1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bản La Sửa Sau Pb Kín 17.4 Sửa Xong Theo Thầy Cừ.docx

166 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hôn Nhân Và Gia Đình
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Luật
Thể loại Đề Tài
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 166
Dung lượng 390,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) là những hiện tượng xã hội, phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội, vừa là sản phẩm của xã hội, vừa p[.]

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) là những hiện tượng xã hội, phát sinh và pháttriển cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội, vừa là sản phẩm của xã hội, vừa phụthuộc vào các điều kiện kinh tế, xã hội Hôn nhân là nền tảng của gia đình, là cái nôicho sự phát triển của trẻ em, đồng thời cũng là nhân tố quan trọng trong phát triểnkinh tế, xã hội Nam nữ kết hôn với mong muốn xây dựng gia đình hạnh phúc,nhưng nếu hôn nhân không hạnh phúc, không đạt được mục đích mà ban đầu cácbên kết hôn hướng tới thì ly hôn là giải pháp tất yếu để giải thoát các thành viêntrong gia đình khỏi các mâu thuẫn, xung đột Bên cạnh những tác động tiêu cực(hôn nhân tan vỡ cùng với sự ly tán gia đình) thì ly hôn cũng có những tác động tíchcực nhất định đối với sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội (sự ổn định, bền vữngcủa các mối quan hệ gia đình trên cơ sở mới trong xã hội dân chủ, văn minh) Lợiích của xã hội, của Nhà nước luôn ẩn chứa trong các quan hệ HN&GĐ Vì vậy, Nhànước ở mỗi chế độ xã hội có giai cấp luôn bằng pháp luật điều chỉnh các quan hệHN&GĐ, trong đó có vấn đề ly hôn

Dưới góc độ xã hội, ngày nay ly hôn đã trở thành hiện tượng phổ biến vàkhông còn bị đánh giá bằng con mắt xét nét Đặc biệt, trong xã hội hiện đại, khi nềnkinh tế phát triển, đất nước hội nhập và vấn đề bình đẳng giới được đề cao thì lyhôn là một hiện tượng bình thường Dưới góc độ nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiệnpháp luật thì hoàn thiện pháp luật về ly hôn là nhiệm vụ của các nhà làm luật, nhữngngười nghiên cứu pháp luật

Ly hôn không chỉ là chấm dứt việc chung sống giữa vợ chồng Khi vợ chồng

ly hôn thì sẽ phải giải quyết rất nhiều vấn đề phát sinh trong quá trình vợ chồngchung sống với nhau như về chia tài sản chung của vợ chồng, xác định người trựctiếp nuôi con và đảm bảo quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn, cấp dưỡng nuôi con,giải quyết nghĩa vụ của vợ chồng với bên thứ ba (nếu có) Chính vì lẽ đó, các QPPL

về ly hôn rất quan trọng và cần được kiện toàn đầy đủ, phù hợp để giải quyết mộtcách đúng đắn, triệt để các vấn đề trong các vụ việc ly hôn

Trong những năm gần đây, số lượng các vụ án về HN&GĐ chiếm phần lớn số

vụ việc dân sự được giải quyết tại TA các cấp Trong năm 2018, các vụ án HN&GĐ

mà TA phải thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là 262.906 vụ (tăng 2.830 vụ sovới cùng kỳ năm 2017), trong đó các vụ án ly hôn do mâu thuẫn gia đình chiếm tới73,6%1 Năm 2019, các vụ án HN&GĐ mà TA phải thụ lý, giải quyết theo thủ tục

sơ thẩm là 256.793 vụ, trong đó ly hôn do mâu thuẫn gia đình chiếm tới 84,2% tổng

1 Báo cáo tổng kết công tác năm 2018 và nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2020 của các TA, TANDTC

Trang 2

số các vụ án ly hôn mà TA đã giải quyết2 Ở nhiều tỉnh thành, số lượng các vụ án lyhôn tăng nhanh qua từng năm Cụ thể: Năm 2014, tại tỉnh Bến Tre, TA hai cấp đãthụ lý 3.931 vụ; năm 2015 thụ lý 4.315 vụ; năm 2016 là 4.531 vụ; năm 2017 là4.723 vụ; năm 2018 là 5.315 vụ Đặc biệt, trong ba năm từ 2019 đến 2021 số lượngcác vụ án càng có chiều hướng tăng mà không giảm Năm 2019, số vụ án HN&GĐ

là 5.334/9.334 tổng số án dân sự thụ lý (chiếm 57,15%); năm 2020 thụ lý4.877/9138 vụ (chiếm 53,1%); năm 2021 thụ lý 4.141/7990 vụ (chiếm 51,8%)3.Ngoài tăng về số lượng thì các vụ án ly hôn cũng ngày càng có tính chất phứctạp Các tranh chấp giữa vợ chồng khi ly hôn cũng phức tạp hơn do tính chất dichuyển của dân cư, sự mở rộng, thay đổi địa bàn kinh doanh của các mô hình kinhdoanh Mặt khác, ngày nay phụ nữ tham gia nhiều hơn vào hoạt động tạo ra thunhập, rất nhiều doanh nghiệp được thành lập dưới dạng công ty gia đình Trong đó

vợ, chồng cùng tham gia góp vốn, điều hành Vì vậy, hiện nay có rất nhiều các vụviệc ly hôn có tranh chấp về chia tài sản của vợ chồng là cổ phần trong doanhnghiệp Các loại hình tài sản tranh chấp cũng phong phú đa dạng hơn Ngoài các tàisản hữu hình còn có tài sản vô hình (quyền SHTT) rất khó xác định giá trị…LuậtHN&GĐ hiện hành chưa có quy định cụ thể để giải quyết các vấn đề này

Luật HN&GĐ đã nhiều lần được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với tình hìnhphát triển của các quan hệ HN&GĐ Trong đó, chế định ly hôn cũng nhiều lần đượcsửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn Quá trình áp dụng Luật HN&GĐ năm

2014 trong thực tiễn, bên cạnh những kết quả đã đạt được thì cũng đã bộc lộ nhữnghạn chế, vướng mắc, bất cập Vì thế, hoàn thiện pháp luật về ly hôn là vô cùng cấpthiết

Mặc dù trước đây đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các nội dung củachế định ly hôn nhưng hầu hết mới chỉ nghiên cứu ở một góc độ, phạm vi nhất định,chưa có công trình nào nghiên cứu các quy định của chế định ly hôn trong LuậtHN&GĐ năm 2014 một cách toàn diện, đầy đủ Do đó, cần thiết có một công trìnhnghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ hơn nhằm phân tích các quy định hiện hànhtrên cơ sở đánh giá thực tiễn áp dụng chế định ly hôn Từ đó, phát hiện và tổng hợpnhững hạn chế, vướng mắc, bất cập của chế định ly hôn trong Luật HN&GĐ năm

2014 khi áp dụng trong thực tiễn Đồng thời kiến nghị sửa đổi, bổ sung chế định lyhôn trong Luật HN&GĐ cho phù hợp với thực tiễn trên cơ sở tiếp thu, học hỏi phápluật của một số quốc gia trên thế giới

2 Báo cáo tổng kết công tác năm 2019 và nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2020 của các TA, TANDTC

3 Tham luận của đại biểu Nguyễn Minh Triều trình bày tại phiên chất vấn kỳ họp thứ 4, HĐND tỉnh Bến Tre khoá X, nhiệm kỳ 2021-2026.

Trang 3

Chính vì lẽ đó, nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của chế định lyhôn trong Luật HN&GĐ năm 2014 có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễntrong tình hình hiện nay.

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài LA là bổ sung thêm một số vấn đề về lý luậncủa chế định ly hôn như chế định ly hôn, nội dung của chế định ly hôn, các yếu tốtác động đến xây dựng và hoàn thiện chế định ly hôn mà các công trình trước đâychưa có; làm rõ các vấn đề lý luận của chế định ly hôn; phát hiện các nội dung cònhạn chế, vướng mắc của chế định ly hôn trong Luật HN&GĐ năm 2014 và thực tiễnkhi áp dụng chế định ly hôn trong giải quyết các vụ án ly hôn tại TA; đề xuất nhữngkiến nghị hoàn thiện pháp luật về ly hôn nhằm góp phần giải quyết tốt hơn các vụviệc về ly hôn và đảm bảo đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi

vợ chồng ly hôn

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên đây, nhiệm vụ chủ yếu của đề tài LA là:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về ly hôn và chế định ly hôn, từ đólàm rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của chế định ly hôn trong pháp luật về HN&GĐ

và trong đời sống xã hội

- Nghiên cứu lịch sử phát triển các quy định của pháp luật về ly hôn trongpháp luật Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử

- Phân tích, đánh giá các quy định của chế định ly hôn trong Luật HN&GĐnăm 2014 để phát hiện, dự liệu những khó khăn, vướng mắc, bất cập có thể phátsinh khi áp dụng trong thực tiễn

- So sánh chế định ly hôn trong Luật HN&GĐ năm 2014 với quy định về lyhôn của nước ngoài để đánh giá sự phù hợp, tiến bộ hay cần phải tiếp tục điềuchỉnh

- Nêu các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện chế định ly hôn và pháp luật cóliên quan trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Là những vấn đề lý luận của chế định ly hôn; quy

định của pháp luật Việt Nam về ly hôn; nội dung chế định ly hôn trong LuậtHN&GĐ năm 2014; pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về ly hôn; thực tiễn

áp dụng và thực hiện chế định ly hôn trong Luật HN&GĐ năm 2014

Phạm vi nghiên cứu: Với đề tài này thì phạm vi nghiên cứu của đề tài tập

trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng chế định ly hôn trong LuậtHN&GĐ năm 2014 LA không nghiên cứu các quy định của pháp luật về ly hôn cóyếu tố nước ngoài

Trang 4

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được tiến hành dựa trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng làphương pháp chủ yếu xuyên suốt toàn bộ quá trình nghiên cứu Trong mỗi phần của

LA, NCS đã dùng phương áp duy vật biện chứng để nghiên cứu chế định ly hôntrong sự phát triển qua các giai đoạn lịch sử và thực tiễn xã hội, đồng thời đặt chếđịnh ly hôn trong mối quan hệ với các chế định khác có liên quan Bên cạnh đó,NCS áp dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh về Nhà nước và pháp luật phù hợp với tinh thần, đường lối của Đảng và Nhànước trong việc xây dựng, bảo vệ pháp chế XHCN, bảo đảm quyền con người,quyền công dân trong lĩnh vực HN&GĐ

Ngoài ra, NCS còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học truyềnthống như phương pháp phân tích; phương pháp đánh giá được áp dụng trongchương 1 và chương 2 khi phân tích các quy định pháp luật cụ thể và thực tiễn ápdụng các quy định pháp luật về ly hôn; phương pháp tổng hợp được áp dụng đểtổng hợp các kết quả nghiên cứu trước đó nhằm rút ra các kết quả đã đạt được,những vấn đề còn cần tiếp tục nghiên cứu; phương pháp so sánh để so sánh phápluật Việt Nam và pháp luật một số quốc gia; phương pháp logic; phương pháp thốngkê; phương pháp nghiên cứu xã hội học để biết mức độ ảnh hưởng của ly hôn đốivới đời sống xã hội, từ đó đánh giá tầm quan trọng của việc nghiên cứu chế định lyhôn các phương pháp nghiên cứu này bảo đảm độ tin cậy trong nghiên cứu, chứngminh khoa học

5 Những đóng góp mới về khoa học của luận án

Đề tài là công trình nghiên cứu đầu tiên có tính hệ thống đầy đủ, toàn diện cácquy định pháp luật về ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 và bao hàm cả các quyđịnh của BLDS năm 2015, Luật khác liên quan đến các vấn đề của chế định ly hôn

- LA đã hệ thống, tổng hợp được những công trình nghiên cứu, thành tựunghiên cứu có liên quan đến chế định ly hôn của các nhà khoa học trước đó

- So với các công trình nghiên cứu trước đây, LA đã bổ sung thêm một số vấn

đề lý luận về chế định ly hôn như: Xây dựng khái niệm chế định ly hôn Khái niệmchế định ly hôn là cơ sở lý luận quan trọng để xây dựng các khái niệm khác trongchế định ly hôn (khái niệm ly hôn; quyền yêu cầu ly hôn; hậu quả pháp lý của lyhôn…)

- LA nêu và phân tích các yếu tố tác động đến xây dựng và hoàn thiện chếđịnh ly hôn Đây là nội dung mới so với các công trình nghiên cứu trước đây Hiểu

rõ những yếu tố nào tác động đến xây dựng, hoàn thiện chế định ly hôn góp phần

Trang 5

giúp cho việc xây dựng pháp luật về ly hôn phù hợp với thực tiễn hơn và quá trìnhthực thi pháp luật về ly hôn hiệu quả hơn.

- LA chỉ ra những vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện, áp dụng chếđịnh ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014

- Đặt ra những yêu cầu hoàn thiện chế định ly hôn Kiến nghị hoàn thiện chếđịnh ly hôn và pháp luật có liên quan để các quy định của pháp luật về ly hôn phùhợp với thực tiễn, giải quyết các vấn đề còn vướng mắc trong quá trình thực hiện vàđảm bảo sự thống nhất giữa chế định ly hôn với pháp luật có liên quan

6 Ý nghĩa về lý luận và thực tiễn của luận án

Về mặt lý luận: LA là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên nghiên cứumột cách hệ thống, toàn diện và đầy đủ về chế định ly hôn

Kết quả nghiên cứu của LA góp phần bổ sung, hoàn thiện những vấn đề lýluận về chế định ly hôn

Về thực tiễn: LA phát hiện những vấn đề còn hạn chế, vướng mắc trong luậtthực định và trong thực tiễn thực hiện chế định ly hôn theo Luật HN&GĐ năm2014; LA cũng nêu ra những kiến nghị, giải pháp góp phần hoàn thiện chế định lyhôn trong pháp luật HN&GĐ hiện nay

Dưới góc độ nghiên cứu, LA là tài liệu tham khảo trong quá trình sửa đổi, bổsung Luật HN&GĐ năm 2014 trong thời gian tới; là nguồn tài liệu tham khảo hữuích đối với những người làm công tác đào tạo, giảng dạy, các nhà nghiên cứu, sinhviên, học viên

Chương 2: Những vấn đề lý luận chung về chế định ly hôn

Chương 3: Nội dung chế định ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014, thực tiễn

áp dụng và một số vướng mắc, bất cập

Chương 4: Yêu cầu hoàn thiện chế định ly hôn và một số kiến nghị hoàn thiệnpháp luật về ly hôn trong giai đoạn hiện nay

Trang 6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC VẤN ĐỀ CÓ LIÊN

QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố có liên quan đến đề tài luận án

Có rất nhiều công trình nghiên cứu về chế định ly hôn ở nhiều giai đoạn khácnhau Các công trình này gồm nhiều cấp độ và thể loại khác nhau nhưng chưa cócông trình khoa học nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và chuyên sâu ở cấp

độ một luận án tiến sĩ toàn bộ chế định ly hôn, mà mới chỉ nghiên cứu một hoặc mộtsố nội dung nào đó của chế định ly hôn Đặc biệt, liên quan đến chế định ly hôntrong Luật HN&GĐ năm 2014 thì chưa có nhiều công trình nghiên cứu

Qua nghiên cứu các công trình nghiên cứu khoa học trước đó, NCS thấy rằngcó thể chia làm những nhóm sau:

1.1.1 Công trình luận án, luận văn có liên quan đến đề tài luận án

+ Các công trình nghiên cứu liên quan đến chế định ly hôn trong Luật HN&GĐ năm 2014

Mặc dù trước đây đã có các công trình nghiên cứu về ly hôn, nhưng chỉ có mộtsố công trình nghiên cứu dưới đây liên quan đến chế định ly hôn theo Luật HN&GĐnăm 2014:

* Luận văn thạc sỹ Luật học của tác giả Ngô Thuỳ Châm (2021), Trường Đại

học Luật Hà Nội, đề tài: “Bảo vệ con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 và thực tiễn thực hiện”.

