình tiêu hao điện và nước tưới của 3 huyện nghiên cứu (2017-2019) 70Bảng 2.10 Tình hình nợ đọng thủy lợi phí và thủy lợi nội đồng ở 3 huyện nghiên cứu (2017-2019) 72Bảng 2.11 Kết quả đầu tư kiên cố hóa kênh mương của 3 huyện nghiên cứu (2017-2019) 73
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua Nhà nước đã quan tâm nhiều đến sản xuất nông nghiệp, phát triển nông thôn nhằm cải thiện và nâng cao đời sống cho nông dân Nhà nước đã đầu tư số vốn rất lớn để xây dựng các công trình thuỷ lợi, giao thông nông thôn, trường học, đường điện, công trình văn hoá, thực hiện chính sách miễn thuế nông nghiệp, khuyến nông, khuyến ngư, Những năm gần đây vốn đầu tư của Nhà nước (NSNN, ODA, trái phiếu chính phủ) dành cho thuỷ lợi tăng đáng kể, theo số liệu của Vụ Kế hoạch - Bộ NN&PTNT năm 2012 là 6.667 tỷ đồng; năm 2013 là 9.134 tỷ đồng; năm 2014 là 40.330
tỷ đồng; Kế hoạch năm 2015 là 40.330 tỷ đồng nguồn trái phiếu Chính phủ và 1.673 tỷ đồng từ Ngân sách Trung ương Đến nay, nông nghiệp, nông thôn đã phát triển tương đối ổn định, đời sống của người nông dân đã được cải thiện
Nghị định số 154/2007/Nđ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2007 được ban hành quy định việc miễn thủy lợi phí đối với các hộ nông dân sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và làm muối Đây là chính sách quan trọng của Chính phủ và có tác động mạnh
mẽ đối với hoạt động khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi liên quan chặt chẽ tới đông đảo bà con nông dân Bắt đầu từ ngày 1.1.2008, Nghị định này có hiệu lực, đem lại lợi ích cho hàng triệu nông dân trên cả nước
Qua các lần sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định số 143/ NĐ – CP đến nay chính sách miễn thủy lợi phí ngày càng được thực hiện rộng rãi và thống nhất trên khắp cả nước, cụ thể như Luật thủy lợi có hiệu lực ngày 1 tháng 7 năm 2018, Nghị định 96/NĐ –
CP ngày 30 tháng 6 năm 2018 quy định chi tiết về giá sản phẩm dịch vụ thủy lợi và hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi
Thực hiện chính sách hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi là phải đảm bảo đầy đủ và tiến tới tăng diện tích đất nông nghiệp được tưới tiêu, đồng thời đẩy mạnh sự quản lý công trình chặt chẽ, giao các công trình thủy lợi (các trạm bơm, hồ chứa, kênh dẫn nước và công trình trên kênh) cho các doanh nghiệp thủy lợi để tăng cường công tác duy tu, bảo dưỡng, vận hành có hiệu quả
Trang 10Bên cạnh đó việc tổ chức, sắp xếp lại bộ máy của các công ty quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi thuộc địa bàn Tỉnh Thái Nguyên quản lý theo chính sách thuỷ lợi phí mới
sẽ tận dụng tối đa nguồn lao động giúp việc quản lý hệ thống công trình thủy lợi có hiệu quả
Khi thực hiện chính sách miễn thuỷ lợi phí để hỗ trợ nông dân thì ngân sách trung ương
và ngân sách địa phương phải bù đắp khoản kinh phí này, do đó sẽ ảnh hưởng đến các lĩnh vực kinh tế xã hội khác, mặt khác phải có chính sách sử dụng nguồn nước một cách tiết kiệm và công bằng giữa các đối tượng sử dụng nước, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ và tăng cường công tác cải tạo, nâng cấp, hiện đại hoá hệ thống công trình thuỷ lợi
Tuy nhiên, sau khi chính sách miễn thủy lợi phí chính thức có hiệu lực, nông dân tại nhiều địa phương mong chờ hưởng lợi từ chính sách này Song, thực tế triển khai tại nhiều địa phương cho thấy đã có những bất cập xuất hiện trong việc xác định đối tượng miễn thủy lợi phí, cơ chế cấp bù kinh phí thủy lợi, mức cấp bù, khả năng thu thủy lợi phí của các tổ hợp tác dùng nước, chất lượng cung cấp dịch vụ thủy lợi cho các hộ nông dân… Tất cả những khó khăn trên đã dẫn đến tình trạng tại nhiều nơi người dân không được cấp nước đầy đủ để phục vụ sản xuất, ảnh hưởng đến kết quả sản xuất
Nhằm góp phần vào việc nghiên cứu đáp ứng yêu cầu vừa thiết thực, vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài đối với vấn đề giá sản phẩm dịch vụ thủy lợi và hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên là lý do chủ yếu
của việc chọn đề tài Luận văn với chuyên đề: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp cải thiện chính sách hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm dịch vụ công ích thủy lợi tê địa bàn Tỉnh Thái Nguyên”
Do vậy tác giả đã chọn vùng nghiên cứu để đánh giá tác động của chính sách thủy lợi phí trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên có số liệu đảm bảo tin cậy và trong 10 năm phản ánh được diễn biến trước và sau khi miễn giảm thuỷ lợi phí
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả triển khai chính sách hỗ trợ
tập trung vào phương thức hỗ trợ tiền sử dụng dịch vụ công ích thủy lợi và hiệu quả
Trang 11quản lý, khai thác hệ thống công trình trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên thời gian tới
3 Phương pháp nghiên cứu
Để đảm bảo hoàn thành các nội dung và giải quyết các vấn đề nghiên cứu của đề tài, tác giả đề xuất sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp kế thừa có chọn lọc
Thu thập các tài liệu, số liệu có liên quan từ các cơ quan, sở ban ngành cũng như các báo cáo, các công trình nghiên cứu, văn bản quy phạm pháp luật có liên quan Ứng dụng các kết quả nghiên cứu để đánh giá và đề xuất định hướng về tác động của chính sách giá sản phẩm dịch vụ thủy lợi và hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên
- Phương pháp so sánh
Căn cứ vào các đánh giá thu được với các số liệu nói chung có liên quan và các số liệu
có tiêu chí đánh giá, để từ đó phân tích được sự hiệu quả cũng như chưa đạt yêu cầu qua các thời kỳ khác nhau của chính sách giá sản phẩm dịch vụ thủy lợi và hỗ trợ tiền
sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi và sự ảnh hưởng của công tác khai thác công trình thủy lợi trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
Từ các mô hình xử lý dữ liệu sẽ được diễn giải, phân tích nhằm nêu lên thực trạng quản lý, khai thác hệ thống công trình trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên Các biện pháp
và qui trình quản lý được đề xuất dựa trên những kết quả phân tích và tổng hợp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Chính sách hỗ trợ tiền sử dụng dịch vụ công ích thủy lợi, tác động của nó tới hiệu quả QLKT CTTL tại Tỉnh Thái Nguyên
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 12- Về nội dung: Nghiên cứu tác động của chính sách hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm, dịch
vụ công ích thủy lợi
- Về không gian: trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên Huyện Định Hóa, Phú Bình, Đồng
Hỷ
- Về thời gian: Số liệu điều tra về công tác quản lý khai thác từ năm 2012 đến năm
2019, các số liệu về định hướng phát triển, cơ hội và thách thức về quản lý công trình
thủy lợi đến 2025
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
5.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài nghiên cứu lựa chọn phương pháp nghiên cứu phân tích đánh giá, định hướng
về tác động của chính sách giá sản phẩm dịch vụ thủy lợi và hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi đến ảnh hưởng của công tác khai thác công trình thủy lợi và các bên liên quan trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên Dựa trên lý luận và thực tiễn
để phân tích đánh giá về tác động của chính sách thủy lợi phí và ảnh hưởng của nó đến công tác khai thác công trình thủy lợi và các bên liên quan trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về những bất cập trong hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm dịch vụ công ích thủy lợi và ảnh hưởng của nó đến công tác khai thác công trình thủy lợi
