1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Việt Ngữ Học Lập bài tập có sử dụng tư liệu về diễn ngôn chính trịvăn bản thuộc phong cách hành chính

35 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Việt Ngữ Học Lập bài tập có sử dụng tư liệu về diễn ngôn chính trị Văn bản thuộc phong cách hành chính
Người hướng dẫn PGS. TS Nguyễn Thị Phương Thùy
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Tiểu luận cuối kỳ học phần
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 317,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Anh chị hãy chọn từ 3 đến 5 diễn ngôn chính trị văn bản thuộc phong cách chính luận trong thực tế hoặc trên truyền hình radio của Việt Nam. Sau đó, anh chị hãy thiết kế 10 bài tập về Việt ngữ học có sử dụng tư liệu về diễn ngôn chính trị văn bản thuộc phong cách chính luận trên. Anhchị hãy đề xuất một số ý kiến về kỹ năng thiết kế bài tập có vận dụng kiến thức về Việt ngữ học.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TIỂU LUẬN CUỐI KỲ HỌC PHẦN: VIỆT NGỮ HỌC ĐẠI CƯƠNG

Mã học phần:LIN1103

Đề bài: Anh chị hãy chọn từ 3 đến 5 diễn ngôn chính trị/ văn bản thuộc

phong cách chính luận trong thực tế hoặc trên truyền hình/ radio của Việt Nam.Sau đó, anh chị hãy thiết kế 10 bài tập về Việt ngữ học có sử dụng tư liệu vềdiễn ngôn chính trị/ văn bản thuộc phong cách chính luận trên Anh/chị hãy đềxuất một số ý kiến về kỹ năng thiết kế bài tập có vận dụng kiến thức về Việtngữ học

Giảng viên hướng dẫn: PGS TS Nguyễn Thị Phương Thùy

Sinh viên thực hiện:

Mã số sinh viên:

Khoa: Việt Nam học và tiếng Việt.

Hà Nội, 6/2022

Trang 2

MỤC LỤC:

1.2 Quá trình hiện đại hóa phong cách chính luận tiếng Việt: 4

2.Những văn bản thuộc phong cách chính luận: 52.1 Trích bài diễn thuyết của Phan Châu Trinh tại nhà hội Việt Nam ở

1951 của Đảng Lao động Việt Nam (tên gọi từ năm 1951 đến năm 1976

2.4 Trích: Bình Ngô đại cáo - Nguyễn Trãi 82.5 “Tiếng mẹ đẻ - nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức” - Nguyễn An

Trang 3

4.Đề xuất một số ý kiến về kỹ năng thiết kế bài tập có vận dụng kiến thức về

Trang 4

I PHẦN MỞ ĐẦU:

Phong cách chính luận là phong cách được dùng để bày tỏ thái độ, quanđiểm của người viết (nói) về một vấn đề nào đó thuộc lĩnh vực chính trị, xã hộinhằm lôi kéo người đọc (nghe) về phía mình, hành động theo mình Trong bàitiểu luận này để hiểu hơn về phong cách chính luận cũng như kiến thức về Việtngữ học tôi xin thiết kế một số bài tập và đề xuất một số ý kiến về kỹ năng thiết

kế dành cho người học tiếng Việt, giúp người học một cách hiệu quả nhất

II PHẦN NỘI DUNG:

1 Lý thuyết về phong cách chính luận:

1.1.Định nghĩa:

Phong cách chính luận là phong cách được dùng để bày tỏ thái độ, quanđiểm của người viết (nói) về một vấn đề nào đó thuộc lĩnh vực chính trị, xã hộinhằm lôi kéo người đọc (nghe) về phía mình, hành động theo mình

1.2 Quá trình hiện đại hóa phong cách chính luận tiếng Việt:

Phong cách chính luận tiếng Việt trải qua quá trình hiện đại hóa, thể hiện ởcác giai đoạn 1930-1945, 1945-1954, 1954-1975, 1986 đến nay

