1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng và phát triển của giống cà chua triển vọng tn386 vụ thu đông năm 2011 tại trường đại học nông lâm thái nguyên

54 1,1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng và phát triển của giống cà chua triển vọng TN386 vụ Thu Đông năm 2011 tại Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Trường học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Nghiên cứu cây trồng và kỹ thuật canh tác
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 778,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều giống cà chua mới đã được tạo ra có nhiều ưu điểm về năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu… Tuy nhiên, ngoài việc sử dụng giống mới năng suất cao cần phải áp dụng những biện

Trang 1

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Cà chua (Lycopercicon esculentum Mill.) là loại rau ăn quả được ưa

chuộng trên toàn thế giới Đây là nguồn thực phẩm cung cấp dinh dưỡng rất cần thiết cho sự phát triển của cơ thể con người như: -Caroten, chất khoáng

Ca, Fe, P, S, K, Mg, Na , đường và các loại vitamin A, B, B2, C, E và PP [10] Ngoài ra nú cũn có tác dụng chữa bệnh, nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học Lê Trần Đức, Đỗ Tất Lợi, (Edward Giovannucci, 1999; Giang

Hoảng Vinh, 2003, dẫn trong Thế Mậu, 2003) cho biết: chất Licopen - thành

phần tạo nên màu đỏ của cà chua có khả năng giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, có khả năng ngăn ngừa sự hình thành các gốc tự do gây ung thư, đặc biệt là ung thư tuyến tiền liệt [8], [10] [11] Cà chua tươi và sản phẩm chế biến còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế, góp phần nâng cao thu nhập

và cải thiện điều kiện kinh tế cho người sản xuất

Tuy mới có mặt ở Việt Nam từ hơn 100 năm nay nhưng do điều kiện ngoại cảnh thuận lợi kết hợp với hiệu quả kinh tế cao nên cây cà chua cũng khá phát triển ở nước ta, đặc biệt là ở các tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ Nhược điểm của việc sản xuất cà chua ở Việt Nam là: chủ yếu trồng trong một mùa vụ (vụ Đụng Xuõn) nờn xảy ra hiện tượng cà chua có thời điểm thì

dư thừa, giá rẻ, có thời điểm thì khan hiếm, chủ yếu phải nhập từ Trung Quốc, không đảm bảo độ an toàn vệ sinh thực phẩm, lại đắt đỏ Cộng thêm đặc điểm sản xuất nhỏ lẻ, chỉ tập trung ở một vài địa phương nên gây ra hiện tượng nơi thì rất nhiều, nơi thì thiếu cuối cùng là hiệu quả kinh tế không cao

Để nâng cao hiệu quả sử dụng cây cà chua thì trong những năm gần đây chúng ta đã tăng cường trồng cà chua trên nhiều chân đất khác nhau và đưa thờm cỏc vụ cà chua như Xuõn Hố, Thu Đông vào công thức luân canh Nhiều giống cà chua mới đã được tạo ra có nhiều ưu điểm về năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu… Tuy nhiên, ngoài việc sử dụng giống mới năng suất cao cần phải áp dụng những biện pháp kỹ thuật hợp lý vào sản xuất Giống tốt nhưng biện pháp kỹ thuật canh tác không phù hợp thì cũng chưa phát huy hết tiềm năng của giống Ngoài những biện pháp kỹ thuật như lựa chọn thời vụ phù hợp, chọn vùng sinh thái thích hợp, bón phân cân đối hợp

Trang 2

lý… thì việc lựa chọn mật độ gieo trồng thích hợp là một biện pháp có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng cà chua Xác định mật độ, khoảng cách gieo trồng hợp lý sẽ tạo mối tương quan tốt giữa các cá thể trong quần thể, tạo được chỉ số diện tích lá hợp lý, tránh được hiện tượng che khuất lá, làm tăng hiệu suất quang hợp, tăng khả năng tích lũy vật chất khụ… Vì vậy, phải căn cứ vào điều kiện của từng địa phương, đặc điểm sinh vật học của từng giống để tạo ra những mật độ thích hợp cho cà chua sinh trưởng và phát triển tốt nhất và cho năng suất cao nhất Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên

chúng em tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến

sinh trưởng và phát triển của giống cà chua triển vọng TN386 vụ Thu Đông năm 2011 tại trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên ”

1.2 Mục đích - yêu cầu

1.2.1 Mục đích

- Xác định được mật độ gieo trồng thích hợp nhất trong điều kiện Thu

Đông cho giống cà chua TN386 tại Thái Nguyên

1.2.2 Yêu cầu

- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của giống cà chua TN386 ở

các mật độ trồng khác nhau

- Đánh giá ảnh hưởng của các mật độ trồng khác nhau đến các yếu tố

cấu thành năng suất và năng suất của giống cà chua TN386 trong vụ Thu Đông năm 2011

- Đánh giá tình hình sâu bệnh của giống cà chua TN386 tại các mật độ

trồng khác nhau

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học:

Giúp sinh viên củng cố và hệ thống hóa kiến thức đã học trên lớp, vận dụng những kiến thức đã học vào sản xuất thực tiễn Qua việc thực tập giúp sinh viên tích lũy được kiến thức, nâng cao tay nghề và rèn luyện ý thức trách nhiệm của bản thân trong nghiên cứu khoa học và trong sản xuất thực tiễn sau này

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất

Nghiên cứu đề tài giúp tìm ra được mật độ trồng thích hợp nhất cho cà chua mới trong vụ Thu Đông tại thành phố Thái Nguyên

Trang 3

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học

Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu nhưng mấy năm gần đây nhờ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến, nhờ có sự chuyển hướng về kinh tế thị trường, sản xuất nông nghiệp thu được nhiều thành tích đáng kể Lương thực là vấn đề cơ bản của nước ta đã được giải quyết và người dân không phải lo lắng về an ninh lương thực, từ đó có điều kiện chủ động trong sản xuất và phát triển cây có giá trị kinh tế cao, trong đó có cây cà chua Trong những năm gần đây, diện tích trồng cà chua không ngừng gia tăng Nhờ áp dụng những tiến bộ khoa học nờn cỏc nhà khoa học đã đưa ra các giống cà chua có năng suất cao như: VL2004, VL2910, TN129, Tn386… bằng các con đường lai tạo, chọn lọc, nhập nội… và các biện pháp khác

Hiện nay ở nước ta, mật độ gieo trồng cà chua ở mỗi vùng là khác nhau Mật độ trồng thay đổi tùy theo từng giống, loại hình sinh trưởng và vùng sinh thái khác nhau Ở Miền Bắc, giống cà chua VT3 có thể trồng với mật độ 28.000 - 30.000 cõy/ha, ứng với khoảng cách trồng 70 x 45 - 50 cm (Nguyễn Tấn Hinh và cs, 2008)[9] Giống cà chua DT84 được trồng với mật

độ 31.000 - 35.000 cõy/ha ứng với khoảng cách trồng 70 x 40 - 45cm(Trần Khắc Thi và cs, 2003)[10] Giống cà chua hữu hạn và bán hữu hạn có thể trồng với khoảng cách 70 x 35 - 45cm, mật độ trồng 30.000 - 40.000 cõy/ha Đối với giống vô hạn như TN148, TN129 có thể trồng với khoảng cách 70 x 50cm, mật độ trồng 27.000 cây/ ha (Trần Khắc Thi và cs, 2003)[14] Tại khu vực Thái Nguyên giống TN129 có thể trồng với khoảng cách 70 x 40cm, mật

độ 35.714 cõy/ha (Nguyễn Thị Mão,2009)[10]

Việc tìm ra một mật độ thích hợp cho cây cà chua để phát huy hết tiềm năng cho năng suất cần phải trải qua một quá trình thí nghiệm cho từng giống

và từng vùng sinh thái Vì vậy, cần nhanh chóng xác định mật độ gieo trồng phù hợp nhất cho từng giống cà chua, ở từng vùng sinh thái nhất định để cà chua có thể sinh trưởng, phát triển tốt và phát huy tối đa tiềm năng năng suất của giống