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp các nhà quản lý, chủ sở hữu công trình đánh giá được ưu, nhược điểm của phương thức hỗ trợ hiện nay, ảnh hưởng của nó đến quản lý, khai thác công trình thủy lợi và sản xuất nông nghiệp trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên Các đề xuất về giải pháp sẽ giúp các bên liên quan áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí hỗ trợ, hiệu quả QLKT công trình và nâng cao giá trị gia tăng trong SX nông nghiệp
6 Kết quả đạt được
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách hỗ trợ kinh phí sử
Trang 13dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi và công tác quản lý, khai thác các công trình thủy lợi
- Đánh giá tác động của chính sách hỗ trợ kinh phí sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi đến các bên liên quan trong hoạt động quản lý khai thác công trình thủy lợi trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên
- Đề xuất định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả chính sách
hỗ trợ kinh phí sử dụng dịch vụ công ích thủy lợi trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận kiến nghị, luận văn được bố cục với 3 chương, nội dung chính như sau:
Chương 1: Tổng quan về quản lý khai thác quản lý hệ thống công trình thủy lợi và chính sách hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm dịch vụ công ích thủy lợi
Chương 2: Đánh giá Thực trạng triển khai chính sách hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên
Chương 3: Đề xuất giải pháp cải thiện chính sách hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm dịch vụ công ích thủy lợi và hiệu quả QLKT công trình thủy lợi trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ KHAI THÁC QUẢN LÝ HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI VÀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ TIỀN
SỬ DỤNG SẢN PHẨM DỊCH VỤ CÔNG ÍCH THỦY LỢI
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Hệ thống công trình thủy lợi
Thủy lợi được hiểu là những hoạt động liên quan đến ý thức con người trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước để phục vụ lợi ích của mình Những biện pháp khai thác nước bao gồm khai thác nước mặt và nước ngầm thông qua hệ thống bơm hoặc
cung cấp nước tự chảy [1]
Công trình thủy lợi là công trình thuộc kết cấu hạ tầng nhằm khai thác mặt lợi của nước; phòng, chống tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái, bao gồm: hồ chứa nước, đập, cống, trạm bơm, giếng, đường ống dẫn nước, kênh, công
trình trên kênh và bờ bao các loại [1]
Hệ thống công trình thủy lợi bao gồm các công trình thủy lợi có liên quan trực tiếp với
nhau về mặt khai thác và bảo vệ trong một khu vực nhất định [2]
1.1.2 Tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi
Quản lý công trình thuỷ lợi là quá trình điều hành hệ thống công trình thuỷ lợi theo một cơ chế phù hợp, bao gồm công tác kế hoạch hoá, điều hành bộ máy, quản lý vận hành, duy tu công trình, quản lý tài sản và tài chính
Khai thác công trình thuỷ lợi là quá trình sử dụng công trình thuỷ lợi vào phục vụ điều hoà nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, dân sinh, xã hội
Quản lý và khai thác công trình thuỷ lợi có quan hệ mật thiết với nhau: quản lý tốt là điều kiện để khai thác tốt Khai thác tốt góp phần hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý công trình thuỷ lợi
Một hệ thống công trình thuỷ lợi sau khi xây dựng xong cần thiết lập một hệ thống quản lý để khai thác phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp và phục vụ cho sự phát triển dân sinh, kinh tế, xã hội Hệ thống quản lý là tập hợp và phối hợp theo không gian và thời gian của tất cả các yếu tố như: hệ thống công trình, trang thiết bị, con người và
Trang 15các yếu tố chính trị - xã hội… mục tiêu để phục vụ tốt ba nhiệm vụ đó là: (i) quản lý công trình, (ii) quản lý nước và (iii) quản lý sản xuất kinh doanh
1.1.3 Khái niệm chính sách hỗ trợ
Hiện nay có rất nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm chính sách hỗ trợ, tùy theo cách
tiếp cận của từng nhà nghiên cứu thuộc các môn khoa học xã hội khác nhau
Từ góc độ quản lý, chính sách hỗ trợ là sự cụ thể hóa và thể chế hóa của Nhà nước các đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng về việc giải quyết các vấn đề có liên quan đến con người, nhóm người, hoặc toàn thể cộng đồng dân cư, nhằm trực tiếp tác động vào quan hệ con người, xã hội, để điều chỉnh quan hệ lợi ích giữa họ, bảo đảm phát triển con người, thiết lập sự công bằng xã hội, trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế
và tiến bộ xã hội
Chính sách hỗ trợ là chính sách của Nhà nước đề cập và giải quyết các vấn đề phát sinh từ các quan hệ kinh tế - xã hội, liên quan đến lợi ích và sự phát triển con người, cộng đồng dân cư, đó là những vấn đề có ý nghĩa cốt lõi của mỗi quốc gia Do đó, chính sách hỗ trợ phải dựa trên các quan điểm, chủ trương của Đảng, đồng thời các quan điểm, chủ trương đó được thể chế hoá để tác động vào các quan hệ kinh tế - xã hội, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước
Chính sách hỗ trợ là tổng hợp các phương thức, các biện pháp của nhà nước, nhằm thoả mãn những nhu cầu của nhân dân, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, chính trị, góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
1.1.4 Khái niệm sản phẩm, dịch vụ công ích
Sản phẩm, dịch vụ công ích là sản phẩm, dịch vụ mà việc sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ này theo cơ chế thị trường khó có khả năng bù đắp chi phí hoặc sản phẩm, dịch vụ có tính chất đặc thù; được Nhà nước trợ giá phần chênh lệch giữa giá tiêu thụ, giá sản phẩm dịch vụ theo quy định của Nhà nước hoặc phần chênh lệch giữa
số tiền do người được hưởng sản phẩm, dịch vụ công ích thanh toán theo quy định của Nhà nước, với chi phí hợp lý của nhà sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích
Trang 16để sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích do Nhà nước đặt hàng (hoặc giao
nhiệm vụ theo quy định của pháp luật chuyên ngành nếu có) [3]
1.2 Tổng quan về quản lý khai thác và chính sách hỗ trợ tiền sử dụng dịch vụ công ích thủy lợi ở nước ta
1.2.1 Hiện trạng hệ thống thủy lợi tưới ở nước ta
Theo số liệu thống kê đánh giá chưa đầy đủ, các công trình thủy lợi đang được khai thác gồm: 5.656 hồ chứa; 8.512 đập dâng; 5.194 trạm bơm điện, cống tưới tiêu các loại; 10.698 các công trình khác và trên 23.000 bờ bao ngăn lũ đầu vụ hè thu ở
ĐBSCL, cùng với hàng vạn km kênh mương và công trình trên kênh [4]
Tuy các hệ thống thủy lợi đã phát huy hiệu quả phục vụ dân sinh, kinh tế nhưng trong quá trình quản lý vẫn còn một số tồn tại:
- Đầu tư xây dựng không đồng bộ từ đầu mối đến kênh mương nội đồng
- Năng lực phục vụ của các hệ thống đạt bình quân 60% so với năng lực thiết kế Hiệu quả phục vụ chưa cao, chất lượng việc cấp thoát nước chưa chủ động và chưa đáp ứng được so với yêu cầu của sản xuất và đời sống
- Nhiều cơ chế, chính sách quản lý khai thác hệ thống thủy lợi còn bất cập, không đồng bộ, nhất là cơ chế chính sách về tổ chức quản lý,cơ chế tài chính
- Tổ chức quản lý các hệ thống chưa đồng bộ và cụ thể, đặc biệt quản lý các hệ thống thủy lợi nhỏ Việc phân cấp tổ chức, quản lý ở nhiều địa phương còn chưa rõ ràng
Để ổn định và phát triển dân sinh kinh tế, trong những thập kỷ qua công tác phát triển thuỷ lợi đã được quan tâm đầu tư ngày càng cao Phát triển thuỷ lợi đã nhằm mục tiêu bảo vệ, khai thác và sử dụng tổng hợp nguồn nước nhằm bảo vệ dân sinh, sản xuất và đáp ứng nhu cầu nước cho phát triển tất cả các ngành kinh tế xã hội Sự nghiệp phát triển thuỷ lợi đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần vô cùng quan trọng cho sự phát triển của mọi ngành kinh tế - xã hội trong thời gian qua và nhất là trong thời kỳ đổi mới của đất nước, đặc biệt là phát triển sản xuất lương thực
Về Tưới tiêu, cấp thoát nước : Đến nay cả nước có 75 hệ thống thủy lợi lớn, 800 hồ đập loại lớn và vừa, hơn 3.500 hố có dung tích trên 1 triệu m3 nước và đập cao