Trong quá trình hiện đại hóa đó, phong cách chính luận tiếng Việt có các đặcđiểm ngôn ngữ như sau: Thứ nhất, đó là ngôn ngữ giàu tính lý luận kết hợp vớibiểu cảm Thứ hai, văn bản chính luận có tính khúc chiết, giàu tính thuyết phục.Thứ ba, ngôn ngữ có tính trong sáng và có tính thẩm mỹ cao Thứ tư, văn bảnchính luận có tính trang trọng, đại chúng Thứ năm, văn bản chính luận có một

số đặc điểm về cách dùng từ, ngữ: các từ hay được sử dụng thuộc lớp từ chínhtrị, xã hội, các thuật ngữ khoa học đã được “đời sống” hóa, nhất là các từ Hán-Việt thông dụng Về mặt ngữ nghĩa, cú pháp, văn bản chính luận thiên về lối nóihình ảnh chứ không dùng lối nói hình tượng, ít dùng kết cấu đảo, sử dụng nhiều

Trang 5

lối nói trùng điệp, phép điệp từ, điệp ngữ, các cách so sánh giàu tính tương phản

và liên tưởng để tăng cường độ tập trung thông tin và hiệu quả bình giá, phánxét

1.3 Hiện tượng giao thoa phong cách:

Phong cách chính luận mang những đặc điểm lưỡng tính của hai phong cách

là phong cách khoa học và phong cách nghệ thuật

Trong một số trường hợp, phong cách này có sự giao thoa với phong cáchbáo chí, tạo nên thể loại chính luận báo chí

2 Những văn bản thuộc phong cách chính luận:

2.1 Trích bài diễn thuyết của Phan Châu Trinh tại nhà hội Việt Nam ở Sài Gòn, đêm 19-11-1925.

"Đã biết sống thì phải bênh vực nhau" ông cha mình ngày xưa cũng đã hiểu đến.Cho nên mới có câu: "Không ai bẻ đũa cả nắm" và "Nhiều tay làm nên bột".Thế thì dân tộc Việt Nam này hồi cổ sơ cũng biết đoàn thể, biết công ích, cũnggóp gió làm bão, dụm cây làm rừng, không đến nỗi trơ trọi lơ láo, sợ sệt, ù lìnhư ngày nay

[ ]

Dầu trôi nổi, dẫu cực khổ thế nào mặc lòng, miễn là có kẻ mang đai đội mũ ngấtngưởng ngồi trên, có kẻ áo rộng khăn đen lúc nhúc lạy dưới, trăm nghìn nămnhư thế cũng xong! Dân khôn mà chi! Dân ngu mà chi! Dân lợi mà chi! Dân hại

mà chi! Dân càng nô lệ, ngôi vua càng lâu dài, bọn quan lại càng phú quý!Chẳng những thế mà thôi, "một người làm quan một nhà có phước", dầu tham,dầu nhũng, dầu vơ vét, dầu rút rỉa của dân thế nào cũng không ai phẩm bình;dầu lấy lúa của dân mua vườn sắm ruộng, xây nhà làm cửa cũng không ai chêbai Người ngoài thì khen đắc thời, người nhà thì dựa hơi quan, khiến những kẻ

Trang 6

ham mồi phú quý không đua chen vào đám quan trường sao được Quan đời xưađời nay của ta là thế đấy! Luân lý của bọn thượng lưu – tôi không gọi bọn ấy làthượng lưu, tôi chỉ mượn hai chữ thượng lưu nói cho anh em dễ hiểu mà thôi –

ở nước ta là thế đấy!

Ngày xưa thì bọn ấy là bọn Nho học đã đỗ được bằng cử nhân, tiến sĩ, ngày naythì bọn ấy là bọn Tây học đã được cái chức ký lục thông ngôn; có khi bồi bếpdựa vào thân thế của chủ cũng ra làm quan nữa Những bọn quan lại đã nói ởtrên này chỉ còn một tiếng chỉ đúng hơn là lũ ăn cướp có giấy phép vậy

Những kẻ ở vườn thấy quan sang, quan quyền cũng bén mùi làm quan Nào locho quan, nào lót cho lại, nào chạy ngược, nào chạy xuôi, dầu có ruộng, dầu bántrâu cũng vui lòng, chỉ cầu được lấy chức xã trưởng hoặc cai tổng, đặng ngồitrên, đặng ăn trước, đặng hống hách thì mới thôi Những kẻ như thế mà vẫnkhông ai khen chê, không ai khinh bỉ, thật cũng lạ thay! Thương ôi! Làng cómột nắm dân mà người này đối với kẻ kia đều ngó theo sức mạnh, không cómột chút gì gọi là đạo đức là luân lý cả Đó là nói người trong một làng đối vớinhau, chí như đối với dân kiều cư ký ngụ thì lại càng hà khắc hơn nữa Ôi! mộtdân tộc như thế thì tư tưởng cách mạng nảy nở trong óc chúng làm sao được!

