1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bctk So Tnmt_Final _Nghiên Cứu Quản Lý Việc Sử Dụng Đất Nông.pdf

195 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Quản Lý Việc Sử Dụng Đất Nông Nghiệp Hiệu Quả Trên Địa Bàn Huyện Chi Lăng Và Hữu Lũng Phục Vụ Tái Cơ Cấu Ngành Nông Nghiệp Gắn Với Xây Dựng Nông Thôn Mới
Tác giả Trần Quang Trung
Người hướng dẫn ThS. Bùi Văn Côi
Trường học Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Lạng Sơn
Chuyên ngành Quản Lý Tài Nguyên Môi Trường
Thể loại báo cáo tổng hợp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Lạng Sơn
Định dạng
Số trang 195
Dung lượng 3,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU (19)
    • 1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước (19)
    • 1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước (22)
  • CHƯƠNG 2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI; TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN CHI LĂNG VÀ HUYỆN HỮU LŨNG (26)
    • 2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Chi Lăng (26)
    • 2.2. Tình hình sản xuất nông nghiệp tại huyện Chi Lăng (36)
    • 2.3. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Hữu Lũng (44)
    • 2.4. Tình hình sản xuất nông nghiệp tại huyện Hữu Lũng (57)
  • CHƯƠNG 3. ĐẶC ĐIỂM VÀ TÍNH CHẤT ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN (62)
    • 3.1. Tính chất vật lý của đất sản xuất nông nghiệp huyện Chi Lăng và huyện Hữu Lũng (69)
    • 3.2. Tính chất hoá học của đất sản xuất nông nghiệp huyện Chi Lăng và huyện Hữu Lũng (72)
    • 3.3. Hàm lượng kim loại nặng trong đất sản xuất nông nghiệp huyện Chi Lăng và huyện Hữu Lũng (79)
    • 3.4. Nhận xét chung về chất lượng đất trên địa bàn huyện Hữu Lũng và huyện Chi Lăng (80)
  • CHƯƠNG 4. THỰC TRẠNG TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP GẮN VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHI LĂNG VÀ HUYỆN HỮU LŨNG (82)
    • 4.1. Thực trạng thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới của huyện Chi Lăng (82)
    • 4.2. Thực trạng thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới của huyện Hữu Lũng (91)
  • CHƯƠNG 5. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHI LĂNG VÀ HỮU LŨNG PHỤC VỤ TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP GẮN VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI (99)
    • 5.1. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Chi Lăng (99)
    • 5.2. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Hữu Lũng (106)
    • 5.3. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại huyện Chi Lăng và huyện Hữu Lũng (114)
  • CHƯƠNG 6. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VIỆC SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN CHI LĂNG VÀ HUYỆN HỮU LŨNG (140)
    • 6.1. Thực trạng quản lý đất nông nghiệp của huyện Chi Lăng (140)
    • 6.2. Thực trạng quản lý đất nông nghiệp của huyện Hữu Lũng (144)
    • 6.3. Những khó khăn, tồn tại trong công tác quản lý sử dụng đất của hai huyện và nguyên nhân (153)
  • CHƯƠNG 7. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VIỆC SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP PHỤC VỤ TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP GẮN VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI (155)
    • 7.1. Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách (155)
    • 7.2. Nhóm giải pháp về tổ chức, quản lý (160)
    • 7.3. Nhóm giải pháp về khoa học công nghệ (168)
    • 7.4. Nhóm các giải pháp bảo vệ chất lượng đất (169)
  • CHƯƠNG 8. XÂY DỰNG BẢN ĐỒ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP, BẢN ĐỒ ĐỀ XUẤT SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN CHI LĂNG VÀ HUYỆN HỮU LŨNG GIAI ĐOẠN 2020 - 2025 HUYỆN CHI LĂNG VÀ HUYỆN HỮU LŨNG, TỶ LỆ 1/25.000 (175)
    • 8.1. Xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Chi Lăng và huyện Hữu Lũng, tỷ lệ 1/25.000 (175)
    • 8.2. Bản đồ đề xuất sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Chi Lăng và huyện Hữu Lũng giai đoạn 2020 - 2025, tỷ lệ 1/25.000 (178)
  • Kết luận (181)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (183)
  • PHỤ LỤC (192)

Nội dung

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TỈNH ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ VIỆC SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP HIỆU QUẢ TR[.]

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước

Theo Lin Kuo-Ching (1994), khoảng 20 đến 25% nguyên nhân giảm diện tích đất canh tác ở Trung Quốc là do chuyển đổi thành vườn cây ăn quả và ao cá Các yếu tố như xói mòn đất và sa mạc hóa cũng góp phần làm giảm năng suất đất nông nghiệp Nghiên cứu nhấn mạnh rằng sự phân bổ đất không hiệu quả và chuyển đổi đất nông nghiệp thành đất đô thị đang đe dọa an ninh lương thực của Trung Quốc Đặc biệt, việc chuyển đổi này tập trung ở các khu vực sản xuất nông nghiệp hiệu quả nhất, như các tỉnh ven biển với đất đai màu mỡ và khí hậu thuận lợi Đô thị hóa, công nghiệp hóa, phát triển cơ sở hạ tầng và sử dụng đất cho mục đích phi nông nghiệp là những nguyên nhân chính dẫn đến mất đất nông nghiệp ở các tỉnh công nghiệp hóa nhanh chóng.

Theo nghiên cứu của FAO (2010), việc sử dụng phân bón và đất nông nghiệp đang gặp nhiều thách thức, đặc biệt ở các nước đang phát triển, nơi an ninh lương thực và thu nhập từ xuất khẩu thường được ưu tiên hơn bảo tồn môi trường Việc khai thác đất nông nghiệp quá mức và sử dụng hóa chất nhiều đã dẫn đến nguy cơ thoái hóa đất và ô nhiễm nguồn nước, đe dọa tính bền vững của hệ sinh thái Lin Kuo-Ching và Chiu Hao-Ling (1998) cũng chỉ ra rằng, ngoài chính sách quyền sử dụng đất, lao động là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Mức lương cao ở đô thị khiến nông dân ít đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, dẫn đến việc áp dụng phân bón hữu cơ và bảo trì hệ thống thủy lợi bị giảm sút, trong khi nhiều diện tích đất nông nghiệp bị bỏ hoang do thiếu thời gian và sức lực cho lao động nông nghiệp.

Nhóm nghiên cứu nổi tiếng trong lĩnh vực nông nghiệp của Nga đã công bố kết quả nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên tạp chí Kinh tế Nga Nghiên cứu nhấn mạnh rằng đất nông nghiệp là một nguồn tài nguyên vô giá của bất kỳ quốc gia nào và chỉ ra rằng có nhiều yếu tố đa dạng ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất.

Nhiều yếu tố công nghệ và tổ chức sản xuất ảnh hưởng đến hoạt động của hộ gia đình hoặc nông trại cụ thể, bao gồm đầu vào và các thành tựu khoa học - kỹ thuật Nghiên cứu cho thấy hiệu quả sử dụng đất phụ thuộc vào sự phối hợp giữa các đầu vào, đầu ra trong quá trình sản xuất cùng với các yếu tố tự nhiên, kinh tế và xã hội.

Gale (2002) chỉ ra rằng khả năng tiếp cận thị trường kém là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp thấp tại Trung Quốc Việc cải thiện khả năng tiếp cận thị trường có thể giúp duy trì năng lực sản xuất lương thực, tăng thu nhập và làm cho sản xuất nông nghiệp trở nên hấp dẫn hơn so với các công việc khác ở đô thị Tuy nhiên, để nâng cao khả năng tiếp cận thị trường, cần có sự đầu tư đáng kể vào cơ sở hạ tầng, bao gồm mạng lưới giao thông và kho chứa nông sản.

Hanan G Jacoby, Guo Li và Scott Rozelle (2002) chỉ ra rằng việc sử dụng không hiệu quả đất nông nghiệp xuất phát từ các chính sách ảnh hưởng đến thu nhập từ sản xuất nông nghiệp, bao gồm sự thiếu ổn định trong quyền sử dụng đất, tình trạng thiếu nước, quản lý thủy lợi kém, cơ sở hạ tầng yếu và hạn chế trong tiếp cận thị trường Tính ổn định trong quyền sử dụng đất nông nghiệp là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả sử dụng đất Ở ngoại thành Trung Quốc, đất nông nghiệp thuộc quyền quản lý của ủy ban nhân dân các cấp, nhưng thời hạn sử dụng đất không ổn định được coi là rào cản lớn đối với đầu tư và cải tiến sản xuất nông nghiệp.