Trong luận văn này, tác giả nêu một số vấn đề lý luận và pháp luật về bảo vệcon chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn Trong đó, tác giả xây dựng khái niệm lyhôn, khái niệm bảo vệ con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn và ý nghĩa của bảo vệcon chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn Pháp luật HN&GĐ về bảo vệ con chưathành niên khi cha mẹ ly hôn nhằm gắn trách nhiệm của cha mẹ trong việc thực hiệnnghĩa vụ với con chưa thành niên, thể hiện sự công bằng, dân chủ của chế độXHCN, bảo vệ quyền lợi của trẻ em trong những trường hợp đặc biệt Tác giả cũngphân tích các nội dung cơ bản của bảo vệ con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôntheo Luật HN&GĐ năm 2014 như: Bảo vệ con chưa thành niên trong việc chămsóc, nuôi dưỡng; việc xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên khi cha mẹ

ly hôn trong việc bảo vệ và chăm sóc con; bảo vệ con chưa thành niên trong việcthực hiện quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con khi cha mẹ ly hôn; bảo vệ conchưa thành niên trong việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi cha mẹ ly hôn;

Trang 7

bảo vệ quyền đối với tài sản riêng của con khi cha mẹ ly hôn; hạn chế quyền củacha mẹ trong một số trường hợp để bảo vệ con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn.Chương 2, tác giả nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật trong việc bảo vệ conchưa thành niên khi cha mẹ ly hôn theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 Ởchương này, tác giả đánh giá chung về việc áp dụng pháp luật hiện hành trong hoạtđộng xét xử của TA thông qua một số vụ án cụ thể và nêu những khó khăn, vướngmắc trong bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn như việc lấy

ý kiến của con từ đủ 07 tuổi trở lên chưa có hướng dẫn lấy ý kiến trực tiếp hay giántiếp dẫn đến TA lúng túng trong quá trình thực hiện; xác định mức cấp dưỡng, thờiđiểm cấp dưỡng; khó khăn trong THA giao con và THA về cấp dưỡng nuôi con Tạichương 3, tác giả kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và biện pháp bảo

vệ con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn

Nội dung LA của NCS có một số nội dung liên quan đến bảo vệ con chưathành niên khi cha mẹ ly hôn như quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con khi lyhôn, cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn, thay đổi người nuôi con khi cha mẹ lyhôn, vấn đề về tài sản riêng của con khi cha mẹ ly hôn…Do đó, luận văn của tác giảcó một phần liên quan đến LA của NCS Tuy nhiên, luận văn của tác giả chỉ tậptrung nghiên cứu pháp luật về bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên khi cha mẹ

ly hôn LA của NCS cũng đề cập đến vấn đề làm thế nào để bảo vệ quyền lợi củacon khi cha mẹ ly hôn nhưng đặt trong tổng thể nghiên cứu toàn bộ chế định ly hôn

* Luận văn thạc sỹ Luật học của tác giả Hoàng Phương Thảo (2020), Trường

Đại học Luật Hà Nội, đề tài: “Các căn cứ ly hôn trong các trường hợp ly hôn và thực tiễn áp dụng tại TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn”.

Trong luận văn, tác giả xây dựng các khái niệm ly hôn, quyền ly hôn, căn cứ

ly hôn và trình bày căn cứ ly hôn trong các trường hợp ly hôn (trường hợp ly hônthuận tình và ly hôn do một bên vợ hoặc chồng yêu cầu) Chương 2, tác giả trìnhbày thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn tại TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn Tạichương này, tác giả phân tích các điều kiện địa lý, dân cư, phân tích một số nguyênnhân dẫn đến ly hôn và nêu một số vụ án cụ thể Từ đó, tác giả phát hiện những hạnchế trong áp dụng căn cứ ly hôn tại TAND huyện Lộc Bình, bao gồm: Khó khăntrong việc xác định căn cứ ly hôn, khó khăn trong công tác xác minh căn cứ ly hôn

và tình trạng ly hôn giả tạo để lừa dối cơ quan chức năng Trong nghiên cứu củamình, tác giả cũng kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về căn cứ ly hôn,nâng cao hiệu quả áp dụng căn cứ ly hôn trong giai đoạn hiện nay

Với đề tài này, tác giả đã nghiên cứu khá đầy đủ các vấn đề về căn cứ ly hôn,

từ các vấn đề về lý luận, nội dung căn cứ ly hôn theo pháp luật thực định và thực

Trang 8

tiễn áp dụng Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu cũng chỉ giới hạn trong thực tiễn ápdụng tại TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn nên các vấn đề phát hiện cũng chỉ

về một số vụ việc cụ thể Mặc dù tác giả kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện phápluật về căn cứ ly hôn nhưng các kiến nghị của tác giả cũng chưa cụ thể

Trong LA của mình, NCS cũng nghiên cứu về căn cứ ly hôn nhưng ở phạm virộng hơn Bên cạnh đó, NCS cũng nêu ra kiến nghị cụ thể hơn để sửa đổi, bổ sung

và hoàn thiện căn cứ ly hôn trong thời gian tới

* Luận văn thạc sỹ Luật học của tác giả Nguyễn Thanh Nguyệt (2020),

Trường Đại học Luật Hà Nội, đề tài: “Chia nhà ở là tài sản chung của vợ chồng khi

ly hôn và thực tiễn thi hành”.

Với đề tài này, tác giả trình bày một số vấn đề lý luận về chia nhà ở là tài sảnchung của vợ chồng khi ly hôn như: Khái niệm, đặc điểm nhà ở chung của vợchồng Ngoài ra, đề tài còn nghiên cứu nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng,bao gồm: Nguyên tắc tôn trọng sự thoả thuận của vợ chồng; nguyên tắc chia đôi nhà

ở là tài sản chung của vợ chồng nhưng có tính đến các yếu tố khác; nguyên tắckhông chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị của nhà ở; nguyên tắc chia tàisản trong trường hợp sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản chung, tài sản riêng của vợchồng; nguyên tắc bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của vợ, con chưa thành niên,con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động vàkhông có tài sản để tự nuôi mình

Tác giả cũng nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về chia nhà ở là tài sảnchung của vợ chồng khi ly hôn Trong đó, tác giả trình bày căn cứ xác định nhà ở làtài sản chung của vợ chồng để chia tài sản khi ly hôn, thực tiễn chia nhà ở là tài sảnchung của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng sống riêng và trường hợp vợ chồngsống chung với gia đình Đồng thời, tác giả nêu những kiến nghị hoàn thiện phápluật về chia nhà ở là tài sản chung của vợ chồng khi vợ chồng ly hôn

Đây là đề tài nghiên cứu rất cụ thể đối với trường hợp chia nhà ở là tài sảnchung của vợ chồng và có tính ứng dụng cao trong thực tiễn Nội dung của luận vănnày có một phần liên quan đến LA của NCS Bởi lẽ, trong LA của mình, NCSnghiên cứu toàn bộ chế định ly hôn trong đó có vấn đề chia tài sản chung của vợchồng Do đó, phạm vi nghiên cứu đề tài LA của NCS rộng hơn nhưng có một phầntiệm cận với nghiên cứu này của tác giả

* Luận văn thạc sỹ Luật học của tác giả Tưởng Thị Thuý (2019), Trường Đại

học Luật Hà Nội, đề tài: “Bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ và con khi vợ chồng

ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014”.

Trang 9

Trong luận văn, tác giả trình bày một số vấn đề lý luận và pháp luật về bảo vệquyền và lợi ích chính đáng của vợ và con khi vợ chồng ly hôn, bao gồm: Kháiniệm, nội dung, phương thức bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của vợ và con khi

vợ chồng ly hôn Chương 2, tác giả nghiên cứu thực tiễn áp dụng và kiến nghị mộtsố giải pháp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của vợ và con khi vợ chồng

ly hôn Qua phân tích một số vụ án cụ thể, tác giả nhận định: Về thực tiễn bảo vệquyền lợi của vợ khi ly hôn còn một số bất cập như việc chia tài sản chung của vợchồng trong một số trường hợp chưa đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của vợbởi việc xác định tài sản chung của vợ chồng trong một số trường hợp chưa chínhxác; vấn đề xác định công sức đóng góp của vợ khi giải quyết ly hôn; việc xác địnhlỗi của người chồng khi ly hôn còn quy định khá trừu tượng Về thực tiễn bảo vệquyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn cũng còn một số bất cập như: Vướng mắc khixác định người trực tiếp nuôi con; mức cấp dưỡng nuôi con; phương thức cấpdưỡng nuôi con; vướng mắc trong thực hiện quyền thăm nom con sau khi vợ chồng

ly hôn Từ nghiên cứu thực tiễn bảo vệ quyền lợi của vợ và con tại TA, tác giả kiếnnghị một số giải pháp để bảo vệ quyền lợi của vợ và con khi vợ chồng ly hôn baogồm: Hoàn thiện quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi của vợ và con khi vợchồng ly hôn; một số giải pháp tăng cường bảo vệ quyền lợi của vợ và con khi vợchồng ly hôn

* Luận văn thạc sỹ Luật học của tác giả Lê Vân Anh (2019), Trường Đại học

Luật Hà Nội, đề tài: “Áp dụng nguyên tắc pháp Luật HN&GĐ về giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn tại Toà án”.

Trong luận văn, tác giả xây dựng một số khái niệm như: Khái niệm giải quyếttài sản của vợ chồng khi ly hôn, khái niệm nguyên tắc áp dụng pháp luật vềHN&GĐ về giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn Tác giả cũng nghiên cứu vaitrò, ý nghĩa của áp dụng nguyên tắc pháp luật HN&GĐ trong việc giải quyết chia tàisản chung vợ chồng khi ly hôn; các yếu tố đảm bảo hiệu quả áp dụng nguyên tắcpháp luật HN&GĐ trong việc giải quyết chia tài sản chung vợ chồng khi ly hôn tạiTA; nội dung các nguyên tắc pháp luật HN&GĐ về giải quyết chia tài sản chung vợchồng khi ly hôn và thực tiễn áp dụng tại TA; yêu cầu và giải pháp đảm bảo hiệuquả áp dụng các nguyên tắc pháp luật HN&GĐ về giải quyết chia tài sản chung vợchồng khi ly hôn

Như vậy, luận văn của tác giả chỉ nghiên cứu về các nguyên tắc pháp luậtHN&GĐ trong việc giải quyết chia tài sản chung vợ chồng khi ly hôn và áp dụngnguyên tắc pháp luật HN&GĐ trong việc giải quyết chia tài sản chung vợ chồng khi

ly hôn tại TA Luận văn phân tích nội dung chế định ly hôn về chia tài sản chungcủa vợ chồng dưới góc độ nguyên tắc áp dụng pháp luật

Trang 10

* Luận văn thạc sỹ Luật học của tác giả Nguyễn Thị Vân (2019), Trường Đại

học Luật Hà Nội, đề tài: “Giải quyết ly hôn theo yêu cầu của một bên qua thực tiễn xét xử của TA”.

Trong nghiên cứu của mình, tác giả trình bày những vấn đề lý luận về giảiquyết ly hôn theo yêu cầu của một bên như: Khái niệm, đặc điểm của giải quyết lyhôn theo yêu cầu của một bên; cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về giải quyết ly hôntheo yêu cầu của một bên Chương 2, tác giả nghiên cứu quy định của LuậtHN&GĐ năm 2014 về ly hôn theo yêu cầu của một bên và trình tự, thủ tục giảiquyết ly hôn theo yêu cầu của một bên Chương 3, tác giả nghiên cứu thực tiễn giảiquyết ly hôn theo yêu cầu của một bên tại TA và nêu một số bất cập về giải quyết lyhôn theo yêu cầu của một bên như: Vợ, chồng không hợp tác trong quá trình giảiquyết ly hôn; vấn đề xác định nơi cư trú của bị đơn gặp nhiều khó khăn; áp dụngcăn cứ ly hôn không đảm bảo tính thống nhất Về thủ tục giải quyết ly hôn tại TA

còn rườm rà, bị “ngâm” kéo dài thời gian, thái độ tiếp đương sự của một số cán bộ

TA còn hạn chế, thiếu quan tâm, hoạt động uỷ thác tư pháp trong giải quyết ly hôncòn nhiều khó khăn…

Với đề tài này, tác giả nghiên cứu quy định pháp luật về giải quyết ly hôn theoyêu cầu của một bên và trình tự thủ tục giải quyết ly hôn theo yêu cầu của một bên

Do đó, nội dung đề tài này của tác giả có liên quan đến nội dung LA của NCS

* Luận văn thạc sỹ Luật học của tác giả Nguyễn Ninh Chi (2018), Trường đại

học Luật Hà Nội, đề tài: “Bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên sau khi ly Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”.

hôn-Với đề tài này, tác giả nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật về bảo vệquyền lợi của con chưa thành niên sau khi cha mẹ ly hôn như: Khái niệm ly hôn;hậu quả pháp lý của ly hôn đối với con chưa thành niên; khái niệm bảo vệ quyền lợicủa con chưa thành niên sau khi ly hôn; ý nghĩa của quy định pháp luật để bảo vệquyền lợi của con chưa thành niên sau khi cha mẹ ly hôn Ngoài ra, tại chương 1,tác giả còn nghiên cứu nội dung của pháp luật về bảo vệ quyền lợi của con chưathành niên sau khi ly hôn Chương 2, tác giả nghiên cứu thực tiễn và giải pháp tăngcường bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên sau khi cha mẹ ly hôn Trongnghiên cứu, tác giả nêu một số khó khăn trong THA về cấp dưỡng nuôi con sau khicha mẹ ly hôn hay vấn đề THA giao con theo phán quyết của TA Từ phát hiệnnhững khó khăn, bất cập trên, tác giả kiến nghị hai giải pháp tăng cường bảo vệquyền lợi của con chưa thành niên sau khi cha mẹ ly hôn bao gồm: Hoàn thiện phápluật và giải pháp tổ chức thực hiện Trong đó, tác giả kiến nghị cần hướng dẫn cụm

từ “không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 84

Luật HN&GĐ năm 2014; cần bổ sung quy định cụ thể về mức cấp dưỡng, cần quy

Trang 11

định việc thăm con ngoài là quyền thì còn là trách nhiệm của bên không trực tiếpnuôi con và cần bổ sung chế tài xử phạt để đảm bảo các quy định pháp luật về bảo

vệ quyền lợi của con chưa thành niên sau khi cha mẹ ly hôn được thực thi

Đề tài này của tác giả chỉ nghiên cứu về bảo vệ quyền lợi của con chưa thànhniên ở phạm vi hẹp là sau khi cha mẹ ly hôn Trong luận văn, tác giả có nêu một sốkhó khăn, vướng mắc và có kiến nghị giải pháp tăng cường bảo vệ quyền lợi củacon chưa thành niên nhưng một số kiến nghị còn chung chung, chưa cụ thể Nghiêncứu của tác giả có một phần liên quan đến nội dung LA của NCS

* Luận văn thạc sỹ Luật học của tác giả Nguyễn Xuân Tùng (2018), Trường

Đại học Luật Hà Nội, đề tài: “Áp dụng pháp luật về giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn”.

