Cùng với sự phát triển nhanh chóng của xã hội, chất lượng cuộc sống con người ngày càng được cải thiện và nâng cao. Những vấn đề xã hội cơ bản như giáo dục, y tế, an ninh... luôn được tất cả các quốc gia đề cao và chú trọng. Và để tạo nên những thế hệ tương lai văn minh, phát triển, việc tìm hiểu sự hình thành và phát triển tâm lý trẻ em ở từng giai đoạn nhằm áp dụng các biện pháp giáo dục sớm cho trẻ ngay từ những năm tháng đầu đời ngày càng được nhiều gia đình quan tâm thực hiện. Các nhà nghiên cứu về vấn đề tâm lý và giáo dục trẻ em trên thế giới đều cho rằng, những năm tháng đầu đời chính là thời điểm quan trọng nhất để hình thành nên nhận thức, suy nghĩ, tính cách của trẻ và có ảnh hưởng đến cả cuộc đời đứa trẻ sau này. Giai đoạn sơ sinh từ 0 đến 2 tháng tuổi có thể coi là giai đoạn “bước ngoặt” với trẻ khi có sự thay đổi đột ngột từ môi trường ổn định trong bào thai sang môi trường bên ngoài với nhiều biến đổi về nhiệt độ, ánh sáng, âm thanh… Trẻ bắt đầu phải làm quen với môi trường sống mới và trong giai đoạn đầu tiên này, trẻ rất cần sự quan tâm, yêu thương từ cha, mẹ và những người thân xung quanh cũng như rất cần sự chăm sóc, hỗ trợ tất cả các nhu cầu cơ bản (ăn, mặc, ở, đi lại, ngủ…) từ mọi người. (Bệnh viện Nhi đồng thành phố, 2022; International School Saigon Pearl Elementary & Early Years, 2021; WATER GROUP, 2020). Đồng thời, sau khi trẻ được sinh ra, những cảm xúc trực tiếp truyền từ mẹ sang cũng theo đó chấm dứt, do đó giai đoạn sơ sinh cũng chính là thời điểm cảm xúc tự do trong trẻ được hình thành, xuất hiện nhu cầu được giao lưu cảm xúc trực tiếp với người mẹ, người thân, người chăm sóc trẻ (Thi Trân, 2013). Có thể nói, mối quan hệ gắn bó giữa mẹ và con chính là mối quan hệ đầu tiên và quan trọng nhất, tạo tiền đề cho sự phát triển sau này của trẻ. Nắm được tầm quan trọng của giai đoạn này trong sự hình thành và phát triển tâm lý trẻ trong tương lai, nhóm 5 thực hiện đề tài nghiên cứu “Tâm lý trẻ giai đoạn sơ sinh: từ 0 đến 2 tháng tuổi thông qua nhu cầu gắn bó mẹ - con”. Bài nghiên cứu không chỉ chỉ ra những đặc điểm nổi bật trong sự hình thành tâm lý của trẻ ở giai đoạn hai tháng đầu đời mà còn nêu ra mối liên hệ giữa việc hình thành tâm lý ở trẻ và việc trao đổi, tiếp xúc trực tiếp giữa mẹ và con. Đồng thời, bài viết cũng đề xuất một số biện pháp nhằm hỗ trợ việc giáo dục sớm cho trẻ trong giai đoạn này, góp phần định hướng giúp trẻ phát triển toàn diện và giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực đến sự hình thành tâm lý, tính cách ở trẻ trong tương lai, giúp các bậc cha mẹ có thể tìm ra phương pháp chăm sóc, giáo dục trẻ tốt nhất.