Trang 4

2.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu cà chua trên thế giới

2.2.1 Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới

So với các cây trồng khỏc thỡ cây cà chua là cây trồng có lịch sử phát triển tương đối muộn Song với giá trị dinh dưỡng, hiệu quả kinh tế và khả năng thích nghi cao, dễ canh tác, cà chua được phát triển khá nhanh chóng và ngày càng được chú trọng Qua bảng số liệu thống kê tình hình sản xuất cà chua trên thế giới trong những năm gần đây chúng ta có thể thấy rõ điều này

Bảng 2.1: Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới trong những năm gần

đây 2005- 2010

(ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lƣợng (tấn)

Nguồn: FAOSTAT - FAO statistic Division, 2012 [17]

Qua bảng 2.1 ta thấy tình hình sản xuất cà chua trong những năm gần đây tăng giảm thất thường về diện tích nhưng không đáng kể Từ năm 2005 đến năm 2006 diện tích cà chua tăng từ 4.576.986 ha đến 4.638.985 ha, tăng 61.999 ha, từ năm 2006 cho đến năm 2010 thì diện tích cà chua lại giảm từ 4.638.985ha xuống còn 4.338.834 ha, giảm 300.151 ha Năng suất cà chua liên tục tăng từ năm 2005 đến năm 2009, từ 27,96 tấn/ha đến 34,68 tấn/ha, tuy nhiên từ năm 2009 đến năm 2010 thì năng suất cà chua giảm xuống nhưng không đáng kể, do thời tiết và tình hình sâu hại đã làm năng suất cà chua bị

Trang 5

giảm xuống Năm 2009 năng suất trung bình cao nhất đạt 34,68 tấn/ha và thấp nhất là năm 2004 chỉ đạt 27,96 tấn/ha

Do diện tích sản xuất cà chua tăng giảm không đáng kể, cộng thêm năng suất bình quân khá cao và ổn định nên hàng năm thế giới thu được sản lượng cà chua khá lớn, dao động từ 127.979.138 tấn năm 2004 đến 153.833.368 tấn năm 2009 So với năm 2004 thì đến năm 2009 sản lượng cà chua đã tăng lên xấp xỉ 26 triệu tấn Do năm 2010 gặp nhiều khó khăn trong sản xuất, nên mặc dù diện tích tăng lên, nhưng năng suất đạt được không cao dẫn tới sản lượng cà chua năm 2010 chỉ đạt được 145.751.507 tấn, giảm 8.081.861 tấn so với năm 2009 Nhìn lại những năm từ 1980 thì tổng sản lượng cà chua trên thế giới khi đó chỉ đạt 50,1 triệu tấn, trong đó châu Âu chiếm 29,1%, châu Á chiếm 23,6%, bắc và trung Mỹ chiếm 18,3%, châu Phi chiếm 10,2%, nam Mỹ chiếm 5,9% còn lại là các nước thuộc các khu vực khác Nhưng cho đến năm 2002 sản lượng cà chua đã tăng gấp đôi so với 20 năm trước đó (Trần Khắc Thi và cs 2003)[14] Theo tổ chức nông lương thế giới (FAO), năm 2009 diện tích trồng cà chua trên thế giới đạt hơn 4,4 triệu

ha, sản lượng đạt 153,83 triệu tấn, cao nhất từ trước tới nay

Bảng 2.2: Sản lượng cà chua của một số nước sản xuất cà chua lớn nhất

Ấn Độ 10.055,000 10.303,000 11.148,800 11.979,700 Italia 6.530,160 5.976,910 6.878,160 6.024,800

Trang 6

Qua bảng 2.2 ta thấy, trong các nước trồng cà chua trên thế giới thì Trung Quốc là nước đứng đầu cả về diện tích và sản lượng Trong vòng 4 năm từ năm 2007 đến năm 2010 Trung Quốc là nước có sản lượng cà chua cao nhất trong 11 nước đứng đầu thế giới, đồng thời sản lượng tăng liên tục từ 36,1 tấn/ha năm 2007 đến 45,4 triệu tấn năm 2009 Mỹ là nước có sản lượng

cà chua hàng năm đạt khá cao từ 12,7 đến 14,2 triệu tấn/năm Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn

Độ, Itali… có sản lượng cà chua hàng năm đạt thấp hơn Trung Quốc và Mỹ

Bảng 2.3: Diện tích, năng suất và sản lƣợng cà chua của các châu lục trên

thế giới năm 2010

(ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lƣợng (tấn)

Nguồn: FAO STAT Statistics Division 2012[17]

Qua bảng 2.3 ta thấy, châu Á là châu lục có sản lượng cà chua lớn nhất 81.812.011 tấn với diện tích 2.436.491 Sau đó mới tới châu Mỹ và các châu lục khác Mặc dù châu Phi có tổng diện tích trồng cà chua đứng thứ 2 sau châu Á, nhưng do năng suất thấp nhất 200.247 tạ/ha nên tổng sản lượng gần như là thấp nhất

Xét về mặt sản lượng, cà chua chiếm 1/6 tổng sản lượng rau hàng năm trên toàn thế giới và luôn đứng ở vị trí số một Qua đây có thể thấy cà chua có

vị trí quan trọng như thế nào Châu Á tuy là châu lục sản xuất cà chua nhiều nhất trên thế giới (chiếm 22%) nhưng hàng năm vẫn phải nhập khẩu trên 21 triệu tấn cà chua tươi, chiếm hơn 60% lượng cà chua nhập khẩu của toàn thế giới Đứng đầu trong các nước nhập khẩu cà chua là: Anh, Đức, Hà Lan… (Trần Khắc Thi và cs, 2003)[14] Do có giá trị kinh tế cao và khả năng thích nghi cao, dễ canh tác, cà chua nhanh chóng trở thành cây trồng được ưa

Trang 7

chuộng ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia thuộc châu Á

vì đây là khu vực có điều kiện khí hậu tương đối phù hợp cho cà chua sinh trưởng phát triển và cho năng suất cao Mặt khác, do khả năng tiêu thụ mặt hàng này là khá tốt với một thị trường rộng lớn và ổn định cây cà chua đã nhanh chóng trở thành một trong những cây trồng chính ở nhiều quốc gia trên thế giới

2.2.2 Tình hình nghiên cứu cà chua trên thế giới

Về tình hình nghiên cứu cà chua trên thế giới hiện nay vẫn chủ yếu tập trung về lĩnh vực chọn tạo giống có khả năng cho năng suất, chất lượng cao,

có khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận Các nhà khoa học đã sử dụng nguồn gen của các loài cà chua hoang dại và bán hoang dại, bằng nhiều con đường khác nhau như: lai tạo, chọn lọc, gây đột biến… để tạo ra các giống cà chua có nhiều đặc điểm như mong muốn

Ai Cập là một trong những quốc gia tiến hành nhiều nghiên cứu về cà chua và cũng là nước đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực chọn tạo giống Ngay từ giai đoạn từ năm 1977 đến năm 1984, Ai Cập đó cú cả một đề án quốc gia nhằm phát triển cây trồng có năng suất chất lượng cao, trong đó có những nghiên cứu về cà chua, cho ra đời nhiều giống cà chua có nguồn gốc từ

Mỹ như: Cal, Ace, Housney, Marmande VF, Pritchard, VFN- 8 và VFN- Bush với những đặc điểm tốt như quả to, năng suất, chất lượng cao Ngoài ra còn thu được một số giống khác như: Casstlex- 1017, Castrock, E- 6202, Peto- 86, UC- 82, UC- 97… có đặc điểm quả chắc, thịt quả dày, hạt ít Riêng giống VF- 45 và B- 7897 được coi là giống cải tiến vì vừa có khả năng cho năng suất cao, vừa có chất lượng tốt, các giống này đều thích hợp trồng trong thời vụ có nhiệt độ cao (Met Wally, 1996)[18] Để nghiên cứu đánh giá khả năng đậu quả của cà chua ở nền nhiệt độ cao, năm 1980 và năm 1981 các nhà khoa học Ai Cập đã tiến hành các thí nghiệm ngoài đồng ruộng để thử khả năng đậu quả của các giống Trong 15 giống cà chua tham gia thí nghiệm đều

là các giống có tỷ lệ đậu quả cao, năng suất chất lượng khá cao Ở nền nhiệt

độ cao chỉ có một số giống vẫn giữ được đặc tính của mình và tỏ ra nổi trội hơn hẳn dưới nền nhiệt độ cao đó là các giống Peto- 81, Peto- 86, UC- 82 và