Trang 17trên 10 m, hơn 5.000 cống tưới- tiêu lớn, trên 10.000 trạm bơm lớn và vừa với tổng công suất bơm 24,8 triệu m3/h, hàng vạn công trình thủy lợi vừa và nhỏ Các hệ thống
có tổng năng lực tưới trực tiếp cho 3,45 triệu ha, tạo nguồn cấp nước cho 1,13 triệu ha, tiêu cho 1,4 triệu ha, ngăn mặn cho 0,87 triệu ha và cải tạo chua phèn cho 1,6 triệu
ha đất canh tác nông nghiệp Diện tích lúa, rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày
được tưới không ngừng tăng lên qua từng thời kì [4]
Cụ thể theo 7 vùng kinh tế như sau :
(i)Vùng Trung du và Miền núi Bắc bộ
Tưới tiêu, cấp nước: Hiện có 1.750 hồ chứa vừa và nhỏ, 40.190 đập đâng, hàng trăm
công trình thuỷ điện, thuỷ lợi, 379 trạm bơm điện, hàng vạn công trình tiểu thuỷ nông Trong vùng có những công trình lớn lợi dụng tổng hợp điều tiết cấp nước, phát điện, chống lũ cho cả vùng trung và hạ du là Hoà Bình, Thác Bà, Núi Cốc, Cấm Sơn Diện tích tưới thiết kế 263.067 ha, thực tưới được 206.037 ha và cấp nước sinh hoạt cho hơn
30 vạn dân nông thôn, cấp nước cho các khu đô thị và công nghiệp ở các tỉnh
- Phòng chống thiên tai lũ lụt: Dọc các sông nhánh chính của hệ thống sông
Hồng-Thái Bình đều đã có đê khép với các tuyến đê ở hạ du, tạo thành hệ thống đê hoàn chỉnh bảo vệ cho cả vùng trung du và đồng bằng sông Hồng, trong đó có 399 km đê sông, 194 cống dưới đê Trung ương quản lý và 120 km đê biển + cửa sông
(ii)Vùng Đồng bằng sông Hồng
- Tưới tiêu, cấp nước: Hiện có 55 hệ thống thủy nông lớn và vừa gồm 500 cống, 1.700
trạm bơm điện chính và 35.000 trạm bơm nhỏ nội đồng, hơn 5 vạn kênh trục chính (cấp I, II, III), 35 hồ chứa (dung tích từ 0,5-230 triệu m3) và nhiều hồ chứa nhỏ có tổng diện tích tưới thiết kế khoảng 85.000 ha, kết hợp cấp nước sinh hoạt
- Phòng chống thiên tai lũ lụt: Đã hình thành một hệ thống đê điều hoàn chỉnh gồm:
2.700 km đê sông, 1.118 cống dưới đê trung ương quản lý, 310 km đê biển + cửa sông
Đê sông được thiết kế chống lũ có mực nước tương ứng +13,1m ở Hà Nội và +7,20 m tại Phả Lại Riêng đoạn đê hữu sông Hồng bảo vệ Hà Nội có mức nước thiết kế +13,4m
Trang 18(iii)Vùng Bắc Trung bộ
- Tưới tiêu, cấp nước: Trong vùng đã xây dựng được 2 hệ thống thủy lợi lớn là Đô
Lương và Bái Thượng, 20 hồ chứa có dung tích trên 10 triệu m3 và hàng nghìn công trình hồ, đập, trạm bơm vừa và nhỏ Tổng diện tích tưới thiết kế là 424.240 ha canh tác, thực tưới 235.600 ha lúa đông-xuân, 159.700 ha lúa hè-thu và 219.700 ha lúa mùa, cung cấp và tạo nguồn cấp cho dân sinh và các khu đô thị trong vùng
Các hệ thống tiêu được thiết kế với hệ số tiêu 4,2-5,6 l/s.ha, có diện tích tiêu thiết kế 163.200 ha (tiêu động lực 48.330 ha), thực tiêu được 132.880 ha (tiêu động lực được
35.210 ha) [4]
- Phòng chống thiên tai lũ lụt: Dọc các hệ thống sông Mã, sông Cả và ven biển đã có
đê chống lũ và ngăn sóng, triều Riêng 3 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh có 512
km đê sông, 259 cống dưới đê trung ương quản lý và 784 km đê biển + cửa sông Đê sông Mã, sông Cả có thể chống lũ chính vụ lớn như lũ lịch sử (P » 2-2,5%) không bị tràn, đê các sông khác chỉ chống được lũ sớm, lũ tiểu mãn và lũ muộn (P » 10-20%) bảo vệ sản xuất vụ đông-xuân và hè-thu
(iv)Vùng Duyên hải Nam Trung bộ
- Tưới tiêu, cấp nước: Có 891 công trình thuỷ lợi cấp nước, gồm 16 đập dâng, 32 hồ
chứa 154 trạm bơm, 683 công trình nhỏ Tổng năng lực tưới thiết kế 181.930 ha, thực tưới được 106.440 ha
- Phòng tránh bão lũ: Các giải pháp phòng chống lũ chủ yếu là bố trí sản xuất tránh lũ
chính vụ, mới có một số hệ thống bờ bao bảo vệ sản xuất vụ hè-thu Riêng đê biển ở tỉnh Quảng Nam và Thành phố Đà Nẵng có chiều dài 214 km
(v)Vùng Tây Nguyên
- Tưới tiêu, cấp nước: Có 972 công trình thuỷ lợi lớn nhỏ tưới cho 34.224 ha lúa
Đông xuân và 87.148 ha cây cà phê Trong đó, ở tỉnh Kon Tum có 150 công trình, tưới cho 4.900 ha lúa đông-xuân, 5.000ha cà phê; tỉnh Gia Lai có 165 công trình, tưới cho 11.650 ha lúa đông xuân, 9.600 ha cà phê; tỉnh Đắc Lắc có 476 công trình, tưới cho
Trang 199.864 ha lúa đông-xuân, 46.878 ha cà phê; Lâm Đồng có 180 công trình, tưới 7.830 ha lúa đông xuân, 31.870 ha cà phê
- Công trình chống lũ chưa được đầu tư nhiều, mới có một vài tuyến đê nhỏ, bờ bao
chống lũ sớm và lũ tiểu mãn ở một số vùng nhỏ
(vi)Miền Đông Nam bộ
- Tưới tiêu, cấp nước, thuỷ điện: Đã xây dựng được nhiều công trình lớn lợi dụng
tổng hợp như: Trị An trên sông Đồng Nai, Thác Mơ trên Sông Bé, Dầu Tiếng trên sông Sài Gòn, Hàm Thuận - Đa Mi (công suất 475 MW, điện lượng 1550 Gwh/năm); đập Nha Trinh, Hồ Sông Quao, hồ Đá Bàn, Đa Tôn, Sông Mây…cùng các công trình
có quy mô vừa khác có tổng công suất 1.188 MW, điện lượng trung bình 4,498 tỷ Kwh/năm Công trình Dầu tiếng có diện tích tưới thiết kế khoảng 93.000 ha và chuyển sang sông Vàm Cỏ khoảng 10 m3/s Ngoài ra còn nhiều công trình vừa và nhỏ khác tưới cho hàng chục ngàn hecta Các hồ chứa đã điều tiết tăng lưu lượng kiệt ở hạ lưu, ranh giới mặn được đẩy lùi về hạ lưu: sông Đồng Nai khoảng 18-20 km; sông Vàm Cỏ
Đông 8-10 km [4]
Nước ngầm được khai thác chủ yếu cấp cho sinh hoạt, một số nơi được khai thác để tưới cho cây công nghiệp, chủ yếu là cà phê Tổng lượng nước ngầm khai thác ước tính khoảng 750.000 m3/ngày, trong đó cấp cho sinh hoạt 700.000 m3/ngày (gồm các trạm bơm Hoóc Môn ở TP Hồ Chí Minh 20.600 m3/ngày và Hòa An, Suối Vàng, Sông Dinh)
- Phòng chống lũ:
Hiện nay, công trình phòng chống lũ chủ yếu là các hồ chứa ở thượng lưu tham gia
chống lũ cho bản thân công trình và một phần giảm lũ cho hạ du Ở hạ du chỉ có một vài tuyến đê nhỏ
(vii)Vùng Đồng bằng sông Cửu long
- Tưới tiêu, cấp nước: Đã cải tạo và đào mới trên 4.430 km kênh trục và kênh cấp
I tạo nguồn cách nhau khoảng 5 km/kênh (có chiều rộng từ 840 m, cao trình đáy từ
Trang 20-2,0 ¸ -4,0 m); trên 6.000 km kênh cấp II (khoảng 1-2 km có 1 kênh), đưa nước ngọt tưới sâu vào nội đồng và tăng cường khả năng tiêu úng, xổ phèn cho đồng ruộng và
105 trạm bơm điện quy mô lớn và vừa, hàng vạn máy bơm nhỏ để tưới tiêu với năng lực tưới thiết kế 81.620 ha (thực tưới được 23.380 ha)
- Xây dựng khoảng 80 cống rộng từ 5 m trở lên trong đó có nhiều cống rộng từ 10-30
m, hàng trăm cống có bề rộng 2-4 m và hàng vạn cống nhỏ để ngăn mặn, ngăn lũ, lợi dụng thuỷ triều tưới tiêu Lớn nhất là cống đập Ba Lai có chiều rộng 84m
- Kiểm soát lũ:
- Xây dựng khoảng 23.000 km bờ bao chống lũ tháng 8 bảo vệ lúa hè-thu
- Đã xây dựng 450 km đê biển, 1.290 km đê sông để ngăn mặn cho vùng ven biển
- Xây dựng hơn 200 km đê bao cho các khu rừng chàm tập trung để giữ nước mưa chống cháy rừng trong mùa khô
1.2.2 Tổ chức quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi ở nước ta
Theo số liệu của Cục Thuỷ lợi, hiện nay cả nước có 93 Công ty quản lý khai thác công trình thuỷ lợi (trong đó có 3 công ty liên tỉnh trực thuộc Bộ NN&PTNT, còn lại là các Công ty trực thuộc UBND cấp tỉnh), một số tổ chức sự nghiệp và hàng vạn Tổ chức hợp tác dùng nước (TCHTDN) Trong những năm qua, tiếp tục thực hiện lộ trình sắp xếp, đổi mới hoạt động của doanh nghiệp các địa phương tiếp tục đổi mới, kiện toàn các tổ chức quản lý khai thác công trình thuỷ lợi và củng cố tổ chức hoạt động của các
tổ chức hợp tác dùng nước Một số tỉnh đã kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về thuỷ lợi như Thừa Thiên Huế, Hà Giang, Bắc Cạn, Phú Yên đã thành lập các Chi cục Thuỷ lợi hoặc kiện toàn về tổ chức như Quảng Ngãi Các địa phương khác chưa có Chi cục Thuỷ lợi cũng đang trong quá trình xây dựng Đề án thành lập Chi cục
Thuỷ lợi [5]
Việc thực hiện sắp xếp, đổi mới và chuyển đổi hình thức hoạt động của các doanh nghiệp KTCTTL theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 còn chưa thống nhất giữa các địa phương, còn lúng túng trong việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp để chuyển đổi cho phù hợp Các tổ chức quản lý khai thác công trình thuỷ lợi của Nhà nước đang tồn tại,
