MỞ ĐẦU SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG BÌNH TRUNG TÂM KỸ THUẬT ĐO LƯỜNG THỬ NGHIỆM BÁO CÁO TÓM TẮT KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC UỐNG ĐÓNG CHAI VÀ NƯỚ[.]
Trang 1SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG BÌNH
TRUNG TÂM KỸ THUẬT ĐO LƯỜNG THỬ NGHIỆM
BÁO CÁO TÓM TẮT KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI
ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC UỐNG ĐÓNG CHAI VÀ NƯỚC ĐÁ DÙNG LIỀN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH
Cơ quan chủ trì: Trung tâm Kỹ thuật Đo lường Thử nghiệm
Chủ nhiệm: ThS Hoàng Thị Phương Lan
Quảng Bình, tháng 11 năm 2021
Trang 2SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG BÌNH
TRUNG TÂM KỸ THUẬT ĐO LƯỜNG THỬ NGHIỆM
BÁO CÁO TÓM TẮT ĐỀ TÀI ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC UỐNG ĐÓNG CHAI VÀ NƯỚC ĐÁ DÙNG LIỀN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH
CƠ QUAN CHỦ TRÌ
CHỦ NHIỆM
Nguyễn Thị Ái Trinh Hoàng Thị Phương Lan
Thời gian thực hiện
Trang 31
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước uống đóng chai (NUĐC) và nước đá dùng liền (NĐDL) là những mặt hàng sử dụng trực tiếp không qua chế biến được sử dụng hằng ngày với đối tượng sử dụng phổ biến và rộng rãi trong cộng đồng Vì vậy, việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đối với NUĐC, NĐDL là rất cần thiết nhằm bảo vệ sức khoẻ, tính mạng con người
Để quản lý nghiêm ngặt chất lượng NUĐC và NĐDL, Bộ Y tế đã ban hành các quy chuẩn kỹ thuật tương ứng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 6-1:2010/BYT và QCVN 10:2011/BYT Theo đó, các sản phẩm trên phải tuân thủ các điều kiện sản xuất và quản lý chất lượng theo đúng quy định để bảo đảm chất lượng an toàn thực phẩm (ATTP) trước khi đưa vào sử dụng Để có thể đưa sản phẩm ra thị trường, nhà sản xuất cần được cấp giấy “Chứng nhận cơ sở đủ điều kiện vệ sinh ATTP” và tự công bố sản phẩm
Theo số liệu từ Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm Quảng Bình, trên địa bàn tỉnh hiện có 88 cơ sở sản xuất nước uống đóng chai, nước đá dùng liền với quy mô vừa và nhỏ Qua công tác kiểm tra của cơ quan quản lý cho thấy, tình hình vi phạm không đảm bảo chất lượng của những sản phẩm này xảy ra tương đối phổ biến, cụ thể: Từ năm 2016 đến 2020, trong tổng số 346 lượt cơ sở sản xuất NUĐC và NĐDL được Chi cục ATVSTP lấy mẫu có 62 cơ sở bị xử lý do
vi phạm về chất lượng sản phẩm (chiếm 17,92%) Trong đó, tỷ lệ NUĐC và NĐDL nhiễm Pseudomonas aeruginosa cao nhất với 15,9% và tỷ lệ mẫu nhiễm E.coli là thấp nhất với 1,39% [7] Nước uống không đảm bảo chất lượng vô cùng nguy hiểm đối với sức khỏe của con người, vì đây là nơi cư trú của các loại
vi khuẩn gây bệnh đặc biệt nguy hiểm, ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng,
có thể mắc các bệnh như tả, lỵ, thương hàn, đường ruột,
Từ trước đến nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Bình chưa có công trình nào nghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ về chất lượng NUĐC và NĐDL, qua đó cung cấp thông tin phục vụ cho công tác quản lý và cảnh báo cho người tiêu