Với đề tài này, tác giả cũng nghiên cứu một số khái niệm như: Khái niệm ly

hôn; hậu quả pháp lý của ly hôn Trong đó, tác giả nêu định nghĩa: “Hậu quả pháp

lý của ly hôn là kết quả của việc giải quyết ly hôn, ghi nhận trong phán quyết của

TA khi xét xử vụ việc ly hôn của vợ chồng” Ngoài ra, tác giả còn trình bày khái

niệm, đặc điểm áp dụng pháp luật giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồngkhi ly hôn, phương thức áp dụng pháp luật giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợchồng khi ly hôn Tại chương 2, tác giả nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật giảiquyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn Trong đó, tác giả nêu một sốkhó khăn khi áp dụng pháp luật giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi

ly hôn và một số vướng mắc, bất cập trong quá trình giao con chung cho vợ, chồng

và cấp dưỡng nuôi con sau khi vợ chồng ly hôn Ngoài ra, tác giả kiến nghị một sốgiải pháp nhằm nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật giải quyết vấn đề nuôi conchung của vợ chồng khi ly hôn

Luận văn này, tác giả nghiên cứu nội dung về nuôi con chung của vợ chồngdưới góc độ áp dụng pháp luật Từ nghiên cứu của mình, tác giả đã phát hiện một sốvướng mắc, khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật giải quyết vấn đề nuôi conchung của vợ chồng khi ly hôn

* Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Đức Giang (2017), Trường Đại học Luật Hà

Nội, đề tài: “Chia tài sản chung của vợ chồng và thực tiễn xét xử tại TAND quận Cầu Giấy”.

Với đề tài này, tác giả cũng xây dựng khái niệm về tài sản, chia tài sản chungcủa vợ chồng Trong đó phần chương 1, mục 1.2.2 tác giả có nghiên cứu về chia tàisản chung của vợ chồng khi ly hôn là nội dung có liên quan đến đề tài LA của NCS.Trong phần này, tác giả phân tích quy định của pháp luật về chia tài sản của vợchồng khi ly hôn trong hai trường hợp: Chia tài sản chung của vợ chồng khi vợ

Trang 12

chồng lựa chọn chế độ chia tài sản theo thỏa thuận và chia tài sản chung của vợchồng khi ly hôn theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả chỉdừng lại ở việc phân tích quy định của pháp luật trên cơ sở một số ví dụ cụ thể.Tác giả cũng trình bày thực tiễn chia tài sản chung của vợ chồng ở TA quậnCầu Giấy và đưa ra số liệu giải quyết ly hôn của TA quận Cầu Giấy trong 5 năm từnăm 2012 đến đầu năm 2017 nhưng không nêu cụ thể số liệu vụ án ly hôn có yêucầu chia tài sản.

Trong luận văn, tác giả cũng nêu ra những khó khăn vướng mắc khi áp dụngquy định về chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn như:

- Việc xác định tài sản chung của vợ chồng trong quy định của pháp luật hiệnhành còn mang tính lý thuyết, chưa đảm bảo thực tế, khó khăn trong việc xác địnhtài sản chung của vợ chồng

- Vấn đề đăng ký quyền sở hữu đối với các tài sản chung, pháp luật quy địnhphải đăng ký, do đó việc xác định nguồn gốc tài sản chung của vợ chồng chưa rõràng do nhiều tài sản đăng ký tên chồng hoặc tên vợ hoặc tên cả hai vợ chồngnhưng nguồn gốc lại từ tài sản của cha mẹ (tác giả lấy ví dụ từ án lệ số 03/2016/ALđược Hội đồng thẩm phán TANDTC thông qua ngày 06/04/2016)

* Luận văn thạc sỹ Luật học của tác giả Lê Thị Huyền Trang (2017), Trường

Đại học Luật Hà Nội, đề tài: "Quyền yêu cầu ly hôn trong Luật HN&GĐ năm 2014”.

Trong luận văn, tác giả cũng đã nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản vềquyền yêu cầu ly hôn như: Xây dựng khái niệm ly hôn với ý nghĩa là căn cứ chấmdứt quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa vợ chồng Ngoài ra, trong luận văn của mình,tác giả còn phân tích các quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 về quyền yêu cầu lyhôn của vợ chồng, các trường hợp hạn chế quyền yêu cầu ly hôn và thực tiễn thựchiện tại một số địa phương Tác giả cũng có một số phát hiện từ việc thực hiệnquyền yêu cầu ly hôn còn một số vướng mắc, từ đó đề xuất các giải pháp nhằmhoàn thiện pháp luật về vấn đề này

Quyền yêu cầu ly hôn là một nội dung của chế định ly hôn Vì vậy, luận văncủa tác giả có liên quan đến đề tài LA của NCS

* Luận văn của tác giả Trần Nguyễn Thị Tâm Đan (2017), Trường Đại học

Luật Hà Nội, đề tài: "Áp dụng căn cứ ly hôn tại TAND quận Thanh Xuân-thành phố

Hà Nội"

Trong luận văn, tác giả đã xây dựng khái niệm căn cứ ly hôn, phân tích cáccăn cứ ly hôn qua các thời kỳ lịch sử và trình bày nội dung căn cứ ly hôn theo LuậtHN&GĐ năm 2014

Trang 13

Tiếp cận dưới góc độ áp dụng luật, tác giả xem xét áp dụng căn cứ ly hôntrong mối quan hệ với BLTTDS năm 2014, từ đó đưa ra nhận định căn cứ ly hôn

trong trường hợp thuận tình ly hôn là chưa rõ ràng, “bỏ quên” quy định về hòa giải

trong trường hợp thuận tình ly hôn Đối với trường hợp ly hôn theo yêu cầu của mộtbên thì tác giả cho rằng, tuy chế định ly hôn có quy định căn cứ ly hôn nhưng khôngcó điều khoản riêng dẫn đến hiểu và áp dụng khác nhau

Ngoài ra, tác giả cũng trình bày các trường hợp áp dụng căn cứ ly hôn theoLuật HN&GĐ năm 2014 từ đó chỉ ra những hạn chế vướng mắc dưới góc độ ápdụng căn cứ ly hôn tại TA: Tác giả nhận thấy có sự khác nhau giữa căn cứ áp dụngthủ tục thuận tình ly hôn và căn cứ để TA giải quyết việc thuận tình ly hôn Theođó, về thủ tục ly hôn thuận tình chỉ cần khi nộp đơn yêu cầu TA công nhận thuậntình ly hôn có chữ ký của cả hai vợ chồng nhưng về căn cứ để TA giải quyết chothuận tình ly hôn thì đòi hỏi cả hai vợ chồng phải có sự thống nhất về ý chí (cùngđồng thuận ly hôn) trong suốt quá trình giải quyết vụ việc Vợ, chồng không bịcưỡng ép, không bị lừa dối khi thuận tình ly hôn

Trong luận văn, tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung quyđịnh pháp luật về căn cứ ly hôn Kiến nghị của tác giả xuất phát từ thực tiễn áp dụngcăn cứ ly hôn trong giải quyết ly hôn tại TA Do đó, nghiên cứu của tác giả có liênquan đến nội dung LA của NCS

Tuy nhiên, trong luận văn này của tác giả mới chỉ đề cập đến áp dụng căn cứ

ly hôn, có ý kiến cần xây dựng điều khoản về căn cứ ly hôn mà chưa đề cập đếnviệc hoàn thiện căn cứ ly hôn cụ thể như thế nào để giải quyết được các vấn đề màtác giả thấy còn vướng mắc Đây là nội dung, NCS sẽ tiếp tục làm rõ trong LA củamình

* Luận văn thạc sỹ của Hoàng Thị Trang (2016), Trường Đại học Luật Hà

Nội, đề tài: "Chia tài sản khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình theo pháp luật Việt Nam"

Đây là công trình nghiên cứu về chia tài sản vợ chồng khi ly hôn theo LuậtHN&GĐ năm 2014; công trình này cũng mới chỉ nghiên cứu một khía cạnh là chiatài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình là một trong những khíacạnh của chia tài sản chung của vợ chồng-là hậu quả pháp lý của ly hôn Trong luậnvăn, tác giả nghiên cứu những vấn đề lý luận và các quy định của pháp luật hiệnhành về chia tài sản khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình.Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật về chia tài sản khi ly hôn trong trường hợp

vợ chồng sống chung với gia đình, chỉ ra những vướng mắc trong xác định tài sảnchung của vợ chồng khi sống chung với gia đình và thực tiễn giải quyết chia tài sảnchung trong trường hợp này; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp

Trang 14

luật về chia tài sản chung khi vợ chồng sống chung với gia đình LA của NCS cũngcó nội dung nghiên cứu về chia tài sản chung của vợ chồng và luận văn của tác giảnghiên cứu về chia tài sản chung của vợ chồng khi sống chung với gia đình nêngiữa luận văn của tác giả và LA của NCS có một phần tiệm cận với nhau.

* Luận văn thạc sỹ của Inthavong Souphaphone (2014), Trường Đại học

Luật Hà Nội, đề tài: "Căn cứ ly hôn - So sánh pháp luật Cộng hòa XHCN Việt Nam

và pháp luật Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào" Nội dung luận văn cũng nghiên

cứu về căn cứ ly hôn nhưng tác giả so sánh giữa pháp luật Việt Nam với pháp luậtLào

Trong nghiên cứu của mình, tác giả xây dựng khái niệm căn cứ ly hôn Trên

cơ sở khái niệm đó, luận văn liệt kê các dấu hiệu là cơ sở để cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền quyết định cho vợ, chồng ly hôn theo pháp luật Việt Nam và pháp luậtLào Ngoài ra Inthavong Souphaphone còn đưa ra phân biệt giữa căn cứ ly hôn với

lý do, nguyên nhân, động cơ ly hôn Tuy nhiên, phần này trong luận văn chỉ tậptrung vào các khái niệm căn cứ ly hôn và lý do, nguyên nhân, động cơ ly hôn màchưa phân biệt được bản chất của từng vấn đề Theo nghiên cứu sinh, chủ thể ápdụng căn cứ ly hôn để giải quyết ly hôn là TA trong khi đó, chủ thể của lý do,nguyên nhân, động cơ ly hôn chính là vợ, chồng hoặc cha, mẹ, con hoặc thậm chí làngười thứ ba Ngoài ra, công trình nghiên cứu này còn mang đến cho người đọchiểu biết cụ thể quy định về căn cứ ly hôn trong Luật HN &GĐ Việt Nam và LuậtGia đình Lào

Ngoài các công trình nghiên cứu đã nêu ở trên thì còn rất nhiều các công trìnhnghiên cứu khác ở cấp độ luận văn thạc sỹ về các nội dung của chế định ly hôn Tuynhiên, đến thời điểm hiện tại chưa có công trình nghiên cứu nào ở cấp độ LA tiến sĩnghiên cứu về chế định ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014

+ Các công trình nghiên cứu khác liên quan đến chế định ly hôn trước khi Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực

Ngoài các công trình nghiên cứu đã nêu ở phần trên nghiên cứu trực tiếp chếđịnh ly hôn của Luật HN&GĐ năm 2014, liên quan đến đề tài LA của NCS cònphải kể tới các công trình nghiên cứu khác như:

* Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Cừ (2005), Trường Đại học Luật Hà

Nội, đề tài: "Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật HN&GĐ Việt Nam", tác giả

nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về chế độ tài sản của vợ chồng và thực tiễn

áp dụng

Trang 15

Ly hôn làm chấm dứt quan hệ vợ chồng kéo theo việc phải giải quyết các quan

hệ liên quan đến tài sản Do đó, trong nghiên cứu của mình, tác giả đề cập đến nộidung xác định tài sản chung của vợ chồng và phân chia tài sản chung của vợ chồngkhi ly hôn

* Nghiên cứu toàn bộ chế định ly hôn có luận văn thạc sỹ của tác giả Vũ Thị

Hằng (1997), Trường Đại học Luật Hà Nội, đề tài: "Chế định ly hôn theo pháp luật Việt Nam" Trong luận văn này, tác giả nghiên cứu chế định ly hôn theo Luật

HN&GĐ năm 1986; Luận văn thạc sỹ luật học của Cao Mai Hoa (2014), Trường

Đại học Luật Hà Nội, đề tài: "Ly hôn-một số vấn đề lý luận và thực tiễn" Tác giả

nghiên cứu chế định ly hôn trong Luật HN&GĐ năm 2000

* Luận văn thạc sỹ của Nông Thị Nhung (2014), Trường Đại học Luật Hà Nội,

đề tài: "Căn cứ ly hôn - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Lạng Sơn".

Trong nghiên cứu của mình, tác giả trình bày lý luận chung về căn cứ ly hôn và kháiquát căn cứ ly hôn trong hệ thống pháp luật Việt Nam đồng thời đi sâu vào đánh giáthực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2000 tại tỉnh Lạng Sơn

* Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Viết Thái (2012), Trường Đại học Luật Hà

Nội, đề tài: "Hậu quả pháp lý của ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2000" Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đưa ra khái niệm hậu quả pháp lý của ly hôn Trong luận văn, tác giả tiếp cận hậu quả pháp lý của ly hôn ở từng vấn đề cụ thể Ngoài ra,

trong nghiên cứu của mình, tác giả còn nghiên cứu hậu quả pháp lý của ly hôn quacác thời kỳ lịch sử của Việt Nam và phân tích hậu quả pháp lý của ly hôn theo LuậtHN&GĐ năm 2000, trong đó gồm hậu quả pháp lý về quan hệ hôn nhân, về chia tàisản, về cấp dưỡng, quan hệ giữa cha mẹ và con khi ly hôn Tuy nhiên, tác giả vẫnchủ yếu đi sâu phân tích các quy định của Luật HN&GĐ năm 2000 về hậu quả pháp

lý của ly hôn mà chưa nêu bật được các vấn đề về lý luận trong luận văn

* Luận văn thạc sỹ của Bùi Minh Giang (2013), Đại học Luật Hà Nội, đề tài:

"Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ sau khi ly hôn theo pháp luật Việt Nam" Luận văn

giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ sau khi

ly hôn Tác giả tiếp cận những vấn đề lý luận và thực tiễn của quyền và nghĩa vụcủa cha, mẹ sau khi ly hôn trong điều kiện mới, giai đoạn mới trên cơ sở tiếp cậndưới góc độ bảo vệ trẻ em, bảo vệ phụ nữ trong điều kiện xây dựng Nhà nước phápquyền XHCN ở Việt Nam và hội nhập quốc tế Tác giả đánh giá các quy định củachế định ly hôn về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ khi ly hôn theo Luật HN&GĐnăm 2000 đã đề cao giá trị con người, đặc biệt là quyền trẻ em và bình đẳng giới.Ngoài các công trình nêu trên, trước khi Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lựccũng có rất nhiều các công trình nghiên cứu về một hoặc một số nội dung của chế

Trang 16

định ly hôn trong Luật HN&GĐ năm 2000 Các nghiên cứu này cũng đã góp phầnsửa đổi, bổ sung Luật HN&GĐ ngày càng đầy đủ và hoàn thiện hơn.

1.1.2 Đề tài nguyên cứu khoa học

* Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội

(2018): “Nguyên nhân ly hôn và tác động của ly hôn đến con qua nghiên cứu trường hợp ở quận Thanh Xuân và quận Đống Đa, Hà Nội”, chủ nhiệm đề tài: TS.

Phan Thị Luyện

Đề tài nghiên cứu gồm 3 chương với 6 chuyên đề: Chuyên đề 1 là tổng quannghiên cứu và cơ sở lý luận về ly hôn; chuyên đề 2 là yếu tố tác động đến ly hôn ởnước ta; chuyên đề 3 là tình hình ly hôn tại quận Đống Đa và quận Thanh Xuân, HàNội; chuyên đề 4 là nguyên nhân ly hôn qua kết quả khảo sát tại quận Thanh Xuân

và quận Đống Đa, Hà Nội; chuyên đề 5 là một số tác động của ly hôn đến con quakết quả khảo sát; chuyên đề 6 là một số giải pháp hạn chế ly hôn và sự tác động tiêucực của ly hôn đến con

* Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội

(2018): “Một số vấn đề pháp lý về bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình”, chủ

nhiệm đề tài: TS Bùi Thị Mừng

Đề tài khoa học này gồm 3 chương với 5 chuyên đề nghiên cứu những vấn đề

lý luận về nạn nhân bạo lực gia đình và bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình;phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực giađình; đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiệnpháp luật về vấn đề này

* Tài liệu hội thảo khoa học, Trường Đại học Luật Hà Nội (2020), “Chế định

ly hôn theo pháp luật nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và pháp luật nước Cộng hoà Pháp”.