Trang 8

Punjab churara Đây là các giống có khả năng thay thế rất tốt cho các giống cà chua chịu nhiệt đang được sử dụng rất nhiều ngoài sản xuất vào thời điểm đó Ngoài ra cũng lựa chọn được một số giống làm nguồn vật liệu cho chọn tạo giống theo hướng cà chua chịu nhiệt như giống N- 78, S- 296, Saladete… vì ở chỳng cú những đặc điểm có lợi như chất lượng đạt khá (Met Wally, 1996)[18]

Mỹ cũng là một nước mà công tác chọn tạo giống cà chua được tiến hành từ rất sớm và cho đến nay đã thu được rất nhiều thành tựu đáng kể Các nhà khoa học của trường đại học California đã chọn được những giống cà chua mới như: UC- 82, UC- 105, UC- 134, với những đặc điểm quý như quả cứng và hạn chế tối đa hiện tượng nứt quả (Tạ Thu Cúc và cs, 2003)[3] Bên cạnh việc chọn tạo giống mới thì công tác duy trì bảo tồn giống có được một nguồn gen phong phú, phục vụ tích cực cho công tác nghiên cứu Các giống

cà chua chịu nóng như: Gostoluto Genovese, Italian Paste, Oxheart… đều là những giống được tạo ra thông qua quá trình chọn lọc các giống cà chua cũ (Watso, 1996)[19]

Tại Pháp, công tác nghiờn cứu về cà chua chịu nhiệt cũng được các nhà khoa học nước này quan tâm, có lẽ là do nhu cầu sử dụng cà chua ngày càng cao của con người nên việc nghiên cứu tạo ra các giống cà chua chịu nhiệt để

có thể trồng vào những thời vụ có điều kiện trái vụ là hướng đi được nhiều quốc gia quan tâm Tại vùng Maritinique miền Tây nước Pháp các nhà khoa học đã tiến hành thí nghiệm trên 18 giống cà chua chịu nhiệt có nguồn gốc địa phương và nhập nội vào hai vụ hè thu năm 1986 và 1987 Kết quả thu được cho thấy các giống cà chua có tỷ lệ đậu quả cao đạt 60- 100% trong điều kiện nhiệt độ cao 27 - 320C và độ ẩm 90%

Ở khu vực châu Á và Đông Nam Á, các quốc gia gần chúng ta cũng đó

cú những công trình nghiên cứu, phát triển cà chua và cũng thu được những thành tựu khá rõ nét Cụ thể như Viện nghiên cứu và phát triển nông nghiệp Malaisia (MARDI) đã hợp tác với Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau đậu châu Á (AVRDC) và Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp nhiệt đới (TARC) ở Nhật Bản để xúc tiến chương trình cải tiến các giống cà chua có triển vọng, kết quả đã cho ra đời 6 dòng cà chua được đánh giá là có khả năng chịu nhiệt

Trang 9

và chống chịu bệnh héo xanh vi khuẩn (Pseudomonas solanacearum) tốt là

cỏc dũng MT1, MT2, MT3, MT5, MT6 và MT10

Trong nhiều năm qua, các chương trình chọn tạo giống ở trường Đại học nông nghiệp Philippin đã tập trung vào phát triển những giống cà chua có khả năng chống chịu sâu bệnh và đậu quả tốt trong điều kiện nhiệt độ cao Kết quả đã tạo ra giống như: Mariket, Maigaya và Marilay là các giống cà chua vừa có khả năng chống bệnh héo xanh vi khuẩn vừa có khả năng sinh trưởng tốt và có tỷ lệ đậu quả cao trong điều kiện nhiệt độ, ẩm độ cao của vùng khí hậu xích đạo và cận xích đạo

Trong thời gian hợp tác nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm với Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau đậu châu Á, Thái Lan đã giới thiệu được hai giống cà chua có khả năng chịu nhiệt cao là SVRDC4 và L22 Hai giống này được tuyển chọn và thử nghiệm tại hai trường Đại học Khon Khan và Chiang Mai, có khả năng thích nghi cao với điều kiện nóng của Thái Lan Chỳng đó nhanh chóng được đưa ra thử nghiệm tại nhiều vùng khác nhau của Thái Lan

và kết quả thu được rất khả quan

Năm 1994, cũng tại trường Đại học Kasetsart- Thái Lan các nhà khoa học đã tiến hành chọn lựa 15 giống cà chua, nhằm chọn ra giống có khả năng giảm thiểu hiện tượng nứt quả và chống bệnh virus trong điều kiện nhiệt độ cao Sau khi nghiên cứu và thử nghiệm các nhà khoa học đã chọn ra được hai giống cà chua là PT4225 và PT3027 Đây là hai giống đáp ứng tốt những mục tiêu đặt ra của quá trình nghiên cứu đó là cho năng suất cao (trên 53 tấn/ha), chất lượng tốt, chống được nứt quả và bệnh virus khi trồng trong điều kiện nhiệt độ cao của vùng khí hậu nhiệt đới

Khi đời sống của con người ngày càng được cải thiện thì nhu cầu đòi hỏi về chất lượng sản phẩm ngày càng cao Vì vậy, bên cạnh việc nghiên cứu tìm ra những giống cà chua năng suất cao, chống chịu tốt thì yếu tố chất lượng cũng được quan tâm trong nghiên cứu chọn lọc giống Năm 1986 tại Ba Lan, nhà khoa học Mikhalik và cộng sự đã tiến hành đánh giá chất lượng của một số dòng, giống cà chua, kết quả thu được có sự chênh lệch nhau khá lớn

về chỉ tiêu như hàm lượng vật chất khô và tỷ lệ đường/axit giữa các dòng giống tham gia đánh giá Trong rất nhiều dòng, giống tham gia đánh giá có

Trang 10

giống Pulawski và dòng PH- 1703 có hàm lượng vật chất khô cao nhất (51%)

Tỷ lệ đường/axit cao nhất là giống Pizemyslowy và dòng VF- 9212 (đạt 7/8)

Bằng các kỹ thuật gen các nhà nghiên cứu đã xác định và tách được một số gen có vai trò quan trọng trong quá trình sinh tổng hợp Etylen - một chất liên quan đến sự chín của quả Điều này cho phép có thể thu hoạch quả muộn hơn, khi đó sẽ được những hương vị cũng như phẩm chất quả tốt hơn (Trương Đích, 1999)[4]

Bên cạnh các thành tựu về gen, việc ứng dụng hiệu quả ưu thế lai vào

cà chua được phát triển mạnh ở thế kỷ 20 Hiện nay ưu thế lai được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất do con lai có những ưu điểm vượt trội so với bố mẹ như: chỉ số chín sớm, chất lượng, năng suất, độ đồng đều của quả cao, có khả năng chống chịu sâu bệnh hại và điều kiện bất thuận của môi trường tốt

2.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu cà chua ở Việt Nam

2.3.1 Tình hình sản xuất cà chua ở Việt Nam

Tại Việt Nam, cà chua chỉ mới được đưa vào trồng khoảng hơn 100 năm nay, như vậy so với thế giới lịch sử phát triển cà chua ở Việt Nam còn rất non trẻ Tuy vậy, cho đến nay cà chua đã nhanh chóng trở thành cây được trồng rộng rãi ở nhiều tỉnh thành trong cả nước Theo số liệu thống kê năm

2008 thì diện tích trồng cà chua của cả nước là 35.000 ha, tăng 27.491 ha so với năm 1996, năng suất đạt 10,57 tấn/ha, sản lượng đạt 370.000 tấn Với sản lượng như vậy tính bình quân nước ta chỉ đạt khoảng 4kg/người/năm, thấp hơn rất nhiều so với bình quân của thế giới Năng suất cà chua trung bình của Việt Nam chỉ đạt hơn 60% so với năng suất trung bình của thế giới Nguyên nhân dẫn tới năng suất bình quân của cả nước thấp là do đa số diện tích trồng

cà chua của Việt Nam là nhỏ lẻ và phân tán, do điều kiện đầu tư thâm canh, chuyên canh chưa cao cho nên năng suất cà chua không cao Các tỉnh thành

có điều kiện đầu tư thâm canh, chuyên canh cao đều đạt được năng suất cà chua khá cao (hơn 20 tấn/ha), không thua kém nhiều so với mức trung bình của thế giới Như vậy có thể thấy khả năng thâm canh, chuyên canh ảnh hưởng khá lớn đến năng suất cà chua Tuy vậy, khi so sánh với các nước trong khu vực như Thái Lan, Philippin… thì năng suất cà chua của Việt Nam