Nghiên cứu của Benin, Samuel Place, Frank Nkonya, Ephraim M.Pender và John L (2006) sử dụng dữ liệu từ cao nguyên Ethiopia, Kenya và Uganda để phân tích tác động của thị trường đất đai đối với đầu tư vào đất, quản lý, sản lượng cây trồng và chất lượng đất Kết quả cho thấy thị trường đất, bao gồm bán và cho thuê đất ngắn hạn, đóng vai trò quan trọng trong quản lý đất đai bền vững và phát triển nông nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh thị trường sản xuất không hoàn hảo.

Liding Chen, Xin Qi, Xinyu Zhang, Qi Li và Yanyan Zhang (2007) đã chỉ ra mối quan hệ tương tác giữa dinh dưỡng đất và quản lý sử dụng đất Dinh dưỡng đất ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn loại hình sử dụng đất (LUT), trong khi đó, việc lựa chọn các LUT cũng tác động đến sự thay đổi của các chất dinh dưỡng trong đất nông nghiệp.

Boris E Bravo-Ureta và Antonio E Pinheiro (1993) đã sử dụng hàm sản xuất cận biên để phân tích hiệu quả nông nghiệp ở các nước đang phát triển, cho thấy rằng nhiều quốc gia có thể tăng sản lượng nông nghiệp mà không cần tăng đầu vào hay áp dụng công nghệ mới Các yếu tố quan trọng trong các mô hình này bao gồm giáo dục, kinh nghiệm, khả năng tiếp cận tín dụng và quy mô trang trại Nghiên cứu khẳng định rằng nguồn nhân lực đóng vai trò then chốt trong năng suất nông nghiệp, do đó, các chính sách đầu tư công nhằm nâng cao nguồn vốn con người có thể dẫn đến tăng trưởng sản lượng ngay cả khi không có công nghệ mới.

Frantisek Brazdik (2006) đã áp dụng phương pháp DEA để đánh giá hiệu quả kỹ thuật và quy mô của các trang trại lúa ở Tây Java, đồng thời xác định các yếu tố quyết định hiệu quả trang trại Nghiên cứu cũng sử dụng mô hình hồi quy Tobit để phân tích sự thay đổi trong điểm số hiệu quả liên quan đến các yếu tố nông nghiệp cụ thể Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô trang trại là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật, và tình trạng manh mún đất đai ở mức độ cao là nguyên nhân chính dẫn đến sự thiếu hiệu quả kỹ thuật trong thời kỳ của cuộc cách mạng xanh.

Nông nghiệp, theo Singh Vivek Kumar (2009), là một hoạt động kinh tế hữu cơ gắn liền với các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất và nước Việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là cần thiết, vì nó không chỉ phản ánh hiệu quả sử dụng tài nguyên mà còn là thước đo cho hệ sinh thái, hiệu quả kinh tế và tăng trưởng trong nông nghiệp Trong nghiên cứu này, hệ số sử dụng đất nông nghiệp và cường độ sử dụng các công trình thủy lợi được xem là những chỉ tiêu quan trọng để đo lường hiệu quả sử dụng đất và tài nguyên.

Nghiên cứu của Wang.X.B, Glauben.T và Yanjie Zhang (2010) chỉ ra mối quan hệ giữa chính sách quyền sử dụng đất nông nghiệp và hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất tại Trung Quốc Họ cho rằng phát triển thị trường cho thuê đất là một lựa chọn thay thế cho tái phân bổ đất nhằm tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên Kết quả nghiên cứu cho thấy tác động của tái phân bổ đất đến hiệu quả kỹ thuật trong sử dụng đất khác nhau giữa các tỉnh, phụ thuộc vào các thể chế và môi trường kinh tế cụ thể của từng địa phương.

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước

Đỗ Văn Nhạ và Nguyễn Thị Phong Thu (2016) đã phân tích hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, cho thấy đất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông sản Nghiên cứu chỉ ra rằng huyện có 5 loại hình sử dụng đất với 17 kiểu sử dụng khác nhau Một số kiểu sử dụng như 2 lúa + bí xanh, 2 lúa + cà chua, chuyên rau màu, cây ăn quả và chuyên cá mang lại hiệu quả cao Tuy nhiên, một số kiểu sử dụng, mặc dù có hiệu quả kinh tế tốt, lại gây ảnh hưởng đến môi trường do việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón vượt quá mức khuyến cáo, như trong trường hợp cây rau màu.

Phạm Phương Nam (2015) đã đề xuất chín giải pháp quan trọng để quản lý và sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp trong tương lai Đầu tiên, cần ban hành đầy đủ các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai Thứ hai, cần có quy định khuyến khích tích tụ đất nông nghiệp Thứ ba, quy hoạch sử dụng đất phải phù hợp với tái cơ cấu nông nghiệp Thứ tư, cần nhân rộng mô hình liên kết giữa nông hộ và doanh nghiệp chế biến nông sản Thứ năm, khuyến khích các địa phương thực hiện biện pháp tự thỏa thuận Thứ sáu, cần quy định cụ thể về quyền khiếu nại của người dân liên quan đến bồi thường Thứ bảy, nên có chính sách miễn, giảm thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp Thứ tám, cần có nguyên tắc đảm bảo đời sống cho người bị thu hồi đất Cuối cùng, cần phát triển các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao một cách đồng bộ và hiện đại.

Phan Sỹ Cường (2000) đã thực hiện một nghiên cứu về hiệu quả kinh tế của cây cam tại huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An Nghiên cứu sử dụng các chỉ tiêu NPV và IRR để đánh giá hiệu quả sản xuất cam của các hộ nông dân, và kết quả cho thấy NPV đạt được những giá trị tích cực.

Sản xuất cam cho thấy hiệu quả với giá trị hiện tại ròng là 180.940,7 ở tỷ lệ chiết khấu 9,5% và tỷ suất thu hồi vốn nội bộ IRR đạt 0,398 Mặc dù phương pháp tính toán này mang lại độ chính xác cao, nhưng yêu cầu về việc ghi chép và lưu trữ số liệu thu chi chi tiết trong nhiều năm là một thách thức lớn, đặc biệt ở các hộ nông dân tại vùng sâu, vùng xa và miền núi cao với trình độ dân trí thấp Do đó, việc áp dụng phương pháp này để tính toán hiệu quả kinh tế thường ít được thực hiện.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cùng Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp đã thực hiện dự án nghiên cứu về quy hoạch sử dụng hiệu quả 38 vạn ha đất nương rẫy tại vùng TDMNBB Nghiên cứu chỉ ra rằng canh tác nương rẫy là một giai đoạn phát triển nông nghiệp phổ biến trên toàn cầu và vẫn tồn tại ở nhiều quốc gia Hầu hết diện tích đất trống đồi trọc hiện nay là hệ quả của hoạt động canh tác nương rẫy.

Năm 2005, vùng TD – MNPB chiếm 45,2 vạn ha đất nương rẫy, tương đương hơn 45% tổng diện tích nương rẫy cả nước, với tỷ trọng đất nương rẫy trong đất nông nghiệp đạt 30,6% và trong đất cây hàng năm là 39,7%, cao hơn nhiều so với các vùng khác Theo Đinh Duy Khánh và Đoàn Công Quỳ (2006), sản xuất ngành trồng trọt tại huyện Gia Viễn khá đa dạng, trong đó dưa chuột mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất với giá trị sản xuất (GTSX) đạt 50,4 triệu đồng/ha và giá trị gia tăng (GTGT) đạt 45,8 triệu đồng/ha Mô hình lúa + cá cũng cho hiệu quả kinh tế ấn tượng với GTSX 93,350 triệu đồng và GTGT 82,465 triệu đồng trên 1 ha Ngoài ra, cá nuôi vụ mùa trên ruộng lúa đạt GTSX 80,5 triệu đồng và GTGT 73,25 triệu đồng/ha Đoàn Công Quỳ (2006) đã áp dụng các chỉ tiêu như giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, chi phí trung gian, giá trị sản xuất/lao động và giá trị gia tăng/lao động để đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác ở các xã vùng đồng bằng huyện.

Thạch Thất, tỉnh Hà Tây”

Trần Đình Thao (2006) đã tiến hành nghiên cứu hiệu quả kinh tế sản xuất ngô hè thu tại Sơn La, sử dụng mô hình hàm sản xuất Cobb-Douglas để đánh giá năng suất tối đa Kết quả cho thấy mức kỹ thuật giao động từ 50% đến 90%, với mức bình quân đạt 82,08% Nghiên cứu chỉ ra rằng trình độ giáo dục của chủ hộ, số lần tham gia tập huấn về kỹ thuật canh tác ngô, cơ hội tiếp cận dịch vụ khuyến nông, biện pháp chống xói mòn đất và chất lượng giống ngô đều có ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả kỹ thuật của nông dân trồng ngô.