dùng Xuất phát từ thực trạng trên, việc thực hiện đề tài “Điều tra, khảo sát và đánh giá chất lượng nước uống đóng chai và nước đá dùng liền trên địa bàn tỉnh Quảng Bình” là hết sức cần thiết
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Điều tra, khảo sát điều kiện về an toàn thực phẩm trong sản xuất tại các
cơ sở sản xuất nước uống đóng chai và nước đá dùng liền;
Trang 43 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Phương pháp lấy mẫu và phân tích
a Lấy mẫu:
- Phương pháp lấy mẫu nước đầu vào, nước sau xử lý tại vị trí trước lúc chiết xuất vào bình theo TCVN 6663-5:2009 (Chất lượng nước - Hướng dẫn lấy mẫu nước uống từ các trạm xử lý và hệ thống phân phối bằng đường ống)
- Phương pháp lấy mẫu NUĐC và NĐDL theo hướng dẫn tại Thông tư số 26/2012/TT-BKHCN ngày 12/12/2012 của Bộ Khoa học và Công nghệ, Quy định việc kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường; Thông tư số 12/2017/TT-BKHCN ngày 28/9/2019 của Bộ Khoa học và Công nghệ, Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 26/2012/TT-BKHCN ngày 12/12/2012 của Bộ Khoa học và Công nghệ, Quy định việc kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường
- Lấy mẫu nước đầu vào: Tiến hành lấy mẫu nước nguyên liệu đầu vào tại vòi nước trước khi đưa vào dây chuyền sản xuất NUĐC, NĐDL;
- Mẫu nước sau xử lý: Lấy tại vị trí trước lúc chiết xuất vào bình 20 lít trong buồng kín;
- Lấy mẫu nước uống đóng chai (sản phẩm đóng bình 20 lít): Tại mỗi cơ
sở sản xuất đã được lấy mẫu sau xử lý, tiến hành lấy ngẫu nhiên 1 bình 20 lít còn nguyên bao gói, còn hạn sử dụng trong kho bảo quản sản phẩm Ngày lấy mẫu bình 20 lít có thể trùng hoặc sau ngày sản xuất của bình đó;
- Mẫu nước đá dùng liền: Lấy ngẫu nhiên 01 mẫu nước đá dùng liền đã được đóng gói trong lô hàng được sản xuất ra có tại cơ sở Mẫu đá được lấy bằng kẹp đã sấy tiệt trùng và đựng vào chai thủy tinh đã sấy tiệt trùng cả chai
và nắp đậy
b Số lượng mẫu lấy:
- Lấy mẫu nước đầu vào dùng sản xuất và sản phẩm đầu ra (nước uống đóng chai hoặc nước đá dùng liền) tại 70 cơ sở sản xuất; mỗi cơ sở lấy 2 mẫu/lượt x 02 lượt, lượt cách nhau 6 tháng
Trang 53
- Riêng đối với 45 cơ sở sản xuất nước uống đóng chai, lấy thêm mẫu nước sau xử lý; mỗi cơ sở lấy 01 mẫu/lượt x 02 lượt, lượt cách nhau 6 tháng
Bảng 1: Số lượng mẫu nước đầu vào và sản phẩm ( NUĐC hoặc NĐDL)
TT Tên huyện/ thành phố Số lượng
mẫu/cơ sở
Số lượng cơ
sở sản xuất Số lượng mẫu
Bảng 2: Số lượng mẫu nước sau khi xử lý
TT Tên huyện/ thành phố Số lượng
mẫu/cơ sở
Số lượng cơ sở sản xuất NUĐC
Số lượng mẫu
c Chỉ tiêu phân tích:
Chỉ tiêu phân tích là các chỉ tiêu cảm quan, thành phần vô cơ, chỉ tiêu vi sinh thường được phát hiện trong quá trình quản lý, cụ thể:
Trang 64
- Chỉ tiêu phân tích đối với mẫu nước đầu vào gồm 15 chỉ tiêu: pH, mùi
vị, độ đục, độ cứng, Clorua, Amonia, Nitrat, Nitrit, Sunfat, Sắt, Mangan, Asen, Chỉ số Pecmanganat, Coliform và E.coli
- Chỉ tiêu phân tích đối với mẫu nước sau xử lý tại vị trí trước lúc chiết xuất vào bình gồm 9 chỉ tiêu: Nitrat, Nitrit, Mangan, Asen, E.coli, Coliform, Streptococi feacal, Pseudomonas aeruginosa, Bào tử vi khuẩn kị khí khử sulfit