Tài liệu này tập hợp các bài tham luận nghiên cứu về chế định ly hôn trongpháp luật nước Cộng hoà XHCN Việt Nam và pháp luật nước Cộng hoà Pháp, gồmcác nội dung:

Chuyên đề 1: “Ly hôn không cần qua thẩm phán trong pháp luật Pháp”,

GS.Marie –Laure CICILE-DELFOSSE, Khoa Luật và Khoa học chính trị, TrườngĐại học Rennes 1 Theo đó, từ khi Luật năm 2016-1547 về hiện đại hoá công lý củathế kỷ XXI, được gọi là luật J 21 có hiệu lực vào ngày 1/1/2017 đã đưa vào phápluật Pháp quy định về ly hôn thuận tình không cần qua thẩm phán Điều 229-1

BLDS theo cải cách năm 2016 của Pháp có quy định “Khi vợ hoặc chồng thống nhất về chấm dứt hôn nhân và những hệ quả của nó, họ đã xác nhận, được hỗ trợ

Trang 17

bởi luật sư của mỗi bên, sự thống nhất của họ trong một thoả thuận dưới hình thức của một văn bản ký tư có chữ ký của đương sự kèm theo chữ ký xác nhận bởi luật

sư của họ (và được lập theo các điều quy định tại Điều 1374)” Thoả thuận này sau

đó được nộp lưu trữ tại văn phòng của một công chứng viên Ly hôn không quathẩm phán phải trả qua hai giai đoạn: Giai đoạn một với luật sư ghi nhận thoả thuậncủa vợ chồng thành văn bản và giai đoạn hai với sự trợ giúp của công chứng viên đểlưu trữ văn bản thoả thuận này Theo đó, trong vòng 07 (bảy) ngày kể từ ngày lậpvăn bản, văn bản phải được chuyển đến cho công chứng viên lưu trữ

Trước đây, mặc dù ý tưởng này đã được nêu ra nhiều lần nhưng chưa đượcthông qua bởi suy nghĩ hôn nhân là một tổ chức gắn kết chặt chẽ mà sự phá vỡ phảichịu sự kiểm soát của thẩm phán Do đó, cho đến trước khi luật J 21 ra đời các nhàlập pháp đã từ chối việc bỏ qua vai trò của thẩm phán Đây là cải cách tư pháp mà

lý do chủ yếu chính là tính chính trị trong đó với mục tiêu tạo điều kiện thuận lợihơn cho việc ly hôn nhân danh một quyền ly hôn mạnh hơn4

Chuyên đề 2: “Ly hôn theo quan điểm hiện đại”, PGS.TS Ngô Thị Hường,

Trường Đại học Luật Hà Nội Tại chương này, tác giả Ngô Thị Hường nêu ra cácquan điểm về ly hôn và đề xuất một số kiến nghị cụ thể như: Nhà làm luật cần thayđổi quan điểm ly hôn theo hướng ly hôn là giải pháp giải phóng vợ, chồng khỏicuộc sống chung đã có những xung đột không thể giải quyết được Khi giải quyết lyhôn, tuỳ từng trường hợp mà xác định căn cứ ly hôn để giải quyết cho phù hợp.Ngoài ra, tác giả còn kiến nghị ghi nhận quyền ly thân của vợ, chồng vì ly thân làmột hiện tượng xã hội, dù pháp luật có ghi nhận hay không thì nó vẫn đang diễn ratrong thực tiễn đời sống xã hội Quy định về ly thân tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ tốthơn quyền, lợi ích của các bên, đặc biệt là bảo vệ phụ nữ và trẻ em Ly hôn cũng làgiải pháp tạo điều kiện cho vợ chồng có thời gian suy nghĩ cặn kẽ, nhìn lại khiếmkhuyết của nhau trước khi quyết định ly hôn5

Chuyên đề 3: “Một số vấn đề về quyền yêu cầu ly hôn theo pháp luật Việt Nam”, TS Nguyễn Phương Lan, Trường Đại học Luật Hà Nội Nội dung chuyên đề

này nêu khái niệm, bản chất pháp lý của quyền yêu cầu ly hôn và phân tích vềquyền yêu cầu ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 và thực tiễn áp dụng Chuyên

đề cũng nêu một số vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thực hiện về quyền yêu cầu

ly hôn và hướng giải quyết

4 Tài liệu hội thảo khoa học: “Chế định ly hôn theo pháp luật nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và pháp luật nước Cộng hoà Pháp”, Trường đại học Luật Hà Nội, tr19.

5 Tài liệu hội thảo khoa học: “Chế định ly hôn theo pháp luật nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và pháp luật nước Cộng hoà Pháp”, Trường đại học Luật Hà Nội, tr40-41

Trang 18

Chuyên đề 4: “Căn cứ ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014”, PGS.TS

Nguyễn Văn Cừ, Trường Đại học Luật Hà Nội Chuyên đề này tổng hợp quan điểm

về ly hôn và quy định nội dung căn cứ ly hôn qua các thời kỳ ở Việt Nam và nêucăn cứ ly hôn theo Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014 Theo đó, tác giả NguyễnVăn Cừ nêu kiến nghị cần hoàn thiện pháp luật về nội dung căn cứ ly hôn theohướng cần có điều luật riêng quy định về căn cứ ly hôn; nội dung căn cứ ly hôn phải

cụ thể hơn; nghĩa vụ chứng minh bản chất của hôn nhân đã tan vỡ thuộc về vợ,

chồng, TA chỉ xem xét, quyết định; cần kết hợp giữa yếu tố “lỗi” của vợ chồng với

thực chất của quan hệ hôn nhân đã tan vỡ

Chuyên đề 5: “Thủ tục giải quyết các trường hợp ly hôn theo pháp luật Pháp

và Việt Nam”, PGS.TS Trần Anh Tuấn, Trường Đại học Luật Hà Nội Trong

chuyên đề này, tác giả trình bày các nghiên cứu về thủ tục ly hôn theo pháp luậtPháp Theo đó, hiện nay ở Pháp phân thủ tục ly hôn làm 05 thủ tục ly hôn: Ly hôntheo thoả thuận Hợp đồng (Ly hôn không qua thẩm phán mới được bổ sung); Lyhôn theo thoả thuận tư pháp; Ly hôn dựa trên sự chấp nhận nguyên tắc chấm dứthôn nhân; Ly hôn vì lý do phai nhạt, biến chất thật sự của mối quan hệ vợ chồng;

Ly hôn dựa trên lỗi6 Bên cạnh đó, tác giả cũng so sánh thủ tục ly hôn theo pháp luậtViệt Nam và theo pháp luật Pháp

Chuyên đề 5: “Nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn theo pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng”, PGS.TS Nguyễn Thị Lan và Thạc sỹ Bế Hoài

Anh, Trường Đại học Luật Hà Nội Theo Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014 và Điều

7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, việc chia tàisản chung của vợ chồng khi ly hôn phải đảm bảo 05 nguyên tắc: Tôn trọng thoảthuận phân chia tài sản của vợ chồng; đảm bảo sự bình đẳng về quyền sở hữu tài sảncủa vợ chồng; chia tài sản chung của vợ chồng bằng hiện vật hoặc chia theo giá trị;bảo đảm quyền sở hữu tài sản riêng của vợ, chồng; bảo đảm quyền và lợi ích hợppháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sựhoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình

Chuyên đề 6: “Giải quyết tranh chấp của vợ chồng khi ly hôn đối với tài sản

mà vợ, chồng đưa vào đầu tư kinh doanh”, TS Bùi Minh Hồng, Trường Đại học

Luật Hà Nội Chuyên đề này, tác giả nêu quyền sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản

mà vợ, chồng đưa vào đầu tư kinh doanh; giải quyết tranh chấp của vợ chồng khi lyhôn đối với tài sản mà vợ, chồng đưa vào đầu tư kinh doanh Trong đó, tác giả cũngnêu khó khăn trong thực tiễn giải quyết tranh chấp của vợ chồng khi ly hôn đối vớitài sản mà vợ, chồng đưa vào đầu tư kinh doanh và lấy ví dụ cụ thể là vụ án ly hôn

6 Tài liệu hội thảo khoa học: “Chế định ly hôn theo pháp luật nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và pháp luật nước Cộng hoà Pháp”, Trường đại học Luật Hà Nội, tr72.

Trang 19

giữa ông Đặng Lê Nguyên Vũ và bà Lê Hoàng Diệp Thảo về chia cổ phần đóng gópcủa ông Vũ và bà Thảo trong 07 công ty thuộc Tập đoàn Trung Nguyên

Chuyên đề 7: “Pháp luật Việt Nam hiện hành về giải quyết quan hệ tài sản giữa vợ chồng với người thứ ba khi ly hôn”, Thạc sỹ Nguyễn Hồng Hải, Vụ pháp

luật dân sự-kinh tế, Bộ tư pháp Chuyên đề này, tác giả đề cập một số vấn đề vềnhận diện người thứ ba trong quan hệ tài sản giữa vợ chồng; nguyên tắc chung về

áp dụng pháp luật và về giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn và giải quyếtquyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn Tác giảcũng nêu một số trường hợp cụ thể giải quyết quan hệ tài sản giữa vợ chồng vớingười thứ ba khi ly hôn như: Chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn liên quan đếnngười thứ ba là thành viên trong gia đình; xử lý tài sản chung đưa vào giao dịch,đầu tư, kinh doanh liên quan đến người thứ ba; xử lý hậu quả giao dịch do vợ,chồng xác lập, thực hiện không có tư cách đại diện; bảo vệ quyền lơi của người thứ

ba ngay tình trong trường hợp giao dịch do vợ, chồng xác lập, thực hiện bị vô hiệu;giải quyết quan hệ tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba trong tố tụng dân sự vàTHA

Chuyên đề 8: “Giải quyết tranh chấp về nhà ở và quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn theo Pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng”, PGS.TS Nguyễn Thị

Lan, Trường Đại học Luật Hà Nội và Ths Đinh Thị Thu Hường, TAND quận CầuGiấy- Hà Nội

Chuyên đề 9: “Một số vấn đề về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn”, PGS.TS Ngô Thị Hường, Trường Đại học Luật Hà Nội Tác giả nêu điều

kiện để phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng bao gồm: Một bên có khó khăntúng thiếu yêu cầu cấp dưỡng và có lý do chính đáng, bên kia có khả năng kinh tế

để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng Tác giả cũng nêu một số hạn chế của pháp luật vềcấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn như thiếu quy định về thời hạn cấp dưỡnggiữa vợ, chồng và khó để một bên đưa ra yêu cầu cấp dưỡng với bên kia vì sĩ diện,

Trang 20

một bộ phận không nhỏ cha, mẹ khi ly hôn đã không xuất phát từ quyền lợi về mọimặt của con.

Chuyên đề 11: “Thực hiện quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con sau khi cha mẹ ly hôn”, PGS.TS Nguyễn Thị Lan, Trường Đại học Luật Hà Nội Tác giả

phân tích quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 về quyền và nghĩa vụ của cha mẹđối với con sau khi ly hôn và nêu những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiệnquyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con sau khi cha mẹ ly hôn

Tài liệu hội thảo khoa học này có rất nhiều nội dung liên quan đến nội dung

đề tài LA mà nghiên cứu sinh nghiên cứu

* Đề tài nghiên cứu khoa học: "Cơ sở lý luận và thực tiễn của những điểm mới trong Luật HN&GĐ năm 2014" -Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), đề tài nghiên

cứu khoa học cấp trường, chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Văn Cừ

Với 13 chuyên đề, trong đó có nội dung liên quan đến các vấn đề của chế định

ly hôn Đây là một công trình nghiên cứu khoa học nghiên cứu cơ sở lý luận và thựctiễn ban hành Luật HN&GĐ năm 2014 Phân tích những nội dung mới trong cácquy định cụ thể của Luật HN&GĐ năm 2014 và kiến nghị tiếp tục hoàn thiện cácquy định của Luật này

* Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường: “Nghiên cứu phát hiện những bất cập của Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000”, Trường Đại học Luật Hà Nội (2011),

chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn văn Cừ Đề tài có 2 chuyên đề liên quan đến chế định

ly hôn:

- Chuyên đề 9: Chế định ly hôn - Những vướng mắc bất cập trong thực tiễn áp dụng và một số giải pháp hoàn thiện, TS Nguyễn Thị Lan, tr.178 Trong chuyên đề

này, tác giả nêu những hạn chế, vướng mắc trong quy định của Luật HN&GĐ năm

2000 như: Về quyền ly hôn của người mất năng lực hành vi dân sự không được quyđịnh, dẫn đến người còn lại không yêu cầu ly hôn nhưng ngược đãi, hành hạ, phátán tài sản mà cha mẹ, người thân lại không thể làm gì để bảo vệ Vấn đề tự nguyện

ly hôn bị lợi dụng nhằm mục đích khác như tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ hoặc

để xuất cảnh ra nước ngoài Đây là những trường hợp ly hôn giả tạo Ngoài ra, tácgiả so sánh sự khác nhau về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn ở các Luật HN&GĐ cácnăm 1959, 1986, 2000; căn cứ ly hôn; hậu quả pháp lý của ly hôn về nhân thân, vềtài sản và quan hệ cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn…

Trang 21

- Chuyên đề 10: Thực tiễn áp dụng và những vướng mắc bất cập đối với các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng theo Luật HN&GĐ năm 2000, TS.

Nguyễn Văn Cừ Tác giả nêu những vướng mắc bất cập đối với trường hợp chia tàisản chung của vợ chồng như: Về định giá tài sản khi ly hôn gặp khó khăn trong thựctiễn, quy định về xác định công sức đóng góp còn trừu tượng…

1.1.3 Các bài báo khoa học đăng trên các tạp chí chuyên ngành

* Nghiên cứu toàn bộ chế định ly hôn trong Luật HN&GĐ năm 2014 có bài

viết "Chế định ly hôn trong dự thảo sửa đổi Luật hôn nhân và gia đình" của TS.

Nguyễn Văn Cừ (2014) đăng trên Tạp chí Lập pháp số 10 (266), tháng 5/2014

Ở góc độ một bài viết trên tạp chí, tác giả cũng chỉ có thể đưa ra một số quanđiểm ngắn gọn về một số nội dung của chế định ly hôn Cụ thể, tác giả nêu quan

điểm cho rằng khái niệm "cưỡng ép ly hôn" và "cản trở ly hôn" chưa rõ ràng, không nên

mở rộng quyền yêu cầu ly hôn ngoài vợ chồng Tác giả cũng đưa ý kiến về thủ tụctố tụng dân sự khi giải quyết ly hôn, các trường hợp ly hôn và thời điểm có hiệu lựccủa việc ly hôn Ngoài ra, tác giả cũng đưa ra những đánh giá đối với những quyđịnh về hậu quả pháp lý của ly hôn trong dự thảo Luật HN&GĐ (sửa đổi) năm

2014

* Bài viết của TS Nguyễn Văn Cừ đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số

11 (411), tháng 06/2020, tr39-45: “Căn cứ ly hôn trong pháp luật Việt Nam”.

Trong bài viết, tác giả phân tích quan điểm về ly hôn và căn cứ ly hôn qua các thời

kỳ lịch sử khác nhau, đồng thời phân tích căn cứ ly hôn trong Luật HN&GĐ năm

2014 Tác giả nêu quan điểm căn cứ ly hôn cần dựa vào bản chất quan hệ hôn nhân

đã tan vỡ Trên cơ sở phân tích, đánh giá, tác giả đã kiến nghị sửa đổi LuậtHN&GĐ năm 2014 theo hướng bổ sung quy định các căn cứ để TA giải quyết ly

hôn như quy định của Điều 89 Luật HN&GĐ năm 2000.