Nguyễn Văn Hoàn (2007) chỉ ra rằng, tại vùng núi Bắc Giang, những khu vực đất vàn thấp với khả năng thoát nước kém chỉ có thể sản xuất một vụ lúa, do đó có thể áp dụng mô hình canh tác lúa - cá hoặc chuyển hoàn toàn sang nuôi cá Ở những vùng đất vàn có hệ thống tưới tiêu chủ động, việc canh tác ba hoặc bốn vụ đã mang lại thu nhập cao nhờ kết hợp trồng lúa với cây trồng cạn qua các công thức luân canh cải tiến Trên đất vàn cao không có tưới tiêu chủ động, mô hình trồng lúa kết hợp với cây trồng cạn vẫn được áp dụng, trong đó công thức luân canh hiệu quả nhất là lúa xuân - đậu tương hè - khoai tây Tại địa hình đồi thấp, có thể chuyển đổi từ trồng thuần cây sắn sang trồng xen cây lạc để bảo vệ đất và tăng thu nhập Ở địa hình đồi cao, một số diện tích trồng cây lâm nghiệp có thể được chuyển sang trồng cây vải và xen dứa trong vườn vải ở giai đoạn đầu để nâng cao hiệu quả kinh tế.

Nghiên cứu của Marsh và các cộng sự (2007) về phát triển nông nghiệp và chính sách đất đai ở Việt Nam cho thấy rằng các hộ nông dân tại Hà Tây và Yên Bái đã đa dạng hóa cách sử dụng đất nông nghiệp, với 63 loại hình sử dụng đất khác nhau trong 200 hộ được khảo sát Lợi ích kinh tế từ việc sử dụng linh hoạt đất đai đã có sự thay đổi đáng kể, trong đó lợi ích từ cây lâu năm cao hơn so với cây hàng năm Đặc biệt, việc luân canh giữa lúa và rau mang lại thu nhập cao hơn so với luân canh giữa lúa với các loại cây khác như ngô và sắn, trong khi thu nhập từ trồng hoa và cây cảnh cũng cho thấy tiềm năng cao hơn.

Trương Văn Tuấn (2007) đã áp dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) để nghiên cứu hiệu quả của các biện pháp canh tác trên đất dốc tại huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk Mặc dù các cộng đồng đã thực hiện nhiều biện pháp bảo vệ đất dốc, nhưng chưa có nghiên cứu nào xác định rõ hiệu quả của chúng Tác giả đã tiến hành đánh giá các biện pháp canh tác hiện tại và đề xuất giải pháp bảo vệ, phục hồi đất dốc nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp Kết quả nghiên cứu cho thấy biện pháp canh tác xen canh mang lại hiệu quả cao nhất về cả kinh tế và môi trường, với thí nghiệm cho thấy LUT điều xen sắn có hiệu quả hơn trong việc hạn chế xói mòn và rửa trôi.

Nguyễn Văn Toàn và Nguyễn Ngọc Châu (2008) đã đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn 2005 - 2007 thông qua các chỉ tiêu như diện tích, năng suất cây trồng và hệ số sử dụng ruộng đất Nghiên cứu cho thấy quản lý đất đai tại địa phương ngày càng chặt chẽ, với hiệu quả sử dụng đất cao hơn, đặc biệt là ở các loại cây trồng như lúa, ngô và rau, sắn Mặc dù hệ số sử dụng ruộng đất tăng nhanh, việc cấp thẻ giao đất cho hộ dân vẫn còn hạn chế, cơ cấu cây trồng chủ yếu tập trung vào sản xuất tự cấp, tự túc, và năng suất cây trồng chưa ổn định Từ kết quả nghiên cứu, một số giải pháp phù hợp đã được đề xuất cho địa phương.

Phạm Văn Dư (2009) đã chỉ ra rằng quy mô đất đai nhỏ và manh mún của các nông hộ ở đồng bằng sông Hồng là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp Để cải thiện tình hình, nhiều giải pháp đã được đề xuất, bao gồm dồn điền đổi thửa, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và tích tụ ruộng đất Nghiên cứu khuyến nghị xây dựng Tổ hợp tác xã sản xuất nông nghiệp dựa trên sự tự nguyện của các hộ, nhằm bỏ bờ thửa, cùng canh tác và đưa máy móc vào sản xuất, giúp giảm chi phí đến 50% và nhận được sự đồng tình từ bà con nông dân.

Vào năm 2011, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã thực hiện đề tài khoa học cấp Bộ nhằm xây dựng bản đồ nông hóa – thổ nhưỡng phục vụ cho việc thâm canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và quản lý bền vững tài nguyên đất nông nghiệp tỉnh Lạng Sơn Đề tài đã điều tra và chỉnh lý bản đồ Thổ nhưỡng tỷ lệ 1/100.000 cho tỉnh Lạng Sơn với diện tích tự nhiên 832.378 ha Ngoài ra, bản đồ thổ nhưỡng và độ phì nhiêu đất trồng tỷ lệ 1/50.000 cũng được xây dựng cho các huyện Lộc Bình, Tràng Định, Văn Quan, Chi Lăng và Hữu Lũng Nghiên cứu còn điều tra thực trạng sử dụng phân bón cho một số cây trồng chính và lập bộ cơ sở dữ liệu đất- phân bón – cây trồng cho tỉnh Lạng Sơn.

Liên danh Trung tâm Môi trường Tài nguyên Miền núi và Hội Khoa học Đất Việt Nam (2016) đã thực hiện dự án điều tra và đánh giá thoái hóa đất lần đầu tại tỉnh Lạng Sơn Dự án nhằm xây dựng chỉ tiêu thống kê “Diện tích đất bị thoái hóa” theo loại thoái hóa và loại đất thoái hóa trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia Kết quả đã xác định diện tích đất bị thoái hóa theo từng loại và đánh giá nguyên nhân gây ra thoái hóa đất, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu tình trạng này tại tỉnh Lạng Sơn.

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI; TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN CHI LĂNG VÀ HUYỆN HỮU LŨNG

Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Chi Lăng

Huyện Chi Lăng, tọa lạc ở phía Tây Nam tỉnh Lạng Sơn, có tọa độ địa lý từ 21°32' đến 21°48' vĩ độ Bắc và 106°25' đến 106°50' kinh độ Đông Với diện tích tự nhiên 70.428,58 ha, huyện bao gồm 20 đơn vị hành chính, trong đó có 2 thị trấn và 18 xã Trung tâm huyện được đặt tại thị trấn Đồng Mỏ.

- Phía Bắc giáp với huyện Văn Quan, huyện Cao Lộc và huyện Lạng Sơn

- Phía Đông giáp huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn

- Phía Tây giáp huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn

- Phía Nam giáp huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang

Chi Lăng là điểm kết nối quan trọng giữa Hà Nội và tỉnh Lạng Sơn, nằm trên Quốc lộ 1, đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn và cao tốc Hà Nội - Lạng Sơn Vị trí này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ và du lịch.

Hình 2.1 Sơ đồ vị trí huyện Chi Lăng

Tỉnh Lạng Sơn nằm trong vùng đồi núi thấp với địa hình phức tạp, trong đó núi đá, núi đất và rừng chiếm khoảng 83,3% tổng diện tích Địa hình của tỉnh có thể được chia thành ba vùng khác nhau.

Vùng thứ nhất: Vùng địa mạo cacxtơ với những dãy núi đá vôi thuộc các xã phía

Khu vực Tây của huyện, trải dài từ Mai Sao đến Vạn Linh và Y Tịch, là một vùng núi đá thuộc vòng cung đá vôi Bắc Sơn Nơi đây có mật độ các dãy núi đá dày đặc, với độ cao trung bình từ 200 đến 300m, và một số đỉnh núi cao tới 500-600m Xen kẽ giữa các dãy núi đá vôi là những thung lũng nổi bật như Thượng Cường và Vạn Linh.

Vùng địa mạo thung lũng thềm đất thấp nằm dọc theo Quốc lộ 1A, giữa dãy núi đá Cai Kinh ở phía Tây và dãy núi đất Bảo Đài, Thái Hoà ở phía Đông Nam Khu vực này chủ yếu là đồi gò thấp với độ cao trung bình từ 100-200m, bao gồm các thung lũng kéo dài từ xã Bắc Thuỷ đến thị trấn Chi Lăng.