Trang 11

không hề thua kém, thậm chí còn cao hơn Điều đó chứng tỏ Việt Nam cũng

đã có rất nhiều cố gắng để nâng cao năng suất và chất lượng cà chua trong những năm qua

Trang 12

Bảng 2.4: Diện tích, năng suất và sản lƣợng cà chua của Việt Nam trong

những năm gần đây

(ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (tấn)

Nguồn: Vụ Nông nghiệp (Tổng cục thống kê), (1997 - 2010)

Qua bảng số liệu 2.4 cho thấy: giai đoạn từ 1999- 2000, diện tích, năng suất và sản lượng rất thấp Tuy nhiên, cả diện tích, năng suất và sản lượng vẫn

có chiều hướng tăng lên qua các năm Năm 1996 diện tích trồng cà chua của nước ta là 7.509,0 ha, đến năm 2000 đã tăng gấp đôi (13.729,0 ha) Mặc dù ở giai đoạn này năng suất không ổn định, song do diện tích tăng nhanh nên sản lượng thu được tăng đều qua các năm, năm 2000 sản lượng tăng 75,6% so với năm 1996 Theo số liệu 2.3, từ năm 2001 trở lại đây, diện tích, năng suất và sản lượng cà chua đều tăng hơn so với các năm trước Diện tích trồng cà chua năm

2004 tuy giảm nhẹ so với năm 2003, nhưng do năng suất đạt cao hơn năm 2004 nên sản lượng vẫn đạt khá cao (357.210,00 tấn) Năm 2005, diện tích cà chua là 23.566,0 ha, tăng xấp xỉ 10.000 ha so với năm 2001, năng suất trung bình đạt 197,80 tạ/ha, sản lượng đạt 466.124,00 tấn Sản lượng này đạt bình quân 4,0 kg/quả/người/năm, bằng 29% so với mức trung bình toàn thế giới Năm 2006,

Trang 13

mặc dù năng suất giảm đi một chút so với năm 2005 nhưng do diện tích tăng lên nên sản lượng vẫn đạt cao nhất (472.569,60 tấn) Từ năm 2007 - 2008 tuy diện tích cà chua của cả nước tăng lên nhiều (35.000 ha) nhưng do năng suất đạt thấp chỉ đạt 105,71 tạ/ha nên sản lượng đã giảm mạnh so với năm 2006 và chỉ đạt 370.000,00 tấn Năng suất cà chua nước ta tuy có tăng lên nhưng vẫn thấp hơn so với thế giới, mới chỉ bằng 72% so với năng suất chung toàn thế giới Tuy nhiên, nếu so với các nước trong khu vực như Thái Lan đạt 98 tạ/ha, Indonesia 79 tạ/ha thì năng suất cà chua của nước ta đạt khá cao

Ở nước ta cà chua được trồng ở các tỉnh phía Bắc, nhưng hiện nay vẫn tập trung lớn ở đồng bằng Sông Hồng như: Hải Dương, Bắc Ninh, Hà Tây, Nam Định,… chiếm trên 60% diện tích của cả nước Tại các tỉnh phía Nam cà chua được trồng nhiều ở các tỉnh như: Lâm Đồng, An Giang, TP Hồ Chí Minh, Bình Thuận với khoảng 400 ha trên mỗi tỉnh

Sản lượng cà chua ở Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển hơn nữa vì một số lý do sau:

- Việt Nam là nước có truyền thống canh tác nông nghiệp lâu đời,

những kinh nghiệm của người dân tích lũy trong sản xuất là một lợi thế

- Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có điều kiện đất đai

phù hợp với sinh trưởng và phát triển cây cà chua, đặc biệt là miền Bắc, nơi

có mùa đông lạnh thuận lợi cho sự phát triển của cà chua ở các tỉnh, từ đồng bằng tới trung du miền núi

- Nhờ có tiến bộ về công tác giống hiện nay cà chua được trồng gần

như quanh năm chỉ trừ tháng 7 - 9 dương lịch Trong thời kỳ hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, việc tự do giao lưu buôn bán giữa các nước thì cà chua càng thể hiện tiềm năng to lớn của chúng (Trần Khắc Thi, 2003)[13]

- Nhà nước ta đã và đang có chủ trương khuyến khích phát triển nông

nghiệp, phát triển mạnh các loại rau có khả năng chế biến trong đó cà chua là đối tượng được ưu tiên hàng đầu

- Nhiều nhà máy chế biến được xây dựng, đồng thời một loạt chính sách

hỗ trợ khuyến khích người nông dân nhằm tạo vùng nguyên liệu cho nhà máy

Trang 14

- Cỏc vùng trồng cà chua đều có nguồn lao động lớn, nông dân cần cù

chịu khó lại có kinh nghiệm canh tác lâu đời, giá công nhân rẻ nên giá thành cạnh tranh cao

Bên cạnh những thuận lợi thì sản xuất cà chua còn gặp nhiều khó khăn:

- Chưa có bộ giống tốt cho từng thời vụ trồng và từng vung sinh thái

- Cà chua được trồng trong điều kiện nóng ẩm nên có nhiều sâu bệnh hại

- Chưa có quy trình canh tác thích hợp cho từng vùng, mỗi vụ trồng và

các giống khác nhau Việc sản xuất còn manh mún chưa có sản phẩm hàng hóa lớn cho xuất khẩu và chế biến công nghiệp

- Hệ thống thông tin thị trường không đầy đủ, kinh nghiệm thương mại

và thị trường còn yếu Vì vậy giải quyết đầu ra cho sản phẩm chưa đáp ứng đầu ra cho người sản xuất

- Chất lượng sản phẩm thấp, không đồng đều, ít phù hợp với công

nghiệp chế biến và xuất khẩu cà chua tươi (Trần Khắc Thi, 2001)[13]

- Biến động về giá cả, trái vụ rất cao, chính vụ lại hạ thấp nhanh chóng,

đã làm cho sản phẩm ở thời kỳ cao điểm không còn thu hút nhất là khi năng suất thấp (Trần Khắc Thi, 2001) [13]

2.3.2 Tình hình nghiên cứu cà chua ở Việt Nam

Ở Việt Nam, những năm gần đây quá trình nghiên cứu và chọn tạo giống cà chua đã có nhiều thành công, các nhà khoa học đã chọn tạo ra được nhiều dòng, giống thích ứng được với điều kiện tự nhiên nước ta, chúng có khả năng cho năng suất và phẩm chất tốt

Nhờ thành tựu nghiên cứu chọn lọc, lai tạo giống nước ta đã tạo được các giống cà chua như: HP- 1, HP- 2, HP- 3… từ tập đoàn cà chua nhập nội của Nhật Bản, được tiến hành tại trại giống rau Hồng Phong- Hải Phòng Trong đó nổi trội hơn cả là giống HP- 5, với đặc điểm năng suất cao, khả năng chống chịu khá, tuy nhiên nhược điểm của giống này là khi chín vẫn có chỗ còn xanh

Tại trung tâm giống cây trồng Việt - Xô trong giai đoạn 1983- 1993 đã tiến hành chọn lọc giống cà chua từ tập đoàn các giống cà chua nhập nội Nghiên cứu thử nghiệm gần 400 mẫu giống, kết quả đã chọn được một số giống như: Raketa, Salut, Bogdanovski… với những ưu điểm là có khả năng

Trang 15

thích nghi cao với điều kiện nước ta, chín sớm, năng suất cao, chất lượng đạt khá và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt (Mai Thị Phương Anh và cs, 1996)[2]