* Về chia tài sản chung của vợ chồng phải kể đến bài viết “Bàn về chia tài sản chung của vợ chồng trong doanh nghiệp qua một vụ án ly hôn” của tác giả Lê Vĩnh

Châu, Ngô Khánh Tùng trên tạp chí TAND, số 7/2021, tr1-8 Tác giả nhận địnhchia tài sản chung của vợ chồng trong doanh nghiệp là một trường hợp cụ thể trongchia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn Từ phân tích vụ án ly hôn có yêu cầuchia tài sản là tài sản chung của vợ chồng trong doanh nghiệp và phân tích quy địnhhiện hành về chia tài sản chung của vợ chồng là phần vốn góp trong doanh nghiệp,tác giả chỉ ra những điểm còn vướng mắc Bên cạnh đó, tác giả cũng đánh giá, LuậtHN&GĐ năm 2014 bổ sung cơ chế chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinhdoanh khi ly hôn là điều tất yếu khách quan, phù hợp với bối cảnh đời sống kinh tế,

xã hội hiện nay

Trang 22

* Bài viết “Giải quyết quyền nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ

ly hôn thế nào cho đúng?” của tác giả Nguyễn Chế Linh đăng trên Tạp chí Luật sư

Việt Nam, số 1+2/2018, tr76-77 Bài viết nêu một số khó khăn, vướng mắc trongquá trình TA giải quyết quyền nuôi con và quyết định mức cấp dưỡng nuôi con

* Bài viết “Bàn về quyền ly hôn của vợ hoặc chồng trong trường hợp một bên đang bị truy nã” của tác giả Phan Thành Nhân, Đỗ Thị Nhung đăng trên Tạp chí

Nghề luật số 3/2019, tr21-26 Bài viết nêu thực trạng hiện nay về việc giải quyếtyêu cầu ly hôn của vợ hoặc chồng đối với người đang bị truy nã Tác giả nêu ranhững khó khăn, vướng mắc khi giải quyết ly hôn trong trường hợp này; đồng thờiphân tích các quy định của pháp luật nhằm xác định các căn cứ tuyên bố mất tích,sau đó tuyên bố chết đối với người bị truy nã và giải quyết ly hôn cho vợ hoặcchồng của người bị truy nã

* Bài viết “Bàn về quyền yêu cầu ly hôn quy định tại khoản 3 Điều 51 Luật HN&GĐ năm 2014” của tác giả Trần Thị Lịch đăng trên Tạp chí TAND số

21/2019, tr1-4 Trong bài viết, tác giả bàn về những vướng mắc trong việc áp dụngkhoản 3 Điều 51 trong Luật HN&GĐ năm 2014 quy định về hạn chế quyền yêu cầugiải quyết ly hôn của người chồng khi vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi condưới 12 tháng tuổi Bằng việc đưa các phân tích, lập luận về quy định tại khoản 3Điều 51 Luật HN&GĐ năm 2014, BLDS năm 2015, Luật Bảo hiểm xã hội năm

2014, tác giả đã chỉ ra nhiều vướng mắc, bất cập trong quy định đối với quyền yêucầu giải quyết ly hôn của người chồng trong trường hợp người vợ có thai, sinh conhoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi Từ đó, tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị

* Nghiên cứu về một số nội dung của chế định ly hôn trong nhóm tạp chí còn

phải kể đến bài viết của tác giả Nguyễn Lan: "Quyền yêu cầu, căn cứ và hậu quả pháp lý của ly hôn" đăng trên Tạp chí Dân chủ-Pháp luật, số chuyên đề sửa đổi, bổ

sung Luật HN&GĐ năm 2000 (2013), tr150-158 Trong bài viết, tác giả phân tíchđánh giá một số nội dung về quyền yêu cầu, căn cứ và hậu quả pháp lý của ly hôntrong bối cảnh yêu cầu cần sửa đổi, bổ sung Luật HN&GĐ năm 2000 Từ đó bàiviết chỉ ra một số hạn chế, vướng mắc của chế định ly hôn

* Bài viết của tác giả Dương Tấn Thanh “Bàn về lấy ý kiến con chưa thành niên trong vụ án ly hôn” đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 5/2019, tr50-52 Bài viết

nêu một số khó khăn, vướng mắc về vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi lyhôn Cụ thể là khó khăn trong việc lấy ý kiến của con từ đủ 07 tuổi trở lên để xemxét nguyện vọng của con muốn ở với ai khi cha mẹ ly hôn

* Bài nghiên cứu đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 9 (294) năm

2016, tr14-17 của tác giả Hoàng Thị Hải Yến "Một số ý kiến về hạn chế quyền yêu

Trang 23

cầu ly hôn của người chồng theo Luật HN&GĐ năm 2014" Bài viết phân tích các

quy định của Luật HN&GĐ 2014 về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồngdưới góc độ bình đẳng giới Trong bài viết, tác giả đặt ra bốn vấn đề cần giải quyếtbao gồm: khi người vợ sinh con; khi người vợ đang có thai, đang sinh con, nuôi condưới 12 tháng tuổi nhưng vợ chồng cùng thuận tình ly hôn; trường hợp mang thai

hộ vì mục đích nhân đạo; trường hợp đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi

1.1.4 Một số công trình nghiên cứu khác

1.1.4.1 Một số công trình nghiên cứu trong nước

* Giáo trình Luật HN&GĐ, Trường Đại học Luật Hà Nội, do PGS.TS.

Nguyễn Văn Cừ làm chủ biên, Nxb Tư pháp, 2021 Giáo trình là tài liệu tham khảocho sinh viên, người nghiên cứu khái quát tổng quan về các vấn đề của LuậtHN&GĐ năm 2014

* Sách "Bình luận khoa học Luật HN&GĐ Việt Nam" -Tập 1 của tác giả Nguyễn

Ngọc Điện, Nxb Trẻ, 2002 Cuốn sách này là nguồn tham khảo cho nhiều công trìnhnghiên cứu khoa học Trong sách, tác giả bình luận về nhiều nội dung của LuậtHN&GĐ năm 2000, trong đó có chế định ly hôn Tuy nhiên, sách chỉ dừng lại ởviệc bình luận về quy định của điều luật chứ không đánh giá đến việc áp dụng điềuluật trong thực tiễn vì vào thời điểm năm 2002, Luật HN&GĐ năm 2000 mới cóhiệu lực được chưa đầy 2 năm

* Sách chuyên khảo tựa đề: "Nguyên nhân ly hôn của phụ nữ qua nghiên cứu

hồ sơ của TAND" của tác giả Phan Thị Luyện, Nxb Tư pháp, 2016 Sách nghiên cứu

một số vấn đề cơ bản về ly hôn, phản ánh tình hình ly hôn ở một số nước trên thếgiới như Anh, Mỹ, Nhật Bản và Việt Nam, khảo sát hồ sơ các vụ việc ly hôn trênđịa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2005-2010 và phân tích yếu tố tác độngcũng như nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mâu thuẫn xung đột trong đời sống gia đìnhthúc đẩy người phụ nữ ly hôn

* Tài liệu hội thảo khoa học chuyên đề: “Phòng, chống bạo lực đối với phụ

nữ và trẻ em- Pháp luật và thực tiễn”- Trường Đại học Luật Hà Nội, tháng 10/2008.

Tuy tài liệu không đề cập đến chế định ly hôn nhưng vấn đề bạo lực đối vớiphụ nữ và trẻ em là nội dung NCS đặc biệt quan tâm khi nghiên cứu đề tài LA Từviệc nghiên cứu tình trạng bạo lực đối với phụ nữ, trẻ em; hậu quả của bạo lực đốivới phụ nữ và trẻ em để đánh giá tác động của bạo lực đối với phụ nữ, trẻ em trongthực trạng tình trạng ly hôn và giải quyết ly hôn hiện nay

1.1.4.2 Một số nghiên cứu của tác giả nước ngoài

Trang 24

* LA tiến sĩ của Viney, Johua, William- Đại học Durham (2011) "The moderm divorce" (Tạm dịch: Ly hôn tiến bộ) LA này tìm hiểu Luật ly hôn của Anh và những

cải cách hiện đại trong lĩnh vực ly hôn tại Anh quốc Trong LA này, tác giả đưaquan điểm ly hôn không có lỗi có thể được thông qua và việc hòa giải tự nguyện cóthể mang lại nhiều lợi ích

* Công trình nghiên cứu của tác giả Kay C.Lee "Đạo đức Nho giáo, thẩm phán, phụ nữ: Ly hôn theo Luật Gia đình Hàn Quốc sửa đổi" (1995) Công trình

nghiên cứu cho thấy những thay đổi tích cực của Hàn Quốc trong việc sửa đổi Luậtgia đình Hàn Quốc theo hướng quy định công bằng tài sản chung khi ly hôn giữa

vợ, chồng; quyền nuôi con được công bằng hơn dựa trên sự xem xét điều kiện giữacha và mẹ để trao quyền nuôi con Tuy nhiên, tác giả cũng cho thấy Luật gia đìnhHàn Quốc không có những quy định chi tiết mà trao quyền cho thẩm phán Theo tácgiả cần thay đổi đạo luật này và để thay đổi thì đòi hỏi phải có những thay đổi vềchuẩn mực đạo đức tách rời khỏi tư tưởng Nho giáo lạc hậu

* Cuốn sách “The good divorce” (Tạm dịch: Cuộc ly hôn tốt đẹp) của TS.

Constance Ahrons (1994) Trong sách, tác giả có đề cập đến một số vấn đề vềquyền của trẻ em khi cha mẹ ly hôn Dựa trên hai thập kỷ nghiên cứu mang tínhbước ngoặt và khảo sát trên các trường hợp ly hôn, tác giả Ahrons đưa ra một số tưtưởng để việc ly hôn ảnh hưởng ít nhất đến tâm lý của người trong cuộc và của con,giúp con phát triển lành mạnh Tuy nhiên, tác giả nhìn nhận việc ly hôn dưới nhữngtác động về mặt tâm lý và nghiên cứu dưới góc độ xã hội học chứ chưa đặt vấn đề

về pháp lý trong đó

* Cuốn sách “Power on Divorce and other matrimorial Causes” (Tạm dịch:

Quyền về ly hôn và các căn cứ) của Giáo sư Christine Davies, Đại học Alberta.Sách gồm 2 tập, trong đó tập 1 xuất bản năm 1976 Tác giả tập trung nghiên cứupháp luật ly hôn ở Canada, mang đến cho người đọc nhận thức toàn diện về phápluật ly hôn của Canada trong sự so sánh tương đồng với pháp luật về ly hôn củaAnh và Úc Trong sách, tác giả nghiên cứu chi tiết cơ sở ly hôn, phân tích toàn diệncác quy định và những hạn chế của Đạo luật về ly hôn ở Canada Chương 5 vàchương 7 tập trung vào các lĩnh vực cấp dưỡng và bảo đảm quyền nuôi con, quyềncủa trẻ em Tập 2, tác giả nghiên cứu các nguyên nhân khác dẫn đến ly hôn màkhông được TA xem xét khi giải quyết ly hôn

* Cuốn "The divorce Revolution” (Tạm dịch: Cuộc cách mạng ly hôn) của nhà

nghiên cứu xã hội học Lenore.J.Weitzman (1985) Tác phẩm nghiên cứu hậu quảcủa ly hôn đối với phụ nữ và trẻ em, đặc biệt là trường hợp ly hôn không có lỗi dướigóc độ xã hội học

1.2 Nhận xét về tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Trang 25

Qua nghiên cứu các công trình khoa học có liên quan đến đề tài LA có thểthấy đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về chế định ly hôn ở rất nhiều thời kỳkhác nhau và nhiều nội dung, khía cạnh khác nhau trong chế định ly hôn Tuynhiên, về chế định ly hôn trong Luật HN&GĐ năm 2014 thì mới chỉ có một số côngtrình nghiên cứu riêng biệt về một số nội dung trong chế định ly hôn như: về quyềnyêu cầu ly hôn, về căn cứ ly hôn, về áp dụng căn cứ ly hôn hoặc nghiên cứu mộtkhía cạnh nào đó của hậu quả pháp lý của ly hôn Những nghiên cứu này, một lànghiên cứu dưới góc độ phân tích quy định của Luật HN&GĐ, hai là nghiên cứudưới góc độ áp dụng trong thực tiễn Mặc dù, các nghiên cứu cũng đã xây dựngđược một số khái niệm, phân tích được các quy định của pháp luật, cũng chỉ ra mộtsố điểm còn hạn chế, vướng mắc nhưng chưa thật sự đầy đủ Về phương hướngnhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của Luật HN&GĐ, nhiều công trình mới chỉdừng lại ở kiến nghị chung chung mà chưa đưa ra kiến nghị cụ thể để sửa đổi, bổsung các nội dung còn bất cập hoặc còn thiếu trong luật thực định Một số côngtrình có nêu kiến nghị cụ thể nhưng mới dừng lại ở một nội dung nhất định của chếđịnh ly hôn.

1.2.1 Những vấn đề đã được nghiên cứu giải quyết

Chế định ly hôn là chế định được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm vì là chếđịnh gần gũi, thường xuyên được sử dụng trong thực tiễn đời sống xã hội Các côngtrình này đã giải quyết được một số vấn đề cơ bản như sau:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu trước đây đã chỉ ra được tầm quan trọngcủa chế định ly hôn Các công trình nghiên cứu trước đây đều có nghiên cứu nhữngvấn đề lý luận cơ bản về ly hôn Một số vấn đề của chế định ly hôn đã được nghiêncứu và đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận Cụ thể, các công trình nghiêncứu đã xây dựng hệ thống lý luận cơ bản như khái niệm về ly hôn, về quyền yêu cầu

ly hôn, căn cứ ly hôn, hậu quả pháp lý của ly hôn Từ đó, giúp cho những ngườinghiên cứu, những người trực tiếp áp dụng pháp luật có nhận thức tổng quan vềtừng vấn đề trong chế định ly hôn

Thứ hai, các công trình nghiên cứu trước đây đã phân tích được nội dung củachế định ly hôn Các công trình nghiên cứu đã phân tích nội dung quyền yêu cầu lyhôn, căn cứ ly hôn, hậu quả pháp lý của ly hôn và cũng đã có sự nghiên cứu, sosánh quy định về quyền yêu cầu ly hôn, căn cứ ly hôn, hậu quả pháp lý của ly hônqua pháp luật về ly hôn các thời kỳ khác nhau Thông qua so sánh, các công trìnhnghiên cứu này cũng đã có những nhận xét, đánh giá về sự tiến bộ, phù hợp hay cònbất cập của các quy định hiện hành so với các quy định trước đó

Thứ ba, trong các công trình nghiên cứu cũng đã chỉ ra một số vấn đề cònvướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật ly hôn bao gồm các vướng mắc, bất

Trang 26

cập trong quy định về quyền yêu cầu ly hôn, căn cứ ly hôn, hậu quả pháp lý của lyhôn, đồng thời cũng đã có những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về ly hôn Như vậy, có thể thấy các công trình nghiên cứu trước đây cơ bản đã tiếp cậnnghiên cứu chế định ly hôn ở nhiều góc độ khác nhau, từ góc độ lý luận chung đếngóc độ đánh giá pháp luật nội dung và đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật ly hôntrong thực tiễn

1.2.2 Các vấn đề chưa được giải quyết

Mặc dù các công trình nghiên cứu về chế định ly hôn trước đây đã đạt đượcnhững thành công nhất định, song bên cạnh đó vẫn còn nhiều vấn đề chưa giảiquyết được Cụ thể là các vấn đề sau đây:

Thứ nhất, đa số các công trình chỉ đi sâu tập trung nghiên cứu một vấn đề cụthể nào đó của chế định ly hôn như nghiên cứu về căn cứ ly hôn, quyền yêu cầu lyhôn, hậu quả pháp lý của ly hôn hoặc thậm chí chỉ nghiên cứu khoanh vùng ở mộttỉnh hoặc khu vực nhất định Chưa có công trình nào nghiên cứu tổng thể toàn bộcác nội dung của chế định ly hôn trong Luật HN&GĐ năm 2014 Do đó, các côngtrình này chưa làm rõ được mối quan hệ giữa các nội dung trong chế định ly hôn vớinhau Ví dụ: Nội dung về quyền nuôi con khi cha mẹ ly hôn liên quan đến cấpdưỡng (người không trực tiếp nuôi con thì phải cấp dưỡng cho con), phân chia tàisản khi vợ chồng ly hôn (người trực tiếp nuôi con thì được ưu tiên nhận hiện vật lànhà ở khi phân chia tài sản của vợ chồng)…

Thứ hai, chưa công trình nghiên cứu nào nghiên cứu các yếu tố tác động đếnxây dựng và hoàn thiện chế định ly hôn Các yếu tố kinh tế, chính trị, đường lốichính sách, phong tục tập quán, văn hóa, tôn giáo đều là những yếu tố có tác độngtới việc xây dựng và hoàn thiện các quy định của chế định ly hôn Việc nghiên cứu

sự tác động của các yếu tố này góp phần hoàn thiện pháp luật về ly hôn một cáchphù hợp nhất, dễ dàng tiếp nhận và khả thi nhất khi đưa vào áp dụng trong thực tiễn.Thứ ba, các công trình nghiên cứu trước đây dù đã nghiên cứu và có nhữngphát hiện về hạn chế, vướng mắc của chế định ly hôn trong Luật HN&GĐ năm

2014, nhưng chưa thật sự đầy đủ Một số công trình nêu kiến nghị, giải pháp cònchung chung hoặc kiến nghị trong phạm vi một nội dung riêng lẻ nào đó

Tóm lại, qua xem xét tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài LAcó thể nhận thấy, các công trình nghiên cứu hoặc là chỉ tập trung nghiên cứu mộtvấn đề nào đó của chế định ly hôn hoặc nếu có nghiên cứu toàn bộ chế định ly hônthì cũng chỉ dừng lại ở việc nêu một vài luận điểm về một vài vấn đề trong chế định

ly hôn Chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu sâu, toàn diện các vấn đề của

Trang 27

chế định ly hôn, đặc biệt chế định ly hôn trong Luật HN&GĐ năm 2014 Đây là vấn

đề vô cùng cấp thiết bởi chế định ly hôn đã được đưa vào thực thi được thời gianhơn 7 năm, trong thời gian này đã phát sinh nhiều vấn đề mới mà chế định ly hôntrong Luật HN&GĐ năm 2014 chưa dự liệu hoặc có những quy định gặp khó khăn,vướng mắc khi áp dụng trong thực tiễn Trong thời gian tới, Luật HN&GĐ năm

2014, trong đó có chế định ly hôn cần tiếp tục được sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứngnhu cầu thực tiễn trong giải quyết các vụ án ly hôn có tính chất ngày càng phức tạp

1.2.3 Các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án

Từ việc đánh giá, kế thừa các thành tựu mà các công trình nghiên cứu trướcđây đã đạt được và rút kinh nghiệm từ những vấn đề mà các công trình nghiên cứutrước đây chưa giải quyết được, LA này tiếp tục nghiên cứu các vấn đề sau:

Thứ nhất, nghiên cứu sâu hơn và toàn diện hơn các vấn đề lý luận của chếđịnh ly hôn Cụ thể, xây dựng khái niệm chế định ly hôn, nội dung của chế định lyhôn; làm rõ mối quan hệ giữa các nội dung trong chế định ly hôn với nhau; đánh giá

sự tác động của các yếu tố kinh tế, chính trị, đường lối chính sách, hội nhập quốc tế,phong tục, tập quán, văn hóa, tôn giáo đến xây dựng và hoàn thiện chế định ly hôn.Thứ hai, LA cần tiếp tục nghiên cứu toàn bộ nội dung của chế định ly hôntrong Luật HN&GĐ năm 2014 trên cơ sở so sánh với pháp luật của một số quốc gianhằm hoàn thiện chế định ly hôn trong Luật HN&GĐ năm 2014, có tính đón đầu xuhướng phát triển của quan hệ HN&GĐ trong thời gian tới Bên cạnh đó, mục đíchcủa LA khi nghiên cứu nội dung của chế định ly hôn là để đưa ra những kiến nghị

để sửa đổi, bổ sung chế định ly hôn khi Luật HN&GĐ được sửa đổi, bổ sung

Thứ ba, LA cần chỉ rõ, phân tích, đánh giá từ tình huống thực tiễn nhằm pháthiện những điểm còn hạn chế, vướng mắc khi áp dụng chế định ly hôn

Thứ tư, cần đưa ra những kiến nghị và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện chếđịnh ly hôn trong thời gian tới LA cần luận giải, phân tích những kiến nghị sửa đổi,

bổ sung từng điều luật, từng nội dung của chế định ly hôn cho phù hợp với phápluật có liên quan và phù hợp với thực tiễn

1.3 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu 1: Những vấn đề lý luận về chế định ly hôn bao gồm

những vấn đề gì? Vì sao phải nghiên cứu những vấn đề lý luận về chế định ly hôn?

Trang 28

Khái niệm, nội dung của chế định ly hôn như quyền yêu cầu ly hôn, căn cứ ly hôn,hậu quả pháp lý của ly hôn?

Giả thuyết nghiên cứu 1:

Những vấn đề lý luận về ly hôn bao gồm khái niệm ly hôn, chế định ly hôn,

nội dung của chế định ly hôn bao gồm quyền yêu cầu ly hôn, căn cứ ly hôn, hậu quảpháp lý về ly hôn Việc nghiên cứu các vấn đề lý luận về chế định ly hôn nhằm có

sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, gốc rễ của ly hôn Các mối quan hệ giữa các nộidung của chế định ly hôn với nhau

Kết quả nghiên cứu 1:

Để làm rõ giả thuyết trên, NCS tiếp cận các vấn đề lý luận về chế định ly hôn,trong đó tiếp cận đầu tiên là khái niệm về ly hôn dưới các góc độ khác nhau, từ đóthấy rằng cần phải thay đổi khái niệm ly hôn trong luật hiện hành Nội dung chếđịnh ly hôn bao gồm: Quyền yêu cầu ly hôn, căn cứ ly hôn và hậu quả pháp lý của

ly hôn

Về quyền yêu cầu ly hôn: Đây là quyền nhân thân của vợ chồng Quy địnhquyền yêu cầu ly hôn nhằm đảm bảo cho vợ chồng có thể chấm dứt quan hệ hônnhân khi giữa vợ chồng đã có mâu thuẫn sâu sắc, không còn muốn tiếp tục chungsống với nhau nữa

Về căn cứ ly hôn: Căn cứ ly hôn là tình tiết, điều kiện (cơ sở pháp lý) đượcpháp luật dự liệu phản ánh tình trạng hôn nhân đã tan vỡ; chỉ khi có những tình tiết,

điều kiện đó thì TA mới được giải quyết cho vợ chồng ly hôn Cơ sở để xây dựng

căn cứ ly hôn xuất phát từ thực tiễn giải quyết ly hôn và sự biến đổi không ngừngcủa quan hệ hôn nhân Phải có các căn cứ ly hôn cụ thể để việc giải quyết các vụ án

ly hôn đạt tới chuẩn mực và rõ ràng, tránh việc tùy tiện trong xét xử các vụ việc lyhôn Để xây dựng hệ thống các căn cứ ly hôn cần dựa vào thực tiễn tình trạng hônnhân, bản chất hôn nhân đã tan vỡ hay chưa

Về hậu quả pháp lý của ly hôn: Là những vấn đề phát sinh cần giải quyết khi

vợ chồng ly hôn Hậu quả pháp lý của ly hôn bao gồm những vấn đề như quyềnnhân thân (quan hệ hôn nhân) của vợ chồng chấm dứt khi bản án, quyết định ly hôncủa TA có hiệu lực pháp luật; quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con khi ly hôn;phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn; cấp dưỡng giữa vợ chồng, giữa cha mẹ

và con khi ly hôn; quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với người thứ ba khi vợchồng ly hôn

Trang 29

Câu hỏi nghiên cứu 2: Những yếu tố nào có ảnh hưởng, tác động đến việc

xây dựng và hoàn thiện chế định ly hôn?

Giả thuyết nghiên cứu 2: Các yếu tố có ảnh hưởng, tác động đến việc xây

dựng và hoàn thiện chế định ly hôn bao gồm: Các yếu tố tự nhiên, kinh tế, văn hóa,

xã hội, phong tục tập quán, chính trị (đường lối, chính sách), hội nhập quốc tế, cáchmạng khoa học công nghệ

Kết quả nghiên cứu 2: Sự biến động của các yếu tố tự nhiên, kinh tế, văn

hóa, xã hội, chính trị (đường lối chính sách), hội nhập quốc tế, cách mạng khoa họccông nghệ, phong tục, tập quán có ảnh hưởng, tác động làm thay đổi các quan hệhôn nhân, quan hệ tài sản ảnh hưởng đến tính chất của các vụ án ly hôn cần phápluật điều chỉnh Đòi hỏi pháp luật phải được xây dựng và hoàn thiện dựa trên nhữngthay đổi đó

Câu hỏi nghiên cứu 3: Lịch sử phát triển của pháp luật về ly hôn ở nước ta?

Qua các thời kỳ, quy định của pháp luật về ly hôn đã có những thay đổi như thếnào?

Giả thuyết nghiên cứu 3: Qua các thời kỳ lịch sử, từ trước năm 1945 đến

nay, các quy định của pháp luật về ly hôn đã có nhiều thay đổi theo hướng ngàycàng tôn trọng các quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền ly hôn Các quyđịnh về ly hôn cũng ngày càng có nhiều tiến bộ, hoàn thiện hơn

Kết quả nghiên cứu 3: Nghiên cứu, phân tích và so sánh các quy định về ly

hôn trong chế định ly hôn qua các thời kỳ, NCS đã đưa ra kết luận: Chế định ly hôncủa pháp luật Việt Nam phát triển theo hướng tiến bộ và liên tục được sửa đổi, bổsung để phù hợp với tình hình thực tiễn Qua các lần sửa đổi, các quy định về ly hôn

đã có những tiếp thu nhất định từ pháp luật các nước có nền pháp luật tiên tiến trênthế giới

Câu hỏi nghiên cứu 4: Chế định ly hôn trong Luật HN&GĐ năm 2014 so với

chế định ly hôn trong pháp luật một số quốc gia có gì khác nhau và có nội dung nàocủa pháp luật ly hôn ở các quốc gia đó mà chúng ta cần tiếp thu để hoàn thiện chếđịnh ly hôn theo Luật HN&GĐ trong thời gian tới?

Giả thuyết nghiên cứu 4: Chế định ly hôn trong Luật HN&GĐ năm 2014 so

với chế định ly hôn trong pháp luật một số quốc gia có một số nội dung tương đồng

và một số nội dung khác biệt; có thể tiếp thu trong quá trình sửa đổi, bổ sung LuậtHN&GĐ trong thời gian tới

Kết quả nghiên cứu 4: Quá trình nghiên cứu pháp luật một số quốc gia trên

thế giới như Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Singapo, Trung Quốc…NCS thấy rằng, với tốc

Trang 30

độ phát triển kinh tế xã hội hiện nay đồng thời với tốc độ phát triển nhanh chóngcủa quan hệ HN&GĐ ở nước ta thì chúng ta có thể học hỏi, tiếp thu từ pháp luật củamột số nước trong việc quy định cụ thể hơn về căn cứ ly hôn; các nguyên tắc phânchia tài sản của vợ chồng khi ly hôn; đảm bảo quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn

và về xác định mức cấp dưỡng của cha mẹ đối với con

Câu hỏi nghiên cứu 5: Các quy định của chế định ly hôn trong Luật HN&GĐ

năm 2014 đã phù hợp chưa? Còn những vấn đề gì vướng mắc, khó khăn trong quá

trình thực thi?

Giả thuyết nghiên cứu 5: Các quy định của chế định ly hôn trong Luật

HN&GĐ năm 2014 vẫn còn một số nội dung chưa cụ thể, chưa rõ ràng, một số vấn

đề phát sinh trong thực tiễn chưa có quy định cụ thể để điều chỉnh Do đó, thực tiễn

áp dụng chế định ly hôn vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc

Kết quả nghiên cứu 5: Một số khó khăn, vướng mắc khi áp dụng chế định ly

hôn trong Luật HN&GĐ năm 2014 trong thực tiễn

Về quyền yêu cầu ly hôn: Qua nghiên cứu, NCS thấy rằng việc mở rộng quyềnyêu cầu ly hôn cho cha mẹ, người thân thích của vợ, chồng như Điều 51 LuậtHN&GĐ năm 2014 là phù hợp với thực tiễn Do đó, quyền yêu cầu ly hôn khôngchỉ dừng lại là quyền chỉ của vợ, chồng mặc dù đây là một quyền nhân thân gắn với

cá nhân vợ, chồng Tuy nhiên, quy định quyền yêu cầu ly hôn trong Luật HN&GĐnăm 2014 cần rõ ràng các chủ thể được thực hiện quyền yêu cầu ly hôn và cần quyđịnh thứ tự ưu tiên của các chủ thể để tránh sự chồng chéo khi thực hiện quyền yêucầu ly hôn và một số vấn đề khác sẽ được làm rõ trong LA

Về căn cứ ly hôn: Luật HN&GĐ năm 2014 chưa có điều luật riêng quy định

về căn cứ ly hôn dẫn tới nhiều cách hiểu khác nhau Do đó cần phải có quy định cụthể về căn cứ ly hôn Trong thực tiễn, áp dụng căn cứ ly hôn còn gặp một số vướngmắc, bất cập Cụ thể được làm rõ trong nội dung của LA

Về hậu quả pháp lý của ly hôn: Quy định của chế định ly hôn trong LuậtHN&GĐ năm 2014 về hậu quả pháp lý của ly hôn còn một số nội dung chưa phùhợp Trong quá trình thực thi còn gặp khó khăn, vướng mắc khi áp dụng các quyđịnh hiện hành để giải quyết các vụ án ly hôn có tranh chấp về nhiều loại tài sảnkhác nhau (bao gồm tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở, động sản, phần vốn góptrong công ty, tài sản là quyền SHTT…), các tranh chấp về cấp dưỡng Cụ thểđược làm rõ trong nội dung của LA

Câu hỏi nghiên cứu 6: Cần có kiến nghị những vấn đề gì để hoàn thiện pháp

luật về ly hôn phù hợp với thực tiễn hiện nay

Trang 31

Giả thuyết nghiên cứu 6: Cần thiết phải bổ sung, sửa đổi một số nội dung của

chế định ly hôn cho phù hợp với thực tiễn và phù hợp với các quy định của phápluật có liên quan

Kết quả nghiên cứu 6: Để chế định ly hôn phù hợp với thực tiễn và nâng cao

hiệu quả điều chỉnh của chế định ly hôn thì cần sửa đổi, bổ sung một số quy địnhcủa chế định ly hôn về quyền yêu cầu ly hôn, căn cứ ly hôn, hậu quả pháp lý của lyhôn cho phù hợp với thực tiễn Bên cạnh đó, cần có các hướng dẫn cụ thể đối vớicác trường hợp cụ thể nhằm giúp cho việc giải quyết tranh chấp về ly hôn đượcchính xác và hiệu quả hơn Song song với hoàn thiện chế định ly hôn thì cũng cầnhoàn thiện pháp luật khác có liên quan để tạo ra sự đồng bộ trong các quy định củapháp luật, tạo ra hành lang pháp lý chung khi giải quyết tranh chấp về ly hôn