- Chỉ tiêu phân tích đối với mẫu nước đóng chai (loại sản phẩm 20 lít) và nước đá dùng liền gồm 5 chỉ tiêu vi sinh: E.coli, Coliform, Streptococi feacal, Pseudomonas aeruginosa, Bào tử vi khuẩn kị khí khử sulfit
d Phương pháp phân tích:
Sử dụng phương pháp phân tích theo tiêu chuẩn Việt Nam, phương pháp của EPA (United States Environmental Protection Agency) và phương pháp của SMEWW (Standard Methods for the Examination of Water and Waste Water)
đã được nêu trong quy chuẩn Việt Nam tương ứng
Bảng 3 Danh mục phương pháp phân tích
Trang 75
3.2 Phương pháp điều tra xã hội học
Tiến hành điều tra điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm tại 88 cơ sở sản xuất nước uống đóng chai và nước đá dùng liền trên địa bàn tỉnh bằng phiếu điều tra kết hợp phỏng vấn chủ cơ sở
3.3 Phương pháp xác suất thống kê
Đề tài cũng sử dụng một số phương pháp thống kê để xử lý các số liệu như: Tổng kết và xử lý số liệu bằng Excel và bằng phần mềm SPSS 16
3.4 Phương pháp so sánh
Đánh giá mức độ ô nhiễm dựa trên các kết quả phân tích được so sánh với QCVN 01: 2009/BYT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống; QCVN 6-1:2010/BYT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với nước khoáng thiên và nước uống đóng chai; QCVN 10:2011/BYT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với nước đá dùng liền
3.5 Phương pháp chuyên gia
Trên cơ sở số liệu điều tra, phân tích, thống kê, sử dụng chuyên gia để phân tích đánh giá và đề xuất giải pháp đảm bảo chất lượng NUĐC và NĐDL nhằm bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm và bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng
4 Các kết quả nghiên cứu đạt được
4.1 Đánh giá điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất nước uống đóng chai và nước đá dùng liền trên địa bàn tỉnh quảng bình
Đề tài điều tra, khảo sát tại 88 cơ sở sản xuất NUĐC và NĐDL, trong đó
có 46 cơ sở sản xuất NUĐC; 21 cơ sở sản xuất NĐDL; 21 cơ sở vừa sản xuất NUĐC và NĐDL Các kết quả điều tra, khảo sát được phân tích, đánh giá như sau:
4.1.1 Về hồ sơ pháp lý liên quan đến sản xuất
Qua kiểm tra hồ sơ, giấy tờ của các cơ sở sản xuất nhận thấy 100% các cơ
sở đều đã tuân thủ đầy đủ các quy định về hồ sơ, giấy tờ liên quan NUĐC và NĐDL
4.1.2 Điều kiện địa điểm, cơ sở vật chất, kết cấu nhà xưởng
Địa điểm, môi trường, điều kiện cơ sở vật chất là một trong những điều kiện quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm Các yêu cầu bao gồm điều kiện về vị trí, thiết kế, bố trí, kết cấu nhà xưởng Đây là những điều kiện cần để
có thể sản xuất ra những sản phẩm đảm bảo chất lượng ATTP
Trang 86
Kết quả điều tra, khảo sát cho thấy, 100% cơ sở điều tra, khảo sát đạt các tiêu chí về thiết kế theo nguyên tắc một chiều, cách biệt nguồn ô nhiễm, có thiết
kế các khu riêng biệt trong khu vực sản xuất Hầu hết các cơ sở sản xuất NUĐC
đã xây dựng khu vực chiết rót nước uống đóng chai kín, tách biệt với các khu vực khác, tường được ốp đá lên cao, trang bị hệ thống diệt khuẩn không khí