Vùng địa mạo sa phiến và núi cao trung bình nằm ở các xã Đông Bắc, với độ cao trung bình từ 300m đến 400m Khu vực này được đặc trưng bởi những đồi núi cao, tạo thành một dải địa hình độc đáo.

Huyện Chi Lăng nằm ở phía Tây Bắc với các dải núi đá vôi thuộc cánh cung Bắc Sơn Địa hình của huyện thấp dần từ Đông Bắc đến Đông Nam, tạo thành lòng máng Khu vực này có các cánh đồng, lân, lũng xen kẽ với núi đá và núi đất, tạo nên diện tích canh tác nông nghiệp chủ yếu của huyện.

Huyện Chi Lăng có khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa đông lạnh, nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa tiểu vùng khí hậu ẩm và mưa nhiều ở phía tây và tiểu vùng lạnh, mưa ít ở phía đông Nhiệt độ trung bình dao động từ 15°C đến 25°C, với nhiệt độ cao nhất đạt từ 35°C đến 38°C và nhiệt độ thấp nhất từ 6°C đến 12°C Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.379 mm, chủ yếu tập trung vào các tháng mùa hè.

Sông Thương chảy qua huyện theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, bắt nguồn từ thôn Nà Phước, xã Bắc Thủy, với độ rộng trung bình 6m và độ cao 176m Độ dốc lưu vực là 12,5%, dòng chảy năm đạt 6,46m³/s, trong đó lưu lượng mùa lũ chiếm 67,6 - 74,9% và mùa cạn là 25,1 - 32,45% Nhờ đập dâng Cấm Sơn, sông Thương có độ sâu 5-6m trong mùa cạn, là nguồn nước chính cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt nông thôn Ngoài sông Thương, Chi Lăng còn có hệ thống suối, hồ ao và mạch ngầm, cung cấp nước sinh hoạt và phục vụ sản xuất, cùng với nhiều con suối lớn nhỏ chảy quanh triền khe, chân đồi núi và ven bản làng.

Tài nguyên đất tại huyện Chi Lăng có sự đa dạng do nguồn gốc phát sinh từ các loại đá mẹ khác nhau, bao gồm đá sa thạch, đá vôi, phiến thạch sét, cuội kết và dăm kết Đất đai ở đây chủ yếu thuộc nhóm đất Feralit, có nguồn gốc từ trầm tích và sa thạch, xen lẫn với đá vôi, cùng với nhóm đất dốc tụ phù sa từ sông suối.

Nhìn chung, tính chất đất và địa hình của huyện Chi Lăng tương đối thuận lợi cho trồng vùng chuyên canh cây ăn quả và rau màu

Nước mặt huyện Chi Lăng chủ yếu đến từ lưu vực sông Thương và các sông suối nhỏ, cùng với các sông, ao hồ khác trong khu vực Sông Thương, bắt nguồn từ dãy núi Na Pa Phước, chảy qua máng trũng Mai Sao - Chi Lăng, có đoạn chảy hẹp nhưng nước luôn chảy quanh năm với chất lượng tương đối tốt, là nguồn nước quan trọng cho sản xuất và sinh hoạt của người dân Tuy nhiên, trong những năm gần đây, một số khu vực, đặc biệt là khu dân cư, đã gặp phải tình trạng ô nhiễm nước do chất thải sinh hoạt và việc sử dụng phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp.

Năm 2020, huyện có tổng diện tích đất lâm nghiệp là 39.592,19 ha, chiếm 56,22% tổng diện tích tự nhiên, bao gồm rừng phòng hộ 6.975,22 ha, rừng đặc dụng 252,5 ha và rừng sản xuất 32.364,47 ha, phân bố đều ở các xã, thị trấn Thảm thực vật chủ yếu gồm cây hồi, thông, keo, bạch đàn, tre nứa và cây bụi, trong đó cây hồi, thông và bạch đàn là những loại cây có giá trị kinh tế cao đang được phát triển.

Huyện có sự đa dạng phong phú về các loại thực vật rừng, bao gồm cả rừng trên núi đá vôi và núi đất Tỷ lệ che phủ rừng ở đây cao, cùng với trữ lượng lâm sản có khả năng khai thác đáng kể.

Tài nguyên khoáng sản ở Chi Lăng được đánh giá là không phong phú, với trữ lượng nhỏ Khu vực này có quặng sắt tại xã Quan Sơn và xã Lâm Sơn, quặng chì và kẽm ở xã Quan Sơn, bô xít ở xã Y Tịch và xã Vạn Linh, cùng với quặng antimon tại xã Mai Sao Đá vôi với hàm lượng 55% CaO được khai thác chủ yếu tại thị trấn Chi Lăng, xã Mai Sao và xã Quang Lang, phục vụ cho sản xuất xi măng và đá xây dựng.

Huyện Chi Lăng nổi bật với nhiều di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh, như khu danh thắng Hang Gió và các di tích Chi Lăng, bao gồm Ải Chi Lăng, Thành Kho, Quỷ Môn Quan, và núi Mã Yên Đặc biệt, nơi đây còn lưu giữ truyền thống văn hóa và phong tục tập quán độc đáo của dân tộc Nùng, Tày Những yếu tố này tạo ra tiềm năng lớn cho phát triển du lịch, kinh tế và xã hội, đồng thời góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc.

Tình hình sản xuất nông nghiệp tại huyện Chi Lăng

Do chuyển đổi cơ cấu cây trồng, diện tích trồng cây hàng năm giảm, dẫn đến tổng diện tích gieo trồng có xu hướng giảm Để đảm bảo an ninh lương thực và nâng cao năng suất, Phòng Nông nghiệp và PTNT khuyến cáo áp dụng sản xuất lúa cải tiến SRI và trồng ngô với mật độ dày Đồng thời, cần phát triển các giống lúa chất lượng cao như F1 CP 134, LS55, sán ưu, Nhị ưu 986, syn6, CR 203 Ngoài ra, tập trung phát triển các vùng sản xuất hàng hóa như ớt, lạc, thuốc lá và rau theo hướng nông nghiệp tốt (VietGAP) để khai thác tiềm năng của địa phương.

Tổng diện tích gieo trồng của huyện trong giai đoạn 2016-2020 có sự biến động, cụ thể năm 2016 đạt 10.729,3 ha, năm 2017 là 11.202,9 ha, năm 2018 giảm xuống 10.929,6 ha, năm 2019 đạt 10.808,0 ha và năm 2020 là 10.710,2 ha Đồng thời, tổng sản lượng lương thực có hạt cũng giảm qua từng năm, với số liệu năm 2016 đạt 35.941,0 tấn, năm 2017 là 35.784,3 tấn, năm 2018 giảm còn 33.245,6 tấn, năm 2019 đạt 32.255,6 tấn và năm 2020 chỉ còn 32.004,4 tấn.

Chuyển dịch cơ cấu cây trồng đã dẫn đến sự thay đổi về diện tích và sản lượng của nhiều loại cây trồng chính Diện tích trồng lúa Xuân đang giảm, với nhiều hộ dân chuyển đổi từ đất lúa không chủ động về nguồn nước sang trồng các loại cây hàng năm có giá trị kinh tế cao hơn như ớt, lạc, khoai sọ và dong riềng Đồng thời, diện tích cây sắn cũng giảm mạnh, với một số xã chuyển sang phát triển cây lâm nghiệp, ngô và cây nghệ Ngược lại, diện tích các cây trồng như thuốc lá, lạc, ớt và rau vụ Đông lại có xu hướng tăng qua các năm.

