Với năm lĩnh vực thực hành công tác xã hội Công tác xã hội với cá nhân, gia đình và nhóm, Phát triển cộng đồng, Chính sách xã hội, Nghiên cứu xã hội, và Hành chính và quản lý, những giá
Trang 1Phân tích về giáo dục và thực hành Công tác Xã hội
ở Việt Nam và Canada
Douglas Durst Nguyễn Thị Thái Lan
Lê Hồng Loan
Do Trần Thị Hằng và Nguyễn Lê Trang dịch
Bộ phận Nghiên cứu Chính sách Xã hội (SPR)
Khoa Công tác Xã hội Trường Đại học Tổng hợp Regina
Tháng 6/2006
Trang 2Bản quyền tác giả: Tháng 6/2006, Douglas Durst, Nguyễn Thị Thái Lan và Lê Hồng Loan
Đã được giữ bản quyền
Douglas Durst, Nguyễn Thị Thái Lan và Lê Hồng Loan
Phân tích Giáo dục và Thực hành Công tác Xã hội
tại Việt Nam và Canađa
VĂN PHÒNG HIỆU ĐÍNH VÀ PHÁT HÀNH
Bộ Phận Nghiên cứu Chính sách Xã hội (SPR)
Khoa Công tác Xã hội
Trường Đại học Tổng hợp Regina
Regina, Saskatchewan, Canađa
Trang 3Lời Cảm Ơn
Những người nghiên cứu xin chân thành cảm ơn Khoa Học tập và Nghiên cứu sau Đại học Trường Đại học Tổng hợp RRegina đã hỗ trợ kinh phí cho nghiên cứu này Thông qua Các Hỗ trợ Nghiên cứu, Nguyễn Thị Thái Lan và Lê Hồng Loan đã viết bản thảo đầu tiên bằng tiếng Anh dựa trên nghiên cứu của khóa học Thạc sỹ về Công tác Xã hội của họ Sau đó, báo cáo của chúng tôi được Trần Thị Hằng và Nguyễn Lê Trang dịch sang tiếng Việt Trần Thị Hằng cũng được nhận Hỗ trợ từ Khoa Học tập và Nghiên cứu sau Đại học Ngoài ra còn có sự hỗ trợ của
Bộ phận Nghiên cứu Chính sách Xã hội (SPR), Khoa Công tác Xã hội, Trường Đại học Tổng hợp Regina Chúng tôi rất cảm ơn Merle Mills và Fiona Douglas của SPR đã trợ giúp về mặt hành chính và hiệu đính Cơ quan Phát triển Quốc tế Canađa đã tài trợ cho việc phát triển giáo dục công tác xã hội ở Việt Nam và hỗ trợ việc thực hiện báo cáo này Cùng với sự liên kết của Trường Đại học Tổng hợp Memorial và Tiến sỹ Lan Giễn, Giáo sư về Điều dưỡng, CIDA đã tài trợ học bổng sau Đại học cho 9 sinh viên tại Trường Đại học Tổng hợp Regina Đây là một vinh
dự được tham gia đóng góp vào nghiên cứu này và phát triển phúc lợi xã hội và công tác xã hội tại Việt Nam
Douglas Durst, Thành viên SPR,
Khoa Công tác Xã hội, Trường Đại học Tổng hợp Regina
doug.durst@uregina.ca
Tháng 6/2006
Trang 4Bộ phận Nghiên cứu Chính sách Xã hội
Bộ phận Nghiên cứu Chính sách Xã hội (SPR) được thành lập từ năm 1980 với tư cách là bộ phận nghiên cứu của Khoa Công tác Xã hội của Trường Đại học Tổng hợp Regina Mục đích chính của SPR là tiến hành các nghiên cứu phân tích sâu nhằm nâng cao chất lượng sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng
Bộ phận hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu của tất cả các thành viên của khoa và hỗ trợ cho sinh viên và các đối tượng trong việc nghiên cứu chính sách phúc lợi xã hội và chính sách xã hội SPR làm việc với các tổ chức cộng đồng, các ban/ngành của chính phủ và các viện chính sách
và viện nghiên cứu khác nhằm góp phần vào việc phát triển chính sách xã hội và dịch vụ phục
vụ con người tại Saskatchewan và những nơi khác Bộ phận này cũng phổ biến các kết quả nghiên cứu về chính sách xã hội và phúc lợi xã hội qua các hội nghị, hội thảo, báo chí và các ấn phẩm khác nhau, bao gồm báo cáo nghiên cứu và báo cáo nghiên cứu đã được các nhà nghiên cứu bên ngoài đánh giá của SPR
Các Báo cáo Nghiên cứu của SPR và những ấn phẩm của các hoạt động được thiết kế nhằm xúc tiến thảo luận về các vấn đề đang nổi lên về chính sách xã hội và các thực hành về dịch vụ phục
vụ con người và để xác định các vấn đề nghiên cứu ưu tiên Các Báo cáo Nghiên cứu đã được các nhà nghiên cứu đánh giá của SPR nhằm tạo điều kiện tiếp cận với các kết quả nghiên cứu về chính sách xã hội và dịch vụ phục vụ con người Tất cả các ấn phẩm đều được coi là nguồn tài liệu phục vụ phát triển chính sách và phục vụ việc giảng dạy và học tập tại trường đại học và tại cộng đồng Danh sách của các ấn phẩm được phát hành gần đây của SPR sẽ được in tại bìa sau của báo cáo này Hầu hết các ấn phẩm đều được đăng trên trang web của SPR:
Các Báo cáo Nghiên cứu và Báo cáo Nghiên cứu đã được đánh giá của SPR được coi tương đương với tiêu chuẩn của các ấn phẩm học thuật Các Ấn phẩm về Các Hoạt động của SPR không được các nhà nghiên cứu khác đánh giá
Fiona Douglas
Phụ trách Biên tập
Bộ phận Nghiên cứu Chính sách Xã hội
Trang 5từ lý thuyết tới thực hành là thường xuyên nơi mà sự khác biệt giữa hai nước là rõ nét Bài viết bao gồm cả sự tranh luận về sự nghề nghiệp hóa của Công tác xã hội và sự đóng góp của nó trong tương lai đối với một Việt Nam mới đang nổi lên
Lời giới thiệu
Cuốn sách này được viết để xem xét lại sự phát triển về lịch sử của Công tác xã hội và khái niệm hóa sự phân tích có so sánh của thực hành công tác xã hội phù hợp về mặt văn hóa được
áp dụng ở Canada và Việt Nam Có những giá trị căn bản và nguyên tắc đạo đức thường có ở cả hai nước bao gồm cả sự tôn trọng giá trị và chân giá trị của tất cả mọi người, mối quan tâm đối với những nhóm người dễ bị tổn thương và sự nỗ lực để xóa bỏ sự phân biệt đối sử Tuy nhiên,
ý tưởng về chính trị, nền văn hóa và truyền thống vẫn đang ảnh hưởng tới thực hành và giá trị của thực hành công tác xã hội giữa xã hội định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam và xã hội phương Tây định hướng cá nhân chủ nghĩa của Canada Ở Canada Công tác xã hội đang được gọt rũa và nó là sự phản ánh của sự đa dạng, tính đa nguyên và là một xã hội từng thay đổi mà
nó chứa đựng nhiều giá trị, niềm tin, và triển vọng của loài người Từ những năm 1980 với cuộc bầu cử của nhà nước tân tự do dân chủ, Canada đã và đang đẩy mạnh khái niệm về sự tư nhân hóa và theo đuổi đến cùng các chương trình xã hội của thế giới Những nhân viên công tác xã hội đang phải đương đầu với sự lan tràn của ý tưởng tân tự do mà nó đã đang làm trầm trọng thêm vấn đề thiếu hụt tính đồng nhất của Công tác xã hội Các nhân viên Công tác xã hội ngày càng nhận ra được công việc của họ phản ánh trách nhiệm đối với việc làm chủ xã hội hơn là sự thay đổi xã hội Ở Việt Nam, Công tác xã hội đã trải qua các giai đoạn khác nhau trong quá trình
Trang 6Với năm lĩnh vực thực hành công tác xã hội (Công tác xã hội với cá nhân, gia đình và nhóm, Phát triển cộng đồng, Chính sách xã hội, Nghiên cứu xã hội, và Hành chính và quản lý), những giá trị thích đáng, kiến thức và các kỹ năng phù hợp với Canada và Việt Nam đang được xác định và bàn tới
Phần đầu của bài viết sẽ tóm tắt ngữ cảnh của Công tác xã hội ở Canada và Việt Nam Các độc giả sẽ được cung cấp về tổng quan của lịch sử phát triển Công tác xã hội và giáo dục Công tác
xã hội ở cả hai nước Phần thứ hai sẽ tập trung vào sự phân tích có so sánh về thực hành công tác xã hội ở cả hai nước Tất cả các nội dung sẽ được trình bày với sự tôn trọng tới sự khác nhau và tính đa dạng của cả hai nền văn hóa Phần kết luận và đề xuất ý kiến sẽ kết thúc bài viết Những bài học sẽ được rút ra cho nghề Công tác xã hội còn non trẻ ở Việt Nam
Nghiên cứu đưa ra tài liệu về thực hành công tác xã hội ở Canada và Việt Nam Ở Việt Nam, giáo dục Công tác xã hội ở trình độ đại học mới chỉ được công nhận như một nghề vào tháng 5 năm 2004 Với sự tôn trọng các mô hình giáo dục Công tác xã hội ở Việt Nam và Canada, những nhà nghiên cứu đã chủ yếu dựa vào sự phân tích tài liệu cho chương trình giáo dục Công tác xã hội cốt lõi ở trình độ đại học được phê chuẩn ở Việt Nam và chương trình đào tạo cử nhân Công tác xã hội của trường đại học tổng hợp RRegina Các nhà nghiên cứu còn đưa ra cách
sử dụng của những tài liệu và các công bố hiện có phù hợp khác về nền giáo dục Công tác xã
hội ở Canada và Việt Nam
BỐI CẢNH VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI Ở CANADA VÀ VIỆT NAM
