1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

CÔNG TÁC BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI CÁC SẢN PHẨM ĐẶC HỮU CỦA ĐỊA PHƯƠNG ĐẢM BẢO GIÁ TRỊ THƯƠNG MẠI VÀ XU THẾ PHÁT TRIỂN HIỆN NAY

28 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công Tác Bảo Hộ Quyền Sở Hữu Trí Tuệ Đối Với Các Sản Phẩm Đặc Hữu Của Địa Phương Đảm Bảo Giá Trị Thương Mại Và Xu Thế Phát Triển Hiện Nay
Tác giả Phan Thị Thu Oanh
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên Hà Nội
Chuyên ngành Khoa học và Công nghệ
Thể loại Bản tin khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 3,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được tầm quan trọng, lợi ích và giá trị của việc bảo hộ và phát triển nhãn hiệu sản phẩm, Sở Khoa học và Công nghệ Lào Cai đã tích cực tham mưu triển khai thực hiện tốt các hoạ

Trang 1

CÔNG TÁC BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI

CÁC SẢN PHẨM ĐẶC HỮU CỦA ĐỊA PHƯƠNG ĐẢM BẢO GIÁ TRỊ THƯƠNG MẠI VÀ XU THẾ PHÁT TRIỂN HIỆN NAY

Phan Thị Thu Oanh

Trưởng phòng Quản lý Chuyên ngành

Ngày nay, công tác sở hữu trí tuệ giữ một vai

trò hết sức quan trọng đối với phát triển kinh

tế - xã hội nhất là trong thời đại công nghệ 4.0 và

hội nhập Quốc tế Sở hữu trí tuệ được công nhận

trên toàn thế giới như là một tài sản thương mại góp

phần tạo động lực cho đổi mới phát triển khoa học -

công nghệ ở mỗi quốc gia

Ở Việt Nam chúng ta, Luật sở hữu trí tuệ năm

2005, Luật sửa đổi, bổ sung và các văn bản hướng

dẫn thi hành Luật được ban hành đã tạo hành lang

pháp lý vững chắc cho công tác sở hữu trí tuệ Mới

đây, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định phê

duyệt Chiến lược Sở hữu trí tuệ đến năm 2030 cho

thấy sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với sự

phát triển của lĩnh vực sở hữu trí tuệ

Đối với một tỉnh miền núi, biên giới phía Bắc

với nhiều sản phẩm nông, lâm, thủy sản đặc thù như

Lào Cai thì việc triển khai đăng ký bảo hộ quyền sở

hữu trí tuệ cho sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ là thực

sự cần thiết góp một phần không nhỏ trong công

cuộc xóa đói, giảm nghèo tại địa phương Chính

vì vậy, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 123/

KH-UBND ngày 07/4/2020 về thực hiện chiến lược

sở hữu trí tuệ trên địa bàn tỉnh Lào Cai đến năm

2030 Nhận thức được tầm quan trọng, lợi ích và

giá trị của việc bảo hộ và phát triển nhãn hiệu sản

phẩm, Sở Khoa học và Công nghệ Lào Cai đã tích cực tham mưu triển khai thực hiện tốt các hoạt động

hỗ trợ phát triển, bảo hộ tài sản trí tuệ nhằm thúc đẩy phát triển sản phẩm của tỉnh Tính đến thời điểm này, có 40 sản phẩm đã được hỗ trợ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong đó (38 nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể; 02 chỉ dẫn địa lý) và 05 sản phẩm đang trong quá trình xây dựng nhãn hiệu (hồng không hạt Bảo Hà, tinh dầu sả Bảo Yên, rau an toàn Bảo Thắng, bò vàng Mường Khương, lợn đen bản địa Văn Bàn)

Các nhãn hiệu sản phẩm hàng hóa của tỉnh

được bảo hộ đang duy trì, bước đầu phát triển,

được các tổ chức, cá nhân sử dụng vào sản xất, kinh doanh Nhãn hiệu được in lên bao bì, tem, nhãn dán lên sản phẩm, in trên phương tiện quảng

bá để tuyên truyền sản phẩm tới người tiêu dùng

và trở thành hàng hóa được nhiều người biết đến mang sức cạnh tranh lớn trên thị trường trong và ngoài tỉnh, mang lại giá trị kinh tế do chênh lệch giá bán sau khi có nhãn hiệu cho địa phương mỗi năm hàng chục tỷ đồng, như năm 2020: Nhãn hiệu Quýt

Mường Khương trên 5 tỷ(giá tăng trung bình 2.000 đ/1kg x 2.700.000 kg/năm (296 ha cho thu hoạch)

= 5,4 tỷ/năm đồng/năm); nhãn hiệu tập thể Su su

Sa Pa 14 tỷ đồng/năm (giá tăng trung bình 2.000

đ/1kg x 7.300.000 kg/năm (120 ha)

= 14,6 tỷ/năm), nhãn hiệu Hoàng

Sin Cô Bát Xát gần 3,5 tỷ đồng/

năm (700.000 kg (40ha) x 5.000 đ/kg), dứa Mường Khương trên 9

tỷ đồng/năm (giá tăng trung bình 500đ/kg x 18.875.000 kg (755ha)

= 9.437.500 đồng/năm) Các sản

phẩm được bảo hộ tạo niềm tin cho người tiêu dùng; uy tín, chất lượng sản phẩm nâng lên và đã được các nhà máy, công ty lớn như công ty

Nhãn hiệu tập thể Gà H ’ mông và rau trái vụ Lào Cai

đã được nhà nước bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Trang 2

Cổ phần Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao Ninh

Bình và Công ty Cổ phần thực phẩm Á Châu - Ninh

Bình thu mua đưa vào nhà máy chế biến thành nước

ép dứa, thạch dứa Củ Hoàng Sin Cô được Công ty

TNHH Long Hải đứng ra liên kết, ký hợp đồng bao

tiêu sản phẩm với số lượng lớn để chế biến thành

nước giải khát Năm 2021: Sản phẩm bưởi Văn Bàn

(bưởi đỏ) bán ra thị trường khoảng 200 tấn, giá bán

nâng lên trung bình từ 1.000 đ - 2.000 đ/kg mang

lại giá trị kinh tế cho Hợp tác xã chế biến lâm sản

Phương Thái, huyện Văn Bàn 200 triệu đồng/năm

(1.000đ/kg x 200.000 kg = 200.000.000 đồng); mận

Bắc Hà trước đó chưa có thương hiệu giá bán 15.000

đ- 20.000 đ/kg, sau khi có thương hiệu giá tăng lên

30.000 - 40.000 đ kg (tăng trung bình 10.000 đ/kg),

năm 2021 đạt 3.200 tấn/năm mang lại giá trị kinh tế

cho huyện lên đến trên 30 tỷ/năm; chè Ô long Cao

Sơn có thương hiệu được cấp cho Công ty TNHH

một thành viên Mường Hoa sử dụng nhãn hiệu đã

thu mua chè cho bà con, thực hiện chế biến gắn

nhãn hiệu đưa sản phẩm xuất khẩu sang thị trường

Đài Loan, công ty đầu tư giống, phân bón, thuốc

bảo vệ thực vật sinh học và hướng dẫn bà con áp

dụng đúng kỹ thuật vào sản xuất chè Ô long đảm

bảo nguyên liệu sản phẩm để duy trì phát triển nhãn

hiệu tập thể “Chè Ô long Cao Sơn” được bảo hộ

Hiện các nhãn hiệu sản phẩm được hỗ trợ bảo hộ

vẫn đang tiếp tục duy trì, phát huy hiệu quả, nâng

cao giá bán mang lại giá trị kinh tế cao

Đến nay, nhận thức của người dân về sở hữu

trí tuệ được nâng lên, nhiều tổ chức, cá nhân tự

thực hiện đăng ký bảo hộ nhãn hiệu cho sản phẩm,

hàng hóa, dịch vụ của mình, từ đó góp phần thúc

đẩy công tác quyền sở hữu trí tuệ của tỉnh Lũy kế

đến nay, toàn tỉnh được cấp 307 giấy chứng nhận

đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, trong đó (305 nhãn hiệu, 02 chỉ dẫn địa lý)