Trang 1MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 1
I Lý do chọn đề tài 1
II Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
B NỘI DUNG 2
I Tổng quan cơ sở lý luận 2
1 Cơ sở lý thuyết 2
1.1 Lý thuyết gắn bó của John Bowlby 2
1.2 Lý thuyết phát triển nhận thức của Jean Piaget 31.3 Lý thuyết phát triển tâm lý xã hội của Erik Erikson 4
2 Khái quát đặc điểm tâm sinh lý và xã hội của trẻ giai đoạn sơ sinh: từ 0 đến
tuổi 5
2.1 Đặc điểm tâm sinh lý 52.1.1 Phản xạ không điều kiện ở trẻ sơ sinh: 62.1.2 Cảm giác chưa phân định là tâm sinh lý ban đầu của trẻ sơsinh:7 2.1.3 Tâm sinh lý của trẻ có xu hướng tiếp nhận các ấntượng của thế
ngoài: 82.2 Đặc điểm mối quan hệ xã hội: 8
2.3 Khái quát về nhu cầu gắn bó mẹ - con 9
II Tâm lý trẻ sơ sinh: từ 0 đến 2 tháng tuổi qua nhu cầu gắn bó mẹ - con 11
1 Thuyết gắn bó giữa mẹ và trẻ sơ sinh 11
2 Mối liên hệ giữa tâm lý người mẹ và sự hình thành, phát triển tâm lý trẻ giai đoạn
sơ sinh: 0 đến 2 tháng tuổi 13
2.1 Gắn bó cảm xúc tích cực giữa mẹ và trẻ 14
Trang 22.2 Gắn bó cảm xúc tiêu cực giữa mẹ và trẻ: 16
3 Một số biện pháp đề xuất nhằm hỗ trợ giáo dục sớm cho trẻ và định hướnggiúp trẻ phát triển toàn diện trong giai đoạn từ 0-2 tháng tuổi: 183.1 Trước khi sinh: 18
sinh: 18
3.2.1 Giúp trẻ kết nối với mẹ và mọi người xung quanh: 183.2.2 Phát triển ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ: 19
Trang 33.2.3 Phát triển trí não của trẻ 203.2.4 Phát triển vận động và thể chất của trẻ 213.2.5 Tầm quan trọng của sữa mẹ trong dinh dưỡng cho trẻ từ 0 đến
Trang 4TÂM LÝ TRẺ GIAI ĐOẠN TỪ SƠ SINH ĐẾN 2 THÁNG TUỔI
THÔNG QUA NHU CẦU GẮN BÓ MẸ - CON
A PHẦN MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của xã hội, chất lượng cuộc sống con ngườingày càng được cải thiện và nâng cao Những vấn đề xã hội cơ bản như giáo dục, y tế,
an ninh luôn được tất cả các quốc gia đề cao và chú trọng Và để tạo nên những thế
hệ tương lai văn minh, phát triển, việc tìm hiểu sự hình thành và phát triển tâm lý trẻ
em ở từng giai đoạn nhằm áp dụng các biện pháp giáo dục sớm cho trẻ ngay từ nhữngnăm tháng đầu đời ngày càng được nhiều gia đình quan tâm thực hiện
Các nhà nghiên cứu về vấn đề tâm lý và giáo dục trẻ em trên thế giới đều chorằng, những năm tháng đầu đời chính là thời điểm quan trọng nhất để hình thành nênnhận thức, suy nghĩ, tính cách của trẻ và có ảnh hưởng đến cả cuộc đời đứa trẻ sau này.Giai đoạn sơ sinh từ 0 đến 2 tháng tuổi có thể coi là giai đoạn “bước ngoặt” với trẻ khi
có sự thay đổi đột ngột từ môi trường ổn định trong bào thai sang môi trường bên ngoàivới nhiều biến đổi về nhiệt độ, ánh sáng, âm thanh… Trẻ bắt đầu phải làm quen vớimôi trường sống mới và trong giai đoạn đầu tiên này, trẻ rất cần sự quan tâm, yêuthương từ cha, mẹ và những người thân xung quanh cũng như rất cần sự chăm sóc, hỗtrợ tất cả các nhu cầu cơ bản (ăn, mặc, ở, đi lại, ngủ…) từ mọi người (Bệnh viện Nhiđồng thành phố, 2022; International School Saigon Pearl Elementary & Early Years,2021; WATER GROUP, 2020)
Đồng thời, sau khi trẻ được sinh ra, những cảm xúc trực tiếp truyền từ mẹ sangcũng theo đó chấm dứt, do đó giai đoạn sơ sinh cũng chính là thời điểm cảm xúc tự dotrong trẻ được hình thành, xuất hiện nhu cầu được giao lưu cảm xúc trực tiếp với người
mẹ, người thân, người chăm sóc trẻ (Thi Trân, 2013) Có thể nói, mối quan hệ gắn bó
Trang 5giữa mẹ và con chính là mối quan hệ đầu tiên và quan trọng nhất, tạo tiền đề cho sựphát triển sau này của trẻ.
Nắm được tầm quan trọng của giai đoạn này trong sự hình thành và phát triển
tâm lý trẻ trong tương lai, nhóm 5 thực hiện đề tài nghiên cứu “Tâm lý trẻ giai đoạn sơ sinh: từ 0 đến 2 tháng tuổi thông qua nhu cầu gắn bó mẹ - con” Bài nghiên cứu
không chỉ chỉ ra những đặc điểm nổi bật trong sự hình thành tâm lý của trẻ ở giai đoạnhai tháng đầu đời mà còn nêu ra mối liên hệ giữa việc hình thành tâm lý ở trẻ và việctrao đổi, tiếp xúc trực tiếp giữa mẹ và con Đồng thời, bài viết cũng đề xuất một số biệnpháp nhằm hỗ trợ việc giáo dục sớm cho trẻ trong giai đoạn này, góp phần định hướnggiúp trẻ phát triển toàn diện và giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực đến sự hình thànhtâm lý, tính cách ở trẻ trong tương lai, giúp các bậc cha mẹ có thể tìm ra phương phápchăm sóc, giáo dục trẻ tốt nhất
II Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Thông qua nghiên cứu, tìm hiểu nhằm tổng hợp và đưa ra những mô tảchính xác nhất về sự phát triển tâm lý ở trẻ em giai đoạn sơ sinh: từ 0 đến 2 tháng tuổi
- Tìm hiểu sự ảnh hưởng đến phát triển tâm lý trẻ em giai đoạn sơ sinh: từ
0 đến 2 tháng tuổi thông qua nhu cầu gắn bó giữa mẹ và con Chỉ ra mối liên hệ giữacảm xúc của mẹ với sự hình thành cảm xúc ở trẻ trong giai đoạn này
- Đề xuất một số biện pháp nhằm đáp ứng nhu cầu gắn bó giữa mẹ và controng giai đoạn này, góp phần tạo điều kiện để trẻ phát triển toàn diện hơn trong tươnglai
Trang 6B NỘI DUNG
I Tổng quan cơ sở lý luận
1 Cơ sở lý thuyết
1.1 Lý thuyết gắn bó của John Bowlby
Là một nhà tâm lý học, nhà phân tâm học nổi tiếng người Anh, John Bowlbyđược biết đến với những công trình nghiên cứu vô cùng giá trị có liên quan đến sự pháttriển của trẻ em, trong đó nổi bật nhất là việc ông đưa ra lý thuyết gắn bó Mục đích
Trang 7được xác định của lý thuyết này là để duy trì sự gần gũi giữa trẻ em và người chăm sóctrẻ.