Lịch sử và bối cảnh về Công tác xã hội ở Canada (từ năm 1914 đến năm 2004)
Thực hành Công tác xã hội ở Canada đang được gọt rũa và nó là sự phản ánh, là văn hóa của đất nước (Theo Johnson, McClelland, & Austin, năm 1998) Canada là sự đa dạng, đa nguyên và là một xã hội từng thay đổi chứa đựng nhiều giá trị, niềm tin, và triển vọng của loài người
Giáo dục Công tác xã hội ở trình độ đại học đã tồn tại ở Canada từ năm 1914 tới nay cùng với
sự thành lập của Khoa Dịch vụ xã hội tại trường Đại học tổng hợp Toronto (Theo Irving, năm 1992) Hiện nay có 34 trường ở trình độ đại học với 31 chương trình đào tạo cử nhân Công tác
xã hội và 32 chương trình đào tạo thạc sĩ Công tác xã hội Ở trình độ đào tạo cao đẳng, có 46 trường với 69 chương trình (theo cuốn: “Phân tích nguồn chiến lược con người của các nhà Công tác xã hội ở Canada” năm 2000) Theo điều tra dân số của Canada năm 1996, đã có tổng
Trang 7,875 ngàn người được công nhận là nhân viên Công tác xã hội Ngoài tổng số này còn có 44% trong số đó đã được đào tạo ở những ngành nghề có liên quan như Xã hội học, Tâm lý học
và Giáo dục học Trong số những người được công nhận là nhân viên Công tác xã hội thì có 4.6% là người thổ dân, 7.4% là người thiểu số, 5.0% là người tàn tật làm trở ngại đến khả năng làm việc của họ (Theo Westhues và những cộng sự khác, năm 2001)
Hiệp hội những người làm Công tác xã hội của Canada đã được thành lập vào năm 1926 Hiệp hội này được ủy nhiệm để đưa ra một bộ phận lãnh đạo cho nghề nghiệp, chu cấp cho hiệp hội trên phạm vi tỉnh, khuyến khích và trợ giúp cho sự phát triển chuẩn ngành, tiến hành nghiên cứu
và phổ biến rộng rãi thông tin về các vấn đề xã hội hiện hành ( theo Foley, năm 1999) Hiệp hội các trường Công tác xã hội của Canada đã được thành lập vào năm 1948 Đó là hiệp hội của những nhà giáo dục công tác xã hội, một hiệp hội có trách nhiệm cho việc chính thức công nhận chương trình công tác xã hội ở trình độ đại học và phổ biến rộng rãi thông tin về giáo dục Công tác xã hội ở Canada
Kendall (năm 2000) đã khẳng định rằng sự phát triển Công tác xã hội ở Canada trong thế kỷ này
đã đang tiến tới công việc vững chắc của những nhà giáo dục và những người hành nghề để nuôi dưỡng những giá trị, xây dựng kiến thức và phát triển những kỹ năng chủ yếu đối với nghề nghiệp mà nó kết hợp giữa tình thương với khả năng trong mối quan hệ phức tạp với những người có vấn đề và hoạt động có tính chất xây dựng đối với các vấn đề xã hội Để có sự cân nhắc kỹ lưỡng, thực hành công tác xã hội ở Canada hiện nay đang cố gắng phấn đấu để làm tăng khả năng ngành nghề này
disregard
Mối đe dọa lớn đối với nghề công tác xã hội ở Canada là làn sóng của chủ nghĩa tân tự do hiện thời và sự công kích dữ dội của nó vào các dịch vụ phục vụ con người Trào lưu toàn cầu đối với những triết lý hướng tới thị trường, thứ triết lý làm tăng sự không quan tâm đếm xỉa đến những thành viên yếu thế của xã hội, chỉ có thể đối lập với nguyên tắc của công tác xã hội mà
nó làm tăng thêm những ý niệm của chân giá trị và sự tôn trọng đối với các cá nhân cũng như những giá trị xã hội nền tảng (Theo Teeple, năm 1995) Về mặt lịch sử, các cơ quan dịch vụ xã hội của nhà nước Canada đang bàn tới những mối quan tâm về mặt xã hội và kinh tế trong xã hội Hơn thế nữa, các chương trình và các chính sách xã hội của Canada đang được định rõ đặc điểm đặc thù bởi tầm nhìn có tính can thiệp của đất nước Từ những năm 1980, nhà nước liên bang đã tăng cường khái niệm chung về sự tư nhân hóa và theo đuổi tới đích cuối cùng cho các chương trình xã hội mang tính toàn cầu Canada cũng như các quốc gia an sinh khác, đã từng trải qua những cuộc tấn công nghiêm trọng vào các nguyên lý của sự phân phối lại và sự dự phòng các dịch vụ sức khỏe và xã hội Do vai trò của nhà nước liên bang trong dự phòng các dịch vụ con người bị suy yếu, khu hành chính tỉnh và các cộng đồng đã thấy được sự nâng cao trong trách nhiệm của mình Thêm vào với những thay đổi đối với các chương trình quốc gia và tỉnh và sự sắp xếp về mặt tài chính, những quan điểm công khai và ý nghĩ về an sinh cũng đã được thay đổi (Theo Pederson, năm 2003) “An sinh đã chuyển dịch từ chỗ là chương trình