4.1.3 Điều kiện về trang thiết bị và quy trình công nghệ
a Trang thiết bị, dụng cụ:
Kết quả điều tra, khảo sát cho thấy, tất cả các cơ sở sản xuất NUĐC và NĐDL đạt các tiêu chí về dụng cụ tiếp xúc với thực phẩm dễ làm vệ sinh, không gây ô nhiễm đối với thực phẩm Tại các cở sở sản xuất đều có đủ thiết bị rửa và khử trùng tay cũng như giày, dép sử dụng riêng trong khu vực sản xuất
b Quy trình công nghệ sản xuất:
* Quy trình sản xuất nước uống đóng chai như sau:
Nguồn nước đầu vào Khử kim loại (Fe, Mn) Lọc thô khử mùi, màu Làm mềm nước và khử khoáng Lọc thẩm thẩu ngược (RO)
Khử trùng Chiết đóng bình Đóng nắp, dán nhãn Thành phẩm Kho chứa
Hình 1: Quy trình sản xuất nước uống đóng chai
Vỏ, nắp bình
Rửa thô
Rửa tinh
Khử khuẩn
Trang 9- Khử kim loại nặng: Nước đầu vào sẽ được chảy qua bộ lọc với vật liệu
là các chất có khả năng ôxy hóa mạnh để chuyển sắt II lên sắt III, kết tủa và xả
ra ngoài Quá trình này đồng thời xử lý mangan và mùi hôi của khí H2S (nếu có)
- Lọc thô, khử mùi, khử màu: Quá trình lọc thô sử dụng bộ lọc tự động súc xả nhằm loại bỏ một phần cặn thô, khử mùi và màu của nước bằng than hoạt tính
- Làm mềm và khử khoáng: Nước thô được xử lý lọc qua hệ trao đổi ion (Cation-Anion) có tác dụng lọc những ion dương (Cation): Mg2+, Ca2+, Fe3+,
Fe2+,… và những ion âm (Anion) như: Cl-, NO3-, NO2-, Nước được xử lý qua
hệ thống này sẽ được đưa vào bồn chứa hoặc tiếp tục được xử lý
- Lọc thẩm thấu ngược: Đây là công đoạn quan trọng nhất quyết định đến chất lượng thành phẩm Nước được bơm cao áp qua hệ thống màng thẩm thấu ngược (RO - Reverse Osmosis) Màng RO sẽ cho nước tinh khiết đi qua các lỗ lọc, phần nước còn lại chứa các tạp chất, ion, kim loại,… sẽ được thải bỏ ra ngoài
- Xử lý khử trùng: Nước sau khi lọc RO được trữ trong bồn kín sục khí Ozon để diệt khuẩn còn sót lại trong nước Trong quá trình lưu trữ, nước có khả năng bị nhiễm khuẩn từ môi trường, hệ thống thiết bị đường ống nên trước khi đóng chai tái tiệt trùng bằng tia UV
Trang 108
Nguồn nước đầu vào Khử KL (Mn, Fe) Lọc thô, khử màu, khử mùi Làm mềm nước, khử khoáng Lọc thẩm thấu ngược
Đá thành phẩm Đóng gói
Kho lạnh
Hình 2: Quy trình sản xuất nước đá dùng liền
Theo quy định tại khoản 2.1 của QCVN 10: 2011 - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với nước đá dùng liền, nước sử dụng để sản xuất NĐDL phải đạt yêu cầu về chất lượng nước ăn uống theo QCVN 01: 2009/BYT
Để đảm bảo chất lượng cho sản xuất NĐDL, nước đầu vào được các cơ sở
xử lý qua hệ thống thiết bị lọc và khử trùng như quy trình sản xuất NUĐC Nước sau xử lý cho vào thùng chứa nước để làm đá Sau khi nước thành đá, đá
sẽ tự động chảy vào bộ phận chứa đá ở phía dưới thiết bị làm đá Tiến hành đóng gói sản phẩm và bảo quản trong kho lạnh
c Công tác vệ sinh tại cơ sở sản xuất:
Kết quả điều tra công tác vệ sinh tại cơ sở sản xuất cho thấy, các cở sở sản xuất NUĐC và NĐDL trên địa bàn tỉnh đã thực hiện vệ sinh các trang thiết bị, dụng cụ như bể chứa, đường ống, lõi lọc, van xả thường xuyên; khoảng cách giữa các lần tổng vệ sinh đều dưới 1 tuần/1 lần
Khử trùng
Tháp lạnh làm đá