Khi nghiên cứu tập đoàn giống cà chua các nhà khoa học đã đưa ra một

số nhận định ban đầu như sau: Các giống thuộc loại hình sinh trưởng hữu hạn thường chín sớm và chín tập trung hơn so với các giống thuộc loại hình sinh trưởng vô hạn Các giống có năng suất cao thường có số quả trung bình trờn cõy lớn hơn 10, khối lượng trung bình quả trên 70 gam/quả

Ở Việt Nam nguồn vật liệu khởi đầu cà chua được thu thập từ nhiều nguồn như nhập nội, các giống địa phương, các dạng cà chua dại và bán hoang dại… Những dạng này sẽ được chọn lọc và lai tạo với nhau nhằm thu được các giống tổng hợp, cú các tính trạng tốt để phục vụ sản xuất Các giống nhập nội thường có ưu điểm về năng suất, các giống địa phương thường có thế mạnh về chất lượng, cũn cỏc giống hoang dại và bán hoang dại thì thế mạnh chủ yếu là khả năng thích nghi và tính chống chịu cao Hàng năm các

cơ sở nghiên cứu đã lai tạo được hàng trăm cặp lai cà chua và chọn lọc hàng ngàn cá thể từ con lai của các cặp lai khác nhau Công sức của các nhà khoa học bỏ ra đã được đền đáp xứng đáng, nhiều giống cà chua mới đã được tạo ra

và được công nhận là giống quốc gia Nhiều giống đã được khu vực hóa và nhiều giống đang tiếp tục trong giai đoạn khảo nghiệm đánh giá (Trần Khắc Thi và cs, 2003)[14] Có thể nêu ra một số giống cà chua như:

Giống SB- 2: Là giống được Viện Khoa học Nông nghiệp Miền Nam chọn từ tổ hợp lai giữa Star x Ba Lan Cây thuộc loại hình sinh trưởng hữu hạn, thời gian sinh trưởng từ 100- 110 ngày Trong vụ Đụng Xuõn, khối lượng quả trung bình đạt 80- 100 gam, vụ Xuõn Hố khối lượng quả chỉ đạt 60- 80 gam Năng suất quả đạt cao, vụ Đụng Xuõn năng suất đạt 35- 40 tấn/ha Giống đã được hội đồng khoa học Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp Thực phẩm công nhận là giống quốc gia năm 1994 (Trương Đích, 1996)[6]

Giống Hồng Lan: Là giống được Viện cây Lương thực- Thực phẩm chọn lọc từ một dạng đột biến tự nhiên của giống cà chua Ba Lan trắng, được khu vực hóa năm 1994 Giống có đặc điểm thuộc loại hình sinh trưởng hữu hạn thích nghi khá rộng về thời vụ và khu vực trồng, quả to, khối lượng trung

Trang 16

bình quả 80- 100g, hình dáng màu sắc quả đẹp, và cho năng suất cao đạt 25-

30 tấn/ha Nhược điểm của giống là khi chín quả mềm, gây nhiều khó khăn trong vận chuyển xa, cây dễ bị nhiễm bệnh sương mai và xoăn lá virus, tuy nhiên ở mức độ nhẹ (Trương Đích, 1996) [6]

Giống CS- 1: Là giống do Trung tâm kỹ thuật Rau- Hoa- Quả Hà Nội chọn

từ quần thể cà chua được nhập nội ở Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau đậu châu Á Giống có thời gian sinh trưởng khoảng 120 ngày, ra hoa và chín tập trung Quả nhỏ xong chất lượng quả tốt, khối lượng trung bình quả 40- 50 gam/quả, quả chắc, vỏ quả dày Cây sinh trưởng mạnh, có khả năng chống chịu virus, rất thích hợp trồng ở vụ Đụng Xuõn và Xuõn Hố Năng suất vụ Xuõn Hố đạt 25- 30 tấn/ha,

ở vụ Đụng Xuõn năng suất có thể đạt 35- 40 tấn Giống đã được khảo nghiệm và khu vực hóa năm 1995 (Trương Đích, 1999) [6]

Giống cà chua Red Cown 250: Là giống được công ty giống cây trồng miền Nam nhập nội từ Đài Loan Đây là giống cà chua thuộc loại hình sinh trưởng vô hạn, cây sinh trưởng tốt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm, thích ứng với nhiều thời vụ, thích nghi với điều kiện khí hậu miền Nam Khối lượng quả trung bình khoảng 70- 80 gam, màu sắc quả đẹp, thịt quả dày, hạt ít, cứng quả, chịu được bảo quản và vận chuyển lâu dài (Trương Đích, 1999)[6]

Trong giai đoạn từ 1994 - 1997 Vũ Thị Tình và cộng sự đã tiến hành chọn lọc thành công giống cà chua chịu nhiệt VR- 2 từ tập đoàn 17 giống cà chua quả nhỏ được nhập nội từ Thái Lan, Đài Loan, Nhật Bản… Sau thời gian dài chọn lọc đã cho ra đời giống cà chua VR- 2 ổn định về năng suất, đồng đều về dạng cây Giống có thời gian sinh trưởng trung bình, năng suất cao và

ổn định, vụ Đụng Xuõn đạt 30 tấn/ha, vụ Xuõn Hố đạt 18- 23 tấn/ha Quả nhỏ, đều quả, thịt quả chắc, chất lượng tốt, chịu được vận chuyển và bảo quản lâu dài Đặc biệt có khả năng chịu nhiệt, chống chịu tốt với bệnh mốc sương

và virus, có thể trồng nhiều vụ trong năm (Trương Đích, 1999) [6]

Trong khuôn khổ một chương trình hợp tác nghiên cứu giữa Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau đậu châu Á, Viện nghiên cứu rau quả và trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội Các nhà khoa học đã tiến hành đánh giá và tuyển chọn giống cà chua có khả năng chịu bệnh héo xanh vi khuẩn Kết quả sau khi đánh giá 15 giống đã thu được các giống như: CHX- 1, CLN- 1462,

Trang 17

CLN- 1464, CLN- 5915… ngoài khả năng kháng bệnh héo xanh vi khuẩn cũn

cú một số đặc điểm khá tốt như khả năng sinh trưởng tốt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm của nước ta, tỷ lệ đậu quả tương đối cao và năng suất đạt khá Trong đó giống CHX- 1 đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho phép khu vực hóa năm 2002 (Trần Khắc Thi và cs, 2003)[14]

Trong chương trình phát triển cà chua chế biến, Viện nghiên cứu rau quả đã chọn ra giống cà chua PT- 18 từ nguồn vật liệu ban đầu là 180 mẫu giống nhập nội từ nước ngoài Giống này thuộc loại hình sinh trưởng hữu hạn, chiều cao cây trong vụ Đụng Xuõn đạt 80- 100cm, vụ Xuõn Hố là 90- 110cm Thân cây mập, lá màu xanh nhạt, tỷ lệ đậu quả khá cao, trọng lượng trung bình quả đạt 70- 75g/quả, số quả trờn cõy đạt cao từ 18- 25 quả/cõy, năng suất 25- 48 tấn/ha Giống cũng đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho phép khu vực hóa (Trần Khắc Thi và cs, 2003)[14]

Với mục tiêu chọn lọc giống cà chua có năng suất cao trên 30 tấn/ha, khối lượng quả trung bình lớn hơn 50g, có khả năng kháng một số bệnh trong điều kiện trồng trái vụ Trong giai đoạn 1997- 2002, các nhà khoa học đã tiến hành tuyển chọn các giống cà chua nhập từ Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau đậu châu Á Kết quả cho thấy đã thu được giống HX- 5 với thời gian sinh trưởng từ 130- 140 ngày, năng suất trong vụ Đụng Xuõn 45- 55 tấn/ha,

vụ Xuõn Hố 30- 40 tấn/ha, có khả năng chống chịu tốt với một số bệnh như: héo xanh vi khuẩn, đốm vũng… thích hợp trồng trái vụ trong điều kiện khí hậu miền Bắc nước ta Giống HX- 5 đã được khu vực hóa năm 2002