Xã hội chủ nghĩa trong nước Việt Nam ta không có là cũng vì thế

Nay muốn một ngày kia nước Việt Nam được tự do độc lập thì trước hết dânViệt Nam phải có đoàn thể đã Mà muốn có đoàn thể thì có chi hay hơn làtruyền bá xã hội chủ nghĩa trong dân Việt Nam này.”

2.2 Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 19/12/1946.

Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng Nhưng chúng ta càngnhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lầnnữa!

Trang 7

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhấtđịnh không chịu làm nô lệ.

Hỡi đồng bào!

Chúng ta phải đứng lên!

Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ không chia tôn giáo, đảngphái, dân tộc Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp đểcứu Tổ quốc Ai có súng dùng súng Ai có gươm dùng gươm, không có gươmthì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứunước

Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!

Giờ cứu nước đã đến Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đấtnước

Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợinhất định về dân tộc ta!

Việt Nam độc lập và thống nhất muôn nǎm!

Kháng chiến thắng lợi muôn nǎm!

Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 1946

“Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta

Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết

Trang 8

thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm,khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước.

Lịch sử ta đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước củadân ta Chúng ta có quyền tự hào vì những trang lịch sử vẻ vang của thời đại BàTrưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung Chúng ta phải ghinhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dântộc anh hùng

Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước Từ các cụgià tóc bạc đến các cháu nhi đồng trẻ thơ, từ những kiều bào ở nước ngoài đếnnhững đồng bào ở vùng tạm bị chiếm, từ nhân dân miền ngược đến miền xuôi,

ai cũng một lòng nồng nàn yêu nước, ghét giặc Từ những chiến sĩ ngoài mặttrận chịu đói mấy ngày để bám sát lấy giặc đặng tiêu diệt giặc, đến những côngchức ở hậu phương nhịn ăn để ủng hộ bộ đội, từ những phụ nữ khuyên chồngcon đi tòng quân mà mình thì xung phong giúp việc vận tải, cho đến các bà mẹchiến sĩ săn sóc yêu thương bộ đội như con đẻ của mình Từ những nam nữcông nhân và nông dân thi đua tăng gia sản xuất, không quản khó nhọc để giúpmột phần vào kháng chiến, cho đến những đồng bào điền chủ quyên đất ruộngcho Chính phủ Những cử chỉ cao quý đó, tuy khác nhau nơi việc làm, nhưngđều giống nhau nơi lòng nồng nàn yêu nước

Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý Có khi được trưng bày trong tủkính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáotrong rương, trong hòm Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kínđáo ấy đều được đưa ra trưng bày Nghĩa là phải ra sức giải thích, tuyên truyền,

tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều đượcthực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến.”

2.4 Trích: Bình Ngô đại cáo - Nguyễn Trãi.

“Từng nghe:

Trang 9

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương

Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau

Song hào kiệt thời nào cũng có

Cho nên:

Lưu Cung tham công nên thất bại,

Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong,

Cửa Hàm tử bắt sống Toa Đô

Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã

Việc xưa xem xét,

Chứng cớ còn ghi

Vừa rồi:

Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,

Để trong nước lòng dân oán hận

Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ,

Bọn gian tà bán nước cầu vinh

Trang 10

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ

Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế,

Gây binh kết oán trải hai mươi năm

Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,

Nặng thuế khoá sạch không đầm núi

Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng

Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu, nước độc

Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng,

Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt

Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,

Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng

Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán ;

Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa

Nặng nề những núi phu phen,

Tan tác cả nghề canh cửi

Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,

Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi

Lẽ nào trời đất dung tha,

Ai bảo thần nhân chịu được?

Ta đây:

Núi Lam sơn dấy nghĩa

Trang 11

Chốn hoang dã nương mình

Ngẫm thù lớn há đội trời chung

Căm giặc nước thề không cùng sống

Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời

Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối

Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,

Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ

Những trằn trọc trong cơn mộng mị,

Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi

Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,

Chính lúc quân thù đang mạnh

Lại ngặt vì:

Tuấn kiệt như sao buổi sớm,

Nhân tài như lá mùa thu,

Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần,

Nơi duy ác hiếm người bàn bạc,

Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông,

Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chắm còn dành phía tả.”