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Chế định ly hôn là chế định rất quan trọng trong Luật HN&GĐ Chế định lyhôn được áp dụng nhiều trong thực tiễn Đặc biệt, trong xã hội phát triển một cáchnhanh chóng như hiện nay, các quan hệ HN&GĐ phát triển ngày càng đa dạng,phức tạp Việc hoàn thiện chế định về ly hôn trở nên rất cấp thiết

Để xây dựng, hoàn thiện chế định ly hôn đầy đủ, tiến bộ và phù hợp với thựctiễn thì việc nghiên cứu sâu sắc, toàn diện về các vấn đề lý luận, thực tiễn và phápluật hiện hành có ý nghĩa rất quan trọng Các nghiên cứu này góp phần phát hiệnnhững vấn đề còn hạn chế, vướng mắc cần sửa đổi, bổ sung và đưa ra những kiếnnghị hoàn thiện chế định ly hôn phù hợp với yêu cầu thực tiễn

Trong thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến chế định

ly hôn Mỗi công trình nghiên cứu đều có những định hướng, vấn đề nghiên cứuriêng và cũng đã đạt được một số thành tựu nhất định góp phần hoàn thiện pháp luật

về ly hôn trong các giai đoạn trước cho đến chế định ly hôn trong Luật HN&GĐnăm 2014 Có một số công trình nghiên cứu nội dung trong chế định ly hôn Tuynhiên các công trình này mới chỉ nghiên cứu một vài nội dung nhất định Đến nay,vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủtoàn bộ chế định ly hôn trong Luật HN&GĐ, đặc biệt là nghiên cứu chuyên sâu vàtoàn diện chế định ly hôn trong Luật HN&GĐ năm 2014

Trong phạm vi LA này, NCS nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện chế định lyhôn bao gồm các vấn đề về lý luận và nội dung của chế định ly hôn trong LuậtHN&GĐ năm 2014

Trang 32

Trên đây là tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến nội dung NCS dựđịnh nghiên cứu trong LA của mình Chi tiết các nội dung sẽ được NCS làm rõtrong từng chương, từng phần của LA NCS rất mong nhận được nhận xét, đánh giácủa các thầy, cô giáo để NCS hoàn thiện ý tưởng của mình

CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH LY HÔN 2.1 Khái niệm, đặc điểm, nội dung và ý nghĩa của chế định ly hôn

2.1.1 Khái niệm ly hôn

* Khái niệm ly hôn dưới góc độ tâm lý, xã hội

Trong thời kỳ đầu tiên của loài người, con người mới chỉ bắt đầu tách ra khỏi

tự nhiên và sống theo bầy đàn Quan hệ duy trì nòi giống là quan hệ tính giao bừabãi Việc chung sống và chia rẽ của đàn ông với đàn bà trong giai đoạn đầu tiên củaloài người diễn ra theo bản năng như một hiện tượng bình thường Khi phát triển lêngiai đoạn cao hơn, con người bắt đầu biết chọn lọc đối tượng ghép cặp Các hìnhthái gia đình được hình thành và chuyển biến dần từ gia đình huyết tộc đến hình thái

gia đình cá thể một vợ, một chồng Theo Ph.Ăng ghen, "Gia đình cá thể là hình thức

duy nhất, trong mọi hình thức gia đình mà ta biết, mà từ đó tình yêu nam nữ hiện đại có thể phát triển; thì điều đó không có nghĩa là trong hình thức đó, thứ tình yêu

ấy đã phát triển - hoàn toàn hay chủ yếu - dưới dạng tình vợ chồng" 7 Như vậy, ngay

cả với hình thức gia đình cá thể thì đó vẫn chưa phải là hôn nhân một vợ, một chồngtheo nghĩa ngữ nguyên của danh từ đó Khi mà giai cấp tư sản vẫn chiếm ưu thếtrong xã hội, đàn ông tư sản vẫn nắm quyền gia trưởng và có thể ngoại tình thì hônnhân một vợ một chồng chỉ là sự ràng buộc đối với người vợ Quyền ly hôn vẫnchưa được coi là một quyền của người vợ

7 Ph.Ăngghen (1995), Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, tr 62-63

Trang 33

Theo quan điểm của Ph.Ăng ghen, chỉ trong các giai cấp bị áp bức thì tình yêunam nữ mới có thể là một quy tắc thật sự trong các quan hệ với người phụ nữ Lúc

này, người phụ nữ mới thật sự có được quyền ly hôn bình đẳng với đàn ông: "Khi đại công nghiệp đưa phụ nữ ra khỏi nhà - để vào thị trường lao động và công xưởng - do đó khiến họ trở thành người thường xuyên nuôi sống gia đình, thì không

có cơ sở nào cho quyền thống trị của đàn ông trong gia đình vô sản nữa; có lẽ chỉ trừ cái thói thô bạo với vợ, có từ khi hôn nhân cá thể xuất hiện Vì thế, gia đình vô sản không còn là “cá thể” theo nghĩa chặt chẽ của từ đó; kể cả khi đôi bên có tình yêu thắm thiết và sự chung thủy bền vững nhất với nhau, hay là có mọi lời chúc phúc của mục sư hay công chúng Vậy nên ở đây, những bạn đường vĩnh cửu của chế độ hôn nhân cá thể, là tạp hôn và ngoại tình, hầu như không có vai trò gì; người vợ đã thực sự giành lại quyền li hôn, và khi hai người không thể sống chung với nhau nữa, thì họ xa lìa nhau" 8

Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước", Ph.Ăng ghen đã lý giải quyền yêu cầu ly hôn xuất hiện trong gia đình vô sản

khi mà người phụ nữ tham gia vào thị trường lao động và làm việc trong các côngxưởng Trong gia đình vô sản, người đàn ông không còn giữ vị trí thống trị tronggia đình mà thay vào đó là vị trí của người vợ đã dần được đặt ngang bằng vớichồng Khi hai người (vợ, chồng) không thể chung sống với nhau nữa thì họ xa lìa

nhau gọi là "ly hôn"

Trong tác phẩm "Ly hôn-về một sự biếm họa của chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa kinh tế đế quốc", V.I Lê-nin đưa ra quan điểm: "Người ta không thể là một người dân chủ và XHCN nếu ngay từ bây giờ không đòi quyền tự do ly hôn, vì thiếu quyền tự

do ấy là một sự ức hiếp lớn đối với giới bị áp bức; đối với phụ nữ, tuy hoàn toàn chẳng khó khăn gì mà không hiểu được rằng khi ta thừa nhận cho phụ nữ được tự

do bỏ chồng thì không phải là ta khuyên tất cả họ bỏ chồng" 9 Trong quan điểm củaLê-nin, ông cho rằng không thể có một chế độ XHCN nếu không cho phụ nữ cóquyền tự do ly hôn Quyền tự do ly hôn của phụ nữ là tất yếu của một xã hội tiến

bộ Như vậy, ly hôn là hiện tượng diễn ra một cách tự nhiên trong tiến trình pháttriển của xã hội loài người Ly hôn là hiện tượng tất yếu xảy ra khi hôn nhân khôngcòn duy trì được nữa

Theo C.Mác, "Ly hôn chỉ là việc xác nhận một sự kiện rằng đó là một cuộc hôn nhân đã chết, sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và lừa dối Đương nhiên không phải

sự tùy tiện của nhà lập pháp….mà chỉ bản chất của sự kiện mới quyết định được cuộc hôn nhân đã chết hay chưa chết" và "Về mặt hôn nhân, nhà lập pháp chỉ có thể

8 Ph.Ăngghen (1995), Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, tr64-65

9 V.I Le nin Toàn tập (1981), Nxb Tiến bộ, Maxtcova, tập 30, tr163

Trang 34

xác định những điều kiện trong đó hôn nhân được phép tan vỡ, nghĩa là trong đó,

về thực chất hôn nhân tự nó đã bị phá vỡ rồi Việc TA cho phép phá bỏ hôn nhân chỉ có thể là ghi biên bản công nhận sự tan rã bên trong của nó" 10 Như vậy, theo

quan điểm của C.Mác thì ly hôn thể hiện bản chất của quan hệ hôn nhân đã tan vỡ,được các nhà lập pháp xác định là căn cứ để TA công nhận, giải quyết cho vợ chồng

ly hôn Theo nhận định của C.Mác thì "ly hôn" chỉ là hình thức biểu hiện ra bên ngoài

để xác nhận rằng "cuộc hôn nhân đã chết" Tức là, khi xảy ra việc ly hôn thì thực chất

là cuộc hôn nhân đó trong nội tại đã không còn tồn tại nữa

Trong "Bản dự luật về ly hôn", C.Mác còn nhận định ly hôn là sự tan vỡ của hôn nhân, đồng thời là sự tan vỡ của gia đình: "Họ quên rằng hầu như mọi sự tan vỡ của hôn nhân đều là sự tan vỡ của gia đình, và quên rằng ngay cả khi đứng trên quan điểm thuần túy pháp lý, hoàn cảnh của con cái và tài sản của chúng cũng không thể bị lệ thuộc vào sự xử lý tùy tiện của cha mẹ, vào việc cha mẹ muốn sao làm vậy" 11

Theo đó, C.Mác đã nêu ra mối quan hệ giữa quan hệ hôn nhân và quan hệ gia đình.Trong đó, sự tan vỡ của hôn nhân cũng là sự tan vỡ của gia đình, kéo theo đó làhoàn cảnh của con cái, tài sản

Trong nhiều tài liệu, việc vợ chồng chấm dứt quan hệ hôn nhân được trình bày

dưới nhiều thuật ngữ khác nhau như "ly dị", "bỏ nhau", "rẫy vợ", "rẫy chồng", "ly hôn" Các

thuật ngữ này có thể khác nhau về mặt từ ngữ nhưng nội dung đều chỉ đến việc

chấm dứt quan hệ hôn nhân Trong pháp luật hiện đại ngày nay, "ly hôn" là thuật ngữ

chung được sử dụng để chỉ việc vợ chồng chấm dứt quan hệ hôn nhân trước phápluật

Về định nghĩa ly hôn, theo từ điển Hán Việt của nhà Hán học Nguyễn Quốc

Hùng thì "ly hôn là rời bỏ nhau, không là vợ chồng với nhau nữa" Đồng thời, theo từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh thì ly hôn là "vợ chồng bỏ nhau" 12 Từ điển tiếng Việt giải thích "ly hôn" hay còn gọi là li dị có nghĩa là: Vợ chồng bỏ nhau hợp pháp

theo quyết định của TA13

Dưới góc độ tâm lý học thì các nhà tâm lý học nhìn nhận ly hôn ở các mặt tíchcực và tiêu cực

Trong tác phẩm Good divorce của tác giả Constance Ahrons- Tiến sĩ tâm lý

học người Mỹ, tác giả cũng đưa ra quan điểm rằng: "Ly hôn không hẳn là không tốt”

và quan điểm của tác giả chống lại tư tưởng rằng “ly hôn chắc chắn biến người lớn thành kẻ thù cay đắng, dẫn đến những đứa trẻ hư hỏng và những gia đình tan vỡ,

10 C.Mac (1978), Bản dự Luật về ly hôn, C.Mac-Ph.Ăngghen toàn tập T1, NXBST Hà Nội, tr234-235

11 C.Mac (1978), Bản dự Luật về ly hôn, C.Mac-Ph.Ăngghen toàn tập T1, NXBST Hà Nội, tr232

12 Đào Duy Anh (1949), Từ điển Hán Việt, NXB Minh Tân số 7, Rue Guériégaud, Paris, tr403

13 Nguyễn Quang-Minh Trí (2013), Từ điển tiếng Việt, Nxb Hồng Đức

Trang 35

xé toạc kết cấu xã hội" 14 Trong tác phẩm này, tác giả Constance Ahrons nhìn vàomặt tích cực của ly hôn Dựa trên hai thập kỷ nghiên cứu, tác giả Constance Ahronstrình bày rằng, trong hơn 20% các cặp vợ chồng ly hôn kết thúc cuộc hôn nhân củahọ, nhưng vẫn giữ gìn gia đình Tác giả Ahrons chỉ cho các cặp vợ chồng làm thếnào họ có thể vượt ra khỏi giai đoạn tan vỡ ban đầu và học cách đối phó với sựchuyển đổi một gia đình bao gồm hai gia đình và tiếp tục đáp ứng nhu cầu của trẻem.

Không phải là nhà tâm lý học nhưng khi viết về ly hôn, Lê-nin cũng nhận

định: "Thực ra tự do ly hôn tuyệt không có nghĩa là làm tan rã những mối liên hệ gia đình mà ngược lại, nó củng cố những mối liên hệ đó trên những cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững chắc trong một xã hội văn minh" 15 Ông nhìnnhận ly hôn ở cả mặt tích cực và tiêu cực của nó Mặt tiêu cực là ly hôn làm chấmdứt cuộc sống chung của vợ chồng, nhưng ngược lại cũng củng cố mối quan hệ giađình trên cơ sở dân chủ mà một xã hội văn minh cần phải có

Như vậy, dưới góc độ xã hội học, tâm lý học thì ly hôn được nhìn nhận là mộthiện tượng xã hội, là sự chấm dứt đời sống chung giữa vợ chồng Ly hôn là hiệntượng tất yếu phải có trong tiến trình phát triển và tiến bộ xã hội Việc chấm dứtcuộc sống chung giữa vợ chồng có tác động hai mặt đối với các thành viên trong giađình và đối với xã hội Trong xã hội hiện đại, ly hôn được nhìn nhận theo hướngtích cực nhiều hơn là theo hướng tiêu cực Trong nhiều trường hợp, ly hôn mang lạihạnh phúc cho người phụ nữ khi giải thoát họ khỏi cuộc hôn nhân không hạnh phúc(có thể bị bạo hành, bị phản bội…) và có thể tạo ra môi trường phát triển tốt hơn đốivới trẻ em

* Khái niệm ly hôn dưới góc độ là một sự kiện pháp lý

Sự kiện pháp lý là sự kiện thực tế mà khi xuất hiện hay mất đi của chúng đượcpháp luật gắn với việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật16 Với ýnghĩa là một sự kiện pháp lý, ly hôn làm chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ vàchồng

Theo Dictionary of Law (Từ điển luật học) của Trường Đại học Oxford thì

"Divorce: The legal termination of a marriage and the obligations created by marriage, other than by a decree of nullity" 17 (Tạm dịch: Ly hôn là việc chấm dứthôn nhân hợp pháp và các nghĩa vụ do hôn nhân tạo ra trừ khi do một nghị định vô

14 Constance R.Ahrns (1994), Good Divorce

15 V.I.Lê nin-Toàn tập (1980), tập 25 Nxb Tiến Bộ, Maxcơva, tr355

16 Trường Đại học luật Hà Nội (2015), Giáo trình lý luận chung Nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân, tr160

17 Jonathan law and Elizabeth A.Martin (2009), A Dictionary of Law, Oxfort University

Trang 36

hiệu) Theo luật của Anh, ly hôn chỉ khi hôn nhân đổ vỡ không thể cứu vãn Khi cómột trong năm căn cứ sau thì TA giải quyết cho ly hôn: Ngoại tình; vợ chồng cóhành vi không hợp lý; một bên đã bỏ rơi người kia trong hai năm; vợ chồng đã lythân hai năm và đồng ý ly hôn; một bên bỏ đi đã 5 năm Theo pháp luật Anh, khi cómột trong các căn cứ ly hôn này mà vợ chồng yêu cầu ly hôn thì TA mới xem xétgiải quyết cho vợ chồng ly hôn.