- Cây lương thực: Năm 2016 đạt 7.930,6 ha; năm 2017 đạt 7.699,3 ha; năm 2018 đạt 7.263,6 ha; năm 2019 đạt 6.788,7 ha và năm 2020 đạt 6.732,3 ha Trong đó:

+ Cấy lúa: Năm 2016 đạt 4.754,0 ha; năm 2017 đạt 4.627,8 ha; năm 2018 đạt 4.379,6 ha; năm 2019 đạt 4.171,7 ha và năm 2020 đạt 4.088,4 ha

+ Cây ngô: Năm 2016 đạt 3.070,6 ha; năm 2017 đạt 3.071,5 ha; năm 2018 đạt 2.884,0 ha; năm 2019 đạt 2.617,0 ha và năm 2020 đạt 2.643,9 ha

- Cây lấy củ có chất bột: Năm 2016 đạt 583,5 ha; năm 2017 đạt 424,0 ha; năm

2018 đạt 336,4 ha; năm 2019 đạt 299,5 ha và năm 2020 đạt 253,2 ha

- Cây thực phẩm: Năm 2016 đạt 1.073,1 ha; năm 2017 đạt 1.151,8 ha; năm 2018 đạt 1.225,3 ha; năm 2019 đạt 1.357,6 ha và năm 2020 đạt 1.244,6 ha

- Cây công nghiệp ngắn ngày: Năm 2016 đạt 832,5 ha; năm 2017 đạt 1.311,1 ha; năm 2018 đạt 1.484,3 ha; năm 2019 đạt 1.412,5 ha và năm 2020 đạt 1.366,7 ha

Từ năm 2016 đến 2020, diện tích cây hàng năm đã tăng trưởng đáng kể, từ 415,7 ha lên 1.113,4 ha Hiện nay, đã xuất hiện các hình thức liên kết sản xuất theo chuỗi, kết nối sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm Mục tiêu của những liên kết này là khai thác tối đa tiềm năng, nâng cao chất lượng và giảm giá thành sản xuất Thông qua hợp tác sản xuất và đẩy mạnh cơ giới hóa, ngành nông nghiệp đang phát triển theo hướng bền vững, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm.

Tính đến hết năm 2019, huyện có tổng diện tích cây ăn quả đạt 3.420,6 ha, trong đó cây na chiếm 1.804,5 ha với sản lượng 16.500 tấn Cây cam các loại có diện tích 53,3 ha, sản lượng đạt 137,6 tấn Cây quýt với diện tích 86,3 ha, sản lượng 198,4 tấn Cây bưởi các loại có diện tích 285,7 ha, sản lượng đạt 1.543,3 tấn.

Xây dựng vùng sản xuất Na và cây có múi an toàn theo tiêu chuẩn GlobalGAP và VietGAP là mục tiêu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm Việc ký cam kết sản xuất Na an toàn trên toàn bộ diện tích sẽ đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, hướng tới xuất khẩu và phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị.

Tính đến cuối năm 2019, diện tích vùng sản xuất Na đạt tiêu chuẩn GlobalGAP là 5,0 ha, tiêu chuẩn VietGAP là 246,7 ha, và sản xuất Na an toàn là 1.438 ha Dự kiến đến hết năm 2020, diện tích sản xuất Na theo tiêu chuẩn GlobalGAP sẽ tăng lên 35,0 ha, tiêu chuẩn VietGAP đạt 376,7 ha, và sản xuất Na an toàn sẽ đạt 1.488,0 ha.

Đến cuối năm 2019, diện tích sản xuất cây có múi theo tiêu chuẩn VietGAP đạt 64,0 ha Dự kiến đến hết năm 2020, diện tích này sẽ tăng lên 138,0 ha.

Cây Na đạt sản lượng trên 16.500 tấn với giá trị bình quân vượt 200 triệu đồng/ha Ngoài ra, việc phát triển cây ăn quả có múi như bưởi diễn, bưởi da xanh và cam canh, cùng với việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến, đã mang lại giá trị và hiệu quả cao trong sản xuất.

Tỉnh Lạng Sơn đang tích cực quảng bá và tiêu thụ các sản phẩm nông lâm sản đặc sản, đặc biệt là thương hiệu Na Chi Lăng, nhằm thu hút đầu tư vào sản xuất nông nghiệp nông thôn và nâng cao chuỗi giá trị Trong ba năm 2017, 2018, 2019, huyện Chi Lăng đã phối hợp tổ chức thành công Ngày hội Na Chi Lăng Thương hiệu Na Chi Lăng đã được Tổng hội Nông nghiệp Việt Nam vinh danh với cúp vàng, xác nhận là sản phẩm nông nghiệp chất lượng tốt và nằm trong tốp 10 “Thương hiệu vàng nông nghiệp Việt Nam” năm 2018.

Ngày hội Na Chi Lăng đã góp phần thay đổi nhận thức và tập quán canh tác của nông dân, chuyển từ sản xuất na truyền thống sang quy trình VietGAP, tạo ra sản phẩm na sạch và an toàn Các hoạt động quảng bá đã giúp thương hiệu Na Chi Lăng được người tiêu dùng biết đến rộng rãi, từ đó nâng cao khả năng tiêu thụ và ổn định giá cả Cụ thể, diện tích na tăng từ 1.334 ha năm 2016 lên khoảng 1.650 ha năm 2019, sản lượng tăng từ 9.829,9 tấn lên 16.500 tấn, giá bán bình quân cũng tăng từ 20.000 đồng/kg lên 40.000 đồng/kg, giá trị sản xuất đạt gần 700 tỷ đồng, gấp đôi so với năm 2016.

Sản xuất chăn nuôi trong huyện đáp ứng đủ nhu cầu thực phẩm và xuất bán ra ngoài huyện Năm 2020, tổng đàn gia súc đạt khoảng 31.600 con, bao gồm 9.950 trâu, 5.700 bò, 5.000 lợn, 2.100 ngựa, và 5.000 dê, cùng với 436.300 gia cầm Tuy nhiên, chăn nuôi trâu, bò có xu hướng giảm do cơ giới hóa trong nông nghiệp và lao động chuyển dịch sang làm việc tại các công ty ngoài tỉnh, dẫn đến thiếu hụt lao động tại nông thôn Đặc biệt, đàn lợn giảm mạnh do dịch tả lợn Châu Phi Ngược lại, chăn nuôi ngựa bạch đang có xu hướng tăng trưởng.

2020 tổng đàn ngựa có 2.100 con, trong đó ngựa bạch có 1.200 con Chăn nuôi dê tiếp tục được duy trì ổn định

Kết quả tái cơ cấu chăn nuôi theo vùng cho thấy các xã núi đá và dọc tuyến sông Thương chủ yếu thực hiện chăn nuôi nông hộ, với một số hộ đầu tư vào chăn nuôi gia trại và trang trại Đối tượng vật nuôi chính là lợn và gia cầm, trong đó giống lợn lai và lợn ngoại chiếm 90%, còn giống gia cầm chủ yếu là gà lông màu và gà ri Các xã núi đất, với lợi thế về đất đai rộng và mật độ dân số thấp, phát triển các loại vật nuôi đặc sản, bản địa như trâu, bò, ngựa, dê, có giá trị kinh tế cao và khả năng cạnh tranh tốt, đáp ứng nhu cầu thị trường.

Công tác thú y đóng vai trò quan trọng bên cạnh chăn nuôi, với việc thường xuyên kiểm tra và đôn đốc các cơ sở thực hiện tiêm phòng và phòng chống dịch bệnh Điều này giúp hạn chế sự bùng phát của dịch bệnh lớn và bảo vệ sức khỏe cho vật nuôi, đồng thời ngăn chặn tình trạng đói rét.

Trong thời gian tới, huyện sẽ chỉ đạo các cơ quan chuyên môn và tổ chức đoàn thể UBND các xã, thị trấn tăng cường tuyên truyền và khuyến cáo người chăn nuôi Mục tiêu là bám sát diễn biến thị trường để phát triển chăn nuôi một cách bền vững, tránh tình trạng chăn nuôi ồ ạt và không theo quy hoạch Huyện cũng khuyến khích người chăn nuôi áp dụng các biện pháp an toàn sinh học và tham gia vào chuỗi liên kết sản phẩm.

Bảng 2.1 Kết quả sản xuất chăn nuôi của huyện Chi Lăng 5 năm 2016-2020

STT Chỉ tiêu Đơn vị Năm

I Đàn gia súc, gia cầm

3 Đàn lợn ( tổng số) con 31181 30621 26500 10250 5000

4 Đàn gia cầm (tổng số) 1000 con 408,0 420,8 412,0 410,8 436,3

1 Tiêm phòng trâu bò Lượt con 36000 28000 29000 7670 12500

2 Tiêm phòng lợn Lượt con 32400 32000 22000 1421 4000

3 Tiêm phòng gia cầm 1000 con 72,0 75,0 76,0 90,0 80,0

4 Tiêm phòng dại (chó, mèo) Lượt con 2000 2500 3200 5000 3555

(Nguồn: Phòng NN&PTNT huyện Chi Lăng, 2021)

Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Hữu Lũng

Hữu Lũng là huyện nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Lạng Sơn, cách thành phố

Lạng Sơn 70 km về phía Nam Có toạ độ địa lý từ 21 0 23' đến 21 0 45' vĩ độ Bắc, từ

106 0 10' đến 106 0 32' kinh độ Đông, bao gồm 23 xã và 01 thị trấn Huyện có vị trí địa lý như sau:

- Phía Bắc giáp huyện Văn Quan và huyện Bắc Sơn;

- Phía Đông giáp huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn và huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang;

- Phía Nam giáp huyện Lục Nam và huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang;

- Phía Tây giáp huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang và huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

Hình 2.2 Sơ đồ vị trí huyện Hữu Lũng

Hữu Lũng, huyện nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa vùng Trung du và miền núi phía Bắc, có lợi thế về giao thông với đường cao tốc Hà Nội - Lạng Sơn và đường sắt liên vận Quốc tế Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa và thương mại với các tỉnh trong nước, cũng như các nước phía Bắc Châu Á Nhờ đó, Hữu Lũng có cơ hội tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Huyện Lạng Sơn nằm trong khu vực núi thấp, với địa hình phân chia rõ rệt giữa vùng núi đá vôi ở phía Bắc và vùng núi đất ở phía Nam Phần lớn diện tích huyện thuộc về vùng núi đá.