2.5 “Tiếng mẹ đẻ - nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức” - Nguyễn An Ninh đăng trên báo Chuông rè năm 1925.

Nhiều người An Nam thích bập bẹ năm ba tiếng Tây hơn là diễn tả ý tưởng chomạch lạc bằng tiếng nước mình Hình như đối với họ, việc sử dụng Pháp ngữ là

Trang 12

một dấu hiệu thuộc giai cấp quý tộc, cũng như sử dụng nước suối Pe-ri-ê(Perrier) và rượu khai vị biểu trưng cho nền văn minh châu Âu Nhiều người AnNam bị Tây hoá hiện nay tưởng rằng khi cóp nhặt những cái tầm thường củaphong hoá châu Âu họ sẽ làm cho đồng bào của mình tin là họ đã được đào tạotheo kiểu Tây phương.

Thái độ mù tịt về văn hoá châu Âu như thế không nên làm chúng ta ngạc nhiên

Vì chỉ có những người đã hiểu biết vững một nền văn hoá rồi mới có khả năngthưởng thức một nền văn hoá ngoại bang Những kiểu kiến trúc và trang tri laicăng của những ngôi nhà thuộc về những người An Nam được hun đúc theo cái

mà những người ở Đông Dương gọi là văn minh Pháp, chứng tỏ rằng nhữngngười An Nam bị Tây hoá chẳng có được một thứ văn minh nào Việc từ bỏ vănhoá cha ông và tiếng mẹ đẻ phải làm cho mọi người An Nam tha thiết với giốngnòi lo lắng

Tiếng nói là người bảo vệ quý báu nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu tốquan trọng nhất giúp giải phóng các dân tộc bị thống trị Nếu người An Namhãnh diện giữ gìn tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phúhơn để có khả năng phổ biến tại An Nam các học thuyết đạo đức và khoa họccủa châu Âu, việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đề thời gian Bất

cứ người An Nam nào vứt bỏ tiếng nói của mình, thì cũng đương nhiên khước

từ niềm hy vọng giải phóng giống nòi [ ] Vì thế, đối với người An Nam chúng

ta, chối từ tiếng mẹ đẻ đồng nghĩa với từ hối sự tự do của mình

Nhiều đồng bào chúng ta, để biện minh việc từ bỏ tiếng mẹ đẻ, đã than phiềnrằng tiếng nước mình còn nghèo nàn Lời trách cứ này không có cơ sở nào cả

Họ chỉ biết những từ thông dụng của ngôn ngữ và còn nghèo những từ An Namhơn bất cứ người phụ nữ và nông dân An Nam nào Ngôn ngữ của Nguyễn Dunghèo hay giàu?

Trang 13

Vì sao người An Nam có thể dịch những tác phẩm Trung Quốc sang nước mình,

mà lại không thể viết những tác phẩm tương tự

Phải quy lỗi cho sự nghèo nàn của ngôn ngữ hay sự bất tài của con người?

Ở An Nam cũng như mọi nơi khác, đều có thể ứng dụng nguyên tắc này:

“Điều gì người ta suy nghĩ kĩ sẽ diễn đạt rõ ràng, và dễ dàng tìm thấy những từ

để nói ra” [ ]

Chúng ta không thể tránh né châu Âu, vai trò hướng đạo của giới trí thức chúng

ta buộc họ phải biết ít nhất là một ngôn ngữ châu Âu để hiểu được châu Âu.Nhưng những kiến thức thu thập được, họ không được giữ riêng cho mình.Đồng bào của họ cũng phải được thông phần nữa Tuy nhiên, sự cần thiết phảibiết một ngôn ngữ châu Âu hoàn toàn không kéo theo chuyện từ bỏ tiếng mẹ đẻ.Ngược lại, thứ tiếng nước ngoài mà mình học được phải làm giàu cho ngôn ngữnước mình [ ]

(Theo Văn học Việt Nam thế kỉ XX – Văn nghị luận đầu thế kỉ, Quyển năm, tập

Trang 14

c)

3.1.1 Đáp án:

a) “Không ai bẻ đũa cả nắm”

b) “Nhiều tay làm nên bột”

c) “Một người làm quan một nhà có phước”

3.1.2.Thao tác giải bài tập:

Bước 1: Nhìn hình, đoán chữ và đọc lại đoạn văn: Bắt đầu suy luận và cảm

nhận về hình mà bạn cần lời giải

Bước 2: Vận dụng kiến thức về thành ngữ:

Trang 15

Thành ngữ là ngữ cố định (tổ hợp từ cố định) vừa có tính hoàn chỉnh vềnghĩa vừa có tính gợi hình, gợi cảm

Bước 3: Dựa vào ngữ cảnh của câu để đưa ra lời giải

3.2.Bài tập 2:

Từ “đặng” trong câu sau là phương ngữ hay từ ngữ toàn dân Nếu là phương ngữ thì từ này là phương ngữ miền nào và ứng với từ nào trong ngôn ngữ toàn dân Từ đó anh/chị hãy nêu giá trị của phương ngữ trong bài văn

“Nào lo cho quan, nào lót cho lại, nào chạy ngược, nào chạy xuôi, dầu córuộng, dầu bán trâu cũng vui lòng, chỉ cầu được lấy chức xã trưởng hoặc cai

tổng, đặng ngồi trên, đặng ăn trước, đặng hống hách thì mới thôi”.

3.2.1 Đáp án:

Từ “đặng” trong câu văn trên là phương ngữ

Từ này chủ yếu sử dụng trong phương ngữ miền Nam

Từ “đặng” ứng với từ được, chúng ta cũng có thể viết “được ngồi trên, được ăntrước, được hống hách thì mới thôi” Tuy nhiên việc sử dụng phương ngữ đãlàm tăng tính gợi hình, gợi cảm cho câu văn và thể hiện rõ quan điểm của tácgiả về quan liêu những người mua quan bán tước Đồng thời nó thể hiện một sựxỉa xói, mỉa mai dành cho những kẻ không có tri thức mà dùng tiền để muachức quyền này

3.2.2.Thao tác giải bài tập:

Bước 1: Vận dụng kiến thức về phương ngữ để giải quyết bài tập:

Trang 16

Theo Hoàng Thị Châu trong thì phương ngữ được hiểu là tiếng địaphương Nó là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữtoàn dân ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngônngữ toàn dân hay so với một phương ngữ khác.

Bước 2: Xác định phương ngữ thuộc miền nào:

Cách nhận diện phương ngữ: cơ sở ngữ âm, cơ sở từ vựng

Bước 3: Xác định từ tương ứng trong ngôn ngữ toàn dân:

Ở bước này cần xác định thông qua ngữ cảnh sử dụng từ trong câu văn.Sau đó xác định nét nghĩa gần nhất với phương ngữ đã cho phù hợp với hoàncảnh của câu văn

Bước 4: Nêu giá trị của từ trong đoạn văn:

Đến bước này bạn cần đọc lại toàn đoạn văn để hiểu nội dung và từ đósuy luận ra được với phương ngữ này nó mang lại giá trị gì cho người đọc cảmnhận cũng như biểu thị luận điểm của tác giả

3.3.Bài tập 3:

Xác định trường từ vựng trong đoạn văn sau:

“Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ không chia tôn giáo,đảng phái, dân tộc Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp

để cứu Tổ quốc Ai có súng dùng súng Ai có gươm dùng gươm, không cógươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc Ai cũng phải ra sức chống thực dân Phápcứu nước”

3.3.1.Đáp án:

Trường từ vựng về người: đàn ông, đàn bà, người già, người trẻ

Trang 17

Trường từ vựng về vũ khí: súng, gươm, cuốc, thuổng, gậy gộc.

3.3.2.Thao tác giải quyết bài tập:

Bước 1: Vận dụng kiến thức của trường từ vựng để giải quyết bài tập.

Trường từ vựng là tập hợp hàng loạt đơn vị từ vựng có sự liên kết vớinhau theo một tiêu chí nhất định, các trường từ vựng được hình thành trên mốiquan hệ về nghĩa một cách đa chiều

Bước 2: Tìm những từ có liên kết với nhau về nghĩa theo một tiêu chí nhất định:

Để làm được điều này bắt buộc người học phải hiểu nghĩa của từ cũngnhư có tư duy rộng về phạm vi nghĩa chung của các từ Người học cũng có thểdựa vào hoàn cảnh bài viết; ví dụ như trường từ vựng vũ khí ở đây được xácđịnh trong bài viết theo cách viết của tác giả Nếu như ngoài thực tại sẽ chiacuốc, thuổng ra làm từ vựng về công cụ lao động

Ngày đăng: 06/06/2023, 21:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w