Trang 21về bản chất hoạt động cơ bản là như nhau, song được khoác nhiều tên gọi khác nhau như: Công ty KTCTTL, Trung tâm khai thác Thuỷ lợi, Ban quản lý công trình thuỷ lợi, Công ty cổ phần Sự khác biệt về tên gọi không có ý nghĩa nhiều về thực thi chủ trương đa dạng hoá quản lý công trình thuỷ lợi Nhìn chung tiến độ đổi mới hoạt động của các doanh nghiệp KTCTTL còn chậm Theo báo cáo của Cục thuỷ lợi, đến nay hầu hết các doanh nghiệp, đơn vị quản lý KTCTTL chưa thực hiện đổi mới tổ chức và giảm bớt được số lượng công nhân quản lý thuỷ nông [6]
Nhiều địa phương chưa thành lập các TCHTDN để quản lý các công trình thuỷ lợi nhỏ
và công trình thuỷ lợi nội đồng ở những hệ thống công trình thuỷ lợi vừa và lớn (Bắc Cạn, Lai Châu, Hà Giang, Cà Mâu, Hà Tĩnh ) Ở một số địa phương, UBND xã hoặc thôn quản lý các công trình thuỷ lợi nhỏ và công trình thuỷ lợi nội đồng trong địa bàn
xã, trong khi UBND xã và thôn không phải là các TCHTDN Nhiều địa phương ở vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long các tổ thuỷ nông quản lý công trình thuỷ lợi nội đồng trong địa bàn xã Các tổ thuỷ nông này chưa phải là các tổ chức hợp tác dùng nước hoàn chỉnh Việc thực hiện Nghị định 115/2003/NĐ-CP của Chính phủ về miễn giảm thuỷ lợi phí còn gặp nhiều vướng mắc ở các địa phương Đối với phần kinh phí cấp cho các doanh nghiệp KTCTTL không có nhiều vướng mắc, tuy nhiên việc triển khai phân bổ kinh phí cho các tổ chức hợp tác dùng nước và các đơn
vị quản lý KTCTTL không phải là doanh nghiệp còn gặp nhiều vướng mắc
Hiện nay, Chính phủ đã ban hành Nghị định 115/2008/NĐ-CP quy định về miễn giảm thuỷ lợi phí, quy định miễn thuỷ lợi phí đối với trường hợp sử dụng nước từ công trình thuỷ lợi được đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước và cả trường hợp công trình thuỷ lợi đầu tư bằng nguồn vốn không thuộc ngân sách nhà nước Chính sách này quy định các tổ chức được ngân sách cấp, sử dụng kinh phí bù miễn thuỷ lợi phí bao gồm cả các công ty KTCTTL, các tổ chức sự nghiệp và các TCHTDN Đây là chính sách thuận lợi cho việc phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi cho các TCHTDN Khi thực hiện chính sách miễn giảm thuỷ lợi phí theo Nghị định 115/2009/NĐ-CP của Chính phủ, do được sử dụng kinh phí bù miễn thuỷ lợi phí nên một số địa phương đang có xu hướng chuyển giao ngược các công trình thuỷ lợi nhỏ cho Công ty KTCTTL Tỉnh Vĩnh Phúc đang thực hiện thí điểm mô hình tổ chức quản
Trang 22lý khai thác và điều hành một đầu mối theo phương thức: Thực hiện bàn giao toàn bộ các công trình thuỷ lợi trên địa bàn làm thí điểm (kể cả các công trình do các xã, HTXNN quản lý) cho các công ty KTCTTL quản lý phục vụ tưới từ đầu mối tới mặt ruộng Trước mắt, trong năm 2007 đã thực hiện thí điểm mô hình này cho các hệ thống thuỷ lợi của công ty KTCTTL Tam Đảo, Liễn Sơn, Lập Thạch và Mê Linh Hiệu quả quản lý khai thác công trình thuỷ lợi của các mô hình thí điểm tổ chức quản lý khai thác và điều hành một đầu mối này cần được điều tra, đánh giá một cách khách quan
số tiêu chí phân cấp quản lý ở các tỉnh điển hình được trình bày ở Bảng 2
Bảng 1.1 Các loại tiêu chí phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi đượ áp dụng
ở các tỉnh điều tra
TT Vùng/tỉnh Diện tích tưới tích hồ Dung Chiều cao đập
Cấp kênh/loại kênh
Ranh giới hành chính
Tính chất phức tạp của công trình
Trang 23TT Vùng/tỉnh Diện tích tưới tích hồ Dung Chiều cao đập
Cấp kênh/loại kênh
Ranh giới hành chính
Tính chất phức tạp của công trình
Bảng 1.2 Định lượng các tiêu chí phân cấp quản lý theo quy mô
công trình thuỷ lợi ở các tỉnh điều tra
(ha)
Dung tích hồ (10 6 m 3 )
Chiều cao đập (m)
Cấp kênh/loại kênh
Trang 24Hầu hết các tỉnh đều áp dụng tiêu chí ranh giới hành chính để phân cấp công trình thuỷ lợi Các tỉnh đều có chủ trương phân cấp công trình thuỷ lợi nhỏ, phạm vi tưới, tiêu cho 1 xã cho các tổ chức hợp tác dùng nước Một số tỉnh đã đề ra các tiêu chí phân cấp quản lý theo quy mô công trình (diện tích tưới, công suất trạm bơm, dung tích hồ chứa, chiều cao đập) Trong đó, tiêu chí phân cấp quản lý về diện tích tưới là khoảng
30 - 50 ha, dung tích hồ chứa từ 0.5 - 1 triệu m3 và chiều cao đập đất từ 8 -10m Một
số tỉnh đã đưa vào tiêu chí về mức độ quản lý phức tạp của công trình như các tỉnh Đắc Lắc, Hà Giang, Tiền Giang, Ninh Thuận Tiêu chí quy mô công trình thuỷ lợi (lớn, vùa và nhỏ) được áp dụng ở các tỉnh như Thái Bình, Ninh Thuận, tuy nhiên chưa xác định tiêu chí cụ thể phân loại các công trình thuỷ lợi lớn, vừa và nhỏ Một số tỉnh đưa ra tiêu chí phân cấp kênh, như tỉnh Vĩnh Phúc, Hải Phòng, trong khi đó tiêu chí loại kênh được áp dụng ở tỉnh Quảng Nam Trong đó, kênh loại 1 là kênh tưới liên huyện, kênh loại 2 là kênh tưới liên xã và kênh loại 3 là kênh tưới trong 1 xã Theo tiêu chí phân loại kênh, tỉnh Quảng Nam đã phân cấp quản lý kênh loại III cho các HTXNN Nhiều tỉnh đưa ra tiêu chí phân cấp kênh nội đồng cho các tổ chức thuỷ nông
cơ sở Tuy nhiên tiêu chí kênh nội đồng chưa được định lượng cụ thể
1.2.3 Nội Dung hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm dịch vụ công ích thủy lợi
Tại Nghị định 96/2018/NĐ-CP đã quy định chi tiết về giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi
và phương thức hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi
Trong đó, đối tượng và phạm vi được hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi gồm:
1- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp để sản xuất cây lương thực bao gồm: Toàn bộ diện tích giao để sản xuất cây lương thực, bao gồm cả đất được thừa kế, cho tặng, nhận chuyển quyền sử dụng đất; toàn bộ diện tích đất nông nghiệp phục vụ nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm; diện tích đất trồng cây hàng năm có ít nhất một vụ lúa trong năm Diện tích đất trồng cây hàng năm có ít nhất một vụ lúa trong năm bao gồm đất có quy hoạch, kế hoạch trồng ít nhất một vụ lúa trong năm hoặc diện tích đất
có quy hoạch, kế hoạch trồng cây hàng năm nhưng thực tế có trồng ít nhất một vụ lúa trong năm
Trang 252- Hộ gia đình, cá nhân nghèo theo quy định được Nhà nước giao sử dụng đất nông nghiệp
3- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất để làm muối
4- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp trong hạn mức để trồng rau, màu, mạ; cây công nghiệp dài ngày, cây công nghiệp ngắn ngày kể cả cây vụ đông; cây ăn quả; hoa; cây dược liệu; nuôi trồng thủy sản (trừ nuôi trồng tại hồ, đập, sông, suối, đầm ); chăn nuôi
5- Hộ gia đình, cá nhân là nông trường viên đã nhận đất trong hạn mức được giao khoán ổn định của công ty nông nghiệp, công ty lâm nghiệp (nông, lâm trường quốc doanh) để sản xuất nông nghiệp theo quy định của pháp luật
6- Tổ chức, cá nhân làm nhiệm vụ tiêu, thoát nước khu vực nông thôn và đô thị trừ vùng nội thị
7- Tổ chức, cá nhân làm nhiệm vụ thoát lũ, ngăn lũ, ngăn triều cường, ngăn mặn, đẩy mặn, rửa mặn, rửa phèn, giữ ngọt tại địa bàn
Căn cứ vào thị trường tại thời điểm định giá trong điều kiện thời tiết bình thường, chủ quản lý công trình thủy lợi hoặc tổ chức, cá nhân khai thác công trình thủy lợi thực hiện xây dựng mức giá sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi theo phương pháp định giá chung đối với hàng hóa, dịch vụ do Bộ Tài chính quy định và theo công thức: mức giá sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi = giá thành toàn bộ sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi + lợi nhuận dự kiến (nếu có) + các nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật (nếu có)
Từ đó, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thẩm định phương án giá và quy định giá tối
đa, giá cụ thể sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi
Giá thành toàn bộ của sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi bao gồm các chi phí vận hành, chi phí bảo trì, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí quản lý và các chi phí thực tế hợp lý khác của toàn tổ chức khai thác công trình thủy lợi theo từng biện pháp tưới tiêu hoặc loại hình sản phẩm, dịch vụ hoặc nội dung công việc
Trang 26Giá tối đa sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi giai đoạn 2018 – 2020 trong thời kỳ ổn định ngân sách nhà nước giai đoạn 2017 – 2020 bằng mức giá tối đa đã thực hiện năm
2017
Từ năm 2021 trở đi, căn cứ vào phương pháp định giá sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi, chủ quản lý công trình thủy lợi hoặc tổ chức, cá nhân khai thác công trình thủy lợi xây dựng phương án giá sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi theo quy định của Nghị định [7]
Căn cứ tình hình thực tế biến động của các yếu tố hình thành giá và khả năng ngân sách nhà nước, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các địa phương quy định và thông báo mức giá tối đa sản phẩm dịch vụ công ích thủy lợi cho thời kỳ ổn định ngân sách mới
Nghị định cũng quy định giá và lộ trình thực hiện giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi khác; lập phương án giá và điều chỉnh giá sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi và sản phẩm, dịch vụ thủy lợi khác
Theo Nghị định này, hỗ trợ 100% tiền sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp để sản xuất cây lương thực, sử dụng đất để làm muối; hộ gia đình cá nhân nghèo theo quy định được Nhà nước giao sử dụng đất nông nghiệp…
1.3 Tiêu chí đánh giá hiệu quả chính sách hỗ trợ tiền sử dụng dịch vụ công ích thủy lợi
1.3.1 Mô hình quản lý và tổ chức bộ máy
Hiện nay các hệ thống công trình thuỷ lợi được hai cấp quản lý, đó là cấp các công ty Thuỷ lợi (doanh nghiệp nhà nước) và tổ chức thuỷ nông cơ sở (thông qua các tổ chức Hợp tác xã dùng nước, Hội dùng nước, tổ đội thuỷ nông ) Các công ty Thuỷ lợi: Nhà nước thành lập các công ty Thuỷ lợi để quản lý các công trình thuỷ lợi, khai thác, bảo
vệ các công trình Các công ty hoạt động công ích tuỳ theo quy mô mà tổ chức thành công ty hay xí nghiệp cho phù hợp Đối với các hệ thống công trình lớn, phục vụ tưới tiêu cho nhiều tỉnh thì tổ chức thành lập công ty Thuỷ lợi liên tỉnh Công ty này có thể trực thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT hay trực thuộc tỉnh do Bộ uỷ quyền Các hệ
Trang 27thống thuỷ nông có quy mô vừa, phục vụ tưới tiêu cho nhiều huyện và chỉ nằm trong phạm vi một tỉnh thì thành lập công ty Thuỷ lợi tỉnh Còn các hệ thống công trình nhỏ, phục vụ tưới, tiêu nằm gọn trong một huyện, thì thành lập xí nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi Ngoài ra các hệ thống công trình thuỷ lợi liên tỉnh phải thành lập Hội đồng quản lý hệ thống, Hội đồng quản lý hệ thống thành viên gồm đại diện Bộ Nông nghiệp và PTNT, lãnh đạo các tỉnh, thành phố, doanh nghiệp thuỷ nông, các ngành có liên quan Hội đồng tham mưu cho Bộ Nông nghiệp và PTNT quyết định các chủ trương, chính sách, kế hoạch khai thác và giám sát các hoạt động của các doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi, tổ chức hợp tác dùng nước nhằm điều hoà lợi ích giữa các tổ chức, cá nhân hưởng lợi từ hệ thống
Các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuỷ lợi:
- Cấp bộ: Bộ Nông nghiệp và PTNT quản lý về mặt chuyên môn nghiệp vụ đối với các công ty Thuỷ lợi
- Cấp tỉnh, thành phố: quản lý về mặt nhà nước đối với sở Nông nghiệp và PTNT, các công ty Thuỷ lợi
- Cấp sở: Sở Nông nghiệp và PTNT quản lý về mặt nhà nước, về chuyên môn đối với cấc công ty khai thác các công trình thuỷ lợi Tham mưu cho cấp sở là các Chi cục Thuỷ lợi hoặc phòng Thuỷ lợi
- Cấp huyện: Quản lý về mặt lãnh thổ, về mặt phối hợp chỉ đạo sản xuất, về mặt bảo
vệ công trình đối với các công ty Thuỷ lợi
- Cấp xã: Các Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp được UBND các xã giao quản lý, khai thác các đầu mối trạm bơm nhỏ, hệ thống kênh mương nội đồng Hoạt động của các HTX DVNN bao gồm các dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp như: dịch vụ cung ứng giống, vật tư nông nghiệp, dịch vụ tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, dịch vụ làm đất, dịch vụ điện, dịch vụ thuỷ lợi, dịch vụ bảo vệ thực vật, dịch vụ bảo vệ ruộng đồng, khuyến nông
Từ khi thực hiện Luật Hợp tác xã (năm 2012) các Hợp tác xã đã tự hạch toán thu, chi, trích khấu hao tu bổ máy móc, nhà trạm, kênh mương Nhìn chung, trong những năm
Trang 28qua, công tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi đã phát huy hiệu quả tưới, tiêu phục
vụ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn Một số mô hình quản lý và khai thác của công ty Thuỷ lợi được tổ chức theo cơ cấu trực tuyến, cơ cấu chức năng, hay cơ cấu trực tuyến chức năng
- Cơ cấu trực tuyến: Tổ chức quản lý theo cơ cấu trực tuyến là mọi công việc đều được giao cho từng đơn vị với một cấp trên trực tiếp Tổ chức theo hình thức này có ưu điểm là quyền hạn và trách nhiệm được phân định rõ ràng , chỉ đạo kiểm tra, kiểm soát thuận lợi, thu thập, xử lý thông tin nhanh chóng, nhưng nhược điểm của mô hình này
là người quản lý phải giỏi toàn diện không phụ thuộc vào các chuyên gia
- Cơ cấu chức năng: Mô hình này thiết lập bộ máy có các bộ phận chức năng, các bộ phận này được giao chỉ đạo các đơn vị trực tuyến Ưu điểm của mô hình này là phát huy được sự đóng góp của các bộ phận chuyên môn, các chuyên gia vào công tác lãnh đạo nên giảm bớt công việc cho các lãnh đạo Nhược điểm của mô hình này là dễ phát sinh sự can thiệp của bộ phận chức năng đối với đơn vị trực tuyến, dễ sinh tình trạng thiếu trách nhiệm và khó phối hợp khi giải quyết công việc
- Cơ cấu phối hợp trực tuyến chức năng: Mô hình này là sự kết hợp giữa trực tuyến
và chức năng, bộ máy quản lý có quản lý có bộ phận chức năng nhưng không có quyền chỉ đạo các đơn vị trực tuyến Ưu điểm của mô hình này là vừa phát huy được khả năng đóng góp của bộ phận chuyên môn, nhưng đồng thời vừa bảo đảm sự chỉ huy của hệ thống trực tuyến Nhược điểm của mô hình này là dễ phát sinh những phức tạp trong việc phối hợp các bộ phận chức năng, chỉ đạo quá tập trung hạn chế sử dụng chuyên môn Mỗi một mô hình đều có những ưu và nhược điểm nhất định, vấn đề quan trọng là phải lựa chọn được mô hình quản lý và khai thác phù hợp
1.3.2 Công tác quản lý và mức độ hoàn thành kế hoạch
Theo quy định tại Nghị định 32, dịch vụ công ích là dịch vụ thiết yếu đối với đời sống kinh tế - xã hội, cộng đồng dân cư mà việc sản xuất và cung ứng theo cơ chế thị trường khó có khả năng bù đắp chi phí nên nhà nước phải tổ chức sản xuất cung ứng theo mức giá hoặc phí do nhà nước quy định Các dịch vụ công ích (trước chỉ do doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích sản xuất cung ứng) sẽ chuyển sang
Trang 29phương thức là đấu thầu, đặt hàng, giao kế hoạch, chỉ trừ 5 nhóm sản phẩm dịch vụ công ích thuộc lĩnh vực an ninh, quốc phòng là do doanh nghiệp quốc phòng và an ninh sản xuất, cung ứng Theo cơ chế này thì doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh
tế khác nhau, hợp tác xã đều có thể tham gia sản xuất sản phẩm, dịch vụ công ích nếu
có đủ năng lực theo quy định Nguyên tắc lựa chọn phương thức sản xuất cung ứng hàng hoá dịch vụ công ích theo trình tự “đấu thầu, đặt hàng, giao kế hoạch” [8]
Công tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi thuộc một trong số 26 nhóm hàng hoá dịch công ích phải theo phương thức “đấu thầu, đặt hàng, giao kế hoạch” Theo Nghị định 32, các hệ thống công trình thủy lợi liên tỉnh, liên huyện có quy mô lớn được lựa chọn một trong hai phương thức là đặt hàng hoặc giao kế hoạch; các hệ thống công trình thuỷ lợi còn lại áp dụng hình thức đấu thầu hoặc đặt hàng Như vậy việc lựa chọn phương thức nào để vừa phát huy được tính năng động, tự chủ tổ chức quản lý khai thác công trình thuỷ lợi lại vừa bảo đảm được chất lượng sản phẩm, dịch vụ; quản