Huyện Hữu Lũng có địa hình phức tạp với độ cao từ 450 – 500 m và các vùng núi đất cao khoảng 100 m so với mặt nước biển Địa hình bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi đá vôi dốc lớn ở phía Bắc và các dãy núi đất hình bát úp ở phía Nam Núi đá chiếm hơn 25% tổng diện tích tự nhiên, trong khi các thung lũng nhỏ tương đối bằng phẳng giữa các vùng núi đá tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Các giải ruộng bậc thang phân bố dọc theo sườn núi và ven sông, cùng với đất nông nghiệp được hình thành từ các khe suối qua nhiều thế hệ.

Hữu Lũng có khí hậu nhiệt đới gió mùa đặc trưng của vùng núi phía bắc, với mùa đông lạnh và khô hanh, ít mưa, trong khi mùa hè nóng ẩm và mưa nhiều, đôi khi bị ảnh hưởng bởi bão.

Hữu Lũng có khí hậu vùng núi phía Bắc, với mùa đông khô lạnh và ít mưa, trong khi mùa hè nóng ẩm Lượng bức xạ hàng năm đạt 114 KCal/cm², với các tháng mùa hè trên 10 KCal/cm²/tháng và mùa đông trên 5,5 KCal/cm²/tháng Nhiệt độ trung bình hàng năm là 22,7°C, trong đó tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất khoảng 15°C và tháng 7 có nhiệt độ cao nhất đạt 28,5°C Tổng nhiệt độ trong năm vượt quá 8.000°C, cho thấy đặc điểm khí hậu đặc trưng của vùng.

Hữu Lũng có hai con sông lớn, bao gồm sông Thương chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam qua huyện Chi Lăng và xuôi về Bắc Giang, với thung lũng sông Thương mở rộng trên 30 km Sông Trung, bắt nguồn từ vùng núi Thái Nguyên, chảy qua Hữu Lũng theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và đổ vào sông Thương tại Na Hoa Sông Trung chảy trong vùng đá vôi với thung lũng hẹp, có độ dốc trung bình lưu vực sông là 12,8%.

Tài nguyên đất tại Hữu được hình thành từ khoảng 200 triệu năm trước, qua các biến động kiến tạo và quá trình phong hóa Các nhóm đất Feralit có nguồn gốc từ đá mẹ trầm tích, sa thạch và đá vôi, cùng với nhóm đất dốc tụ phù sa sông suối, tạo nên sự đa dạng trong cấu trúc đất tại khu vực này.

Lũng với tổng diện tích khoảng 43.000 ha chiếm khoảng 53% tổng diện tích tự nhiên

Hệ thống sông, suối, kênh, mương của huyện Hữu Lũng gồm có 2 con sông lớn chảy qua là sông Thương và sông Trung

Huyện có hệ thống sông, suối, kênh mương và ao hồ phong phú, cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của người dân Địa hình dốc của các sông, suối cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển thủy điện nhỏ.

Nguồn nước ngầm của huyện cũng khá dồi dào với chất lượng tốt

Diện tích rừng của huyện Hữu Lũng chiếm hơn 41% tổng diện tích tự nhiên, bao gồm rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng Rừng phân bố rộng rãi ở các xã và thị trấn, đặc biệt tập trung tại Hữu Liên, Yên Bình, Hòa Bình, Yên Sơn, Tân Thành, Hòa Sơn và Hòa Thắng Diện tích rừng không chỉ góp phần bảo vệ môi trường sinh thái mà còn giữ nước đầu nguồn, hạn chế lũ lụt và xói mòn đất, đồng thời duy trì cảnh quan và bảo vệ môi trường.

Rừng tự nhiên chủ yếu là rừng nhiệt đới thường xanh nửa rụng lá và rừng lá kim á nhiệt đới ở vùng núi cao Rừng trồng chủ yếu là keo, nhưng hiện nay đang bị tàn phá nghiêm trọng, nhiều khu vực rừng gỗ trữ lượng cao đã trở thành đất trống đồi trọc.

Hữu Lũng sở hữu nguồn đá vôi phong phú với hàm lượng CaO khoảng 55%, là nguyên liệu chính cho sản xuất ximăng Nguồn đá vôi này chủ yếu tập trung tại Đồng Tân và Vân Nham, với trữ lượng ước tính đáng kể.

Các mỏ đất sét ở Đồng Tân và Minh Sơn có trữ lượng khoảng 14 triệu tấn, trong đó 9,8 triệu tấn có thể được sử dụng làm phụ gia trong sản xuất ximăng Bên cạnh đó, các vật liệu xây dựng như cuội sỏi, cát và đá vôi có thể được khai thác từ nhiều địa điểm ven đường quốc lộ 1A, cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng tại huyện và tỉnh Lạng Sơn.

* Tài nguyên văn hóa - du lịch

Hữu Lũng là huyện miền núi thấp với khí hậu ôn hòa và giao thông thuận lợi, nổi bật với nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp và văn hóa đa dạng Cách Hà Nội khoảng 80 km, Hữu Lũng sở hữu tiềm năng và điều kiện tự nhiên quý giá để phát triển mạnh mẽ lĩnh vực dịch vụ và du lịch.

Hữu Lũng, với phong cảnh đẹp của vùng trung du miền núi phía Bắc, sở hữu nhiều địa danh và thắng cảnh nổi bật như Mỏ Heo ở xã Đồng Tân, các xã Yên Thịnh và Hữu Liên với môi trường trong lành, nhà sàn, suối nước và rừng cây Ngoài ra, xã Tân Lập có các hang Dơi, hang Thờ, hang Đèo Thạp, và xã Thiện Kỳ nổi tiếng với hang Rồng Những điểm đến này có tiềm năng phát triển các loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch làng nghề, leo núi, nghỉ dưỡng, mua sắm kết hợp tổ chức hội nghị và hội thảo Nếu được đầu tư và quảng bá hiệu quả, Hữu Lũng sẽ thu hút nhiều du khách, góp phần phát triển mạnh mẽ lĩnh vực dịch vụ và du lịch.

Hữu Lũng sở hữu thảm thực vật đa dạng nhờ vào điều kiện đất đai, khí hậu và địa hình tự nhiên phong phú Theo thống kê, khu vực này có nhiều loại gỗ quý như trai, nghiến, hoàng đàn và trò chỉ, chủ yếu phân bố ở các xã phía Bắc Thảm thực vật không chỉ cung cấp nguồn gỗ cho sản xuất và sinh hoạt mà còn góp phần bảo vệ đất và cải tạo môi trường.

Tình hình sản xuất nông nghiệp tại huyện Hữu Lũng

Tổng diện tích gieo trồng của cả giai đoạn 2016 – 2020 đạt 72.859,0 ha trong đó năm 2016 đạt 16 368,1 ha; năm 2017 đạt 15.098,8 ha; năm 2018 đạt 14.210,6 ha; năm

2019 đạt 13.781,5 ha; năm 2020 đạt 13.400 ha (Chi tiết tại phụ lục số 6)

Giai đoạn này, tổng diện tích gieo trồng hàng năm giảm do thời tiết diễn biến phức tạp, với nắng nóng và khô hạn kéo dài, nhiệt độ có lúc vượt 35-40 độ C, ảnh hưởng đến diện tích, năng suất và sản lượng cây trồng Ngoài ra, một số diện tích đã được chuyển sang trồng cây lâm nghiệp và cây ăn quả, trong khi lực lượng lao động trẻ có xu hướng tìm kiếm việc làm tại các công ty trong khu công nghiệp với thu nhập cao hơn, dẫn đến tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp.