Trang 119
Các cơ sở đã thực hiện việc thay lõi lọc thô và màng lọc RO với thời gian giữa các lần thay khác nhau tùy theo mức độ nhiễm bẩn của nước đầu vào Khoảng cách giữa các lần thay lõi lọc thô dưới 3 tháng chiếm tỷ lệ khá lớn (76,14%) Đối với màng lọc RO, thời gian giữa các lần thay dưới 1 năm sử dụng (55,68%) chiếm tỷ lệ cao hơn so với trên 1 năm (44,32%) Do thiết bị thẩm thấu ngược RO là công đoạn quan trọng nhất quyết định đến chất lượng thành phẩm NUĐC và NĐDL nên thời gian giữa các lần thay màng lọc RO dưới 1 năm được nhiều cơ sở quan tâm, lựa chọn
4.1.4 Sử dụng vật tư, nguyên liệu sản xuất
a Nguồn nước sản xuất:
Các cơ sở trên địa bàn tỉnh phần lớn sử dụng 2 nguồn nước chính để sản xuất NUĐC, NĐDL, đó là nước máy và nước dưới đất (nước giếng khoan và giếng đào)
Trong tổng số 88 cơ sở điều tra có 61 cơ sở sử dụng nước dưới đất (58 giếng khoan; 3 giếng đào) và 27 cơ sở sử dụng nước máy để sản xuất
Tương quan tỷ lệ sử dụng các nguồn nước được thể hiện ở biểu đồ sau:
Hình 3: Biểu đồ tỷ lệ sử dụng các nguồn nước sản xuất NUĐC và NĐDL
Qua hình 3 có thể thấy, các cơ sở trên địa bàn tỉnh sử dụng nguồn nước dưới đất để sản xuất NUĐC và NĐDL chiếm tỷ lệ nhiều hơn (gấp hơn 2 lần) nguồn nước máy Theo các chủ cơ sở sản xuất, nguồn nước dưới đất dễ khai thác, chi phí thấp hơn nước máy, ngoài ra một số khu vực không có nước máy nên nguồn nước này được nhiều cơ sở lựa chọn
b Vật tư sử dụng trong quá trình xử lý nước, súc rửa bình:
Theo kết quả điều tra, khảo sát vật tư sử dụng trong quá trình xử lý nước
Trang 1210
tại các cơ sở sản xuất NUĐC, NĐDL trên địa bàn tỉnh cho thấy, các cơ sở sản xuất sử dụng các bộ lọc thô để khử kim loại nặng, cặn, màu, mùi, khử độ cứng, làm mềm nước và màng lọc RO để loại bỏ hoàn toàn các tạp chất, kim loại, các
vi khuẩn có trong nước Tại các cở sở sản xuất đều có sục Ozon và tia UV để sử dụng trong giai đoạn khử trùng
Vật tư sử dụng trong quá trình súc rửa bình: Phần lớn các cở sở sản xuất NUĐC trên địa bàn tỉnh sử dụng hình thức rửa bình bằng thủ công, chỉ có 02 cơ
sở rửa bằng máy, đó là HKD Bảo Long - Đại Lợi; Cơ sở NUĐC Watar Kết quả điều tra, vật tư sử dụng trong rửa bình tại 67 cơ sở sản xuất NUĐC, có 30 cơ sở (chiếm 44,78%) rửa bình hoàn toàn bằng nước, không ngâm Cloramin B và 37
cơ sở (chiếm 55,22%) rửa bằng nước, kết hợp ngâm Cloramin B
Quá trình súc rửa bình tại các cơ sở sản xuất NUĐC như sau: Vỏ bình sau khi đưa về cơ sở sản xuất được súc rửa bằng một trong hai hình thức, đó là súc rửa nước bằng tay hoặc làm sạch bằng máy rửa bình (có chổi đánh tự động) Sau
đó, bình sẽ được ngâm hoặc không ngâm trong bể Cloramin B (đối với bình ngâm Cloramin B sẽ rửa lại sạch bằng nước) và khử khuẩn bằng tia cực tím trước khi chiết rót
4.1.5 Điều kiện vệ sinh đối với nhân viên trực tiếp sản xuất
Kết quả điều tra, khảo sát đối với người trực tiếp sản xuất tại 88 cơ sở NUĐC và NĐDL trên địa bàn tỉnh cho thấy, 88/88 cơ sở sản xuất NUĐC và NĐDL đã trang bị bảo hộ lao động cho người trực tiếp sản xuất Tuy nhiên, việc nhân viên không chấp hành đúng quy định về bảo lộ lao động trong khi sản xuất (Áo quần, đội mũ, găng tay chuyên dùng, đeo khẩu trang) chiếm tỷ lệ tương đối cao (85,23%), chỉ có 13/88 cơ sở (chiếm 14,77%) có nhân viên thực hiện đúng Ngoài ra, trong quá trình sản xuất NUĐC và NĐDL, có 07 cơ sở (chiếm 7,95%)