Các nhãn hiệu sản phẩm được bảo hộ không chỉ phát huy được giá trị, làm tăng giá trị sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ mang lại lợi ích trực tiếp cho người dân mà còn bảo vệ danh tiếng của sản phẩm,

là công cụ pháp lý để bảo vệ quyền sở hữu cho sản phẩm đặc hữu, đặc sản tiềm năng của tỉnh, góp phần phát triển kinh tế xã hội địa phương, đồng thời là căn

cứ pháp lý để thâm nhập và mở rộng thị trường tiêu thụ, đây là tiền đề phát triển thương hiệu cho các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của tỉnh và cũng là cơ sở khoa học quan trọng cho chính quyền địa phương quy hoạch, phát triển, bổ sung thêm chiến lược phát triển các sản phẩm nông sản của tỉnh

Bên cạnh hiệu quả của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm đặc hữu của địa phương vẫn còn một số sản phẩm đã được bảo hộ nhưng chưa thực sự quản lý, khai thác và phát triển hiệu quả giá trị của tài sản trí tuệ

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên, trong thời gian tới Sở Khoa học và Công nghệ sẽ có những giải pháp sau:

Một là, đề xuất tham mưu cho các cấp có thẩm

quyền ban hành, sửa đổi những Quy định, chính sách, cơ chế khuyến khích, phát triển sở hữu trí tuệ

để làm cơ sở, hỗ trợ và nâng cao hiệu lực quản lý về

sở hữu trí tuệ nhằm phát triển hiệu quả tài sản trí tuệ

và tham gia tạo lập môi trường sản xuất, kinh doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh

Hai là, triển khai thực hiện tốt Chương trình hỗ

trợ phát triển tài sản trí tuệ đến năm 2030 theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ thông qua việc triển khai Kế hoạch số 123/KH-UBND ngày 07/4/2020 của UBND tỉnh thực hiện Chiến lược Sở hữu trí tuệ trên địa bàn tỉnh Lào Cai đến năm 2030 và Chỉ thị số 13/CT-UBND ngày 20/5/2021 Chỉ thị tăng cường hoạt động khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Lào Cai

Ba là, tiếp tục tuyển chọn được các dịch vụ,

sản phẩm công nghiệp, sản phẩm nông lâm nghiệp, dược liệu đặc hữu có năng suất, chất lượng và hiệu quả để đưa vào danh mục sản phẩm đề xuất tỉnh, Bộ Khoa học Công nghệ hỗ trợ kinh phí xác lập, quản

lý và phát triển bền vững sản phẩm./

P.T.T.O

Hội nghị công bố nhãn hiệu tập thể tại huyện Bắc Hà

Trang 3

HOẠT ĐỘNG THANH TRA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

và thanh tra chuyên ngành

KH&CN; giải quyết khiếu

nại, tố cáo; tổ chức tiếp công

dân; thực hiện các quy định về

phòng, chống tham nhũng, sự

nỗ lực, quyết tâm cao Trong 6

tháng đầu năm 2022, hoạt động

thanh tra khoa học công nghệ

môn, đơn vị trực thuộc Sở; triển

khai việc kê khai minh bạch tài sản, thu nhập năm 2021; thực hiện chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức, viên chức theo Văn bản số 39/SNV-TT ngày 14/01/2022 của Sở Nội

vụ Thực hiện công khai các thủ tục hành chính của Sở để tổ chức và công dân được tiếp cận

dễ dàng Công khai, minh bạch trong công tác tổ chức, cán bộ, nâng lương, khen thưởng…

theo đúng quy định Thực hiện theo quy định pháp luật và các quy chế đã ban hành như Quy chế làm việc, Quy định quản lý,

sử dụng xe ô tô, Quy định mua sắm tài sản và thanh toán, Quy chế thực hiện dân chủ trong cơ quan Sửa đổi, bổ sung Quy

chế chi tiêu nội bộ cho phù hợp với quy định hiện hành và thực

tế cơ quan Thực hiện nghiêm chế độ làm việc về chấp hành thời gian, giờ giấc làm việc; thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương, đạo đức công vụ trong

cơ quan, đơn vị và Quy chế văn hóa công sở Thực hiện tốt 56

bộ thủ tục hành chính về lĩnh vực khoa học và công nghệ thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Cổng thông tin điện

tử của Sở được duy trì, thường xuyên cập nhật thông tin, cung cấp đầy đủ các văn bản pháp luật, các thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực quản lý nhằm giúp cho tổ chức và công dân tiếp cận dễ dàng, thuận tiện Thanh tra Sở đã thực hiện tốt công tác tham mưu về tiếp công dân, giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo thuộc phạm

vi quản lý nhà nước của ngành, đảm bảo kịp thời, đúng pháp luật Ngoài hoạt động thanh tra hành chính và giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, trong 6 tháng qua Sở KHCN đã tiến hành thanh tra, kiểm tra được 161 cơ sở, trong

đó, thanh tra 42; kiểm tra 119 Đối với 42 cơ sở được thanh tra có xăng dầu 21; đồ điện, điện tử và hàng đóng gói sẵn

Đoàn thanh tra về chất lượng sản phẩm hàng hoá

Trang 4

07/2019/TT-BKHCN; tiêu chuẩn, quy

chuẩn kỹ thuật; chất lượng

sản phẩm hàng hoá; mã số mã

vạch và nhãn hàng hóa Về hồ

sơ pháp lý tại thời điểm thanh

tra đối với 42 cơ sở hoạt động

kinh doanh xăng dầu; đồ điện,

điện tử và hàng đóng gói sẵn

đều được cấp giấy chứng nhận

đăng ký kinh, giấy chứng nhận

đủ điều kiện bán lẻ xăng, dầu;

giấy chứng nhận đủ điều kiện

bán lẻ rượu, thuốc lá do các cơ

quan có thẩm quyền cấp; các

cột đo nhiên liệu đang sử dụng

còn nguyên niêm phong kẹp

chì, có giấy chứng nhận kiểm

định còn hiệu lực, trang bị ca

đong, bình đong đối chứng

đã được kiểm định ban đầu;

về chất lượng xăng, dầu gồm

xăng RON 95-III, xăng RON

95-IV, xăng E5 RON 92-II

và dầu DO 0,05S-II, dầu DO

0,001S-V, có hợp đồng đại lý

xăng dầu, các tài liệu kèm theo

hàng hóa gồm biên bản giao

nhận hàng hóa, phiếu xuất kho

hàng gửi; biên bản giao nhận

hàng; biên bản lấy mẫu, niêm

phong, bàn giao mẫu và cam

kết chất lượng của bên B cung

cấp cho bên A Các cửa hàng

có thực hiện lưu mẫu khi nhập

hàng Tại thời điểm thanh tra,

các cơ sở có lưu giữ hồ sơ chất lượng sản phẩm, có cam kết chất lượng của đơn vị cung cấp xăng dầu; thực hiện đúng việc ghi nhãn đối với hàng hóa là xăng, dầu theo quy định hiện hành Lĩnh vực hàng đóng gói sẵn và thiết bị điện, điện tử, tại thời điểm thanh tra, các cơ sở đang kinh doanh các mặt hàng gồm nồi cơm điện Cuckoo, Elmich, Media; ấm siêu tốc Saiko, máy sấy tóc Saiko, bàn

là Philips, Elmich; lò nướng Elmich, Panasonic…; hàng hóa đóng gói sẵn có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, có lưu giữ

hồ sơ chất lượng, còn thời hạn

sử dụng, có hóa đơn của nhà cung cấp; có nhãn phụ, tem, dấu hợp quy theo quy định