“được cho làm” thiết kế để giúp đấu tranh với đói nghèo tới sự trợ giúp tạm thời được dự định
để tăng cường khả năng tự lực của mỗi cá nhân thông qua các chiến thuật gắn với lực lượng lao động (Theo trợ giúp xã hội được nối lại, năm 2000, trang 2)
escalate
Công tác xã hội đã đang nhanh chóng gắn với tốc độ đòi hỏi đối với các dịch vụ trong khi phải đương đầu với những sự giảm bớt đáng kể về các nguồn tài chính và con người Những nhu cầu của thân chủ đang trở nên phức tạp cũng như nghèo đói và thất nghiệp đang gia tăng đột ngột
Trang 8phê phán chính sách và là mục tiêu khẩn cấp nhất của nhà nước tân tự do, đang dẫn dắt họ tới việc giảm chi tiêu công cộng.
Giả thuyết tân tự do mà các nhóm cộng đồng và nhà thờ cần gánh trách nhiệm lớn đối với những nhu cầu được nhà nước đặt ra đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới các chương trình dịch vụ
xã hội và những chương trình mà họ phục vu Ví dụ như kho lưu trữ đồ ăn đã trở nên thường gặp bởi chương trình trợ giúp công cộng đã thực thi các yêu cầu có tính thích hợp bị hạn chế Các chương trình về nhà ở xã hội đang được loại trừ, buộc những gia đình có thu nhập thấp phải tìm nhà ở thích hợp với giá thị trường Các chính sách này đang dẫn tới sự cách ly ra khỏi nhịp điệu xã hội của các gia đình và là những thử thách lớn đối với nghề Công tác xã hội
Trang 9Lịch sử và ngữ cảnh Công tác Xã hội ở Việt Nam (Từ năm 1945 đến năm 2004)
Cũng giống như Canada và các nước khác trên toàn thế giới, nghề Công tác xã hội của Việt Nam bắt đầu từ động cơ thúc đẩy của những người theo chủ nghĩa nhân đạo Tuy nhiên, trong suốt những thời kỳ thuộc địa và tân thuộc địa nghề Công tác xã hội đã bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các mô hình từ thiện của nước ngoài
Trước năm 1945 Việt Nam đã là thuộc địa của riêng Pháp Công tác xã hội ở Việt Nam lấy dạng
mô hình từ thiện mà đã được phổ biến ở các nước phương Tây thời đó Về cơ bản nó là phạm vi của các tổ chức tôn giáo (Theo Kelly, năm 2003) Ở các vùng tôn giáo phía nam của đất nước, Pháp đã duy trì vững chắc các nguyên tắc thực dân Pháp đã khống chế sự phát triển của nghề công tác xã hội, thực hành và triết lý của công tác xã hội Trong suốt thời gian này, Công tác
xã hội phục vụ chủ yếu một nhóm những thân chủ của Pháp Thêm vào đó, công tác xã hội đã phục vụ những người công nhân Việt Nam trong các công ty lớn của Pháp và một số lượng trẻ còn ẵm ngửa, những người quả phụ và người già ở các thị trấn “Mô hình công tác xã hội đã đưa các thuộc địa cũ đứng tách rời khỏi các trào lưu quốc gia, và nó không có ảnh hưởng tới hàng triệu người nghèo, người mù chữ và người thất nghiệp
Suy nghĩ về công việc được thực hiện dựa trên mô hình của Pháp này, một số lượng các nhà văn
đã phê phán nó như là một công việc không có hiệu quả bởi nó đã không thể chứng minh và còn
là sự gợi ý mang tính gia trưởng, một sự gợi ý không dẫn tới sự trao quyền hợp pháp cho thân chủ (Theo Kelly, năm 2003) Các hội truyền giáo thiên chúa đã đưa vào các mô hình chăm sóc
có tính chất từ thiện như các trại mồ côi, trung tâm nuôi dưỡng người già và những người tàn tật Các nhà nghiên cứu thường nghi ngờ tới sự thích hợp của những mô hình được đưa vào như thế khi mà gia đình mở rộng truyền thống và cộng đồng vẫn còn có thể xoay xở được Trong giới hạn nghề nghiệp, đã có một vài nhân viên công tác xã hội nữ đã được đào tạo với thời gian hai năm (Theo Nguyễn, năm 2002)