Theo John Bowlby, có bốn kiểu gắn bó, bao gồm gắn bó an toàn, gắn bó tránh
né không an toàn, gắn bó chống đối không an toàn và gắn bó rối loạn tổ chức không antoàn Đồng thời ông cũng chia các giai đoạn phát triển gắn bó thành bốn giai đoạn: Từ
0 đến 3 tháng tuổi là giai đoạn tìm kiếm; từ 3 đến 8 tháng tuổi là giai đoạn thiết lập; từ
6 đến 24 tháng tuổi là giai đoạn đỉnh cao và từ 2 đến 3 tuổi trở lên là giai đoạn duy trì(Nguyễn Hồi Loan, 2019)
Theo nội dung lý thuyết, giai đoạn tìm kiếm (từ 0 - 3 tháng tuổi) có đặc điểm:
“Với giới hạn của các cơ quan thụ cảm, sự gắn bó của trẻ chưa hướng đến đối tượng cụthể, chưa tỏ ra khó chịu khi người lạ bế ẵm Trẻ tỏ ra thích nghe giọng nói của conngười hơn là những âm thanh khác, thích nghe giọng nói của mẹ hơn giọng nói củanhững người khác Đến 2 tháng tuổi trẻ bắt đầu biết thể hiện nhu cầu gắn bó thông quagiao tiếp bằng mắt với mọi người”.1
1.2 Lý thuyết phát triển nhận thức của Jean Piaget
Nhà tâm lý học Jean Piaget (1896 - 1989) chính là người đầu tiên trên thế giớinghiên cứu hệ thống về sự phát triển trí khôn của trẻ Ông cho rằng trẻ nhỏ có tư duyrất cụ thể và tư duy của chúng sẽ càng ngày càng phức tạp và trừu tượng theo thời gian.Trong nội dung về lý thuyết phát triển nhận thức của mình, ông đã đề cập đến vấn đề
về lược đồ và sự phát triển hành vi ở trẻ em Theo Piaget, mỗi đứa trẻ ngay từ khi sinh
ra đã có sẵn một ít phản xạ để chúng có thể thao tác với môi trường Ông gọi các phản
xạ này là lược đồ, nó cho phép đứa trẻ thực hiện những hành động như bú, nhìn, nắm
và theo Piaget, mỗi lược đồ này chính là một yếu tố trong cơ cấu nhận thức của trẻ Khiđứa trẻ lớn dần lên, các lược đồ mới sẽ xuất hiện và dần bớt đi tính phản xạ, thay vào
đó là tính nhận thức nhiều hơn
1 Nguyễn Hồi Loan, Giáo trình hành vi con người và môi trường xã hội, Nhà xuất bản Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2019, tr 256
Trang 8Cũng trong lý thuyết phát triển nhận thức, Piaget đã phân chia quá trình pháttriển nhận thức ở trẻ em làm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn cảm giác (giác cảm) - vận động (từ khi sinh ra đến 2 tuổi)
- Giai đoạn tiền thao tác (từ 2 - 7 tuổi)
- Giai đoạn thao tác cụ thể (từ 7 đến 11 tuổi)
- Giai đoạn thao tác hình thức (trên dưới 11 tuổi đến thời thiếu niên và thành niên)
Như vậy trong những năm tháng đầu đời, trẻ trải qua giai đoạn cảm giác vậnđộng Biểu hiện đầu tiên ở giai đoạn này thể hiện ở chỗ trẻ sẽ phát triển nhận thức bắtđầu từ những phản xạ tự nhiên với thế giới xung quanh đến việc khám phá và tìm hiểumôi trường Ngay sau khi được sinh ra, để thích nghi với sự thay đổi đột ngột của môitrường sống, trong cơ thể trẻ đã có sẵn một số cơ chế di truyền như hệ thống thần kinh
đã sẵn sàng phản ứng với điều kiện bên ngoài, những hệ cơ quan cơ bản của cơ thể bắtbắt đầu khởi động Từ đó, những phản xạ không điều kiện được thực hiện như phản xạthở, phản xạ mắt, phản xạ về nhiệt độ… nhằm giúp trẻ thích nghi nhanh chóng với môitrường mới Bên cạnh những phản xạ tự vệ còn có những phản xạ định hướng, đâycũng chính là cơ sở bản đầu của hoạt động tìm tòi ở trẻ (WATER GROUP, 2020) Lúcnày, trẻ phát triển tư duy trực quan hành động, thể hiện hành vi hướng tới mục đích cụthể Khi trẻ lớn hơn, thay vì những phản xạ, trẻ sẽ có nhiều động tác cùng lúc để đạtđược mục đích của mình, tuy nhiên còn hạn chế
1.3 Lý thuyết phát triển tâm lý xã hội của Erik Erikson
Nhà tâm lý học phân tâm Erik Erikson đánh giá rất cao tác nhân xã hội với sựphát triển tâm lý con người trong các nghiên cứu của mình Theo ông: “đời người cóthể chia thành tám giai đoạn, mỗi giai đoạn được đặc trưng bởi một dạng khủng hoảngtâm lý xã hội xuất phát từ sự xung đột giữa nhu cầu của cá nhân và yêu cầu của xã
Trang 9hội”2 Do đó, việc giải quyết khủng hoảng ở giai đoạn trước như thế nào sẽ có ảnhhưởng trực tiếp đến quá trình phát triển ở những giai đoạn tiếp theo.