Trong một chương trình hội thảo gần đây về nghiên cứu và phát triển

cà chua ở Việt Nam, rất nhiều giống cà chua mới lần đầu tiên được đưa ra giới thiệu như: C50, C90 của Viện cây Lương Thực và Thực phẩm, các giống VL2000, VL2500, VL2910… do Công ty Giống cây trồng Hoa Sen giới thiệu Các giống này nhìn chung đều có nhiều đặc tính tốt về sinh trưởng, chống chịu, năng suất và chất lượng Bên cạnh đú cũn đáp ứng ngày càng cao hơn về khả năng chịu nhiệt, sinh trưởng thích nghi với trồng trái vụ trong điều kiện khí hậu miền Bắc nước ta

Qua các kết quả rất đáng khích lệ về tình hình nghiên cứu và phát triển

cà chua trong nước, chúng ta hoàn toàn tin tưởng trong tương lai không xa

Trang 18

việc nghiên cứu áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất cà chua nói riêng sẽ còn đạt được nhiều thành công hơn nữa, phục vụ tốt hơn cho sản xuất của nước ta Hướng nghiên cứu cà chua trong những năm tới vẫn là tập trung vào chọn tạo các giống cà chua năng suất cao phục vụ công nghiệp chế biến và các giống cà chua chịu nhiệt để phục vụ sản xuất cà chua trái vụ

2.4 Nghiên cứu về điều kiện ngoại cảnh và các biện pháp kỹ thuật

2.4.1 Nhiệt độ

Cà chua là cây trồng ưa khí hậu ấm áp, ưa nhiệt, đó là một trong những điều kiện cơ bản để có được năng suất, sản lượng cao và cho thu hoạch sớm thì ta cần tạo một chế độ nhiệt độ tối thích cho cà chua sinh trưởng, phát triển tốt Cây cà chua sinh trưởng bình thường ở nhiệt độ 15- 300C, nhiệt độ thích hợp cho cà chua là 22- 240C Hạt bắt đầu nảy mầm ở nhiệt độ 15- 180C nhưng tốt nhất là 25- 300C Nhiệt độ thích hợp cho quá trình phân hóa và hình thành hoa với nhiệt độ ban ngày là 20- 250

C, nhiệt độ ban đêm là 13- 150C, nhiệt độ

< 1200C và > 270C kéo dài thì sẽ hạn chế sự sinh trưởng, ra hoa và đậu quả Nhiệt độ > 380C làm cho các tế bào phôi và hạt phấn chết sẽ làm giảm tỷ lệ đậu quả Quả cà chua phát triển ở nhiệt độ 20- 220C, các sắc tố hình thành quả

ở nhiệt độ 18- 220C, qủa chín ở nhiệt độ 300

C

Cường độ ánh sáng cho cà chua sinh trưởng, phát triển từ 4000- 10000lux, cường độ tối thiểu để cây tăng trưởng là từ 2000- 3000 lux Ở giai đoạn đầu của thời kỳ ra hoa cần đảm bảo chế độ chiếu sáng từ 9- 10 giờ/ngày

Cà chua được chiếu sáng đầy đủ thỡ cõy sinh trưởng, phát triển, ra hoa, kết quả tốt và cho năng suất, chất lượng cao Nếu thiếu ánh sáng thỡ cõy sinh trưởng yếu, ra hoa, kết quả kém và cho năng suất thấp

Trang 19

cây cần 6000m3

nước Hạt cà chua cần lượng nước từ 325- 364% để nảy mầm và

độ ẩm đất thích hợp cho hạt cà chua nảy mầm là 60- 70%, độ ẩm không khí là 45- 55%

Nếu đất quỏ khụ thỡ lỏ bị xoăn lại, hoa và quả non dễ bị rụng Tuy nhiên, độ ẩm càng cao hoặc ngập nước kéo dài sẽ làm giảm khả năng sinh trưởng, phát triển của cà chua Nếu độ ẩm không khí quá cao ở thời kỳ nở hoa

sẽ làm ống phấn bị trương, bao phấn nứt, thụ phấn thụ tinh kém, hoa dễ rụng

2.4.3 Đất và chất dinh dưỡng

2.4.3.1 Đất

Cà chua có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau từ đất pha cát đến đất thịt nặng nhưng thích hợp nhất là trên đất pha cát, nhiều chất mùn hay đất phù sa, đất bồi giữ ẩm và thoát nước tốt, chứa tối thiểu là 1,5% chất hữu cơ,

cà chua thích hợp trồng trên đất có độ pH= 5,5- 6,5 Đất chua hơn thì cần phải bún thờm vụi

Cà chua yêu cầu chế độ luân canh nghiêm ngặt, không nên trồng cà chua trên loại đất mà cây trồng vụ trước là những cây họ cà như: khoai tây, cà tớm… cà chua được trồng tốt nhất trên đất trồng lúa, sau vụ cải bắp, hành tõy…

Lượng phân bón cho 1 ha cà chua là 25 tấn phân chuồng, 120 kg N,

100 kg P2O5, 150 kg K2O

- Đạm: Đạm ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và cho năng suất của

cây Cà chua yêu cầu nhiều đạm vào giai đoạn ra hoa, kết quả Thiếu đạm hoa

cà chua dễ bị rụng, quả nhỏ trong điều kiện gặp nhiệt độ cao Nếu thừa đạm thỡ cõy mọc vống lên yếu ớt, tỷ lệ đậu quả thấp, kích cỡ quả, thời gian bảo

Trang 20

quản, màu sắc quả giảm Khi sử dụng lượng đạm hợp lý thỡ cõy sinh trưởng khỏe, mập mạp, đó là điều kiện thuận lợi cho năng suất cao

Giai đoạn đầu cây cà chua cần rất ít đạm Khi cõy hỳt 80- 100 kg N thì

có thể đạt 25 tấn quả, trong tháng đầu cây chỉ hút 3,5- 4,5 kg N, đến tháng thứ

2 cõy hỳt khoảng 23- 28 kg N, vì thế khi bón đạm cho cây chúng ta cần chia

ra làm nhiều đợt bón khác nhau và mức bón tùy thuộc vào từng giai đoạn sinh trưởng của cây

- Lõn: Lõn cú vai trò then chốt trong việc cung cấp năng lượng cho sự

trao đổi chất, cần cho sự phát triển của hệ rễ, nhất là giai đoạn cây con và có tác dụng xúc tiến tăng kích thước quả khi được cung cấp lân đầy đủ Thời kỳ đầu sinh trưởng, cây cà chua rất mẫn cảm khi thiếu lân do vậy giai đoạn đầu cần bún lõn cho cây ở dạng dễ tiêu để xúc tiến việc ra rễ đồng thời tăng khả năng hút nước và chất dinh dưỡng Cây được bún lõn đầy đủ sẽ nở hoa và quả chín sớm, chất lượng quả tốt hơn và lõn cũn tăng cường hoạt động của Xitokinin

- Kali: Kali cần cho quá trình đồng hóa CO2 trong khí quyển để tạo gluxit, đồng thời hạn chế sự phát triển của sâu bệnh hại Kali có vai trog quan trọng trong việc hình thành quả, đất bón đủ kali quả nhẵn, bóng, thịt quả chắc Ngoài

ra, kali còn có tác dụng làm tăng lượng carotene và giảm lượng clorophin đặc biệt là sắc tố đỏ lycopen và tăng hàm lượng đường tổng số, vitamin C

Bón cân đối đạm- kali là yếu tố quan trọng hàng đầu trong dinh dưỡng của cà chua Bón cân đối đạm- kali có thể làm tăng năng suất quả cà chua 39- 88% với hiệu suất 1kg K2O tạo ra 89- 127 kg quả cà chua trên đất bạc màu

Trên đất xỏm, bún cân đối đạm- kali làm tăng năng suất cà chua 9 - 11% (Mai Thị Phương Anh và cs, 1996)[2]

Cà chua đòi hỏi nhiều kali, nhất là giai đoạn cây đang cho quả Theo Geraldson (1957), để đạt 60 tấn quả/ha cần cung cấp 320 kgN + 50 kgP2O5 +

440 kgK2O Còn theo Kuo (1998) thỡ bún cho cà chua sinh trưởng vô hạn:

Trang 21

Nguyên tố dinh dưỡng trung lượng (Ca, Mg): Mỗi nguyên tố có một vai trò khác nhau đối với cà chua Ca là thành phần của màng tế bào giúp tế bào duy trì thêm, điều hòa độ bazơ tạo điều kiện để cây trồng hấp thu các nguyên

tố khác Nếu thiếu Ca cây sẽ bị hộo, lỏ có đốm màu vàng xám sau đó héo vàng và rụng Mg có trong thành phần của diệp lục, nếu thiếu Mg sẽ ảnh hưởng đến quá trình quang hợp

Nguyên tố dinh dưỡng vi lượng: Bo, Mn, S, Cu, Zn… trong đó Bo, Mn

và Zn là các nguyên tố quan trọng, đặc biệt Bo có vai trò lớn trong việc hạn chế rụng hoa, rụng quả Bo thúc đẩy việc hút Ca của cõy, bún Bo vào thời kỳ cây sắp ra hoa làm tăng tỷ lệ đậu quả Thiếu Bo bộ lá phát triển kém, chồi đỉnh dễ bị thối, quả bị biến dạng

Vì vậy, việc cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho cây cà chua là yếu tố

có tính chất quyết định năng suất và chất lượng cà chua

2.4.4 Các nghiên cứu về mật độ

Về khoảng cách trồng cà chua tác giả Tạ Thu Cỳc đó nghiên cứu và cho rằng, những giống thuộc loại hình sinh trưởng vô hạn có cành lá xum xuờ, phõn cành mạnh phải trồng thưa hơn 2 loại hình còn lại [4]

Theo Trần Khắc Thi và cs thì cà chua có thể phát triển phù hợp với khoảng cách 0,7 x 0,4 m (mật độ 3,5 - 4,0 vạn cõy/ha)[14] Theo Đào Xuân Thảng, Dương Kim Thoa và cs thì giống VT3, PT18 (hữu hạn, bán hữu hạn) có thể trồng với mật độ 3,1- 4,0 vạn cõy/ha Khoảng cách 75 x 40cm hay 70 x 40 -

45 cm là tốt nhất Giống vô hạn như TN148, TN129 trồng với khoảng cách 70

x 50 cm, mật độ 2,8 vạn cõy/ha Tác giả Trần Khắc Thi và cs cho rằng, ở Việt Nam để cà chua có năng suất cao nên trồng với mật độ 3,2 - 4,0 vạn cõy/ha Hiện nay trong sản xuất thường áp dụng các mật độ khoảng cách sau:

Đối với giống vô hạn: 70 x 40cm (3,2 vạn cõy/ha)

Đối với giống hữu hạn: 70 x 35cm (3,5 vạn cõy/ha)

Đối với giống hữu hạn vụ sớm: 70 x 30cm (4,0 vạn cõy/ha)

Ở Miền Nam các chua múi trồng với khoảng cách hai hàng trên luống cách nhau 70 - 80cm, cây trồng cách nhau 40 - 50cm (mật độ 30 - 32 nghỡn cõy/ha) Cà chua hồng trồng hàng cách nhau 70cm, trên cùng hàng cách nhau

Trang 22

Phần 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.2 Vật liệu nghiên cứu

- Giống cà chua triển vọng TN386 thuộc loại hình sinh trưởng vô hạn

có nguồn gốc từ Thái Lan, được Công ty Trang Nông nhập khẩu và phân phối

- Phõn bún: Phõn urờ (46.6%), Supe lõn Lõm Thao (16.5%), Kali clorua (60%), phân hữu cơ hoai mục

- Điều kiện đất làm thí nghiệm: Thí nghiệm được triển khai trên đất nghèo dinh dưỡng, nền đất thấp tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

- Thời gian: vụ Thu Đông năm 2011

- Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm gồm 5 công thức được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) với 3 lần nhắc lại

- Diện tớch ô thí nghiệm: 1.2m x 6m = 7.2m2 (cả rãnh)

- Diện tích toàn ô thí nghiệm: 1,2m x 6m x 3 x 5 = 108 m2

- Các công thức thí nghiệm:

Trang 23

+ Đợt 3: Khi cây ra quả rộ: 30%N + 30%K

+ Đợt 4: Sau khi thu quả đợt 1: Bón nốt số còn lại

- Chăm sóc: Theo quy trình kỹ thuật trồng cà chua sạch

3.3.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

Thí nghiệm được theo dõi theo quy phạm khảo nghiệm giá trị canh tác

và sử dụng giống cà chua (VCU) của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (số 10 TCN 219 - 2006)

 Thời kỳ vườn ươm:

 Các chỉ tiêu nghiên cứu sau trồng:

- Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển: Từ trồng đến… (ngày) + Ngày ra hoa: là ngày có khoảng 50% số cõy trờn ụ có hoa đầu

+ Ngày đậu quả: là ngày có 50% số cõy trờn ụ có quả đậu

+ Ngày thu quả đợt 1: là ngày có khoảng 50% số cõy trờn ụ có quả chín có thể thu hoạch

Trang 24

+ Ngày kết thúc thu hoạch: là ngày cú trờn 3/4 số cõy trờn ụ đó thu hết quả thương phẩm

+ Thời gian sinh trưởng: tính số ngày từ gieo hạt đến kết thúc thu hoạch

- Các chỉ tiêu sinh trưởng:

+ Động thái tăng trưởng chiều cao cây và chiều cao cây cuối cùng (cm) (đo từ cổ rễ đến đỉnh sinh trưởng) Đo 5 cõy trờn 1 lần nhắc lại/cụng thức, cứ 7ngày/1lần

+ Động thái ra lá và số lỏ trờn thân chính Đếm số lá thật từ gốc đến đỉnh có lá nhỏ nhất từ 2cm trở lên: đo, đếm 5cây/1 lần nhắc lại/cụng thức, cứ

7 ngày/1 lần

- Tỷ lệ đậu quả:

+ Tổng số hoa/ thân chính và trên cành cấp I

+ Tổng số quả đậu/ thân chính và trên cành cấp I

+ Tỷ lệ đậu quả = tổng số quả đậu/tổng số hoa trờn cõy x 100(%)

- Tình hình sâu bệnh hại: Theo dõi 15cõy/cụng thức/3 lần nhắc lại Phương pháp điều tra bệnh hại

+ Đối với bệnh xoăn lá và héo rũ: Theo dõi tổng số cây bị bệnh trờn ụ khi xuất hiện bệnh

Chỉ tiêu đánh giá:

Tỷ lệ bệnh (%) = Error!x 100

Sâu hại: Gồm sâu xanh ăn lá và sâu đục quả

Phương pháp điều tra sâu hại: Áp dụng phương pháp 5 điểm đường chéo gúc, trờn 1 lần nhắc lại điều tra 5 điểm, mỗi điểm 1 cây, quan sát các bộ phận của cây gồm: thõn, lỏ, nụ, hoa, quả kể cả các nụ hoa, quả bị rụng xuống gốc cây Đếm số nụ, hoa, quả bị rụng xuống cũng như cũn trờn cõy có triệu chứng bị sâu hại để xác định tỷ lệ hại Đồng thời đếm số lượng sõu trờn cỏc bộ phận của cây, thu và bổ những quả bị hại để xác định số lượng sâu nằm trong quả Chỉ tiêu đánh giá:

Tỷ lệ hại (%) = Error! x 100

Mật độ sõu (con/cõy) = Error!

Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

Yếu tố hình thành năng suất được tính như sau:

Trang 25

Số quả TB/cây = Error!

Khối lượng trung bỡnh/quả = Error!