Thời gian cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp chín năm, năm 1954, Việt Nam được chia làm hai miền Đất nước được chia thành hai miền: miền Bắc và miền Nam cho đến khi thống nhất đất nước năm 1975 Từ năm 1945 đến năm 1975 miền Bắc Việt Nam dưới chế độ Xã hội chủ nghĩa đã không phát triển công tác xã hội
Trang 10Từ năm 1945 đến năm 1954, nghề Công tác xã hội đã được đưa vào một mặt là sự tạo thành của Ban giám đốc chính phủ dành cho An sinh xã hội, mặt khác là sự thành lập của trường Công tác
xã hội Caritas (năm 1947) được sắp đặt theo Hội chữ thập đỏ của Pháp và có sự điều khiển của các cô gái từ thiện Caritas đã hoạt động cho đến tận năm 1975 và đã theo sát mô hình của Pháp” (Theo Nguyễn, năm 2002)
Trong suốt thời gian này, ở miền Nam Việt Nam, Công tác xã hội đã được sử dụng để phục vụ cho chiến tranh Nó tập trung vào các vấn đề có liên quan tới chiến tranh như niềm tin của những người tị nạn phía bắc di cư vào nam hoặc của những người bị ảnh hưởng bởi sự thành thị hóa ép buộc để làm dễ dàng cho nghiên cứu của Mỹ đối với những người du kích cộng sản nhằm chặn đứng hoạt động cách mạng (Theo Nguyễn, năm 2002)
Với sự trợ giúp của Liên hợp quốc, Trường Công tác Xã hội quốc gia đã được hình thành ở miền nam vào năm 1968 (Theo Nguyễn, năm 2002) Việc đào tạo Công tác xã hội khác cũng đã
có giá trị ở miền nam, tại trường Công tác xã hội của quân đội, trường Đại học Tổng hợp Đà Lạt và trường Đại học Văn Hạnh ở Sài Gòn Hiệp hội Công tác xã hội Việt Nam đã được thành lập ở miền Nam năm 1970 Nam Việt Nam đã trở thành thành viên của Liên đoàn Công tác xã hội quốc tế (Theo Kelly, năm 2003) Mặc dù An sinh xã hội và Công tác xã hội đã được phát triển nhanh chóng trong suốt thời gian chiến tranh, chúng vẫn được xem như một công cụ của các lực lượng xâm lược An sinh xã hội và Công tác xã hội không được nhìn nhận như một công cụ phục vụ người nghèo ở mức độ nền tảng (Theo Nguyễn, năm 2002)
Sau năm 1975, giai đoạn Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thống nhất đã thấy được sự chấm dứt của nền giáo dục Công tác xã hội Người ta tin rằng một khi Chủ nghĩa xã hội được thiết lập thì
xã hội sẽ không còn các vấn đề về xã hội Công tác xã hội và nhân viên Công tác xã hội về mặt
lý thuyết cũng không còn cần nữa Vào thời điểm này, đã có khoảng 500 nhân viên công tác xã hội được đào tạo ngắn hạn; 300 nhân viên công tác xã hội có bằng cấp với hai năm đào tạo, 10 trường đại học giáo dục từ xa trong đó có bảy trường đào tạo trình độ thạc sĩ Công tác xã hội và thạc sĩ phát triển công tác xã hội (Theo Nguyễn, năm 2002)
Cho đến giữa những năm 1980, sự yếu kém của nền kinh tế tập trung định hướng Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã trở nên rõ ràng Đất nước bước vào sự khủng hoảng về kinh tế và xã hội
Để đối phó với tình hình này, Việt Nam đã bước vào công cuộc đổi mới với tên gọi là “Doi Moi” vào năm 1986 Công cuộc đổi mới đã tập trung vào sự định hướng lại nền kinh tế Việt Nam hướng tới “nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa dưới sự điều hành của Ban Giám đốc quốc gia” (Giải pháp của Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ sáu năm 1986) Duy trì ý tưởng của chủ nghĩa xã hội, hai sự đột phá chủ yếu của công cuộc đổi mới ở Việt Nam
để hiện đại hóa là mức độ mở rộng lớn lao thị trường tự do và chính sách mở cửa nhằm mục đích hướng tới sự hòa nhập dần dần của Việt Nam vào nền kinh tế khu vực và nền kinh tế toàn cầu Doi Moi đã tạo khả năng cho quá trình cải cách kinh tế và xã hội, nó mở ra những khả năng
to lớn cho nhân dân Việt Nam nhưng cũng đặt ra những vấn đề và những thách thức mới cho xã hội Nhiều vấn đề mới đang nổi lên trong sự kết nối với quá trình chuyển đổi kinh tế và xã hội, ảnh hưởng tới tình trạng sức khỏe và hạnh phúc của các gia đình và trẻ em Việt Nam Các vấn