Dựa trên phân chia của E.Erikson, quãng thời điểm trẻ từ sơ sinh đến 2 thángtuổi nằm trong giai đoạn thứ nhất của hệ thống tám giai đoạn, đó là giai đoạn Tin tưởng
- nghi ngờ (từ 0 đến 1,5 tuổi) Ở giai đoạn này, mối quan hệ xã hội chủ yếu của trẻ làvới bố mẹ và người thân trong gia đình, đặc biệt là mẹ Sự quan tâm, chăm sóc của bố
mẹ tạo cho trẻ lòng tin và sự thỏa mãn, đây cũng là điều kiện quan trọng để trẻ tạodựng được cảm giác an toàn, hạnh phúc và niềm tin trong tương lai Ngược lại, nếu trẻthường xuyên cảm thấy bị bỏ rơi, nhu cầu được quan tâm, chăm sóc không được đápứng và giải quyết thỏa đáng, trẻ rất dễ hình thành những cảm xúc tiêu cực như thiếu tựtin, sợ hãi, lo lắng, mất an toàn… Điều đó sẽ tạo thành những ảnh hưởng rất lớn đến sựphát triển của trẻ sau này (Nguyễn Hồi Loan, 2019)
2 Khái quát đặc điểm tâm sinh lý và xã hội của trẻ giai đoạn sơ sinh: từ 0 đến 2 tháng tuổi
2.1 Đặc điểm tâm sinh lý
Tuổi sơ sinh là khoảng thời gian từ lọt lòng đến hai tháng tuổi, tâm sinh lý trẻgiai đoạn này phụ thuộc hoàn toàn vào người lớn, sự phát triển nhận thức chưa có, hoạtđộng chủ yếu là tập thích nghi với môi trường bên ngoài Trong giai đoạn 2 tháng sausinh, cơ thể trẻ vẫn còn rất non yếu, cấu tạo và chức năng của các cơ quan chưa đượchoàn thiện đầy đủ Hệ thần kinh của trẻ luôn trong trạng thái bị ức chế, do đó trẻ gầnnhư ngủ cả ngày Những hoạt động của trẻ ở 2 tháng đầu tiên hầu hết là những cử động
tự phát, phản xạ tự nhiên và không có ý thức Các động tác thường xuất hiện đột ngột,không có sự phối hợp và đôi khi là những động tác vu vơ
Theo các nhà nghiên cứu, những phản xạ tự nhiên ở trẻ giai đoạn sơ sinh đến haitháng tuổi bao gồm:
2 Nguyễn Hồi Loan, Giáo trình hành vi con người và môi trường xã hội, Nhà xuất bản Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2019, tr 232
Trang 10- Phản xạ Moro - Phản xạ giật mình: Khi vỗ vào thành giường nơi trẻ nằm, hoặc
có tiếng động mạnh trẻ giật mình hai tay giang ra ôm choàng vào thân
Trang 11- Phản xạ Babinski – Phản xạ gan bàn chân: Khi vuốt lòng bàn chân của trẻ thìngón chân cái của bé cong lên, các ngón chân còn lại xòe ra trong khi với phảnứng bình thường của người lớn ngón chân cái sẽ gập xuống.3
Trên nền tảng của các phản xạ không điều kiện nêu trên, nhiều phản xạ có điều kiệnđược thành lập, nhờ có hoạt động của hai loại phản xạ này mà chức năng tâm lý của trẻphát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp
2.1.1 Phản xạ không điều kiện ở trẻ sơ sinh:
Các nhà nghiên nghiên cứu đã chỉ ra rằng trong giai đoạn đầu đời, đặc biệt là saukhi sinh ra và bắt đầu tiếp xúc với môi trường sống mới, đời sống của trẻ được đảm bảonhờ có những cơ chế di truyền sẵn: sự sẵn sàng của hệ thống thần kinh với môi trườngbên ngoài và bắt đầu khởi động những hệ thống cơ bản trong cơ thể (hô hấp, tuần hoàn,tiêu hóa)
Cũng trong những ngày đầu đời, bé đã được phát triển sẵn các phản xạ bẩmsinh: phản xạ thở, phản xạ mắt, phản xạ nhiệt độ… Đây là những phản xạ không điềukiện để tâm sinh lý của trẻ sơ sinh thích ứng với hoàn cảnh mới và là thời kỳ mà nhữnghành vi bản năng được thực hiện nhiều nhất để thỏa mãn nhu cầu cơ thể Tuy nhiên, ởgiai đoạn tuổi sơ sinh, bé hầu như bất lực, chưa thể tự phát triển tâm sinh lý bản thânđược nhưng lại có khả năng tiếp nhận kinh nghiệm và hành vi đặc biệt từ những ngườixung quanh