Theo từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý –Bộ tư pháp, ly hôn được

hiểu là "Chấm dứt quan hệ vợ chồng do TA công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng" 18 Theo khái niệm này, ly hôn là việc chấm

dứt quan hệ vợ chồng do TA công nhận Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợchồng với nhau theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kếthôn Dưới góc độ pháp lý, nam nữ lấy nhau trở thành vợ chồng phải được sự thừanhận của Nhà nước thông qua nghi thức, điều kiện cụ thể được pháp luật quy định.Quan hệ hôn nhân được xác lập bằng nghi thức, điều kiện pháp luật quy định thì khichấm dứt quan hệ hôn nhân cũng phải tuân theo các quy định cụ thể của pháp luật.Mặc dù kết hôn và ly hôn đều là quyền tự do của cá nhân được Nhà nước công nhậnnhưng để duy trì trật tự xã hội, đảm bảo quyền lợi của các chủ thể trong quan hệhôn nhân thì khi vợ chồng ly hôn cần thiết phải tuân theo các trình tự thủ tục, căn cứ

mà pháp luật quy định

Khi vợ chồng ly hôn, quan hệ hôn nhân chấm dứt, kéo theo phải giải quyết cáchậu quả pháp lý của ly hôn Để đảm bảo quyền lợi cho các bên, phù hợp với lợi íchchung của Nhà nước thì cần được điều chỉnh bằng các QPPL cụ thể Chính vì vậy,

ly hôn không chỉ là sự thỏa thuận giữa vợ chồng với nhau về việc chấm dứt quan hệchung sống mà cần phải giải quyết các vấn đề mà trước đó việc xác lập quan hệ hônnhân của họ làm phát sinh quan hệ đối với con cái và các quan hệ về tài sản

Vì vậy, với ý nghĩa là một sự kiện pháp lý, ly hôn được hiểu là hình thức chấmdứt quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng được Nhà nước công nhận Ly hôn nhằm chấmdứt quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng và cần phải giải quyết các hậu quả pháp lý của

ly hôn về chia tài sản chung của vợ chồng, xác định và thực hiện nghĩa vụ chungcủa vợ chồng, thực hiện nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con; quyền và nghĩa vụcấp dưỡng (nếu có) giữa vợ chồng

Theo pháp luật Việt Nam hiện hành và một số quốc gia, cơ quan có thẩmquyền giải quyết ly hôn là TA nhưng ở một số quốc gia như Nga, Nhật Bản, TrungQuốc, Đài Loan, Thái Lan, Brazil, Đan Mạch, Ukraine thì việc giải quyết ly hôn

18 Từ điển Luật học (2006), NXB Tư pháp, Tr 460

Trang 37

thuận tình được giao cho cơ quan đăng ký hộ tịch19 Cụ thể: Ở Nhật, nếu vợ chồngthoả thuận ly hôn thì nộp đơn cho văn phòng quận; ở Trung Quốc, khi vợ chồng cóyêu cầu ly hôn thì chỉ cần trình diện tại chính quyền địa phương, uỷ ban nhân dânxã/phường; ở Nga, Luật gia đình Nga đưa ra cho vợ chồng 2 lựa chọn để ly hôn: Lyhôn tại cơ quan hành chính hoặc theo trình tự tư pháp Trường hợp vợ chồng có conchung chưa thành niên, một bên không thuận tình hoặc có tranh chấp về phân chia

tài sản thì buộc phải ly hôn theo trình tự tư pháp do TA giải quyết) Tuy nhiên, dù là

cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết và công nhận việc ly hôn thì cơ quan đó cũngphải là cơ quan đại diện Nhà nước Như vậy, ly hôn với ý nghĩa là một sự kiện pháp

lý thì phải được Nhà nước công nhận bất kể dưới hình thức nào Đây là sự phân biệt

ly hôn dưới góc độ pháp lý với ly hôn dưới góc độ tôn giáo hay phong tục, tập quán.Dưới góc độ tôn giáo hay phong tục, tập quán thì ly hôn chỉ là sự chấm dứt mối liênkết giữa vợ chồng

Như vậy, dưới góc độ là một sự kiện pháp lý: Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân theo bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của TA hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

2.1.2 Khái niệm chế định ly hôn

Chế định pháp luật được xem là bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống

pháp luật, chứa đựng một nhóm các QPPL có mối liên hệ nội tại, mật thiết với nhau

cùng tham gia điều chỉnh một loại quan hệ xã hội xác định Hay nói cách khác, chếđịnh pháp luật là tập hợp các QPPL điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội có tính

chất tương đồng.

Theo từ điển pháp luật thì chế định pháp luật là một nhóm những QPPL điềuchỉnh một nhóm quan hệ xã hội cùng loại có liên hệ mật thiết với nhau20 Trong đó,

"Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành để tác động tới quan

hệ xã hội và biến nó thành quan hệ pháp luật" 21

Chế định pháp luật là tập hợp một nhóm QPPL có đặc điểm giống nhau đểđiều chỉnh nhóm quan hệ xã hội tương ứng trong phạm vi một ngành luật hoặcnhiều ngành luật Chế định ly hôn cũng được người ta nhắc đến rất nhiều trong cáctài liệu, các công trình nghiên cứu nhưng chưa có bất kỳ tài liệu chính thống nàoxây dựng một khái niệm chế định ly hôn hoàn chỉnh

19 “Kinh nghiệm quốc tế về một số vấn đề lớn được quy định trong dự thảo Luật HN&GĐ (sửa đổi) năm 2014”, Tài liệu của Bộ tư pháp thuộc thành phần Hồ sơ dự án Luật HN&GĐ (sửa đổi) Chính phủ trình Quốc Hội, tháng 10/2013

20 Nguyễn Ngọc Diệp (2020), Từ điển pháp luật Việt Nam, Nxb Thế Giới.

21 Trường đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Lý luận chung Nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân, tr159

Trang 38

Ly hôn là một sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ, chồng.Khi ly hôn cần phải giải quyết triệt để các vấn đề về quyền và nghĩa vụ của cha mẹđối với con khi ly hôn, phân chia tài sản chung của vợ chồng, giải quyết quyền lợi

và nghĩa vụ của vợ chồng đối với người thứ ba, giải quyết vấn đề về cấp dưỡng giữa

vợ chồng với nhau Cần thiết phải có những quy định cụ thể về đối tượng được yêucầu giải quyết ly hôn, các trường hợp ly hôn, các căn cứ và hậu quả của việc vợchồng ly hôn Việc điều chỉnh từng vấn đề về ly hôn cần có các QPPL cụ thể QPPL ly hôn là quy tắc xử sự do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và đảm bảothực hiện để điều chỉnh các quan hệ phát sinh từ việc vợ chồng ly hôn, bao gồm:Quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản giữa vợ chồng với nhau, giữa vợ chồng với bênthứ ba khi ly hôn, quan hệ giữa cha mẹ và con khi ly hôn, quan hệ về cấp dưỡnggiữa cha mẹ và con, giữa vợ chồng với nhau khi ly hôn Tuy nhiên, nếu áp dụng rờirạc một QPPL mà không đặt nó bên cạnh các QPPL khác thì không đạt được hiệuquả điều chỉnh mà Nhà nước mong muốn Do đó, việc đặt QPPL trong một tập hợpcủa các QPPL có ý nghĩa quan trọng trong việc điều chỉnh một cách đầy đủ nhất cáctồn tại xung quanh quan hệ pháp luật cần điều chỉnh Vì vậy, việc xây dựng chếđịnh bao gồm tổng hợp các QPPL điều chỉnh một quan hệ pháp luật nào đó là rấtcần thiết Ví dụ: Chỉ có QPPL điều chỉnh về quan hệ nhân thân giữa vợ chồng khi lyhôn mà không có QPPL điều chỉnh quan hệ về tài sản của vợ chồng khi ly hôn hayquan hệ giữa cha mẹ với con khi ly hôn thì việc giải quyết ly hôn sẽ không triệt để

và để lại những hậu quả phức tạp, khó lường trước những mâu thuẫn tiếp theo sauđó, ảnh hưởng tới chính vợ/chồng, ảnh hưởng đến quyền lợi của con, ảnh hưởngđến trật tự và lợi ích chung của xã hội

Như vậy, với ý nghĩa là một chế định pháp luật: Chế định ly hôn là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về ly hôn giữa vợ chồng; bao gồm các quy định

về quyền yêu cầu ly hôn, căn cứ ly hôn, các trường hợp ly hôn và hậu quả pháp lý khi vợ chồng ly hôn

2.1.3 Đặc điểm của chế định ly hôn

2.1.3.1 Chế định ly hôn bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định về quá trình từ quyền yêu cầu ly hôn đến giải quyết hậu quả pháp lý của

ly hôn.

Đây là đặc điểm để phân biệt chế định ly hôn với các chế định pháp luật khác.Khi giải quyết ly hôn, TA phải căn cứ vào các QPPL của chế định ly hôn để giảiquyết Mặc dù, TA có thể áp dụng đồng thời một số QPPL của luật khác có liênquan như các QPPL dân sự, các QPPL quy định trong Luật doanh nghiệp,BLTTDS Tuy nhiên, về quyền yêu cầu ly hôn, căn cứ ly hôn, các hậu quả pháp lýcủa ly hôn vẫn phải tuân theo các QPPL của Luật HN&GĐ để giải quyết

Trang 39

Về quyền yêu cầu (quyền khởi kiện) là một trong những nhóm quyền tố tụngthuộc quyền con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con

người năm 1948 và các công ước quốc tế khác Theo đó, “Mọi người đều có quyền được các tòa án quốc gia có thẩm quyền bảo đảm bằng các biện pháp hữu hiệu để chống lại những hành vi vi phạm các quyền căn bản của họ mà đã được Hiến pháp hay pháp luật quy định” 22 Về quyền yêu cầu ly hôn, đây là quyền nhân thân nên về

nguyên tắc chủ thể có quyền yêu cầu ly hôn chỉ có thể là vợ, chồng Xét về bảnchất, quyền yêu cầu ly hôn là một trong những quyền dân sự cơ bản và là quyềnnhân thân của cá nhân được thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc thực hiện quyềndân sự

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin về Nhà nước và pháp luật, trong

xã hội có giai cấp thì pháp luật luôn bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị Ở mỗichế độ xã hội, giai cấp thông trị mà đại diện là Nhà nước đều có quan điểm riêng vềHN&GĐ Quan điểm này của giai cấp thống trị thể hiện rõ thông qua sự điều chỉnhbằng hệ thống pháp luật Hôn nhân dưới thời phong kiến dựa trên nguyên tắc cưỡng

ép “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” Pháp luật của Nhà nước phong kiến thừa nhận

quan hệ bất bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng, bảo vệ quyền gia trưởng,trọng nam, khinh nữ, coi người đàn ông là trụ cột, coi rẻ quyền lợi của người phụ nữ

và con Luật pháp phong kiến quy định ly hôn như một đặc quyền của người đànông Pháp luật của Nhà nước tư sản lại coi hôn nhân như một hợp đồng dân sự dohai bên đương sự thỏa thuận Sự thỏa thuận đó được xác lập giữa nam và nữ, dùmuốn hay không muốn không thoát khỏi những ràng buộc về kinh tế và địa vị giaicấp Việc chấm dứt hôn nhân cũng tương tự như việc hủy hợp đồng, nghĩa là mộtbên vợ hoặc chồng phải có lỗi Chính vì coi hôn nhân như một hợp đồng nên phápluật của Nhà nước tư sản thường quy định giải quyết chấm dứt hôn nhân dựa trên cơ

sở lỗi của vợ, chồng Ngược lại, pháp luật của Nhà nước XHCN bảo hộ quyền tự dohôn nhân (quyền tự do kết hôn của nam, nữ và quyền tự do ly hôn của vợ, chồng) vàbằng pháp luật kiểm soát quyền tự do hôn nhân vì lợi ích của gia đình và xã hộithông qua việc quy định các điều kiện để việc kết hôn hợp pháp và căn cứ để giảiquyết cho vợ chồng ly hôn Nội dung căn cứ pháp lý về ly hôn hoàn toàn không dựatrên cơ sở lỗi của vợ chồng mà dựa vào bản chất của quan hệ hôn nhân đã tan vỡ.Theo Luật HN&GĐ của Nhà nước ta (Luật HN&GĐ năm 1959 (Điều 26), 1986(Điều 40) , 2000 (Điều 89) và 2014 (khoản 1 Điều 56) đều quy định căn cứ ly hônkhông dựa trên cơ sở lỗi của vợ chồng mà phải dựa vào tình trạng vợ chồng trầmtrọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được

22“Luật Nhân quyền quốc tế- Những vấn đề cơ bản”, Trung tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công

dân, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Lao động- Xã hội, Hà Nội, 2011, tr.235

Trang 40

Căn cứ ly hôn và các hậu quả pháp lý của ly hôn cũng chỉ được quy định trongchế định ly hôn Các chế định khác không quy định về các vấn đề này và nếu có quyđịnh thì chỉ có mối quan hệ liên quan đến một số vấn đề của chế định ly hôn nhưvấn đề về sở hữu chung của vợ chồng, vấn đề về tài sản chung của vợ chồng là cổphần trong doanh nghiệp (có liên quan đến chế định về sở hữu trong BLDS), tài sảnchung của vợ chồng là quyền SHTT (liên quan đến Luật SHTT), thủ tục giải quyết

ly hôn (có liên quan đến thủ tục tố tụng được quy định trong BLTTDS)…

2.1.3.2 Các quy phạm pháp luật về nhân thân, về tài sản trong chế định

ly hôn có mối quan hệ chặt chẽ, liên quan với nhau.

Trong quan hệ dân sự, quyền nhân thân hoặc xuất phát từ quan hệ tài sản hoặcgắn liền với quan hệ tài sản Trong quan hệ HN&GĐ thì hoàn toàn khác, quyền vềnhân thân không những không xuất phát từ quan hệ tài sản và không gắn liền với nó

mà còn chiếm một vị trí hàng đầu trong toàn bộ hệ thống quan hệ pháp luật

HN&GĐ chiếm ưu thế trong đó Bên cạnh đó, trong quan hệ dân sự, quyền tài sản

phát sinh một cách độc lập không nhất thiết phải gắn liền với quan hệ nhân thân thìtrong quan hệ HN&GĐ, chỉ khi quan hệ nhân thân phát sinh (quan hệ vợ chồng;quan hệ cha mẹ và con ) mới làm phát sinh quan hệ tài sản giữa các chủ thể đó(quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng; quyền đối với tài sản thuộc sở hữuchung của vợ chồng…)

Không giống một số chế định pháp luật khác, chế định ly hôn chứa đựng cácQPPL về nhân thân và các QPPL về tài sản Sự kiện kết hôn làm phát sinh quan hệnhân thân giữa vợ chồng Quá trình chung sống giữa vợ chồng làm phát sinh quan

hệ sở hữu chung về tài sản và phát sinh các nghĩa vụ chung Khi vợ chồng có conchung thì giữa họ và con phát sinh quan hệ nhân thân giữa cha mẹ với con cái Khi

vợ chồng ly hôn, vợ chồng có quyền yêu cầu TA giải quyết các vấn đề về nhân thân(bao gồm chấm dứt quan hệ nhân thân giữa vợ chồng, xác định người trực tiếp nuôicon, trách nhiệm của cha mẹ và con cái) và quan hệ về tài sản (phân chia tài sảnchung của vợ chồng, giải quyết nghĩa vụ chung của vợ chồng với bên thứ ba vànghĩa vụ cấp dưỡng đối với con Nghĩa vụ cấp dưỡng vừa là nghĩa vụ gắn liền vớinhân thân vừa là nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng không trực tiếp nuôi con) Vì vậy,có thể nói chế định ly hôn là tổng hoà các QPPL điều chỉnh các mối quan hệ vềnhân thân, về tài sản giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con và các thành viên gia đình.Các QPPL về nhân thân và tài sản trong chế định ly hôn có mối liên quan khá chặtchẽ với nhau

Về tài sản, trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền yêu cầu TA phân chiatài sản chung Quyền yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng không được đặt rađối với người thứ ba, bên thứ ba Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong

Ngày đăng: 07/06/2023, 12:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w