sử dụng người trực tiếp sản xuất đeo đồng hồ, trang sức và 02 cơ sở (chiếm 2,27%) có nhân viên hút thuốc trong khu vực sản xuất Như vậy, vẫn còn tình trạng các cơ sở sản xuất NUĐC và NĐDL trên địa bàn tỉnh sử dụng nhân viên trực tiếp sản xuất chưa thực hiện đúng các điều kiện về vệ sinh cá nhân, đây có thể là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm vi sinh vật vào NUĐC và NĐDL
Trang 1311
cở sở có sản xuất NUĐC trên địa bàn tỉnh đều được chứa vào các chai nhựa
chuyên dùng cho thực phẩm và trên bao bì đã có nhãn hàng hóa đúng quy định
Đối với NĐDL: NĐDL tại các cơ sở sản xuất trên địa bàn tỉnh hiện đang được đựng trong 2 loại bao, đó là túi nilon (hiện có 2 loại túi nilon được các cở
sở dùng: Túi trơn phẳng, không quai, miệng bằng và túi nilon hai quai) và bao tải đan bằng sợi PP Trong tổng số 42 cơ sở sản xuất NĐDL chỉ có 03 cơ sở đạt yêu cầu quy định về việc NĐDL được đóng gói trong bao bì kín chiếm 7,14%
Tỷ lệ cơ sở không đạt yêu cầu về NĐDL đóng gói trong bao bì kín khá cao (92,86%) Theo khảo sát, phần lớn các cơ sở sản xuất NĐDL có đựng đá thành phẩm trong túi nilon hai quai, thuận lợi trong việc bán lẻ (mỗi túi như vậy giá 5.000 đồng hoặc 10.000 đồng, ) nên thường không được buộc kín theo quy định
Về ghi nhãn hàng hóa trên sản phẩm NĐDL: Phần lớn các cở sở sản xuất không thực hiện việc ghi nhãn hàng hóa trên sản phẩm NĐDL (40 cơ sở chiếm 95,24%), chỉ có 02 cơ sở (chiếm 4,76%) sử dụng túi nilon trơn phẳng, không quai, miệng bằng có nhãn hàng hóa đúng quy định Theo khảo sát, các cơ sở sản xuất thường sử dụng bao tải đan bằng sợi PP, túi nilon hai quai, và một số là túi trơn, không quai đựng đá thành phẩm là không có nhãn hàng hóa trên bao bì theo quy định
4.1.7 Đánh giá chung
Qua kết quả điều tra, khảo sát và phân tích ở trên, có thể đánh giá về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất NUĐC, NĐDL trên địa bàn tỉnh Quảng Bình như sau:
- Các cơ sở sản xuất NUĐC, NĐDL trên địa bàn tỉnh đã thực hiện nghiêm túc và đầy đủ các điều kiện về hồ sơ, điều kiện về địa điểm, cơ sở vật chất
- Các cở sở NUĐC và NĐDL trên địa bàn tỉnh Quảng Bình sử dụng hai nguồn nước chính là nước máy và nước dưới đất (giếng khoan, giếng đào) để sản xuất, trong đó chủ yếu là sử dụng nước dưới đất Nguồn nước này thường không ổn định và không đảm bảo yêu cầu chất lượng theo quy chuẩn nên tiềm
ẩn nguy cơ sản phẩm không đảm bảo chất lượng nếu không được xử lý hiệu quả
- Vẫn còn xảy ra tình trạng nhân viên trực tiếp sản xuất chưa thực hiện đúng các điều kiện về vệ sinh cá nhân, phổ biến là không mặc áo quần bảo hộ, đeo găng tay, đeo khẩu trang
- Do hạn chế về kinh phí và quy mô sản xuất đang còn nhỏ nên các cơ sở NUĐC và NĐDL trên địa bàn tỉnh Quảng Bình sử dụng hệ thống dây chuyền
Trang 144.2 Đánh giá chất lượng nước uống đóng chai và nước đá dùng liền trên địa bàn tỉnh