Mặt khác, với cơ chế kích thích của phản xạ tự vệ bẩm sinh ở trẻ sơ sinh: phảnứng co người khi chạm vào da , hay nheo mắt lại khi có ánh sáng tới gần… ở trẻ trongnhững tháng tuổi sơ sinh với mục đích hạn chế bớt những kích thích quá mạnh trongmôi trường xung quanh Phản xạ tự vệ bẩm sinh phát triển cũng là cơ sở để hình thànhnên phản xạ định hướng ở trẻ nhờ những kích thích của môi trường thế giới bên ngoàihoặc do người lớn tạo ra Phản xạ định hướng chính là cơ sở ban đầu cho hoạt động tìm
3 Nguyễn Thị Thùy Vân, (2017), Bài giảng Sự học và sự phát triển tâm lý trẻ em lứa tuổi mầm non 1, Trường Đại học Quảng Bình, tr 25
Trang 12tòi ở trẻ sơ sinh (Nguyễn Ánh Tuyết, 2003, tr.193) Tuy nhiên do các giác quan còn quánon nớt nên sự tìm tòi còn rất nhiều hạn chế, các ấn tượng vẫn còn mông lung và chưa
ổn định Lúc này, tuy bộ não của trẻ đã có đầy đủ số lượng tế bào thần kinh nhưng cácsợi thần kinh chưa được miêlin hóa và chúng cần được nhiễm miêlin mới hoạt độngđược Sự tiến hóa ấy càng tăng thì cũng tỉ lệ thuận với sự phát triển tâm sinh lý giácquan và vận động
2.1.2 Cảm giác chưa phân định là tâm sinh lý ban đầu của trẻ sơ sinh:
Trong những ngày đầu của trẻ sơ sinh, bé hầu như chưa phát triển tâm sinh lý đểcảm nhận rõ ràng được những kích thích bên ngoài, cảm giác và cảm xúc về tất cả mọithứ còn lộn xộn và tràn lan Theo Renné Spitz: “Trẻ sơ sinh trong tình trạng bất phânkhi cảm nhận mọi vật Trong tháng đầu trẻ hầu như chưa tiếp nhận kích thích từ bênngoài, chỉ có nội cảm và tự cảm, chỉ khi nào kích thích bên ngoài quá mạnh mới nhậnra” (Nguyễn Ánh Tuyết, 2003, Tr.201)
Ở giai đoạn này cảm xúc và cảm giác còn hỗn hợp, ban đầu nội cảm chiếm ưuthế, về sau ngoại cảm chiếm ưu thế, nhưng những hoạt động nội cảm vẫn tiếp tục mộtcách vô thức Hết tuần đầu, bé có thể phát triển tâm sinh lý để cảm nhận và phân biệt rõràng một số kích thích từ môi trường bên ngoài Đôi khi, bé có quấy, khó chịu, cựamình, … là lúc để giải tỏa trạng thái căng thẳng thì não bộ mới học được khả năng cảmnhận Đến hết tuần thứ 6 bé có thể cảm nhận được một số kích thích từ môi trường bênngoài Trẻ sớm nhận ra mặt người Khi lại gần dù đói hay no trẻ cũng phản ứng với bộmặt người, còn những đồ vật khác thì không gây phản ứng gì
Quá trình tiến từ tiếp cảm gần đến tiếp cảm xa đóng vai trò quan trọng trong sựphát triển Bé vừa bú vừa nhìn mẹ, hai cảm giác ở miệng và mắt kết hợp lại Những lúcmiệng rời vú, không còn cảm giác gần, nhưng cảm giác xa vẫn còn Dần dần thị giácđóng vai trò quan trọng, vì không bị đứt đoạn Đây là chỗ dựa đầu tiên cho quan hệ vớiđối tượng Nhưng vai trò của môi miệng vẫn là chủ yếu Có thể thấy trong những ngàyđầu của tuổi sơ sinh, nhờ sự hỗ trợ của mẹ, cảm giác bẩm sinh, hoạt động tâm sinh lý
Trang 13và một số bộ phận hoạt động ngay từ đầu đã hình thành nên kinh nghiệm, dần dần phốihợp nhịp nhàng và hệ thống, để thăm dò những vùng mới.