Năng suất lý thuyết = khối lượng trung bỡnh/quả x số quả trung bỡnh/cõy x mật độ trồng (tấn/ha)

Năng suất thực thu = khối lượng quả thực thu/ụ thí nghiệm

3.4 Xử lý thống kê sinh học

- Số liệu được xử lý bằng chương trình IRRSTAT trên máy vi tính

- Đồ thị được vẽ bằng chương trình Excel 5.0

Trang 26

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đặc điểm thời tiết khí hậu của tỉnh Thái Nguyên vụ Thu Đông năm 2011

Tất cả các loại cây trồng đều chịu sự tác động trực tiếp của các yếu tố thời tiết như: nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa… Do vậy, khi tiến hành thí nghiệm ngoài đồng ruộng chúng ta cần phải theo dõi và thu thập số liệu về diễn biến thời tiết khí hậu để phân tích, đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố thời tiết khí hậu đến sự sinh trưởng phát triển và năng suất cây trồng Đặc điểm thời tiết khí hậu trong thời gian tiến hành thí nghiệm vụ Thu Đông 2011 được thể hiện qua bảng 4.1

Bảng 4.1: Diễn biến tình hình thời tiết khí hậu trong vụ Thu Đông 2011

tại Thái Nguyên Tháng Nhiệt độ TB

( 0 C)

Độ ẩm TB (%)

Tổng số giờ nắng (giờ)

Tổng lƣợng mƣa (mm)

Nguồn: Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Thái Nguyên , 2011

Qua bảng 4.1 ta thấy nhiệt độ trung bình của cỏc thỏng giảm dần từ tháng 7 cho đến tháng 12 năm 2011 (từ 29,50C giảm xuống còn 16,80C) Đối chiếu với các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cà chua thì giai đoạn vườn ươm có nhiệt độ tối thích cho hạt cà chua nảy mầm 29,50C, nhiệt độ tối thích ở giai đoạn này mầm của cà chua là 25- 300C, ở nhiệt độ này làm cho hạt cà chua nảy mầm nhanh, thúc đẩy quá trình sinh trưởng của cây con một cách thuận lợi, là tiền đề cho năng suất và chất lượng của cà chua sau này Từ tháng 8 đến tháng 9 nhiệt độ trung bình giảm dần từ 28,50C xuống còn 27,10C, đây là giai đoạn cây con được đưa ra ruộng sản xuất đến giai đoạn ra hoa đậu quả Cà chua nở hoa ở nhiệt độ cao 20- 250C, và cà chua sinh trưởng thuõn lợi ở nhiệt độ >150C, nhìn vào bảng thống kê ta thấy nhiệt độ từ tháng

Trang 27

10 cho đến tháng 12 đều >150

C (24 -16,80C) Như vậy có thể kết luận rằng nhiệt độ từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2011 phù hợp tới sự sinh trưởng và phát triển của cây cà chua

Độ ẩm: Ẩm độ không khí trong thời gian tiến hành thí nghiệm đạt từ 68- 83%, với ẩm độ không khí như vậy là rất phù hợp để cây con nhanh chóng hồi xanh cũng như sinh trưởng thuận lợi sau khi trồng Tuy nhiên, với

độ ẩm không khí cao như vậy trong thời kì nở hoa sẽ làm cho ống phấn bị trương, bao phấn nứt, thụ tinh thụ phấn sẽ gặp khó khăn, hoa hay bị rụng và cũng là điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh phát sinh, phát triển và gây hại

Lượng mưa: Đây cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng khá lớn tới sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây cà chua Tháng 7 và tháng

8 lượng mưa là 144- 268 mm, vì thời gian này cà chua đang ở trong vườn ươm, nên lượng mưa không ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây Từ tháng 9 cho đến tháng 12 là thời gian cà chua sinh trưởng và phát triển ngoài đồng ruộng, lượng mưa tháng 9 đạt 284,7mm do có mưa to liên tục, cộng thêm hệ thống kênh mương nơi tiến hành thí nghiệm không tốt, nên hiện tượng ruộng

bị ngập úng thường diễn ra, gây ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây con khi đem ra trồng Từ tháng 10 cho đến tháng 12 lượng mưa giảm nhanh

rõ rệt từ 103.8mm xuống còn 5,2mm đây là giai đoạn cây bắt đầu ra hoa kết trái, lượng mưa ở giai đoạn này là không đáp ứng đủ so với nhu cầu của cà chua, vì vậy cần có biện pháp tưới tiêu cho cây cà chua một cách họp lý, để

có năng suất cao và chất lượng quả tốt

4.2 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của giống cà chua TN386 vụ Thu Đông năm 2011

4.2.1 Thời kỳ vườn ươm

Đối với các loại rau nói chung và với cà chua nói riêng, giai đoạn vườn ươm tuy ngắn nhưng đóng vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng lớn tới sự sinh trưởng của cây trong các giai đoạn tiếp theo Cây con trong giai đoạn vườn ươm khỏe mạnh, sạch sâu bệnh sẽ là điều kiện rất tốt để cây sinh trưởng, phát triển thuận lợi và cho năng suất cao khi được đưa ra ruộng sản xuất vì vậy, muốn có cây con khỏe mạnh, sạch sâu bệnh để phục vụ sản xuất thì phải quan tâm chăm sóc ngay từ giai đoạn đầu khi cây con ở trong vườn ươm

Ngày đăng: 22/05/2014, 19:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới trong những năm gần - nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng và phát triển của giống cà chua triển vọng tn386 vụ thu đông năm 2011 tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 2.1 Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới trong những năm gần (Trang 4)
Bảng 2.3: Diện tích, năng suất và sản lƣợng cà chua của các châu lục trên - nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng và phát triển của giống cà chua triển vọng tn386 vụ thu đông năm 2011 tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 2.3 Diện tích, năng suất và sản lƣợng cà chua của các châu lục trên (Trang 6)
Bảng 2.4: Diện tích, năng suất và sản lƣợng cà chua của Việt Nam trong - nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng và phát triển của giống cà chua triển vọng tn386 vụ thu đông năm 2011 tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 2.4 Diện tích, năng suất và sản lƣợng cà chua của Việt Nam trong (Trang 12)
Bảng 4.2: Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của giống cà chua - nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng và phát triển của giống cà chua triển vọng tn386 vụ thu đông năm 2011 tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.2 Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của giống cà chua (Trang 29)
Hình 4.1. Đồ thị biểu diễn động thái tăng trưởng chiều cao cây - nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng và phát triển của giống cà chua triển vọng tn386 vụ thu đông năm 2011 tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Hình 4.1. Đồ thị biểu diễn động thái tăng trưởng chiều cao cây (Trang 31)
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tốc độ tăng trưởng chiều cao - nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng và phát triển của giống cà chua triển vọng tn386 vụ thu đông năm 2011 tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tốc độ tăng trưởng chiều cao (Trang 32)
Hình 4.2. Biểu đồ biểu diễn tốc độ tăng trường chiều cao cây - nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng và phát triển của giống cà chua triển vọng tn386 vụ thu đông năm 2011 tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Hình 4.2. Biểu đồ biểu diễn tốc độ tăng trường chiều cao cây (Trang 33)
Bảng 4.5: Động thái ra lỏ trờn thân chính của giống cà chua TN386 ở các - nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng và phát triển của giống cà chua triển vọng tn386 vụ thu đông năm 2011 tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.5 Động thái ra lỏ trờn thân chính của giống cà chua TN386 ở các (Trang 34)
Hình 4.3: Đồ thị biển diễn động thái ra lỏ trờn thân chính - nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng và phát triển của giống cà chua triển vọng tn386 vụ thu đông năm 2011 tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Hình 4.3 Đồ thị biển diễn động thái ra lỏ trờn thân chính (Trang 35)
Bảng 4.6: Tốc độ ra lá của cây cà chua qua các kỳ theo dõi của các mật - nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng và phát triển của giống cà chua triển vọng tn386 vụ thu đông năm 2011 tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.6 Tốc độ ra lá của cây cà chua qua các kỳ theo dõi của các mật (Trang 35)
Hình 4.4. Biểu đồ biểu diễn tốc độ ra lá của cây cà chua qua các kỳ theo - nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng và phát triển của giống cà chua triển vọng tn386 vụ thu đông năm 2011 tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Hình 4.4. Biểu đồ biểu diễn tốc độ ra lá của cây cà chua qua các kỳ theo (Trang 36)
Bảng 4.7: Mức độ gây hại của một số sâu, bệnh hại chính của giống cà - nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng và phát triển của giống cà chua triển vọng tn386 vụ thu đông năm 2011 tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.7 Mức độ gây hại của một số sâu, bệnh hại chính của giống cà (Trang 37)
Bảng 4.8: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng đậu quả của giống - nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng và phát triển của giống cà chua triển vọng tn386 vụ thu đông năm 2011 tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng đậu quả của giống (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w