lý, tu sửa, bảo vệ công trình tốt; hiệu quả hoạt động cao và bền vững có ý nghĩa rất quan trọng
Việc lựa chọn phương thức quản lý khai thác các hệ thống công trình thuỷ lợi cần xem xét trên tất cả các khía cạnh như quy mô (lớn vừa và nhỏ), yêu kỷ thuật về quản lý vận hành, ảnh hưởng của hệ thống đối với an toàn xã hội và điều kiện kinh tế xã hội của từng vùng
Mức độ hoàn thành là phải đạt được mục tiêu là từng bước xã hội hoá công tác quản
lý, huy động tối đa nguồn lực xã hội tham gia quản lý khai thác công trình thuỷ lợi thông qua cơ chế thị trường, cạnh tranh lạnh mạnh và nhà nước vẫn phải giữ được vai trò quản lý với tư cách là chủ sở hữu công trình
Theo cách tiếp cận trên các công trình lớn, yêu cầu kỷ thuật về quản lý vận hành phức tạp nên áp dụng phương thức đặt hàng Các doanh nghiệp đang quản lý các hệ thống thuỷ lợi liên tỉnh hoặc liên huyện có quy mô lớn thì chuyển sang loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (nhà nước nắm giữ 100 % vốn điều lệ trực thuộc
Bộ NN & PTNT hoặc UBND cấp tỉnh) trực tiếp quản lý công trình đầu mối và kênh chính theo phương thức đặt hàng Cơ quan đặt hàng quy định rõ nội dung đặt hàng
Trang 30quản lý khai thác công trình thuỷ lợi, như diện tích tưới, tiêu (số lượng, chất lượng, thời gian); quản lý bảo vệ; duy tu sửa chữa v.v bảo đảm công trình phụ vụ tốt, không
bị hưu hỏng, xuống cấp vận hành an toàn Căn cứ vào định mức kinh tế kỷ thuật, các chế độ chính sách hiện hành và đặc điểm hoạt động cụ thể của từng hệ thống (ứng với điều kiện khí hậu thời tiết bình thường), cơ quan đặt hàng tính toán xác định đơn giá đặt hàng thương thảo ký kết hợp đồng với công ty Đơn giá đặt hàng được cấp có thẩm quyền phê duyệt là căn cứ để thanh quyết toán cho công ty khi hoàn thành hợp đồng, được chấp thuận nghiệp thu thu Công ty được quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao và tự chủ quyết định mức chi trả tiền lương, tiền công cho cán bộ và người lao động theo khối lượng, kết quả, hiệu quả công việc
và trách nhiệm của từng người theo quy chế chi tiêu nội bộ của công ty
Các tuyến kênh lấy nước, dẫn nước từ kênh chính đến cống đầu kênh nội đồng đi qua các tỉnh, huyện (do địa phương quản lý) thuộc hệ thống thuỷ lợi liên tỉnh và các hệ thống công trình thuỷ lợi có quy mô vừa, phạm vi phục vụ nằm gọn trong một huyện, yêu cầu kỷ thuật vận hành không phức tạp (trừ một số hồ chứa ảnh hưởng đến an toàn của khu vực ) nên lựa chọn phương thức đấu thầu hoặc giao khoán quản lý (đến cống đầu kênh nội đồng) Tất cả các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, hợp tác xã đều có thể tham gia quản lý khai thác công trình thuỷ lợi nếu đáp ứng đủ năng lực theo yêu cầu của cơ quan quản lý, ứng với từng loại hệ thống công trình cụ thể Trước mắt
có thể áp dụng hình thức đặt hàng hoặc giao khoán, nhưng về sau nên chuyển sang hình thức đấu thầu quản lý là chính Các tỉnh nên thành lập Ban quản lý khai thác công trình thuỷ lợi trực thuộc Sở Nông nghiêp & PTNT hoặc Chi Cục Thủy lợi để giúp UBND tỉnh tổ chức đấu thầu, đặt hàng, kiểm tra giám sát, nghiệm thu, thanh toán.v.v (tương tự như Ban Quản lý dự án trong xây dựng cơ bản) Hình thức đấu thầu quản lý đã được áp dụng khá thành công tại khu vực tưới Jingui thuộc tỉnh Shaanxi, Trung quốc Các doanh nghiệp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi (cấp huyện hiện nay) nên sắp xếp lại theo quyết định 38/2007/QĐ-TTg và đa dạng hoá các hoạt động sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường (trong đó có hoạt động quản lý khai thác công trình thuỷ lợi)
Trang 311.3.3 Năng lực lãnh đạo trong quản lý
Năng lực lãnh đạo trong quản lý luôn giữ vai trò quyết định đến sự phát triển của một
tổ chức, đặc biệt đối với một tổ Đảng và Nhà nước ta đã xác định phát triển nguồn nhân lực là khâu quyết định để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và coi “lấy việc phát huy nguồn nhân lực làm yếu tố cơ bản cho phát triển nhanh và bền vững”
Năng lực lãnh đạo trong quản lý được Bộ Thủy Lợi (cũ), Bộ Nông nghiệp và PTNT ngày nay, Viện Quy hoạch Thủy lợi đã luôn chú trọng, ưu tiên các nguồn lực cho công tác đào tạo, nâng cao năng lực cả về kỹ năng quản lý và trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ cho đội ngũ cán bộ, công nhân, viên chức, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo Vì vậy, trong suốt quá trình hoạt động và phát triển, luôn có đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chuyên gia, kỹ thuật dầy dạn kinh nghiệm, am tường thực tiễn, sâu sát và đầy sáng tạo, đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp phát triển thủy lợi của đất nước Đội ngũ đó qua nhiều thế hệ, gồm nhiều kỹ thuật viên, cán sự, công nhân, cán bộ, chuyên gia, kỹ sư, thạc sỹ, tiến sỹ được đào tạo và trưởng thành trong thực tiễn công tác phong phú, đã hoàn thành xuất sắc các đề tài, dự án quy hoạch thủy lợi, phòng tránh lũ lụt, giảm nhẹ thiên tai cũng như trong các hoạt động hợp tác với các cơ quan, tổ chức quốc tế khác Đặc biệt trong tình hình mới, với yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin và yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực, công tác đào tạo, nâng cao năng lực lãnh đạo trong quản
lý cho cán bộ, công nhân viên cần tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt được, khắc
phục khó khăn, đẩy mạnh sự nghiệp phát triển nông nghiệp nông thôn và kinh tế xã
hội của đất nước
1.3.4 Mức độ kiểm soát các quy trình
Mục đích của quy trình này nhằm đưa ra cách thức kiểm soát các hoạt động điều hành
và trách nhiệm liên quan đến việc nhận dạng các mối nguy, đánh giá rủi ro Trên cơ sở
đó xác định các biện pháp kiểm soát thích hợp
Căn cứ theo luật nân sách nhà nước các tổ chức khai thác công trình thủy lợi ở lập dự toán kinh phí hỗ trợ sử dụng sản phẩm dịch vụ công ích thủy lợi, kinh phí hỗ trợ báo
Trang 32cáo Sở Tài chính chủ trì phố hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tổng hợp dự toán của các tổ chức khai thác công trình thủy lợi địa phương báo cáo ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình hội đồng Nhân dân cấp tỉnh phê chuẩn đồng thời báo cáo Bộ Tài Chính
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện phân bổ dự toán kinh phí hỗ trợ sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi cho các tổ chức khai thác công trình thủy lợi và các huyện Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổng hợp trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phân bổ kinh phí được hỗ trợ cho các tổ chức khai thác công trình thủy lợi và các huyện
Căn cứ dự toán được phân bổ, cơ quan tài chính thực hiện cấp phát, thanh toán kinh phí sử dụng sản phẩm dịch vụ công ích thủy lợi cho các tổ chức khai thác công trình thủy lợi theo quy định hiện hành
Việc quyết toán kinh phí hỗ trợ sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi được thực hiện theo quy định của Luật ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn Ngân sách cấp huyện được quyết toán với ngân sách cấp tỉnh (địa phương), ngân sách địa phương quyết toán với ngân sách trung ương [9]
Các tổ chức khai thác công trình thủy lợi phải có đầy đủ các chứng từ để làm căn cứ thanh quyết toán: Hợp đồng tưới nước, tiêu nước, cấp nước của tổ chức khai thác công trình thủy lợi với các tổ chức, cá nhân sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi; biên bản nghiệm thu và biên bản thanh lý Hợp đồng tưới nước, tiêu nước, cấp nước; khối lượng duy tu sửa chữa nạo vét các công trình thủy lợi bằng nguồn kinh phí hỗ trợ
sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức việc kiểm tra và phê duyệt quyết toán Khoản hỗ trợ kinh phí sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi của các tổ chức khai thác công trình thủy lợi địa phương (bao gồm các công ty và các huyện)