2.1.3 Tâm sinh lý của trẻ có xu hướng tiếp nhận các ấn tượng của thế giới bên ngoài:
Nhiều công trình của các nhà tâm lý học chuyên nghiên cứu trẻ lọt lòng nhưW.Stern, K.Bu le, C.Cốp ca đều nhận xét rằng: “Ở trẻ lọt lòng chưa thể có nhữnghình ảnh tâm lý dù là sơ đẳng nhất để có thể liên hệ với hiện thực xung quanh, ngay cảngã thức cũng không có ranh giới rõ ràng Để tồn tại và phát triển, mối quan hệ giữađứa trẻ với thế giới bên ngoài cần được thiết lập Đó là một trong những nhu cầu đượcnảy sinh sớm nhất trong thời kỳ sơ sinh - nhu cầu tiếp nhận các ấn tượng từ thế giới bênngoài”4 Nhu cầu này gắn liền với phản xạ định hướng
Như đã nói ở trên, trẻ sơ sinh chỉ phản ứng với những kích thích quá mạnh (ánhsáng quá sáng, âm thanh quá to…) Chính nhờ những kích thích đó tâm sinh lý của trẻdần tiếp nhận các ấn tượng của thế giới bên ngoài, bắt đầu phản ứng với những âmthanh khác nhau và thích nhìn vào mặt người Lâu dần thì trẻ có thể phân biệt được âmthanh: nín khóc và ngủ khi nghe tiếng hát ru; tiếng quát lớn, tiếng động mạnh làm trẻkhóc to Sở dĩ trẻ nhận diện được là do sự phát triển sinh lý của thính giác và thị giác.Đây chính là sự trưởng thành nhanh chóng của hệ thống thần kinh, trước tiên là não bộ.Tuy nhiên, để các giác quan phát triển phải có những kích thích bên ngoài (ánh sáng,màu sắc, âm thanh) và phải trải qua quá trình luyện tập thu nhận tín hiệu thì não bộ mớiphát triển được Đó cũng là cơ sở để phát triển tâm lý sau này Vì vậy trẻ sơ sinh cầnphải tiếp nhận các ấn tượng một cách đầy đủ tránh bị cô lập với thế giới bên ngoài nếukhông sẽ chậm phát triển tâm sinh lý nghiêm trọng Để rèn luyện cho trẻ, người lớn cóthể: đem đồ vật lại gần trẻ, trò chuyện, phát ra âm thanh nhẹ nhàng cho trẻ nghe…
2.2 Đặc điểm mối quan hệ xã hội:
Ngay từ lúc mới sinh những kỹ năng giao tiếp của trẻ đã được biểu lộ Dạnggiao tiếp chủ yếu của trẻ giai đoạn sơ sinh là khóc Đó là cách trẻ thông tin cho những
Trang 144 Nguyễn Ánh Tuyết, Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non, Nhà xuất bản Đại học Sư Phạm,
, tr 201
Trang 15người xung quanh biết trẻ đang buồn, đói hoặc bị đau Trẻ cũng thông qua nét mặt và
cử động cơ thể để biểu lộ cảm xúc
Ở giai đoạn này, nhu cầu gắn bó mẹ - con là cơ sở nảy sinh nhu cầu giao tiếpgiữa em bé với những người xung quanh Lúc đầu người mẹ đóng vai trò chủ động,nhưng dần dần em bé trở lên năng động hơn Sang tháng thứ 2 trẻ thường xuất hiệnhành động mỉm cười khi thấy một người khác, bất kỳ là ai Ngoài ra, em bé cũng tỏ ravui mừng khi ai đến với mình và buồn bã khi họ bỏ đi, rồi lại tìm hơi với người khác
Cứ như vậy quan hệ giao tiếp giữa em bé với những người xung quanh được nảy sinh,dần dần ở trẻ hình thành nên những phản ứng vận động xúc cảm đặc biệt hướng tớingười lớn Phản ứng này được gọi là "phức cảm hớn hở"- là phản ứng, trạng thái xúccảm tích cực khi giao lưu với người xung quanh, trẻ nhìn chằm chằm vào mặt ngườilớn, miệng cười toe toét, đôi khi phát ra những âm thanh nhỏ (gừ gừ), chân tay khua rốirít khi người lớn cúi xuống "nói chuyện" với trẻ4 Sự thể hiện này của nhu cầu giaotiếp với người lớn là nhu cầu có tính chất xã hội đầu tiên của đứa trẻ
2.3 Khái quát về nhu cầu gắn bó mẹ - con