4.2.1 Đánh giá chất lượng nước đầu vào
Đề tài tập trung lấy mẫu đánh giá chất lượng nước đầu vào tại 70 cơ sở Trong đó, 46 cơ sở khai thác nước dưới đất và 24 cơ sở sử dụng nước máy Nước đầu vào được lấy mẫu 02 đợt (6 tháng/lần) với số lượng là 140 mẫu
a Nước đầu vào sử dụng nước máy
Kết quả phân tích mẫu nước đầu vào là nước máy để sản xuất được thể
hiện ở bảng 4
Bảng 4: Kết quả phân tích mẫu nước đầu vào sử dụng nước máy
Một số chỉ tiêu vượt giới hạn cho phép được thể hiện ở hình 4
Trang 15- Chỉ tiêu Coliform tổng số: Theo kết quả phân tích, đợt 1 có 2 mẫu nước máy (chiếm 8,33%), đợt 2 có 04 mẫu (chiếm 16,67%) phát hiện nhiễm Coliform, dao động trong khoảng 10 đến 27 CFU/100ml, vượt giới hạn cho phép của quy
chuẩn (không được có) Trong số 6 mẫu có chỉ tiêu Coliform không đạt, có 4/6
mẫu (của 2 cơ sở) có chỉ tiêu Coliform cả 2 đợt đều không đạt quy chuẩn cho phép và được cấp bởi Công trình cấp nước Cảnh Dương (UBND xã Cảnh Dương)
và Trạm cấp nước Đồng Lê (Công ty Cổ phần cấp nước Quảng Bình) Ngoài ra, còn có 2/6 mẫu (thuộc 2 cơ sở) có chỉ tiêu Coliform đợt 2 không đạt và được cấp bởi Công trình cấp nước Quảng Tùng (UBND xã Quảng Tùng) và Nhà máy nước Thanh Trạch (Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn)
- Chỉ tiêu sắt: Kết quả kiểm tra đợt 1 có 01 mẫu nước máy vượt giới hạn cho phép của quy chuẩn (≤ 0,3 mg/l) chiếm 4,17% Nguồn nước máy này được cung cấp bởi Công trình cấp nước xã Bắc Trạch (UBND xã Bắc Trạch)
- Chỉ tiêu E.coli: Kết quả kiểm tra đợt 1 có mẫu nước máy vượt giới hạn
Trang 1614
cho phép của quy chuẩn (không được có) chiếm 4,17% Nguồn nước máy này
được cấp bởi Trạm cấp nước Đồng Lê (Công ty Cổ phần cấp nước Quảng Bình)
b Nước đầu vào sử dụng nước dưới đất
Bảng 5: Kết quả phân tích mẫu nước đầu vào sử dụng nước dưới đất
Hình 5: Tỷ lệ các chỉ tiêu không đạt trong mẫu nước dưới đất
của đợt 1 và đợt 2
- Chỉ tiêu pH: Nước dưới đất tại các cơ sở sản xuất có pH tương đối thấp
pH trong nguồn nước dưới đất không đạt mức quy định nằm trong khoảng 3,8 - 6,4 Đợt 1 có 26 mẫu (chiếm 56,52%), đợt 2 có 21 mẫu (chiếm 45,65%) có chỉ tiêu pH thấp hơn ngưỡng giới hạn của quy chuẩn (6,5 - 8,5) Trong tổng số 48 mẫu nước dưới đất có chỉ tiêu pH không đạt, có 28/47 mẫu (thuộc 14 cơ sở) có giá
Trang 17- Đối với chỉ tiêu Mangan: Kết quả kiểm tra đợt 1 và đợt 2 đều có 1 mẫu (chiếm 2,17%) vượt giới hạn cho phép của quy chuẩn (≤ 0,3 mg/l) Tổng số 2 mẫu có kết Mangan không đạt cả 2 đợt thuộc 1 cơ sở
- Đối với chỉ tiêu Clorua: Kết quả kiểm tra cho thấy, có 3 mẫu đợt 1 (chiếm 6,52%) và 1 mẫu đợt 2 (chiếm 2,17%) có hàm lượng Clorua cao hơn so với quy chuẩn cho phép (≤ 250 mg/l) Trong số 4 mẫu nước dưới đất có Clorua không đạt, có 2/4 mẫu (thuộc 1 cơ sở) có kết quả Clorua cả 2 đợt đều vượt giới hạn cho phép của quy chuẩn
- Hàm lượng Pecmanganat: Hầu hết các mẫu nước dưới đất đều có chỉ số Pecmanganat nằm trong giới hạn cho phép của quy chuẩn (≤ 2 mg/l) trừ 3 mẫu của đợt 1 (chiếm 6,52%) và 1 mẫu của đợt 2 (chiếm 2,17%) Trong số 4 mẫu nước dưới đất có Pecmangana không đạt, có 2/4 mẫu (tại 01 cơ sở) có chỉ số Pecmanganat cả 2 đợt đều vượt giới hạn cho phép của quy chuẩn
- Đối với chỉ tiêu E.coli: Đợt 1 có 07 mẫu (chiếm 15,22%), đợt 2 có 5
mẫu (chiếm 10,87%) vượt giới hạn cho phép của quy chuẩn (không được có)
E.coli trong nguồn nước dao động trong khoảng 4 đến 12 CFU/100ml Trong số
12 mẫu nước dưới đất có chỉ tiêu E.coli không đạt, có 4/12 mẫu (thuộc 2 cơ sở)
có E.coli cả 2 đợt đều không đạt theo quy chuẩn và 8/12 mẫu (của 8 cơ sở) có E.coli của 1 đợt không đạt
- Đối với chỉ tiêu Coliform tổng số: Nước dưới đất nhiễm Coliform tổng
số dao động trong khoảng 10 đến 52 CFU/100ml Đợt 1 và đợt 2 đều có 13 mẫu
(28,26%) có chỉ tiêu Coliform vượt giới hạn cho phép của quy chuẩn (không
được có) Trong tổng số 26 mẫu có Coliform không đạt, có 6 cơ sở có chỉ tiêu
Coliform cả 2 đợt đều không đạt theo quy chuẩn cho phép
Qua kết quả phân tích chất lượng nước dưới đất sử dụng để sản xuất NUĐC và NĐDL có thể thấy rằng nước dưới đất bị ô nhiễm hơn so với nguồn nước máy, đặc biệt là bị nhiễm Pecmanganat và các chỉ tiêu vi sinh E.coli, Coliform tổng số Sử dụng nước dưới đất để sản xuất NUĐC và NĐDL sẽ tiềm
ẩn nguy cơ cao về chất lượng sản phẩm không đạt, do vậy cần tăng cường hệ
Trang 18Kết quả phân tích nước sau xử lý đối chiếu với QCVN 6-1:2010/BYT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với nước khoáng thiên nhiên và nước uống đóng chai) cho thấy, tại thời điểm đoàn khảo sát lấy mẫu, tất cả các mẫu nước sau khi qua hệ thống xử lý được lấy mẫu phân tích có các chỉ tiêu kiểm tra đều nằm trong giới hạn cho phép của quy chuẩn
Kết quả này cho thấy nếu thiết bị sản xuất vận hành đảm bảo quy trình (Nước đầu vào → Khử kim loại → Lọc thô, khử mùi, màu → Làm mềm, khử khoáng → Lọc RO → Khử trùng) sẽ cho kết quả xử lý đạt yêu cầu Tuy vậy, trong quá trình sản xuất NUĐC, nếu vận hành hệ thống lọc không đảm bảo, không thay thế lõi lọc, màng lọc và vệ sinh hệ thống bể chứa, đường ống đúng định kỳ thì chất lượng sản phẩm vẫn không được đảm bảo
4.2.3 Đánh giá chất lượng sản phẩm nước uống đóng chai và nước đá dùng liền
a Đánh giá chất lượng sản phẩm nước uống đóng chai
* Chỉ tiêu hóa lý:
Theo quy định, nước đầu vào trước khi vào dây chuyền sản xuất NUĐC phải đảm bảo theo QCVN 01: 2009/BYT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống), sau đó, nước qua hệ thống xử lý và phải đạt theo QCVN 6-1:2010/BYT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với nước khoáng thiên nhiên
và nước uống đóng chai)
Đề tài đã kiểm chứng phân tích, đánh giá 4 chỉ tiêu hóa lý (Nitrat, Nitrit, Mangan, Asen) có trong nước đầu vào và trong nước sau xử lý (tại vị trí trí trước lúc chiết xuất vào bình 20 lít) với tần suất lấy mẫu 02 đợt (6 tháng/lần), tổng số mẫu là 90 mẫu Qua phân tích, 97,78% mẫu nước đầu vào (88/90 mẫu) có 4 chỉ tiêu Nitrat, Nitrit, Mangan, Asen đạt theo QCVN 01: 2009/BYT; 2,22%% mẫu không đạt theo quy chuẩn Sau khi qua hệ thống xử lý có 100% mẫu nước có các chỉ tiêu trên đều đạt theo quy chuẩn QCVN 6-1:2010/BYT Có thể thấy, cơ bản
hệ thống xử lý đạt hiệu quả trong xử lý các chỉ tiêu hóa lý và đảm bảo yêu cầu