Trong giai đoạn này, đàn gia súc và gia cầm có xu hướng giảm dần và không ổn định, đặc biệt là đàn lợn đã giảm mạnh vào năm 2019 do ảnh hưởng của bệnh Dịch tả lợn Châu Phi Giá thị trường tiêu thụ cũng không ổn định, khiến nhiều người dân chuyển từ sức kéo của gia súc sang sử dụng máy móc.

Trong giai đoạn này, công tác tiêm phòng hàng năm đạt kết quả thấp so với kế hoạch do nhận thức hạn chế của một số hộ dân chăn nuôi về tác hại của dịch bệnh Thêm vào đó, một số vắc xin tiêm phòng yêu cầu chi phí và chưa có chế độ hỗ trợ rủi ro sau tiêm Việc một số thú y viên xin nghỉ việc cũng góp phần làm cho công tác tiêm phòng gặp nhiều khó khăn.

Tình hình dịch bệnh trên gia súc và gia cầm hiện nay đang diễn ra với một số bệnh như tiên mao trùng, tụ huyết trùng và tiêu chảy ở trâu bò; bệnh tụ huyết trùng, tiêu chảy, Ecoli và phó thương hàn ở lợn; cùng với bệnh Niu cát xơn và tụ huyết trùng ở gia cầm Tuy nhiên, nhờ sự can thiệp kịp thời của các thú y viên, tình hình đã được kiểm soát và không lan rộng ra diện rộng trong các xã của huyện.

Năm 2019, dịch lở mồm long móng đã bùng phát tại 05 xã, cụ thể là xã Yên Bình với 05 hộ, xã Tân Lập có 14 hộ, xã Hòa Bình với 8 hộ, và xã Thiện.

Từ khi phát hiện ổ dịch tả lợn châu Phi đầu tiên vào ngày 7/4/2019, bệnh đã lan rộng ra 26/26 xã, thị trấn, dẫn đến việc tiêu hủy tổng cộng 36.209 con lợn, tương đương 2.701.895 kg Gần đây, tại Kỵ (04 hộ) và xã Tân Thành (02 hộ), đã có 387 con lợn chết và bị tiêu hủy, với tổng trọng lượng 20.767 kg Dịch tả lợn châu Phi đã ngừng tiêu hủy từ ngày 07/9/2019, nhưng đến năm 2020, bệnh vẫn còn xảy ra tại 03 xã, thị trấn (Thị trấn Hữu Lũng, Hòa Lạc, Tân Thành), với 08 con lợn bị tiêu hủy, tổng trọng lượng 505 kg, bao gồm 01 con lợn nái 120 kg và 07 con lợn thịt 385 kg.

Bảng 2.4 Kết quả sản xuất chăn nuôi của huyện Hữu Lũng 5 năm 2016 - 2020

STT Chỉ tiêu Đơn vị Năm

I Đàn gia súc, gia cầm

3 Đàn lợn ( tổng số) con 53381 52527 50594 15500 50000

4 Đàn gia cầm(tổng số) 1000con 849,01 871,5 845,4 852,9 750

1 Tiêm phòng trâu bò Lượt con 26500 29244 25296 11404 30000

2 Tiêm phòng lợn Lượt con 82600 82864 73874 29509 30000

3 Tiêm phòng gia cầm 1000 con 235 165,2 281,5 193 260

4 Tiêm phòng dại (chó, mèo) Lượt con 1906 4635 4922 3981 5000

(Nguồn: Phòng NN&PTNT huyện Hữu Lũng, 2021)

2.4.3 Lâm nghiệp, cây ăn quả

Trong giai đoạn trồng rừng tập trung, tổng diện tích rừng sản xuất hiện có là 32.674,07 ha Diện tích trồng mới đã đạt và vượt chỉ tiêu hàng năm, với 1.657,86 ha vào năm 2016, 1.914,93 ha vào năm 2017, 1.562,86 ha vào năm 2018, 1.672,9 ha vào năm 2019 và 1.600 ha vào năm 2020 Các loài cây chủ yếu được trồng bao gồm Bạch đàn hom, Bạch đàn mô, Keo hom và Keo hạt.

Từ năm 2016 đến 2020, Ban Quản lý rừng đặc dụng Hữu Liên đã hoàn thành nhiệm vụ phát triển rừng với 300,0 lượt ha, đạt 100% kế hoạch Công tác khoanh nuôi tái sinh tự nhiên chủ yếu tập trung vào các khu vực đất trống có cây tái sinh và rừng mới phục hồi, nhằm phục hồi những diện tích chưa có trữ lượng thuộc quy hoạch rừng đặc dụng.

Trồng cây phân tán theo chương trình của tỉnh: Trong giai đoạn 2016-2020 trồng cây phân tán được 1.028,1 ha (năm 2016 được 300 ha; năm 2017 được 249,6 ha; năm

2018 được 219,3 ha; năm 2019 được 161,8 ha, năm 2020 đạt 97,4 ha)

Trong giai đoạn 2016 - 2020, tổng diện tích rừng được khoán bảo vệ đạt 36.690 ha, hoàn thành 100% kế hoạch Công tác bảo vệ và phát triển rừng, cũng như phòng cháy chữa cháy rừng, đã nhận được sự quan tâm từ các cấp chính quyền và sự ủng hộ từ người dân địa phương Tình trạng đốt phá rừng để làm nương rẫy và buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép đã giảm rõ rệt qua từng năm Diện tích khoán bảo vệ rừng phòng hộ, đặc dụng đạt chỉ tiêu kế hoạch với tổng ngân sách nhà nước hỗ trợ là 12.250 triệu đồng, theo số liệu từ Ban quản lý rừng đặc dụng Hữu Liên.

Giai đoạn từ năm 2016 đến 2020, sản lượng khai thác gỗ từ rừng trồng đạt tổng cộng 95.693,6 m³, với các số liệu cụ thể như sau: năm 2016 đạt 10.550,69 m³, năm 2017 đạt 23.320,0 m³, năm 2018 đạt 16.211,42 m³, năm 2019 đạt 43.682 m³ và năm 2020 đạt 1.929,49 m³, trên diện tích 1.604,97 ha.

Từ năm 2016 đến năm 2020, đã phát hiện và xử lý tổng cộng 160 vụ vi phạm, với số tiền nộp ngân sách Nhà nước lên tới 905.819.000 đồng Cụ thể, năm 2016 ghi nhận 56 vụ, năm 2017 có 42 vụ, năm 2018 là 38 vụ, năm 2019 giảm xuống còn 18 vụ, và năm 2020 chỉ còn 6 vụ.

* Phát triển cây ăn quả:

Huyện Hữu Lũng đã phát triển mạnh mẽ trong việc trồng cây ăn quả, với tổng diện tích trồng mới đạt 945,48 ha trong giai đoạn 2016 – 2020 Đến năm 2020, diện tích cây ăn quả toàn huyện gần 4.600 ha, trong đó có 175 ha Na đạt tiêu chuẩn VietGAP và 35 ha theo tiêu chuẩn GlobalGAP Các vùng cây ăn quả đang hình thành bao gồm Cam vinh, Cam canh, Bưởi diễn tại các xã Nhật Tiến, Tân Thành, Đồng Tân, Sơn Hà; Táo đại tại Cai Kinh, Hồ Sơn, Đồng Tân, Nhật Tiến, Tân Thành; và Dứa ở Minh Sơn, Minh Hòa, Nhật Tiến Huyện cũng đang mở rộng các mô hình thực hiện quy trình VietGAP để nâng cao chất lượng sản phẩm, với 120 ha cây ăn quả (trừ Na) được sản xuất theo quy trình tốt, bao gồm 25 ha bưởi, 30 ha Táo đại, 30 ha dứa và 35 ha cam đạt tiêu chuẩn VietGAP.

Bảng 2.5 Kết quả sản xuất lâm nghiệp của huyện Hữu Lũng 5 năm 2016 – 2020

STT Danh mục Đơn vị Năm

1 Khoán bảo vệ rừng ha 6520,00 7590,00 9640,00 9940,00 3000,00

Rừng SX (dân tự bảo vệ) ha

Rừng SX (Dân tự bỏ vốn) ha

1 Rừng phòng hộ, đặc dụng ha

2 Trồng rừng sản xuất tập trung ha 1357,86 1665,33 1343,56 1511,10 1402,60

3 Trồng cây phân tán ha 300,00 249,60 219,30 161,80 97,40

Rừng phòng hộ, đặc dụng ha

Rừng sản xuất (Dân tự chăm sóc) ha 2000,00 2000,00 2000,00 2000,00 2000,00

Khai thác nhựa thông tấn

Khai thác hoa hồi khô tấn

Khai thác gỗ rừng trồng m3 10550,69 23320,00 16211,42 43,682,00 20000,00

6 Trồng cây ăn quả ha 174,16 303,99 212,94 154,39 100,00

7 Diên tích rừng hiện có ha 31787,37 32712,48 32721,48 32674,07 32674,07 Độ che phủ của rừng % 40,00 40,50 40,50 40,50

(Nguồn: Phòng NN&PTNT huyện Hữu Lũng, 2021)

Từ năm 2016 đến 2020, công tác thủy sản tại huyện đã duy trì sự ổn định, với diện tích nuôi trồng thủy sản trung bình hàng năm đạt 302,9 ha, chủ yếu dành cho nuôi hỗn hợp và các loại thủy sản khác.