Sau khi lọt lòng mẹ, trẻ đã có những ứng xử làm cho người lớn phải quan tâmnhư mút, bám níu, mỉm cười, muốn được ôm ấp, vỗ về, thể hiện một nhu cầu gắn bóvới người lớn Phản xạ rúc đầu vào ngực mẹ thường thấy ở trẻ ngoài mang ý nghĩa là
để tìm vú, mặt khác là do trẻ muốn áp sát vào da thịt mẹ để được ôm ấp vỗ về5 Quan
hệ với người mẹ qua xúc giác là quan trọng vào bậc nhất và cũng được xuất hiện sớmnhất, hiện tượng đó chính là nhu cầu gắn bó mẹ - con
Những thực nghiệm của R.Spitz và những cộng sự của ông đã cho thấy: “Vàonhững giờ phút đầu tiên của cuộc đời, người mẹ chào đón đứa con mình càng nhiệtthành, yêu thương bao nhiêu thì khả năng phát triển của đứa trẻ sau này càng thuận lợibấy nhiêu và ngược lại Bởi vậy, phải coi đứa trẻ ngay từ đầu là một thành viên xã hội
4 Nguyễn Bích Thủy (Chủ biên), Nguyễn Thị Anh Thư, Giáo Trình Tâm Lý Học Trẻ Em Lứa
Tuổi Mầm Non Từ Lọt Lòng Đến 6 Tuổi, Nhà xuất bản Hà Nội, 2005, tr 126
5 Trương Thị Khánh Hà, Tâm Lý Học phát triển: Giáo trình.Hà Nội: Đại học Quốc gia Hà
Nội, 2013, tr.88
Trang 16và nuôi dưỡng nó theo phương thức mà xã hội loài người đã tích lũy được”6 Sự gắn bó
mẹ con là mối quan hệ đầu tiên và quan trọng nhất, tạo điều kiện cho sự phát triển mọimặt sau này của trẻ Trẻ có cảm giác an toàn, hài lòng, dễ chịu khi được mẹ ôm ấp.Trạng thái này là yếu tố thuận lợi, là tiền đề quan trọng cho sự xuất hiện và phát triểncác loại nhu cầu khác, trước tiên là nhu cầu giao tiếp với mọi người Thiếu đi sự gắn bónày, em bé sẽ khó phát triển bình thường, ngay cả sự sống còn cũng gặp nhiều khókhăn Mối quan hệ gắn bó mẹ - con là một nhu cầu gốc, có ngay từ đầu, lúc trẻ mớisinh ra Những công trình nghiên cứu của bác sĩ trên thế giới và ngay cả ở Việt Nam(Tại bệnh viện Quảng Ninh năm 2002) đã chứng minh rằng, nuôi trẻ sơ sinh theo kiểu
“Chuột túi” là cách nuôi có hiệu quả nhất
Như vậy, trong trường hợp bé bị tách khỏi mẹ quá sớm, thì việc giúp cho trẻ tạo
ra mối quan hệ gắn bó mẹ - con là điều rất cần thiết Nhu cầu này cũng có thể thỏa mãnđược bởi người khác, miễn là người đó có lòng yêu thương, sẵn lòng ôm ấp, vỗ về trẻ.Trong mối quan hệ gắn bó mẹ - con, ở cả hai phía mẹ và con đều phát ra tín hiệu chonhau Thông qua những tín hiệu phát ra từ mẹ và con, nhiều công trình nghiên cứu đãtổng kết được bốn kiểu quan hệ gắn bó mẹ - con như sau:
+ Kiểu thứ nhất: Tín hiệu phát ra ở mẹ và con đều mạnh Nghĩa là nhu cầu gắn bó của
cả hai mẹ con đều tỏ ra bức thiết Trong trường hợp này mối quan hệ gắn bó mẹ - conđược thiết lập một cách dễ dàng, thuận lợi Kiểu này thường thấy ở những cặp mẹ consinh nở bình thường, mẹ tròn con vuông, xuất phát từ lòng ước ao mong đợi của người
mẹ đối với sự ra đời của đứa con
+ Kiểu thứ hai: Tín hiệu phát ra từ người mẹ thì mạnh mà từ người con thì lại yếu.Thường thì đây là trường hợp của những trẻ bị thiếu tháng hay khuyết tật bẩm sinh.Trong trường hợp này người mẹ nên giao tiếp với con một cách nhẹ nhàng, từ tốn
+ Kiểu thứ ba: Tín hiệu của con thì mạnh, nhưng tín hiệu của mẹ lại yếu Kiểu nàythường xảy ra ở những người mẹ có con một cách bất đắc dĩ, có con không theo ý
Trang 17muốn Trong trường hợp này người mẹ thường lạnh lùng, thờ ơ với con, không muốngiao tiếp với con Vì không nhận được tín hiệu đáp lại của người mẹ, tín hiệu phát racủa đứa bé yếu dần đi, có khi mất hẳn và bé lâm vào tình trạng ủ ê, mệt mỏi, dễ mắcphải chứng bệnh "trầm cảm".