đề xã hội đã mất đi trong một khoảng thời gian nay lại nhanh chóng xuất hiện lại Theo Nguyễn (năm 2002) đã miêu tả như sau “Việt Nam đang bị đe dọa bởi hàng loạt những vấn đề kết nối với sự hiện đại hóa, và các vấn đề này đang phát triển nhanh hơn người ta tưởng:
Trang 11Đói nghèo ở thành thị và nông thôn;
Sự di cư từ nông thôn ra thành thị dẫn tới các vấn đề của trẻ em sống và/hoặc làm việc trên đường phố
Những công nhân di cư và những ngôi nhà ổ chuột;
Gái điếm - nạn buôn bán phụ nữ trong và ngoài nước;
Các nhân viên công tác xã hội, những người được đào tạo về lý thuyết khoa học và những người
có khả năng trong thực hành, rõ ràng là đang cần, nhưng chỉ có vài người thôi Nhà nước Việt Nam phải mất một thời gian để hiểu được nhu cầu cần thiết về các nhân viên công tác xã hội và những kỹ năng đặc biệt của các nhân viên công tác xã hội đủ tiêu chuẩn
Sự hiện thân mới của nghề Công tác xã hội và nền giáo dục Công tác xã hội
Cho đến cuối những năm 1980 việc đào tạo công tác xã hội đã được nhìn nhận như một nhu cầu cần thiết và cấp bách bởi sự phát triển của những người bỏ xứ ra nước ngoài Những nhân viên công tác xã hội của Việt Nam được đào tạo trước năm 1975 và nhiều người khác đã nhận ra rằng họ đã làm việc trong lĩnh vực Công tác xã hội mà không hề có đủ lý thuyết và kỹ năng để tạo ra những kết quả cần thiết và đang trông đợi Từ năm 1986 các nhân viên công tác xã hội và các nhân viên phát triển cộng đồng đã làm việc ở những nơi mà họ được chấp thuận và làm chiến dịch để được phép tổ chức đào tạo các cuộc hội thảo cho những người làm việc trong các
tổ chức các vấn đề xã hội của chính phủ
Suốt những năm 1990 một khóa những chuyên gia có kinh nghiệm ở phía nam của Việt Nam hoạt động xuyên suốt các tổ chức chính trị đã thấy được nhu cầu cần thiết phát triển xã hội dựa trên lý thuyết và trợ giúp của các chuyên gia Quyền trẻ em, an sinh trẻ em, phòng ngừa xâm hại
và bóc lột trẻ em dựa vào cộng đồng và các vấn đề về phát triển cộng đồng đang là công cụ để đem lại sự hồi sinh cho nghề Công tác xã hội và cho việc đào tạo Công tác xã hội ở Việt Nam
Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em đang là những cơ quan của chính phủ có trách nhiệm giải quyết đối với toàn bộ các vụ việc xã hội như các Chính sách xã hội, Cung cấp các dịch vụ xã hội cho những người tàn tật ở Việt Nam trong đó có trẻ
em Những sự phát triển này làm cho Công tác xã hội được chấp nhận và nâng cao như một nghề Các Tổ chức phi chính phủ ở địa phương như Tổ chức nghiên cứu phát triển xã hội và hội thảo ở thành phố Hồ Chí Minh, tổ chức an sinh trẻ em, Hiệp hội thanh niên thành phố Hồ Chí Minh, nhóm đào tạo các nhân viên công tác xã hội ở phía Bắc và các phòng của chính phủ đặt tại địa phương đã góp sức cho sự phát hiện và khai sinh ra Công tác xã hội trong ngữ cảnh mới của xã hội Việt Nam
Trang 12Các tổ chức quốc tế bao gồm những người tình nguyện của Liên hiệp quốc, Quĩ Nhi đồng Liên hiệp quốc và các tổ chức phi chính phủ như Tổ chức Bảo vệ trẻ em Vương quốc Anh, Tổ chức Bảo vệ trẻ em Thụy Điển, Hội quan tâm thế giới, Ủy ban trung tâm tín đồ dòng Menno - chi nhánh tin lành ở Hà Lan và quốc tế cũng đã nhận thức được sự cần thiết và bắt đầu phát triển có đối thoại với các chuyên gia và chính phủ của các tổ chức này CIDA Canada cũng đã tham gia vào một cách tích cực
Trang 13
PHÂN TÍCH CÓ SO SÁNH VỀ THỰC HÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI Ở VIỆT NAM VÀ CANADA
Định nghĩa về Công tác xã hội
Các định nghĩa có tính quốc gia về Công tác xã hội là tính đến cả thời gian và văn hóa Các vấn
đề làm thay đổi sự nhấn mạnh của Công tác xã hội Các định nghĩa có tính quốc tế về Công tác
xã hội vì thế đã thay đổi theo thời gian Liên đoàn Công tác xã hội quốc tế thường định nghĩa như sau:
Nghề Công tác xã hội làm tăng sự thay đổi xã hội, giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con người và trao quyền và sự giải phóng con người làm tăng hạnh phúc con người Sử dụng các hành vi con người và các hệ thống xã hội, Công tác xã hội can thiệp vào những nơi mà con người thường tương tác với các môi trường của mình Các nguyên tắc về quyền con người và công bằng xã hội là nền tảng cho Công tác xã hội (Theo Liên đoàn Công tác xã hội Quốc tế)
Linderman (năm 1992) đã miêu tả nhân viên công tác xã hội như là "cầu nối giữa những người được hưởng đặc ân và những người không được hưởng đặc ân, là người trợ giúp trong các mối quan hệ của con người và trong công việc với các lực lượng của cộng đồng; là người tạo sự ngang bằng cho các cơ hội, là sự cứu tinh cho những điều không đúng, là nhà giáo dục về giá trị
và là nhà lý tưởng hóa cuộc sống” (trang 36) Các nhân viên công tác xã hội làm việc trong nhiều các bộ phận và phạm vi về sức khỏe, giáo dục và các chương trình dịch vụ xã hội
Giáo dục Công tác xã hội cung cấp cách tiếp cận có hiểu biết đối với sự am hiểu hành vi con người, dạy thực hành công tác xã hội, tiến hành nghiên cứu công tác xã hội, phân tích và phát triển chính sách an sinh xã hội và hướng dẫn trong lĩnh vực thực hành
Những phần sau đây sẽ giới thiệu về phân tích các giá trị, kiến thức và kỹ năng phù hợp về mặt văn hóa đối với năm lĩnh vực thực hành công tác xã hội ở Canada và Việt Nam được gọi là Công tác xã hội với Cá nhân, Gia đình và Nhóm, với Phát triển cộng đồng, Chính sách xã hội, Nghiên cứu xã hội, và Hành chính và Quản lý
Trang 14CANADA
Thực hành Công tác xã hội ở Canada nói chung là tự nhiên và bao trùm cả năm lĩnh vực thực hành Các nhân viên công tác xã hội được nhìn nhận là có phông kiến thức và kỹ năng rộng Kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, kỹ năng hòa giải, kỹ năng trị liệu gia đình, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng quan hệ, hiểu biết quá trình, kiến thức về kỷ luật nội bộ, kiến thức về đói nghèo, kỹ năng biện hộ, nhận dạng nguồn gốc xã hội của các căn bệnh cá nhân và sự
tự nhận thức là tất cả phần định hướng thực hành tổng hợp Khả năng giao tiếp có hiệu quả theo cách giúp con người sát lại gần nhau là trung tâm của công tác xã hội cũng như là sự hiểu biết các vấn có liên quan đến đói nghèo và áp bức
Cũng như nhiều nước khác trên thế giới, sự thiếu hụt về định nghĩa công tác xã hội đang được
đề cập đến như là vấn đề nền tảng của Công tác xã hội ở Canada
Giáo dục Công tác xã hội: Giáo dục Công tác xã hội ở Canada là có chất lượng cao Kiến thức
và các kỹ năng đào tạo nói chung đạt được sự mong đợi của những người lao động Các chuẩn
để có được lòng tin một cách nghiêm ngặt là chỗ đứng cho cả hai văn bằng cử nhân và thạc sĩ Công tác xã hội Có sự tăng về số lượng chương trình đào tạo nghiên cứu sinh do các trường Công tác xã hội ở Canada đề nghị Các khả năng mới cho việc nghiên cứu sinh đã được phát triển trong vòng 10 năm qua ở trường Đại học Tổng hợp Calgary, Trường Đại học Tổng hợp Memorial tỉnh Newfoundland, trường Đại học Tổng hợp Manitoba và ở chương trình kỷ luật nội
bộ ở trường Đại học Tổng hợp McGill Ở một số tỉnh như Alberta, British Columbia và Ontario,
sự liên kết được tạo ra giữa các chương trình đào tạo văn bằng cao đẳng cộng đồng và chương trình đào tạo văn bằng cử nhân trình độ đại học cho phép các sinh viên chuyển đổi từ chứng chỉ
sang văn bằng (Theo Westhues và các tác giả khác, năm 2001)
Công tác xã hội với cá nhân, Gia đình và Nhóm
Phát triển nghề nghiệp là quá trình mà ở đó những nhân viên công tác xã hội làm việc nơi buồng bệnh được nâng cao kiến thức của mình và kỹ năng can thiệp thông qua kinh nghiệm và thực hành Quá trình này thiết lập định hướng cơ bản và chấp nhận giá trị và phương pháp của công tác xã hội Việc phát triển các nhân viên công tác xã hội ở buồng bệnh được đòi hỏi để mở rộng kiến thức thông qua việc đăng ký học lý thuyết và kỹ năng thực hành công tác xã hội ở buồng bệnh - ban đầu là thực hành bắt buộc có giám sát, sau đó thông qua việc tự học và tham gia trong các hội thảo tự nguyện như mong muốn (Theo Garrett, năm 1995, Fook, Ryan và