Công tác kiểm tra, tiến hành kiểm tra được 119 cơ sở, trong

đó, kiểm tra đột xuất về chất lượng hàng hóa dịp tết 2022 trên địa bàn tỉnh tại 65 cơ sở, trong đó 30 cửa hàng kinh doanh xăng dầu, 15 cơ sở kinh doanh hàng đóng gói sẵn, 5 cơ

sở vàng trang sức, 9 cơ sở đồ điện, điện tử, 4 cơ sở đồ chơi trẻ em, 2 cơ sở kinh doanh LPG Các cơ sở được kiểm tra chấp hành tốt các quy định của pháp luật nhà nước về tiêu chuẩn, quy chuẩn, đo lường, chất lượng, nhãn hàng hóa, mã

số, mã vạch Kiểm tra định kỳ việc chấp hành các quy định của pháp luật nhà nước về đo lường năm 2022 tại 54 cơ sở,

trong đó 28 nhà máy thủy điện,

11 đơn vị khám chữa bệnh,

5 cơ sở kinh doanh vận tải taxi 7 cơ sở sử dụng cân khối lượng lớn và áp kế và Công

ty ApaTít Việt Nam; Công ty

Cổ phần Cấp nước tỉnh; Trạm

Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Các cơ sở được kiểm tra chấp hành tốt các quy định pháp luật nhà nước về đo lường Kiểm tra trị số octan xăng tại cửa hàng xăng dầu Petrolimex 15 thuộc Công ty xăng dầu Lào Cai theo phản ảnh kiến nghị của khách hàng, kết quả trị số octan đạt yêu cầu theo quy định

Để thực hiện tốt nhiệm

vụ công tác thanh tra, kiểm tra trong thời gian tới cần tập trung triển khai kịp thời theo các kế hoạch cao điểm đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trên địa bàn tỉnh Lào Cai của Ban chỉ đạo 389 tỉnh; thanh tra định kỳ, đột xuất theo chỉ đạo của Thanh tra Bộ KH&CN và UBND tỉnh giao đảm bảo hiệu quả, chất lượng và đúng tiến độ Tăng cường đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận và xử lý sau thanh tra, giải quyết kịp thời, đúng quy định các đơn thư khiếu nại, tố cáo, xử lý nghiêm những tổ chức cá nhân vi phạm theo quy định của pháp luật./

M.T.H

Trang 5

KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA , PHÒNG NGỪA, NGĂN CHẶN HÀNH VI

VI PHẠM TRONG KINH DOANH XĂNG, DẦU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI

Ths Phạm Công Hoan

Chi cục trưởng Chi cục TCĐLCL

Thực hiện ý kiến chỉ đạo

của UBND tỉnh Lào Cai tại

Công văn số 2584/UBND-KT

ngày 13/6/2022 về việc tăng

cường công tác phòng ngừa,

việc phê duyệt kế hoạch kiểm

tra chuyên ngành lĩnh vực tiêu

chuẩn, đo lường, chất lượng và

nhãn hàng hóa, mã số mã vạch

năm 2022 Chi cục Tiêu chuẩn

Đo lường Chất lượng phối hợp

với Phòng An ninh kinh tế -

Công an tỉnh Lào Cai và Cục

Quản lý thị trường tỉnh Lào Cai

tiến hành kiểm tra về đo lường,

chất lượng và nhãn hàng hóa

xăng, dầu lưu thông trên thị

trường tại địa bàn thành phố

Lào Cai, 07 huyện và thị xã Sa

Pa Kết quả kiểm tra đo lường,

chất lượng, nhãn hàng hóa xăng

dầu lưu thông trên thị trường

của các tổ chức cá nhân trên địa

bàn tỉnh Lào Cai cụ thể như sau:

Về đo lường: Đoàn kiểm

tra tiến hành kiểm tra tại 75 đơn

vị kinh doanh xăng dầu Trong

đó 01 kho xăng dầu thuộc Công

ty TNHH MTV xăng dầu Lào

Cai; 74 đơn vị kinh doanh xăng

dầu với 83 cửa hàng bán lẻ xăng,

dầu trực thuộc Kết quả 01 kho

xăng dầu, 83/83 cửa hàng bán

lẻ xăng, dầu được kiểm tra chấp hành tốt các quy định của pháp luật về đo lường, chất lượng và nhãn hàng hóa; các cột đo xăng, dầu đều còn nguyên niêm phong kẹp chì, đã được kiểm định có giấy chứng nhận kiểm định còn thời hạn kiểm định Đoàn kiểm tra không phát hiện dấu hiệu của việc tác động, điều chỉnh, sửa chữa, lắp thêm, rút bớt, thay thế cấu trúc kỹ thuật của các cột

đo xăng, dầu hoặc sử dụng các thiết bị khác để điều chỉnh sai số của phương tiện đo Tại mỗi cửa hàng đoàn kiểm tra đã tiến hành kiểm tra sai số bán lẻ của 01 đến

03 cột đo bằng bình chuẩn dung tích của Chi cục Tiêu chuẩn Đo

lường Chất lượng, kết quả cho thấy các cột đo xăng, dầu được kiểm tra đều có sai số trong phạm vi cho phép

Về chất lượng: Các cơ sở

được kiểm tra có lưu giữ hồ sơ chất lượng kèm theo hàng hóa gồm: Có hợp đồng mua bán xăng dầu; khi nhập hàng có phiếu xuất kho hàng gửi; biên bản giao nhận; biên bản giữ liệu đo

bể bồn; biên bản lấy mẫu, niêm phong, bàn giao mẫu và cam kết chất lượng; phiếu suất kho hàng gửi; bộ Tiêu chuẩn cơ sở xăng không chì TCCS 01:2009/PETROLIMEX, Tiêu chuẩn cơ

sở cho nhiên liệu Điezen TCCS 03:2009/PETROLIMEX, các chứng thư giám định chất lượng

Đoàn kiểm tra tiến hành kiểm tra sai số bán lẻ của cột đo xăng, dầu bằng bình chuẩn dung tích của Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng

Trang 6

doanh Đoàn kiểm tra tiến hành

lấy mẫu để đo nhanh chỉ số

Octan trong xăng bằng máy đo

nhanh chỉ số Octan ZENTEX

model ZX101C, kết quả cho

thấy mẫu xăng E5 RON 92-II,

RON 95-III, RON 95-IV tại các

cửa hàng bán lẻ xăng, dầu có

chỉ số Octan đạt yêu cầu theo

quy định

Đoàn kiểm tra thực hiện

kiểm tra toàn diện kho chứa

thiết bị, vật tư trong khuôn viên

01 kho xăng dầu và 83/83 cửa

hàng bán lẻ xăng, dầu không

số cơ sở được kiểm tra thực hiện

việc ghi nhãn hàng hóa đối với

xăng E5 RON 92-II, RON

95-III, RON 95-IV và dầu Điezen

0,05%S -II đúng theo quy định

tại Nghị định số

43/2017/NĐ-CP ngày 14/4/2017 của Chính

phủ về nhãn hàng hóa

Kiểm tra việc thực hiện

các điều kiện bắt buộc đối với

cơ sở kinh doanh xăng dầu theo

quy định hiện hành thuộc trách

nhiệm quản lý của Cục Quản

lý thị trường: Đoàn kiểm tra

tiến hành kiểm tra tại 01 kho

xăng dầu, 83/83 cửa hàng bán

lẻ xăng, dầu Kết quả kiểm tra:

82/83 cơ sở kinh doanh xăng

dầu chấp hành tốt các quy định

của pháp luật nhà nước về các

điều kiện bắt buộc đối với cơ

quy định hiện hành thuộc trách nhiệm quản lý của Cục Quản lý thị trường Trong đó có 01 cơ

sở kinh doanh xăng dầu (Cửa hàng xăng dầu Tân An thuộc doanh nghiệp tư nhân Xuyên Quang) đã có hành vi vi phạm hành chính sử dụng người quản

lý hoặc nhân viên trực tiếp kinh doanh tại cửa hàng bán lẻ xăng dầu không được đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ về phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ môi trường theo quy định quy định tại Điểm c, Khoản 1, Điều 14, Nghị định số 99/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ

Đoàn kiểm tra đã lập biên bản kiểm tra và biên bản giao nhận

hồ sơ vụ việc vi phạm hành chính bàn giao cho Đội quản lý thị trường số 4 liên huyện Bảo Yên - Văn Bàn thuộc Cục quản

lý thị trường tỉnh Lào Cai xử

lý vi phạm hành chính theo quy định Đội quản lý thị trường số

4 liên huyện Bảo Yên - Văn Bàn đã lập biên bản vi phạm hành chính và xử phạt hành

vi vi phạm đối với Cửa hàng xăng dầu Tân An thuộc doanh nghiệp tư nhân Xuyên Quang 15.000.000 đồng

Đánh giá chung các cơ sở kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh Lào Cai đã chấp hành tốt các quy định về tiêu chuẩn

đo lường chất lượng và nhãn hàng hóa trong hoạt động kinh doanh của đơn vị mình, đã trang

bị đầy đủ bộ ca đong, bình đong đối chứng, còn nguyên niêm

định có giấy chứng nhận kiểm định còn thời hạn kiểm định; có lưu giữ hồ sơ chất lượng kèm theo hàng hóa; thực hiện việc ghi nhãn hàng hóa đối với xăng E5 RON 92-II không chì, RON 95-III, RON 95-IV dầu Điezen 0,05%S-II đúng theo quy định.Công tác tổ chức, thực hiện kế hoạch kiểm tra về đo lường, chất lượng và nhãn hàng hóa xăng, dầu trên địa bàn tỉnh Lào Cai đã đảm bảo đúng nội dung, thời gian theo chỉ đạo của UBND tỉnh Lào Cai Trong quá trình kiểm tra các cơ sở kinh doanh đều chấp hành tốt việc cung cấp hồ sơ, tài liệu và các yêu cầu khác của đoàn kiểm tra Các cơ sở kinh doanh xăng, dầu được kiểm tra đều chấp hành tốt các quy định của pháp luật vể tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và nhãn hàng hóa Qua công tác kiểm tra một lần nữa đoàn kiểm tra đã tiếp tục tuyên truyền, phổ biến trực tiếp đến từng cơ sở kinh doanh những quy định của pháp luật

về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và nhãn hàng hóa trong kinh doanh xăng dầu Qua đó

đã tiếp tục tạo bước chuyển biến về nhận thức, ý thức và hành động của các cơ sở trong hoạt động kinh doanh đối với hàng hóa kinh doanh có điều kiện góp phần bảo vệ người tiêu dùng, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh trên thị trường tỉnh Lào Cai./

P.C.H

Trang 7

KẾT QUẢ THỰC HIỆN CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

2020 - 2025.

Nỗ lực hoàn thành toàn diện các nhiệm vụ cải

cách hành chính (CCHC) 6 tháng đầu năm 2022

Trên cơ sở kế hoạch CCHC của tỉnh, Sở

KH&CN đã xây dựng, ban hành Kế hoạch số 104/

KH-SKHCN ngày 31/12/2021 về việc triển khai

công tác cải cách hành chính của Sở Khoa học và

Công nghệ Lào Cai năm 2022, tập trung vào các

nội dung cải cách thể chế; cải cách TTHC; cải cách

tổ chức bộ máy hành chính; cải cách chế độ công

vụ; cải cách tài chính công; xây dựng và phát triển

hính quyền điện tử, Chính quyền số Lãnh đạo Sở

luôn phát huy vai trò, trách nhiệm người đứng đầu

cơ quan, đơn vị; tăng cường chỉ đạo chấn chỉnh

kỷ luật, kỷ cương hành chính trong đội ngũ công

chức, viên chức, người lao động, góp phần xây

dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh, kỷ

luật, kỷ cương, minh bạch và trách nhiệm, trong 6

tháng đầu năm kết quả thực hiện công tác CCHC

đã đạt được kết quả như sau:

Về công tác chỉ đạo, điều hành CCHC: Sở

đã đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các phòng chuyên môn, Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng quyết liệt thực hiện các giải pháp để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, góp phần cải thiện và nâng cao kết quả các chỉ số: năng lực cạnh tranh, chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công, chỉ số CCHC, chỉ số hài lòng của người dân,

tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước

Về cải cách thể chế, trong 6 tháng đầu năm

Sở đã phối hợp với các cơ quan có liên quan tham mưu UBND tỉnh ban hành 03 văn bản quy phạm pháp luật, hiện đang tham mưu trình UBND tỉnh

01 văn bản quy phạm pháp luật 100% văn bản quy phạm pháp luật tham mưu cho UBND tỉnh được xây dựng và ban hành đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định

Công tác tuyên truyền, phổ biến, kiểm tra,

rà soát văn bản quy phạm pháp luật tiếp tục được quan tâm đúng mức Sở đã ban hành Kế hoạch số 102/KH-SKHCN ngày 30/12/2021 về công tác kiểm tra, rà soát, văn bản quy phạm pháp luật năm

2022, thường xuyên rà soát đối với 15 văn bản quy phạm pháp luật do Sở tham mưu cho HĐND, UBND tỉnh Hiện nay, đang đề xuất ban hành Quyết định thay thế Quyết định số 04/2014/QĐ-UBND ngày 22/01/2014 của UBND tỉnh Lào Cai ban hành Quy định về hoạt động sáng kiến trên địa bàn tỉnh Lào Cai

Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh Lào Cai

Trang 8

Về cải cách thủ tục hành chính, Sở đã ban

hành Kế hoạch, theo đó đôn đốc, chỉ đạo triển khai

việc công bố, niêm yết, công khai thủ tục hành

chính, đăng tải đầy đủ nội dung trên Cổng dịch vụ

hành chính công của tỉnh (dichvucong.laocai.gov

vn); Cổng thông tin điện tử của tỉnh; Trang thông

tin điện tử của Sở và cập nhập vào cơ sở dữ liệu

quốc gia Việc tiếp nhận và xử lý phản ánh, kiến

nghị trong giải quyết thủ tục hành chính được chú

trọng thực hiện nhằm kịp thời điều chỉnh, nâng cao

chất lượng phục vụ cá nhân, tổ chức, qua đó kịp

thời tháo gỡ vướng mắc, tăng cường kỷ luật, kỷ

cương hành chính

Sở đã trình và được UBND tỉnh phê duyệt

danh mục 23 TTHC thực hiện cắt giảm 30% thời

gian giải quyết, 6 tháng đầu năm có 27 lượt hồ

sơ thực hiện cắt giảm 30% thời gian giải quyết

TTHC Bộ phận Một cửa tại Trung tâm dịch vụ

hành chính công tiếp tục được duy trì hoạt động,

phát huy hiệu quả, 100% TTHC được giải quyết

đúng hạn, các tổ chức, công dân đến làm việc hồ

sơ được tiếp nhận và tư vấn một cách cụ thể, chính

xác Trong 6 tháng đầu năm đã tiếp nhận 265 hồ

sơ, trong đó: 08 hồ sơ thực hiện dịch vụ công mức

độ 4, 0 hồ sơ nhận trực tiếp, 257 hồ sơ thực hiện

dịch vụ công mức độ 3 (giải quyết đúng hạn 251

hồ sơ, đang giải quyết 06 hồ sơ) Việc ứng dụng

công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành

chính, triển khai thực hiện thủ tục hành chính trên

môi trường điện tử tiếp tục được quan tâm chỉ đạo

thực hiện trên cơ sở triển khai có hiệu quả Để bảo

đảm việc vận hành ổn định, hiệu quả của Bộ phận

Một cửa, Sở đã chỉ đạo các đơn vị có liên quan

phối hợp chặt chẽ với đơn vị cung ứng dịch vụ kịp

thời khắc phục sự cố, bảo đảm kết nối liên thông

với Cổng dịch vụ công của tỉnh, của quốc gia

Về cải cách tổ chức bộ máy hành chính, công

tác cải cách tổ chức bộ máy hành chính là nội dung

luôn được Lãnh đạo Sở quan tâm, chỉ đạo sát sao

Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trực thuộc Sở thực hiện

nghiêm việc rà soát quy định về chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức để thực hiện việc

kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy theo các thông tư,

nghị định, quyết định của Chính Phủ; Bộ Khoa học

và Công nghệ và tỉnh Lào Cai Thực hiện bố trí, sắp

xếp cán bộ, công chức, viên chức theo ngạch, chức danh, nghề nghiệp, trình độ đào tạo phù hợp với chức năng, nhiệm vụ theo vị trí việc làm để đảm bảo hiệu quả công việc Vị trí việc làm được bố trí hợp

lý, phù hợp với chuyên môn đào tạo và năng lực,

sở trường giúp cho chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngày càng nâng cao và để làm cơ sở xác định biên chế và đổi mới các nội dung, phương thức quản lý công chức, viên chức