+ Kiểu thứ tư: Tín hiệu phát ra đều yếu ở cả mẹ và con Đây thực sự là một tai hoạ Cầnphải có biện pháp khơi dậy tín hiệu ở cả hai phía Trường hợp này rất cần sự hỗ trợ củanhững người xung quanh, cần cả thầy thuốc lẫn những nhà tâm lý học
Tạo ra được những quan hệ gắn bó mẹ - con ngay từ những ngày đầu trẻ mới ra đời
là một cách phòng ngừa tốt nhất, tránh cho trẻ nguy cơ chậm phát triển hay phát triểnlệch lạc về sinh lý cũng như tâm lý sau này
II Tâm lý trẻ sơ sinh: từ 0 đến 2 tháng tuổi qua nhu cầu gắn bó mẹ - con
1 Thuyết gắn bó giữa mẹ và trẻ sơ sinh
Thuyết gắn bó là một mảng của tâm lý học miêu tả bản chất của mặt cảm xúcgiữa con người với con người (John Bowlby, 1969) Thuyết này được biểu hiện từnhững giai đoạn đầu khi còn là trẻ sơ sinh cùng với sự gắn bó của người thân, cụ thể làngười mẹ Yếu tố của sự gắn bó là sự quan tâm và trách nhiệm của cha mẹ và cũng sẽảnh hướng đến sự gắn bó với người bạn đời của chúng ta sau này Các mối quan hệthành công hay không dựa vào những gì mà chúng ta học được từ những mối quan hệthời thơ ấu
Nói về học thuyết này, nhà tâm lý học người Anh John Bowlby (1907-1990)được xem là người đầu tiên đưa khái niệm “sự gắn bó” với tâm lý học Ông nổi tiếngvới nghiên cứu về tập tính học và đưa ra thuyết gắn bó giữa trẻ và người chăm sóc Sự
gắn bó được ông định nghĩa là “những liên kết tâm lý bền vững giữa con người với con người” (John Bowlby, 1969, tr.194).
Học thuyết gắn bó được coi là một trong những học thuyết kinh điển trong lĩnhvực Tâm lý học về trẻ em nói riêng Trong đó các lý thuyết và thực nghiệm chỉ ra đặc
Trang 18điểm và vai trò của sự duy trì một mối quan hệ an toàn giữa trẻ nhỏ và người chăm sóctrong những năm đầu đời (từ 0 –3 tuổi), quá trình này không những ảnh hưởng tới sự
Trang 19phát triển lành mạnh của đứa trẻ mà còn thể hiện sự ảnh hưởng xuyên suốt với 1 cánhân trong toàn bộ quá trình trưởng thành.
Theo nghiên cứu của John Bowlby, ông chia sự gắn bó ở trẻ thành 4 giai đoạn
cụ thể:
+ Giai đoạn tìm kiếm (0-3 tháng): Ở giai đoạn này, sự gắn bó của trẻ chưa hướng đếnđối tượng cụ thể, chưa tỏ ra khó chịu khi người lạ bế ẵm Trẻ tỏ ra thích nghe giọng nóicủa con người hơn là những âm thanh khác, thích nghe giọng nói của mẹ hơn là củangười khác Đến 2 tháng tuổi, trẻ bắt đầu biết thể hiện nhu cầu gắn bó qua những giaotiếp bằng mắt
+ Giai đoạn thiết lập (3-6 tháng): Biết cười đáp lại những giọng nói và sự tiếp xúc cơthể từ bất kỳ ai để duy trì sự tương tác, nhưng những phản ứng này đã trở nên chọn lọchơn, nhạy với người nuôi dưỡng hơn là với người lạ Trẻ bắt đầu biết phân biệt ngườiquen với người lạ Trẻ chưa biểu hiện rõ rệt cảm giác lo âu khi phải tạm xa mẹ
+ Giai đoạn đỉnh cao (6 - 24 tháng): Phân biệt được cha mẹ với người lạ và thể hiện sựgắn bó rất chọn lọc Nhu cầu được gần gũi mẹ rất lớn Các biểu hiện của mong muốnnày được trẻ bộc lộ rõ và chủ động hơn Xuất hiện sự lo âu rõ rệt khi phải xa cách mẹ.Khi đó, nếu người lạ xuất hiện, trẻ sẽ biểu hiện những phản ứng rất mạnh và bột phát
+ Giai đoạn duy trì (2 đến dưới 3 tuổi): Thích ứng được với việc xa mẹ tạm thời và sựxuất hiện của người lạ Đối tượng quan sát và mục tiêu gắn bó được mở rộng hơn Ởgiai đoạn này trẻ có thể cảm nhận được mức độ an toàn ổn định hơn
Sự gắn bó ở trẻ là những là những hành vi mang tính bản năng và không phảinhu cầu thứ phát như trong phân tâm học đã nói Tính bản năng ở đây có nghĩa là trẻluôn có khuynh hướng tìm kiếm sự an toàn từ người lớn như một biểu hiện của khảnăng sinh tồn (Phạm Hoài Thảo Ngân, 2014) Đối tượng mà trẻ hướng đến trong nhữngtháng tuổi đầu đời chủ yếu là người mẹ, người mà có sự gần gũi thường xuyên nhất,chăm sóc, nuôi dưỡng và đáp ứng toàn bộ nhu cầu sinh lý của trẻ Được sự hỗ trợ và