1.4 Kinh nghiệm về khai thác và hỗ trợ giá dịch vụ thủy lợi
1.4.1 Trong nước
1.4.1.1 Kinh nghiệm ở tỉnh Đồng Tháp
Trang 33Đồng Tháp có diện tích tưới hàng năm khoảng 200.000 ha Hoạt động của các đơn vị quản lý khai thác công trình thuỷ lợi ở đây gần như hoàn toàn theo cơ chế thị trường
trên nguyên tắc “đấu giá cạnh tranh”.[10]
Các hộ nông dân trong vùng hưởng lợi tổ chức đại hội những người dùng nước Đại hội thảo luận quy chế quản lý, vận hành và tu sửa công trình, đồng thời bầu ra Ban quản lý tưới Ban quản lý tưới đại diện cho quyền lợi của các hộ dân trong vùng hưởng lợi và chịu trách nhiệm xem xét, lựa chọn cá nhân nhận khoán theo nguyên tắc “đấu giá mức thu thuỷ lợi phí”
Tổ chức, cá nhân nào có đủ năng lực và chấp hành đầy đủ các quy định về quản lý, vận hành công trình, cung cấp nước tưới đầy đủ theo yêu cầu của các tập đoàn viên và
có mức thu thuỷ lợi phí thấp nhấp sẽ được chọn để giao khoán
Ban quản lý tưới tiêu sẽ ký hợp đồng giao khoán với tổ chức, cá nhân nhận khoán; chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát công việc tưới tiêu và tu sửa công trình của người nhận khoán theo các quy định đã được ký kết trong hợp đồng mà đại hội đã thông qua
1.4.1.2 Kinh nghiệm ở An Giang
Công tác khai thác và hỗ trợ giá dịch vụ thủy lợi thực hiện khá hiệu quả An Giang là
một tỉnh nông nghiệp, diện tích trồng lúa trên 200.000 ha Hệ thống tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp là các trục kênh rạch tạo nguồn nước tưới và các trạm bơm bơm nước vào các khu canh tác của từng hộ Công ty khai thác công trình thuỷ lợi An Giang được giao quản lý các trục kênh chính, các công trình điều tiết và một số trạm bơm lớn phục vụ tưới cho khoảng 10.000 ha (chỉ khoảng 5% diện tích sản xuất của toàn tỉnh) Số diện tích còn lại do các trạm bơm nhỏ phục vụ Các trạm bơm này đã
được UBND tỉnh giao lại cho UBND các xã, trị trấn quản lý [10]
Để quản lý, khai thác tốt các trạm bơm này, UBND tỉnh An Giang đã cho áp dụng hình thức “hiệp thương khai thác sử dụng đường nước” Tổ chức, cá nhân tham dự hiệp thương làm hồ sơ gửi đến UBND xã, thị trấn nơi tổ chức hiệp thương, hồ sơ gồm thuyết minh cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị quản lý, phương hướng kế hoạch quản lý khai thác công trình, mức thuỷ lợi phí phải thu UBND xã, thị trấn thông báo thời gian, địa điểm tổ chức hiệp thương Đúng ngày tổ chức hiệp thương, UBND xã
Trang 34mời tất cả các hộ dùng nước chung trong hệ thống và các tổ chức, cá nhân đang ký hiệp thương đến dự và xét chọn Nguyên tắc lựa chọn là các hộ dùng nước nghiên cứu
kỹ từng hồ sơ để lựa chọn người quản lý, khai thác trên cơ sở cân nhắc phương án, kế hoạch quản lý và mức thu thuỷ lợi phí sau đó bỏ phiếu kín lựa chọn Mục đích của việc hiệp thương khai thác sử dụng đường nước là nhằm đảm bảo lợi ích của người quản lý và người sử dụng với chi phí thấp nhất mà mang lại hiệu quả cao nhất
1.4.1.3 Kinh nghiệm ở Tuyên Quang
Từ năm 1996 đến nay việc quản lý, khai thác bảo vệ CTTL ở Tuyên Quang đã được phân cấp cho các Ban quản lý công trình thủy lợi ở cơ sở thực hiện theo phạm vi phục
vụ tưới của công trình gồm 3 loại hình:
- Ban quản lý công trình thủy lợi liên huyện: Do chủ tịch UBND tỉnh quyết định thành lập, trực thuộc Chi cục Thủy lợi Hiện có 02 Ban, Tổng diện tích tưới là 1.159 ha, chiếm 3,2% diện tích tưới toàn tỉnh
- Ban quản lý công trình thủy lợi liên xã: Do UBND huyện quyết định thành lập, trực thuộc UBND huyện, hiện nay toàn tỉnh có 05 Ban Tổng diện tích tưới 1.696 ha, chiếm 4,7% diện tích tưới toàn tỉnh
Tại các Ban quản lý này có cán bộ chuyên trách và các thành viên hoạt động kiêm nhiệm là Chủ tịch, Chủ nhiệm các HTX- NLN (hợp tác xã nông lâm nghiệp) sử dụng nước từ công trình (mỗi cán bộ chuyên trách quản lý trung bình 50-70 ha/vụ)
- Ban quản lý công trình thủy lợi Hợp tác xã Nông lâm nghiệp do UBND xã quyết định thành lập, trực thuộc UBND xã, toàn tỉnh hiện nay có 143 Ban Tổng diện tích tưới 33.449 ha chiếm 92,1% diện tích tưới toàn tỉnh Mỗi Ban quản lý công trình thủy lợi có trưởng ban là Hợp tác xã nông lâm nghiệp, kế toán là kế toán Hợp tác xã, ngoài
ra tùy theo quy mô, số lượng các CTTL trên địa bàn mỗi ban có từ 3 đến 5 thành viên
là trưởng thôn bản tham gia (Các thành viên ban quản lý hưởng tiền công không quá 40% nguồn TLP được cấp bù cho Ban).[10]
Hiện nay toàn tỉnh có 600 người thực hiện nhiệm vụ quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi (gồm cán bộ chuyên trách và bán chuyên trách), trong đó trình độ đại
Trang 35học: 93 người (đại học thủy lợi 10 người, 83 người đại học nông nghiệp, xây dựng…); trình độ cao đẳng, trung cấp 258 người (thủy lợi, cơ điện 23 người, còn lại ngành nghề khác; sơ cấp và chưa qua đào tạo: 248 người
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức quản lý, khai thác công trình thủy lợi tỉnh Tuyên Quang
1.4.1.4 Kinh nghiệm ở Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam
Mô hình HTXDN được thành lập thí điểm để quản lý kênh cấp 2 liên xã N16 là mô hình tổ chức hợp tác dùng nước hoạt động theo ranh giới khu tưới, không lệ thuộc vào ranh giới hành chính
Mối quan hệ của HTXDN với các cơ quan liên quan được mô tả như sau Theo đó, vai trò trách nhiệm của các bên liên quan được xác định cụ thể như sau:
+ Vai trò, trách nhiệm của UBND huyện: UBND huyện thực hiện quản lý nhà nước
đối với HTXDN quản lý kênh liên xã, giải quyết tranh chấp giữa các xã trong khu tưới Để tham mưu cho huyện, Phòng Nông nghiệp và PTNT có trách nhiệm quản lý, giám sát và hỗ trợ HTXDN về nghiệp vụ quản lý vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa công trình, trong khi đó Phòng Tài chính-Kế hoạch quản lý và giám sát HTXDN thực hiện thu chi, thanh quyết toán từ nguồn kinh phí cấp bù thủy lợi phí
Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang
Sở Nông nghiệp và phát triển
Chi cơ quan Tủy lợi Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Ủy ban nhân dân xã
Ban quản lý thủy lợi liên huyện Ban quản lý công trình liên xã Ban quản lý công trình thủy lợi
xã HTX
Đội sản xuất/Hộ sử dụng nức/Nhóm hộ sử dụng nước
Trang 36+ Trách nhiệm của công ty khai thác công trình thủy lợi: Công ty thực hiện chuyển
giao và ký hợp đồng với HTXDN, kiểm tra và nghiệm thu khối lượng hoàn thành và
có trách nhiệm trích tỷ lệ kinh phí cấp bù thủy lợi phí được thỏa thuận cho HTXDN quản lý kênh liên xã Tỷ lệ chia sẻ tài chính được xác định theo sự thỏa thuận của công
ty và HTXDN trên cơ sở các công việc được chuyển giao quản lý Theo đó, tỷ lệ chia
sẻ tài chính được thỏa thuận là công ty khai thác công trình thủy lợi trích 108 triệu đồng/năm, chiếm 12% kinh phí cấp bù thủy lợi phí cho HTXDN quản lý kênh N16 Tuyến kênh liên xã vẫn là tài sản thuộc công ty nên Công ty có trách nhiệm thực hiện sửa chữa lớn đối với kênh cấp N16 và các kênh cấp 3 có diện tích tưới vượt quy mô cống đầu kênh Ngoài ra, Công ty còn có trách nhiệm hỗ trợ kỹ thuật về vận hành, điều tiết nước, sửa chữa công trình và hướng dẫn thanh quyết toán nguồn kinh phí cấp bù thủy lợi phí cho HTXDN
1.4.2 Ngoài nước
1.4.2.1 Kinh nghiệm ở Trung Quốc
Chính phủ ban hành chính sách về giá nước mang tính nguyên tắc (quy định khung), giao quyền cho địa phương trực tiếp quản lý công trình quy định cụ thể cho phù hợp trên cơ sở lợi ích kinh tế và mức chi phí thực tế đã sử dụng, mức chi phí tính toán và ý kiến tham gia của người dân
Giá nước bao gồm các khoản mục:
+ Các loại khấu hao
+ Chi phí quản lý vận hành
+ Các loại thuế và lãi
Cơ cấu giá nước bao gồm:
+ Đảm bảo chi phí cho đơn vị quản lý vận hành
+ Đảm bảo tính công bằng (dùng nước phải trả tiền, dùng nhiều trả nhiều, dùng ít trả ít)
Trang 37Kinh nghiệm của Trung quốc cho thấy từ khi bắt đầu thu thuỷ lợi phí (giá nước), việc
sử dụng nước được tiết kiệm hơn, đặc biệt là từ khi thuỷ lợi phí được tính bằng m3 Nhưng điều này cũng là một thách thức đối với các đơn vị quản lý, điều này đòi hỏi đơn vị quản lý công trình thuỷ lợi phải có các biện pháp để quản lý tốt, giảm các tổn thất để có nhiều nước bán cho nông dân theo yêu cầu của họ và giảm thiểu chi phí Giá nước tưới có chính sách riêng, được quy định phù hợp với điều kiện cụ thể, mang tính công ích và căn cứ vào chi phí thực tế Nhà nước có chính sách hỗ trợ cho các trường hợp sau:
+ Vùng nghèo khó khăn, mức sống thấp
+ Khi công trình hư hỏng nặng cần phải sửa chữa
+ Hỗ trợ chi phí cho diện tích tiêu phi canh tác
+ Hỗ trợ chi phí tiền điện tưới tiêu
+ Khi có thiên tai gây mất mùa phải giảm mức thuế sử dụng đất
Tuỳ theo loại hình công trình, tự chảy hay động lực, điều kiện cụ thể của hệ thống công trình để quy định mức thu và có chính sách hỗ trợ Cơ quan nào quyết định miễn giảm giá nước tưới thì cơ quan đó có trách nhiệm cấp bù hỗ trợ tài chính cho đơn vị quản lý công trình thuỷ lợi
1.4.2.2 Kinh nghiệm ở Mỹ
Mỹ là một quốc gia có nguồn tài nguyên nước phong phú
+ Trước kia thuỷ nông địa phương (xí nghiệp thuỷ nông huyện hoặc tỉnh) thu thuỷ lợi phí dựa trên cơ sở chi phí vận hành và bảo dưỡng cho các vùng đất canh tác khác nhau Ví dụ mức thu đối với những vùng tưới động lực sẽ cao hơn mức thu những vùng tưới tự chảy
+ Bắt đầu từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước, nhà nước đã xây dựng luật mà nó bao hàm cả việc bảo vệ nguồn tài nguyên nước Thuỷ lợi phí đã được thu tăng lên đáng kể Ví dụ: thời điểm năm 1988 thuỷ nông huyên Broadview đã tăng mức thu từ 40USD/ha lên 100USD/ha với mức nước sử dụng được tính toán; năm 1987 tại thuỷ
Trang 38nông huyện Pacheco mức thu tính theo 2 bậc, bậc thứ nhất mức thu 90USD/ha và bậc thứ 2 thu 150USD/ha; đối với mức thu dựa trên khối lượng sử dụng ở hệ thống thuỷ nông bang Califonia tăng mức thu từ từ 4,4USD/1000m3 lên 11,9USD/100m3 Với mức thu như vậy thì thực tế đã cao hơn mức cần thiết để thu hồi các chi phí
+ Riêng đối với hệ thống thuỷ nông bang California, thu bình quân mức 6,3USD/1000m3, và sau đó tăng lên 11,0-16,3USD/1000m3 tuỳ thuộc vào mức đảm bảo tưới; trong khi đó đối với hệ thống tưới huyện Madera mức thu tương ứng là 19,9 tăng lên 24,7-42,3USD/1000m3
1.4.2.3 Pháp và một số nước châu âu
Giá nước tưới ở Pháp từ 0,049-0,171USD/m3 (nước tưới) và thu 0,022USD/m3 nước thải trở lại sông Mức thu của các tổ nhóm nông dân 0,081$/m3 (giá ở trên là tính đối với tự chảy còn đối với những vùng phải bơm động lực thì giá phải cộng thêm chi phí bơm nên giá sẽ cao hơn mức trên)
Đối với một số nước ở châu Âu khác như Hy Lạp, trong sản xuất nông nghiệp có mức tưới khoảng 6000-12.000m3/ha, thuỷ lợi phí thu ở mức 187,5-350USD/ha đối với diện tích canh tác lúa, còn đối với các loại cây trồng khác tư ở mức từ 87,5-218,75USD/ha tuỳ theo loại cây trồng Ở Italy, nước sử dụng cho nông nghiệp thu thuỷ lợi phí dựa trên cơ sở diện tích và mức thu khác nhau giữa các vùng từ 22,11-82,36USD/ha (trung bình 37,38USD/ha đây là mức thu kế hoạch) nhưng thực tế chỉ thu được khoảng 80%
so với kế hoạch và chỉ đảm bảo được khoảng 60% chi phí vận hành và bảo dưỡng
Ở Tây Ban Nha thuỷ lợi phí nông dân phải trả hầu hết toàn bộ chi phí từ xây dựng cơ bản, quản lý vận hành hệ thống thuỷ nông và cả quản lý cấp lưu vực Có 3 cách tính thuỷ lợi phí: dựa trên diện tích; dựa trên khối lượng sử dụng hoặc kết hợp cả hai cách trên Thuỷ lợi phí trung bình ở thời điểm năm 1994 khoảng 84,7USD/ha-năm (dao động khác nhau giữa các hệ khu vực từ 8,3-266 USD/ha-năm) và từ 0.008-0,16USD/m3 sử dụng Ví dụ ở hợp tác thuỷ lợi Grnil-Cabra vùng San Martin de Rubiales quản lý kiểu hợp tác xã, tổng thuỷ lợi phí cho tưới bằng bơm nông dân phải trả là 258USD/ha-năm trong đó khoảng 112,5USD/ha-năm (phần cứng) 145,8USD/năm (phần mềm) trên cơ sở khối lượng sử dụng
Trang 391.4.2.4 Kinh nghiệm của Thái Lan
TLP ở Thái Lan được nhà nước miễn
- Phí nước thô: Sử dụng tùy tiện và không có giám sát thích hợp
• Tiền phải trả thiết bị hệ thống cung cấp nước sử dụng nước để sản xuất đường ống nước, vòi nước;
• Tiền phải trả người sử dụng quy mô lớn - các trang trại và các ngành công nghiệp;
- Miễn phí cho mục đích nông nghiệp đây là lĩnh vực sử dụng nhiều nước, hiện đang tranh luận về việc có nên thu tiền lệ phí cho nông dân thực hiện các chi phí thực tế của nước
+ Hệ thống cung cấp nước bao gồm MWA (Metropolitan Waterworks Authority - Cơ quan cung cấp nước quốc gia)/PWA (Provincial Waterworks Authority - Cơ quan cung cấp nước cấp tỉnh)/tổ chức tư nhân
- Phí nước: trực tiếp đến người dùng cuối (hộ gia đình và Công nghiệp)
• Xử lý nước và đường ống
• Kênh nước cho khu công nghiệp
Hệ thống tưới nước ở Thái Lan được nhà nước quản lý, phát triển, hoạt động, và hỗ trợ Khoảng 10 tỷ USD đã được chi tiêu hàng năm cho Cơ quan Thủy lợi Hoàng gia (RID) và các hoạt động quản lý lúa gạo trong 25 năm qua (Budhaka et al 2002,; Warr
và Kohpaiboon, 2007) Các khu vực công ở Thái Lan bao gồm chi phí đầu tư, chi phí khai thác và cung cấp (vận hành và bảo trì), sửa chữa và bảo dưỡng, phát triển cơ sở
hạ tầng mới, gia hạn, tư vấn kỹ thuật, đào tạo, nghiên cứu và phát triển các giống lúa
và các sản phẩm, trạm thí nghiệm, trình diễn và các chương trình hỗ trợ tài chính khác nhau cho nông dân Theo quan điểm (1) chi phí phát sinh bởi cung cấp nước, dịch vụ tưới tiêu, vận hành và bảo dưỡng ở Thái Lan, (2) Bình luận và gây tranh luận trong nước và quốc tế về thu phí cho nông dân sử dụng nước tưới (Tiwari, 1998; Briscoe, 1999; Backeberg, 2006; Molle, 2007), bài viết này kiểm tra sự tương quan giữa giá trị
sử dụng nước tưới tiêu và chi phí tưới tiêu
Trang 40Có một số luận cứ để đánh giá giá trị và giá cả của nước tưới, ví dụ như nội hóa tác dụng tài nguyên thiên nhiên khan hiếm và các yếu tố ngoại môi trường, mục tiêu công bằng, thu hồi chi phí cung ứng và khả năng tài chính, và sự cải thiện và hiện đại hóa dịch vụ (Briscoe, 1997; Renzetti, 2000) Trong bối cảnh của Thái Lan, ít nhất là ba sáng kiến mới nhất có liên quan (Perret, 2013) Luật Thủy lợi Thái Lan của năm 1942 thiết lập một lệ phí chính thức cho sử dụng nước thủy lợi (hiện tại 0,5 THB/m3 [1 Thái Baht = 0.03 US $])
* Bài học kinh nghiệm
Đối với mỗi hệ thống tưới tiêu cụ thể, việc thiết lập mức thu thuỷ lợi phí đối với sản xuất nông nghiệp phải dựa vào điều kiện thực tiễn của từng vùng miền, quốc gia, đặc biệt là điều kiện kinh tế xã hội và mức sống của người dân để quyết định Hầu hết các nước, việc thu thuỷ lợi phí (giá nước) chỉ đề trang trải chi phí vận hành và bảo dưỡng
và hầu như vẫn chưa đủ chỉ bù đắp được khoảng 20-70% cho phí vận hành và bảo dưỡng vì vậy việc cải thiện chính sách hỗ trợ tiền sử dụng dịch vụ công ích Thủy lợi phải được các nhà chính sách chú trọng hơn nữa
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách hỗ trợ tiền sử dụng dịch vụ công ích thủy lợi
1.5.1 Nhóm nhân tố Chủ quan
1.5.1.1 Ảnh hưởng của nhân tố sử dụng DVCITL
Luật đã quy định rõ hoạt động cung cấp, sử dụng DVCITL giữa tổ chức, cá nhân cung cấp (bên cung cấp) với tổ chức, cá nhân sử dụng (bên sử dụng) là hoạt động dịch vụ nên phải thực hiện theo hợp đồng dịch vụ Bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền cho bên cung cấp theo nguyên tắc dùng nhiều trả nhiều, dùng ít trả ít; chất lượng bảo đảm thì trả đủ, chất lượng không bảo đảm trả không đủ, thậm chí còn phạt Bên sử dụng dịch
vụ không trả tiền, bên cung cấp có quyền đơn phương chấm dứt cung cấp dịch vụ, khởi kiện theo quy định của pháp luật Hoạt động cung cấp DVCITL theo quan hệ mua-bán, sử dụng nhiều phải trả nhiều tiền, sử dụng ít trả ít buộc bên sử dụng phải chủ động, sáng tạo trong sử dụng nước phục vụ sản xuất, lựa chọn cơ cấu cây trồng phù hợp nhất là cây trồng có giá trị kinh tế cao, sử dụng ít nước để giảm chi phí; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước, tham gia vào các mô hình sản xuất quy mô