Về cải cách chế độ công vụ, công chức, là một

trong những nội dung quan trọng, trọng tâm được Lãnh đạo Sở quan tâm, chỉ đạo sát sao Công tác kiện toàn nhân sự và lãnh đạo các đơn vị trực thuộc được đẩy mạnh thực hiện Đã tiến hành bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý đối với 02 trường hợp;

bổ nhiệm lại công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đối với 02 trường hợp; thực hiện tuyển dụng 01 công chức, chuyển ngạch viên chức sang hạng chức danh nghề nghiệp đối với 10 viên chức

Ra Quyết định nâng lương trước thời hạn: 07 cán bộ công chức, viên chức; nâng lương thường xuyên cho 15 cán bộ công chức, viên chức; lập danh sách cán bộ; cử 05 cán bộ công chức, viên chức, tham gia lớp Trung cấp lý luận chính trị; cử 02 cán

bộ tham gia bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh đối tượng 3; cử 02 công chức tham gia lớp bồi dưỡng chuyên viên chính do Học viện Hành chính Quốc gia tổ chức và 04 công chức, viên chức do Trường chính trị tỉnh Lào Cai tổ chức

Bộ phận “một cửa” của Sở KH&CN nỗ lực nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính công cho người dân, doanh nghiệp.

Trang 9

Về cải cách tài chính công, tiếp tục tăng cường

kỷ luật tài chính, điều hành chặt chẽ ngân sách trong

phạm vi dự toán được giao; triệt để tiết kiệm các

khoản chi ngân sách, rà soát, sắp xếp các nhiệm vụ

chi chưa thực sự cần thiết Quản lý chặt chẽ và sử

dụng hiệu quả tài sản công Để bảo đảm nguồn lực

triển khai thực hiện một cách nghiêm túc, kịp thời,

hiệu quả các nhiệm vụ công tác năm 2022, Sở đã

giao dự toán ngân sách nhà nước năm 2022 cho các

phòng chuyên môn, cơ quan, đơn vị trực thuộc, thực

hiện việc công khai dự toán ngân sách nhà nước

năm 2022 Hiện nay, các đơn vị sự nghiệp công của

Sở đang triển khai thực hiện Nghị định số 60/2021/

NĐ-CP ngày 21/6/2021 của Chính phủ

Về xây dựng Chính quyền điện tử, Chính

quyền số: Sở luôn xác định hiện đại hóa hành chính,

ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của cơ

quan hành chính nói chung, đẩy mạnh thực hiện xây

dựng Chính quyền điện tử, Chính quyền số, chuyển

đổi số nói riêng là một trong những nội dung trọng

tâm, góp phần đổi mới, nâng cao năng suất, chất

lượng, hiệu quả hoạt động của Sở Căn cứ đề án, kế

hoạch, quyết định của Trung ương, Tỉnh ủy, UBND

tỉnh về chuyển đổi số, Sở xây dựng và ban hành

Kế hoạch số: 80/KH-SKHCN ngày 22/10/2021 về

chuyển đổi số Sở KH&CN giai đoạn 2021 – 2025

và Kế hoạch số 31/KH-SKHCN ngày 31/3/2022 về

chuyển đổi số Sở KH&CN năm 2022 và thành lập

Ban chỉ đạo về chuyển đổi số, do đồng chí Giám

đốc Sở làm Trưởng ban

Tham mưu trình UBND tỉnh ban hành Kế

hoạch số 35/KH-UBND ngày 25/01/2022 của

UBND tỉnh Lào Cai về triển khai duy trì, áp dụng,

cải tiến Hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu

chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015 vào hoạt

động của các cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống hành

chính nhà nước tỉnh Lào Cai năm 2022 Hiện nay

toàn tỉnh đã có 193/193 cơ quan hành chính nhà

nước thực hiện chuyển đổi Phiên bản áp dụng ISO

9001:2008 sang ISO 9001:2015 vào xử lý công

việc Tham mưu triển khai áp dụng ISO điện tử

trong các cơ quan hành chính nhà nước

Nhìn chung, công tác cải cách hành chính

tiếp tục nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của

lãnh đạo Sở, sự vào cuộc của các phòng chuyên

môn, Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, qua đó đã tạo sự chuyển biến trong nhận thức và hành động của toàn thể công chức, viên chức trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ Công tác tham mưu, đôn đốc triển khai thực hiện các nhiệm

vụ cải cách hành chính được thực hiện kịp thời trên cơ sở bám sát kế hoạch cải cách hành chính của Sở và các văn bản hướng dẫn của cấp trên, qua

đó bảo đảm tiến độ, hiệu quả thực hiện các nhiệm

vụ cải cách hành chính của Sở

Tập trung đổi mới công tác CCHC 6 tháng cuối năm 2022

Một là, tiếp tục rà soát văn bản quy phạm

pháp luật Sửa đổi bổ sung các văn bản cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của Sở

Hai là, Xây dựng Kế hoạch và thực hiện kiểm

tra việc thực hiện công tác tổ chức cán bộ; công tác cải cách hành chính; kiểm soát thủ tục hành chính; công tác thi đua khen thưởng tại đơn vị trực thuộc

Ba là, Cải tiến chế độ làm việc, tăng cường

trách nhiệm, năng lực của người đứng đầu cơ quan

và cán bộ công chức, viên chức trong giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân

Bốn là, Tăng cường công tác bồi dưỡng cho

cán bộ công chức, viên chức Tiếp tục thực hiện Nghị định số 59/2019/NĐ-CP, ngày 01/7/2019 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng chống tham nhũng

Năm là, Triển khai thực hiện Nghị định số

60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021 của Chính phủ về thực hiện cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập

Sáu là, Tiếp tục đôn đốc việc duy trì, áp dụng,

cải tiến HTQLCL theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2015 đối với 193 cơ quan, đơn vị hành chính (gồm: 23 sở, ban, ngành; 09 chi cục; 09 UBND huyện, thành phố, thị xã; 152 UBND xã, phường, thị trấn); Tổ chức kiểm tra tại trụ sở và kiểm tra qua hồ sơ báo cáo hoạt động áp dụng, duy trì và cải tiến HTQLCL theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015 vào hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước trên địa bàn tỉnh Lào Cai năm 2022 (Đợt 2); Tiếp tục tham mưu triển khai áp dụng ISO điện tử trong các cơ quan hành chính nhà nước./

T.T.M.Q

Trang 10

HIỆU QUẢ ỨNG DỤNG CỦA ĐỀ TÀI “NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH SẢN XUẤT GIỐNG VÀ TRỒNG CÂY DƯỢC LIỆU CÓ GIÁ TRỊ KINH TẾ (ĐƯƠNG QUY, ĐAN SÂM, CÁT CÁNH) THEO HƯỚNG TIÊU CHUẨN

GACP-WHO TẠI HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH LÀO CAI”

Mai Thị Thu Huệ

Phó Trưởng phòng Quản lý Khoa học

Huyện Bắc Hà là một trong những huyện nằm

trong vùng quy hoạch sản xuất các cây dược

liệu được Thủ tướng Chính Phủ và Ủy ban nhân

dân (UBND) tỉnh Lào Cai phê duyệt nên là điều

kiện hết sức thuận lợi cho việc mở rộng phát triển

sản xuất cây dược liệu bền vững theo tiêu chuẩn

GACP-WHO đảm bảo sản xuất lâu dài Tuy nhiên

vấn đề khó khăn hiện nay là giống cây trồng vẫn

còn thiếu rất nhiều và chất lượng giống chưa đảm

bảo, chưa có giống đạt tiêu chuẩn để sản xuất và

cung ứng giống cho thị trường cũng như người

dân để phát triển vùng dược liệu quý Trong đó

đặc biệt là một số cây dược liệu có giá trị cả về

dược lý và giá trị kinh tế như: Đương quy, Đan

sâm và Cát cánh Xây dựng và làm chủ quy trình

sản xuất giống 3 cây dược liệu trên là nhu cầu

cấp thiết tại Bắc Hà cũng như là tỉnh Lào Cai

Trước thực trạng đó, UBND tỉnh đã phê duyệt

cho Trung tâm dịch vụ Nông nghiệp huyện Bắc

Hà chủ trì thực hiện đề tài “Nghiên cứu xây dựng

mô hình sản xuất giống và trồng cây dược liệu có

giá trị kinh tế (Đương quy, Đan sâm, Cát cánh) theo hướng tiêu chuẩn GACP-WHO tại huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai” Với 03 mục tiêu chính là: Xây dựng kỹ thuật sản xuất cây giống dược liệu Đương quy Nhật Bản, Đan sâm và Cát cánh có chất lượng cao nhằm chủ động cung cấp giống, phục vụ mục tiêu phát triển cây dược liệu huyện Bắc Hà 2017 - 2020 và các năm tiếp theo; xây dựng mô hình sản xuất giống và dược liệu cây Đương quy Nhật Bản, Đan sâm và Cát cánh theo hướng tiêu chuẩn GACP-WHO; chuyển giao kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch cho người dân

Đề tài đã xác định được thời vụ trồng cây đương quy, đan sâm, cát cánh hàng năm; Nhiệt độ

xử lý hạt giống bằng nước ấm cho tỷ lệ mọc mầm cao nhất; xác định được mật độ trồng, lượng phân bón thích hợp để cây sinh trưởng và phát triển tốt nhất Thời gian thu hoạch, khả năng chống chịu được sâu bệnh hại khi điều kiện thời tiết bất lợi

và cho năng suất cao nhất Chất lượng dược liệu Đương quy, Đan sâm, Cát cánh trồng tại Lào Cai đảm bảo được các tiêu chí trong Dược điển Việt Nam Kết quả nghiên cứu đã được Hội đồng Tư vấn Khoa học và Công nghệ tỉnh nghiệm thu và UBND tỉnh bàn giao cho huyện Bắc Hà triển khai

ứng dụng nhân rộng

Theo báo cáo của Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp huyện Bắc Hà, sau khi đề tài được nghiệm thu đơn vị đã chủ động phối hợp với UBND các

xã trong vùng quy hoạch sản xuất cây dược liệu của huyện tuyên truyền, hướng dẫn, tập huấn kỹ thuật và chỉ đạo các hộ nông dân tham gia sản xuất cây dược liệu Năm 2020 - 2021 tổ chức

Lãnh đạo huyện Bắc hà thăm và kiểm tra mô hình sản

xuất giống cát canh tại huyện Bắc Hà, Lào Cai

Trang 11

thực hiện theo đúng quy trình kỹ thuật đã được

nghiên cứu thông qua kết quả đề tài nghiên cứu

khoa học bao gồm: Quy trình kỹ thuật trồng,

chăm sóc, thu hái, sơ chế và bảo quản dược

liệu Đương quy, Cát cánh, Đan sâm Thời gian

thực hiện từ tháng 10/2020 Kết quả 100% diện

tích sản xuất cây dược liệu trên địa bàn huyện

đều ứng dụng sản xuất theo hướng tiêu chuẩn

GACP-WHO Tổng diện tích ứng dụng 107 ha

(trong đó: Đương quy 10ha, Cát cánh 94ha, cây

dược liệu khác 3ha) Năm 2021-2022: Tiếp tục

tuyên truyền nhân dân các xã trong vùng sản

xuất cây dược liệu đăng ký và tổ chức đầu tư

nhân rộng thực hiện được 70ha Trong đó: Thực

hiện theo chỉ tiêu kế hoạch huyện giao năm

2021-2022 là 50 ha gồm: Actiso 3ha, Cát cánh

42ha, Đương quy 5ha Hiện cây đã mọc và sinh

trưởng bình thường, nhân dân đang tiến hành

chăm sóc trồng dặm Thực hiện theo hợp đồng

liên kết sản xuất giữa nhân dân xã Tả Van Chư

với Công ty Cổ phần VIETRAP đầu tư Thương

mại (VIETRAB) là 20 ha cây Cát cánh Hiện cây

đã mọc và sinh trưởng bình thường, nhân dân

đang tiến hành chăm sóc trồng dặm Hiệu quả

kinh tế: Liên vụ năm 2020-2021 cây đương quy:

10 ha; thu mua được 53,58 tấn củ tươi, giá thu

mua 12.000 đ/kg, tổng giá trị 642,96 triệu đồng

Cây cát cánh: 94 ha; thu mua được 633,31 tấn củ

tươi (Trung tâm thu mua và sơ chế 593,31 tấn,

Công ty VIETRAP thu mua và sơ chế 40 tấn),

giá thu mua 20.000đ/kg, tổng giá trị: 12.666,2

triệu đồng Cây Đẳng sâm: 3 ha; thu được 18 tấn

củ tươi (Trung tâm mua và sơ chế), giá thu mua

15.000đ/kg, tổng giá trị 270 triệu đồng Cũng

tương tự như 2 mô hình trên, Đẳng sâm cho thu

lãi trên 40 triệu đồng/ha

Năm 2020-2021 đề tài đã chuyển giao kết

quả nghiên cứu cho Hợp tác xã Cờ Cải sản xuất

giống các cây dược liệu tại xã Lùng Phình bao

gồm: 3.000m2 cây Đương quy (cây 2 năm tuổi do

HTX trồng được từ củ giống của cây trồng năm

2019-2020), thời gian thực hiện tháng 10/2020 và

2.000m2 Cây Cát cánh (cây tuổi 2 do HTX trồng được từ củ giống của cây trồng năm 2019-2020), thời gian thực hiện tháng 01/2021 Phương thức chuyển giao theo đơn đặt hàng (đã đối ứng nguồn chi phí khác ngoài ngân sách nhà nước, vật tư

và nhân lực, đất…) thông qua các lớp tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật tại hiện trường theo quy trình

kỹ thuật thu được từ kết quả đề tài NCKH như: Làm đất, lên luống, bón phân, che phủ nilon, chọn củ giống, trồng, chăm sóc, phòng trừ các đối tượng sâu bệnh hại, tỉa cây, tỉa hoa, thu hoạch hạt giống và bảo quản hạt giống cây dược liệu Kết quả mô hình đã thu được 100 kg hạt giống Đương quy và 610 kg hạt giống Cát cánh để cung cấp cho sản xuất trên địa bàn liên vụ năm 2021-2022 (quy mô 3000m2 Đương quy và 2000m2 cây Cát cánh tại xã Lùng Phình) và cung cấp một phần giống cho Viện Dược liệu, các tổ chức cá nhân

có nhu cầu

Các mô hình chuyển giao ứng dụng khoa học và công nghệ có khả năng cho hiệu quả kinh tế cao nếu có hợp đồng liên kết sản xuất và bao tiêu sản phẩm Mô hình có tác động lớn về kinh tế - xã hội, môi trường, ý nghĩa khoa học của công nghệ; được nhân dân và các cấp chính quyền tại địa phương chấp thuận, giải quyết được việc làm cho một bộ phận nhân dân trên địa bàn Đặc biệt là có khả năng phát triển thành vùng sản xuất dược liệu hàng hóa Việc trồng các loài cây dược liệu trên địa bàn được xem là một giải pháp quan trọng để giúp người dân nơi đây có việc làm ổn định và từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần xóa đói giảm nghèo, đây cũng là mục tiêu chính trị của tỉnh trong việc phát triển kinh tế cho người dân Qua đó từng bước chủ động nguồn giống phục

vụ mục tiêu trong quy hoạch phát triển dược liệu đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 của tỉnh, khôi phục và phát triển các loài cây dược liệu có thế mạnh của địa phương./

M.T.T.H

Trang 12

THỰC TRẠNG ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI

NHỮNG THÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP

Lê Long Giang

Phòng Quản lý công nghệ

Lào Cai là tỉnh có nhiều thuận lợi để phát triển

công nghiệp với nhiều ngành công nghiệp khác

nhau, nổi bật là công nghiệp khai khoáng, thủy điện

và hóa chất, phân bón, công nghiệp chế biến Tuy

nhiên, công nghiệp Lào Cai chỉ thực sự hình thành

và có bước phát triển khi có sự lãnh đạo của Đảng

bộ tỉnh Lào Cai (3/1947) và Ủy ban Hành chính

tỉnh Lào Cai (11/1950) Lào Cai có thế mạnh lâu dài

về công nghiệp chế biến gắn với khai khoáng Với

35 loại khoáng sản khác nhau, 150 điểm mỏ có giá

trị, trong đó nhiều loại chất lượng cao, trữ lượng lớn

như quặng apatit, đồng, sắt, vàng, đất hiếm, graphít,

fenpat các loại khoáng sản giữ vai trò chiến lược

trong chuỗi sản xuất toàn quốc Giai đoạn năm 2001

- 2010, Lào Cai đã có hàng loạt giải pháp thúc đẩy

phát triển công nghiệp Tỉnh hình thành 2 khu công

nghiệp là Đông Phố Mới (100 ha) và Tằng Loỏng

(1.100 ha); đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm

công nghiệp Bắc Duyên Hải (80 ha) Trong 10 năm

2001 - 2010, cơ sở sản xuất công nghiệp tăng 2,3

lần, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 7 lần Công

nghiệp Lào Cai trở thành ngành kinh tế có quy mô

lớn nhất trong cơ cấu kinh tế và ảnh hưởng ngày

càng lớn tới sự phát triển kinh tế - xã hội của địa

phương Tốc độ tăng trưởng kinh tế công nghiệp

nhanh và cao nhất trong nền kinh tế Lào Cai, giai

đoạn 2001 - 2005 bình quân đạt 15,5%/năm, giai

đoạn 2006 - 2010 đạt 32,3%, bình quân trong 10

năm đạt 23,9%/năm

Giai đoạn 2011 - 2021, ngành công nghiệp

tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao, đóng góp

quan trọng trong phát triển kinh tế của tỉnh; từng

bước khẳng định là trung tâm luyện kim, hóa chất,

phân bón của vùng và cả nước Các dự án chế biến

sâu khoáng sản được ưu tiên đầu tư, nhiều nhà máy

đi vào hoạt động và phát huy hiệu quả Tiềm năng

thủy điện được khai thác hợp lý Các khu, cụm

công nghiệp tiếp tục được đầu tư hoàn thiện hạ

tầng, hệ thống quan trắc, xử lý môi trường Chính

sách khuyến khích phát triển tiểu thủ công nghiệp

của tỉnh được triển khai hiệu quả, sản phẩm tiểu thủ công nghiệp đáp ứng nhu cầu tiêu dùng Trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2020 -

2025, Đảng bộ tỉnh xác định tiếp tục duy trì phát triển công nghiệp đảm bảo là trụ cột quan trọng cho phát triển; tập trung công nghiệp chế biến sâu khoáng sản, vật liệu, công nghiệp phụ trợ; chú trọng

áp dụng công nghệ hiện đại, tiên tiến trong sản xuất Giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 2020 - 2025 phấn đấu tăng cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế.Trong những năm qua, thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về hoạt động khoa học

và công nghệ trên địa bàn tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ Lào Cai đã tiến hành thanh kiểm tra, thẩm định công nghệ và tham gia ý kiến về công nghệ cho các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Bên cạnh đó, thực hiện Đề án Hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2015-2020 và giai đoạn 2021-2025 (thuộc Đề

án số 11-ĐA/TU ngày 27/11/2015 của Tỉnh Ủy Lào Cai về Phát triển KH&CN tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2016-2020; Đề án số 06-ĐA/TU ngày 11/12/2020 của Tỉnh Ủy Lào Cai về đổi mới, phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện - nguồn nhân lực - KHCN tỉnh Lào Cai giai đoạn 2020-2025)

Tổ hợp nhà máy của Công ty TNHH MTV hóa chất Đức Giang Lào Cai tại Khu công nghiệp Tằng Loỏng

Trang 13

Từ năm 2017-2022, Sở Khoa học và Công nghệ đã

thực hiện đánh giá trình độ và năng lực được cho

hơn 100 doanh nghiệp sản xuất thuộc nhóm ngành

sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Qua các hoạt

động thanh kiểm tra, khảo sát, đánh giá trình độ và

năng lực công nghệ trực tiếp cho các doanh nghiệp

sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh có thể thấy:

Hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh còn có nhiều dự

án đầu tư những thiết bị, công nghệ chưa đáp ứng

được yêu cầu sản xuất, chủ yếu các trang thiết bị

máy móc, công nghệ đã cũ, chắp vá hạn chế trong

sản xuất những sản phẩm yêu cầu độ chính xác cao,

khó khăn trong việc đáp ứng được thị hiếu ngày

càng cao của thị trường trong và ngoài nước Phần

lớn thiết bị máy móc thiết bị có xuất xứ Trung Quốc

và từ một số nước Đông Âu, ASEAN,…nên tính

đồng bộ kém, khi sử dụng năng lực sản xuất chưa

đáp ứng được yêu cầu; Do đầu tư thiếu đồng bộ nên

doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn về phụ tùng

thay thế, suất tiêu hao vật liệu, nhiên liệu trên một

đơn vị sản phẩm còn quá lớn, nhiều tiêu chuẩn định

mức đã lỗi thời không còn phù hợp nhưng chưa sửa

đổi Máy móc thiết bị cũ làm cho số giờ máy chết

cao… Những điều này chính là nguyên nhân làm

cho giá thành sản phẩm cao, chất lượng thấp, đặc

biệt là vấn đề ô nhiễm môi trường

Thời gian qua, Bộ Khoa học và Công nghệ nói

chung và Lào Cai nói riêng, đã xây dựng hành lang

pháp lý, đưa ra các chương trình hỗ trợ hoạt động

đổi mới khoa học và công nghệ của doanh nghiệp

Cụ thể, là đã kết nối nhiều nguồn cung và cầu công

nghệ, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh

nghiệp Trong quá trình đàm phán chuyển giao công

nghệ, đã có nhiều hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp

như: Tư vấn công nghệ, các vấn đề pháp lý, kết

nối nguồn lực tài chính cho doanh nghiệp Nhiều

công nghệ sau khi được chuyển giao đã phát huy

hiệu quả, phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh

của doanh nghiệp, tăng lợi nhuận và khả năng cạnh

tranh của sản phẩm hàng hóa Tuy nhiên, kết quả

đổi mới công nghệ của doanh nghiệp vẫn còn nhiều

vấn đề đáng quan tâm

Hiện nay, số lượng doanh nghiệp nói chung

và doanh nghiệp hoạt động sản xuất trong lĩnh vực

công nghiệp gia tăng liên tục, nhưng trong đó có

đa phần là các Doanh nghiệp nhỏ và vừa Năng lực

sản xuất của các doanh nghiệp này hạn chế do ít

cập nhật sự thay đổi của thị trường và công nghệ

Thực trạng chung của các doanh nghiệp này là sử

dụng công nghệ lạc hậu, năng suất lao động quá thấp, thường xuyên gặp khó về tài chính, nhân lực yếu kém chưa tiếp nhận thông tin và công nghệ mới trong sản xuất, cũng như các chính sách hỗ trợ của Nhà nước Quá trình đổi mới công nghệ của doanh nghiệp cũng luôn đối mặt với những trở lực, nhất là công nghệ đã đầu tư với giá trị lớn nhưng lạc hậu khi chưa thu hồi vốn, kiến thức và kỹ năng của nguồn nhân lực không thích ứng với bối cảnh mới Hiện nay, các doanh nghiệp có thể nhận thức được lợi ích

từ việc đổi mới, cải tiến công nghệ, nhưng khi đối mặt với những khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, công nghệ là vấn đề chưa được doanh nghiệp vừa và nhỏ ưu tiên đầu tư Với việc công nghệ không được coi là lĩnh vực ưu tiên khi bắt đầu kinh doanh, do đó, doanh nghiệp thiếu bài bản và tầm nhìn trong phát triển công nghệ, thiếu sự đầu

tư một cách đồng bộ, dẫn đến tốn kém và mất thời gian để chuyển đổi công nghệ, khó tăng quy mô sản xuất Tình trạng các doanh nghiệp thiếu sự chủ động trong việc tiếp cận công nghệ mới, chưa quan tâm việc đầu tư công nghệ trong sản xuất không chỉ làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của chính doanh nghiệp, mà còn kéo theo hậu quả tác động xấu đến môi trường đối với Lào Cai

Hầu hết doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp sản xuất công nghệ ở Lào Cai hiện nay có quy mô vừa và nhỏ, nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực tài chính còn hạn chế, cho nên hoạt động đổi mới công nghệ vẫn chưa thật sự diễn ra mạnh mẽ

Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần đẩy mạnh đổi mới công nghệ nhằm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ trong bối cảnh cạnh tranh và cuộc CMCN 4.0 đang tác động đến phương thức sản xuất của doanh nghiệp Đây là yêu cầu sống còn của doanh nghiệp trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu hiện nay Để giải quyết được những vấn

đề này, trong thời gian tới, cần chú trọng một số vấn đề như:

* Về phía quản lý nhà nước

- Cải thiện hiệu quả các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ đối với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ Chẳng hạn, phải đảm bảo hiệu quả thực thi từ khi ban hành chính sách đến người thực hiện xét duyệt hồ sơ; đồng thời, cắt giảm những thủ tục, giấy tờ không cần thiết, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận

(Xem tiếp trang 15)

Trang 14

HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP THỬ NGHIỆM TẠI TRUNG TÂM

KIỂM ĐỊNH VÀ KIỂM NGHIỆM HÀNG HOÁ TỈNH LÀO CAI

Hà Thị Thanh Tâm

Trung tâm Kiểm định và Kiểm nghiệm hàng hóa

Dịch vụ thử nghiệm của Trung tâm Kiểm định

và Kiểm nghiệm hàng hoá tỉnh Lào Cai là một

trong hai hoạt động đánh giá sự phù hợp đáp ứng

theo các quy định của Nghị định 107/2016/NĐ-CP

ngày 01/7/2016 Trung tâm Kiểm định và Kiểm

nghiệm hàng hoá đã xây dựng phòng thử nghiệm có

đủ các điều kiện về: nhân sự, trình độ chuyên môn,

thiết bị, máy móc, dụng cụ … phù hợp và phòng thử

nghiệm đạt yêu cầu theo tiêu chuẩn ISO/IEC 17025

để được Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng

– Bộ Khoa học và Công nghệ chứng nhận hoạt động

trong lĩnh vực thử nghiệm phân bón

Sau 9 năm duy trì hoạt động thử nghiệm phân

bón được Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất

lượng chứng nhận, Văn phòng Công nhận Chất

lượng – Bộ Khoa học và Công nghệ công nhận và

cơ quan quản lý nhà nước chỉ định thì đến nay năng

lực thử nghiệm phân bón tại Trung tâm đã được

khẳng định Để duy trì hoạt động thử nghiệm thì

Trung tâm thường xuyên chịu sự đánh giá, kiểm tra,

giám sát cực kỳ chặt chẽ của các cơ quan bộ, ngành

quản lý là: Cục Bảo vệ thực vật, Văn phòng Công

nhận Chất lượng, đồng thời tích cực tham gia các

chương trình thử nghiệm thành thạo do Trung tâm

Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 3 tổ chức

để đánh giá tay nghề của các thử nghiệm viên và

chất lượng quản lý của lĩnh vực thử nghiệm Nhờ đó

phát hiện các điểm không phù hợp để tìm biện pháp

khắc phục hệ thống quản lý Phòng thử nghiệm theo

tiêu chuẩn ISO/IEC 17025: 2017 được kịp thời và phù hợp với thực tế

Hiện nay, lĩnh vực thử nghiệm phân bón của Trung tâm cũng được Cục Bảo vệ thực vật – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ định cho phép thực hiện phân tích, cấp kết quả 20 phép thử trong phân bón vô cơ theo Quyết định số 597/QĐ-BVTV-KH ngày 31/3/2021 để phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về nhập khẩu, sản xuất phân bón Năm 2022 phòng Kiểm nghiệm của Trung tâm vừa trải qua đợt đánh giá giám sát của Văn phòng Công nhận Chất lượng – Bộ Khoa học và Công nghệ về

hệ thống quản lý phòng thử nghiệm theo tiêu chuẩn ISO/IEC 17025, chuyên gia đánh giá cao về sự quản

lý chặt chẽ cơ sở vật chất, tiện nghi môi trường, hệ thống quản lý, đào tạo chuyên môn và tay nghề của các thử nghiệm viên và tư vấn cho Phòng một số điểm lưu ý để quản lý hoạt động thử nghiệm được tốt hơn

Tháng 8 năm 2022, Phòng Kiểm nghiệm đã tham gia 4 chương trình thử nghiệm do Trung tâm

Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 3 tổ chức Tại chương trình này nhiều phòng thử nghiệm cùng được gửi một loại mẫu phân bón để phân tích các phép thử trong đó, các kết quả và quá trình thực hiện của các phòng đều được mã hoá đảm bảo tính khách quan, bảo mật để đánh giá chính xác tay nghề, năng lực thử nghiệm của các phòng thử nghiệm tham gia Phòng Kiểm nghiệm hiện đã có ¾ mẫu đã có được đánh giá kết quả 9/9 phép thử tham gia đều đạt và ¼ mẫu đang trong thời gian đánh giá Qua đó để khẳng định tay nghề thử nghiệm viên và các kết quả cấp ra tạo được uy tín cho khách hàng Cục Bảo vệ thực vật, Văn phòng Công nhận Chất lượng cũng lấy kết quả tham gia Chương trình thử nghiệm thành thạo này để đánh giá chất lượng duy trì của phòng thử nghiệm Mặc dù 8 tháng đầu năm 2022, lượng mẫu phân bón sụt giảm hơn 50% so với cùng kỳ năm trước do tình hình dịch bệnh, chính sách biên mậu tại cửa khẩu

và lượng hàng hoá nhập khẩu rất ít Hơn nữa một số thiết bị phân tích tại phòng thử nghiệm đang xuống cấp, thường xuyên cần phải bảo dưỡng, sửa chữa; giá

Thử nghiệm viên thực hiện phép thử

tham gia thử nghiệm thành thạo năm 2022

Ngày đăng: 06/06/2023, 23:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w