Hawkins, năm 1997) Dựa trên quan điểm này, Công tác xã hội ở buồng bệnh ở Canada đang được nhấn mạnh với sự giáo dục tiếp tục và nghiên cứu theo các mô hình lý thuyết và thực hành
có hiệu quả và tốt hơn
Như đã được xác định, mục đích của khóa học Thực hành Công tác xã hội với Gia đình là để chuẩn bị cho sinh viên trong thực hành công tác xã hội ở buồng bệnh với các gia đình khác nhau
ở các khu vực phục vụ khác nhau Cung cấp sự hiểu biết một cách tỉ mỉ, kỹ lưỡng về cách một người làm việc với hệ thống gia đình như thế nào để đánh giá một cách lạc quan sức mạnh của gia đình trong khi có sự cố gắng để xóa bỏ rào cản, môi trường và cá nhân giúp cho gia đình đạt
Trang 15được nhu cầu của các thành viên của minh Chính vì lý do đó, các sinh viên được đặt vào các lý thuyết và kỹ năng trị liệu gia đình đặc biệt để hiểu và trải qua sự phức tạp của công việc với gia đình khi các sinh viên tham gia, đánh giá và can thiệp để vượt qua những rào cản và nâng cao chức năng tối ưu nhất Nghiên cứu Công tác xã hội tạo cho sinh viên khả năng tham gia vào việc suy nghĩ có phê phán và thực hành mà điều đó sẽ chuẩn bị cho họ thực hành giỏi khi họ vào làm việc ở công sở
Sự giao phó cho các nguyên tắc đánh giá đúng tính đa dạng trong khi đảm bảo công bằng xã hội
ở Canada đòi hỏi giúp đỡ các sinh viên phát triển nhận thức sâu sắc đối với sự khác nhau trong các gia đình và nhận thức được sự áp bức làm hạn chế sự phát triển cộng đồng và loài người như thế nào Sự tập trung sẽ bao gồm cả việc ấp ủ công bằng xã hội mà nó làm cho các gia đình có khả năng đến gần với các phương kế để thực hiện đến cùng mục đích mà họ đã chọn
Chính vì vậy giáo dục và thực hành công tác xã hội ở Canada nhấn mạnh vào việc trao quyền cho các gia đình bởi họ phải đấu tranh để đạt tới những nhu cầu của các thành viên trong gia đình họ trong những ngữ cảnh đa dạng của xã hội Sự nhấn mạnh cần được đánh giá đúng để hiểu rõ được sức mạnh mà nhiều nhóm gia đình đem lại kinh nghiệm của việc nuôi nấng con cái
và cách sử dụng thực hành kết hợp để làm việc hướng tới mục đích đã được quyết định qua lại lẫn nhau Các sinh viên cần kiểm tra sự đánh giá và can thiệp của các mô hình thực hành gia đình để đảm bảo sự phù hợp của họ với công việc với gia đình có kết hợp và dựa trên sức mạnh Việc nghiên cứu cần dạy cho sinh viên xác định và phát triển các chiến thuật cho các tình huống
mà ở đó các giá trị cá nhân và nghề nghiệp mâu thuẫn với các giá trị của thân chủ và những người trợ giúp các dịch vụ khác trong hệ thống Đây là những bài học quan trọng cho sự hồi sinh nền giáo dục công tác xã hội như ở Việt Nam
Các nhân viên công tác xã hội thường phải đương đầu với sự căng thẳng của môi trường công việc Sự căng thẳng này liên quan không chỉ tới số lượng công việc mà còn liên quan tới sự mâu thuẫn giá trị của việc kiểm soát xã hội và hoạt động xã hội trong công tác xã hội mà các nhân viên công tác xã hội có thể trải qua Câu hỏi giáo dục công tác xã hội sẽ chuẩn bị cho các sinh viên sắp tốt nghiệp đại học tốt như thế nào đối với sự căng thẳng của môi trường công việc sao cho xứng với sự chú ý trong việc phát triển giáo dục công tác xã hội ở Canada
Có sự phù hợp về văn hóa được tăng lên trong giáo dục công tác xã hội ở Canada Khắp đất nước có 34 chương trình về công tác xã hội phản ánh nhu cầu đa dạng và mật độ dân số Một số lượng chương trình có sự tập trung đặc biệt vào những người thổ dân và các vấn đề của vùng phương bắc trong khi các chương trình khác thì nhấn mạnh vào sự đa dạng về văn hóa và các dịch vụ đối với những người nhập cư và người tị nạn, đáp ứng tới các nhu cầu của cộng đồng