Kết quả sản xuất nông nghiệp cho thấy việc trồng các loại cây nguyên liệu, nông sản và lâm sản mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân Điều này đã góp phần hình thành vùng nguyên liệu xuất khẩu tại huyện Thành công này có được nhờ sự quan tâm của tỉnh, sự chỉ đạo sát sao của Huyện ủy, HĐND và UBND huyện, cùng với sự phối hợp chặt chẽ giữa các công ty, doanh nghiệp và hợp tác xã.

Phòng Nông nghiệp và PTNT và UBND các xã, thị trấn trong công tác tuyên truyền, triển khai thực hiện mô hình liên kết xuất khẩu

Việc ứng dụng khoa học công nghệ trong nông lâm nghiệp đã thu hút sự quan tâm từ các cấp chính quyền và nông dân Người dân ngày càng áp dụng các kỹ thuật mới trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trong trồng trọt và chăn nuôi, giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm như rau, củ, quả an toàn Chương trình chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cho các hộ sản xuất được đẩy mạnh, mang lại hiệu quả kinh tế cao Đội ngũ cán bộ khuyến nông từ huyện đến cơ sở thường xuyên tham gia các lớp tập huấn, nâng cao năng lực và chất lượng trong công tác chuyển giao khoa học công nghệ.

ĐẶC ĐIỂM VÀ TÍNH CHẤT ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN

THỰC TRẠNG TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP GẮN VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHI LĂNG VÀ HUYỆN HỮU LŨNG

THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHI LĂNG VÀ HỮU LŨNG PHỤC VỤ TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP GẮN VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VIỆC SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN CHI LĂNG VÀ HUYỆN HỮU LŨNG

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VIỆC SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP PHỤC VỤ TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP GẮN VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

XÂY DỰNG BẢN ĐỒ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP, BẢN ĐỒ ĐỀ XUẤT SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN CHI LĂNG VÀ HUYỆN HỮU LŨNG GIAI ĐOẠN 2020 - 2025 HUYỆN CHI LĂNG VÀ HUYỆN HỮU LŨNG, TỶ LỆ 1/25.000

Ngày đăng: 07/06/2023, 00:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Chính phủ (2014), “Nghị định 43/2014/NĐ – CP ngày 15-05-2014 quy định chi tiết thi hành một số điều luật đất đai 2013” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 43/2014/NĐ – CP ngày 15-05-2014 quy định chi tiết thi hành một số điều luật đất đai 2013
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
15. Trần Văn Chính (chủ biên), bộ môn Khoa học đất (2006), “Giáo trình thổ nhưỡng học”, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thổ nhưỡng học
Tác giả: Trần Văn Chính
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2006
16. Phạm Văn Côn (2003), “Các biện pháp điều khiển sinh trưởng, phát triển, ra hoa, kết quả cây ăn trái”, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp điều khiển sinh trưởng, phát triển, ra hoa, kết quả cây ăn trái
Tác giả: Phạm Văn Côn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2003
17. Nguyễn Sinh Cúc (2003), “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới”. NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2003
18. Nguyễn Thế Đặng & Nguyễn Thế Hùng (1999), “Giáo trình đất”, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đất
Tác giả: Nguyễn Thế Đặng, Nguyễn Thế Hùng
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 1999
19. Trần Đình Đẳng, Quyền Đình Hà, Vũ Thị Bình (1990), “Kết quả bước đầu đánh giá đất canh tác huyện Tiền Hải, Thái Bình” . Tạp chí nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm - số 4 năm 1990, tr. 203 - 207 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả bước đầu đánh giá đất canh tác huyện Tiền Hải, Thái Bình
Tác giả: Trần Đình Đẳng, Quyền Đình Hà, Vũ Thị Bình
Nhà XB: Tạp chí nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm
Năm: 1990
20. Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung (1997), “Giáo trình kinh tế nông nghiệp”. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế nông nghiệp
Tác giả: Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
21. Phạm Văn Dư (2009), “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng” - Tạp chí Cộng sản, Số ra ngày 15/05/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Phạm Văn Dư
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 2009
22. Lê Đức & Trần Khắc Hiệp (2006), “Giáo trình đất và bảo vệ đất”, NXB Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đất và bảo vệ đất
Tác giả: Lê Đức, Trần Khắc Hiệp
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2006
23. Vũ Năng Dũng (1997). “Đánh giá hiệu quả một số mô hình đa dạng hoá cây trồng Vùng đồng bằng sông Hồng”. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả một số mô hình đa dạng hoá cây trồng Vùng đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Vũ Năng Dũng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
24. Quyền Đình Hà (1993), “Đánh giá kinh tế đất vùng đồng bằng sông Hồng” - Luận án tiến sỹ nông nghiệp. Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kinh tế đất vùng đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Quyền Đình Hà
Nhà XB: Đại học Nông nghiệp I
Năm: 1993
25. Đỗ Nguyên Hải (1999), “Xác định chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong quản lý sử dụng đất đai bền vững cho sản xuất nông nghiệp”. Tạp chí Khoa học đất, số 11, tr 120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong quản lý sử dụng đất đai bền vững cho sản xuất nông nghiệp
Tác giả: Đỗ Nguyên Hải
Nhà XB: Tạp chí Khoa học đất
Năm: 1999
26. Lê Hội (1996), “Một số phương pháp luận trong quản lý và sử dụng đất đai”. Tạp chí nghiên cứu kinh tế đất - số 193, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số phương pháp luận trong quản lý và sử dụng đất đai
Tác giả: Lê Hội
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu kinh tế đất
Năm: 1996
27. Nguyễn Đình Hợi (1993), “Kinh tế tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh nông nghiệp”. NXB Thống kê Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Đình Hợi
Nhà XB: NXB Thống kê Hà Nội
Năm: 1993
28. Đặng Ngọc Khắc (2011), “Đánh giá thực trạng và định hướng sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ”. Luận văn thạc sĩ, Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng và định hướng sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Đặng Ngọc Khắc
Nhà XB: Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2011
29. Nguyễn Khang và Phạm Dương Ưng (1995), “Kết quả bước đầu đánh giá tài nguyên đất Việt Nam”. Hội thảo quốc gia Đánh giá quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả bước đầu đánh giá tài nguyên đất Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
30. Phạm Hoàng Lâm, Đỗ Minh Hiền (2002), “Khảo sát một vài chỉ số độ chín thu hoạch của bưởi Năm Roi. Kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ Rau Quả 2001-2002, Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền nam”, NXB nông nghiệp, tr.406 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát một vài chỉ số độ chín thu hoạch của bưởi Năm Roi. Kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ Rau Quả 2001-2002, Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền nam
Tác giả: Phạm Hoàng Lâm, Đỗ Minh Hiền
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 2002
31. Liên danh Trung tâm môi trường tài nguyên miền núi và Hội Khoa học đất Việt Nam (2016), Dự án: Điều tra, đánh giá thoái hóa đất lần đầu tỉnh Lạng Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án: Điều tra, đánh giá thoái hóa đất lần đầu tỉnh Lạng Sơn
Tác giả: Liên danh Trung tâm môi trường tài nguyên miền núi, Hội Khoa học đất Việt Nam
Năm: 2016
32. Nguyễn Văn Luật (2010), “Cây có múi-Giống và kĩ thuật trồng”, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây có múi-Giống và kĩ thuật trồng
Tác giả: Nguyễn Văn Luật
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2010
33. Đặng Thế Minh & Marie Boehm (2001), “Chất lượng đất: khái niệm và ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp bền vững”, Tạp chí Khoa học đất số 15/2001, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội, tr. 59- 63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng đất: khái niệm và ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp bền vững
Tác giả: Đặng Thế Minh, Marie Boehm
Nhà XB: Tạp chí Khoa học đất
Năm: 2001

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm