1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TRẦN TỐNG VỚI PHONG TRÀO CÁCH MẠNG VIỆT NAM (1936 1982)

78 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trần Tống Với Phong Trào Cách Mạng Việt Nam (1936-1982)
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Duy Phương
Trường học Trường đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một người con của quê hương Đại Lộc, khi nhắc về đồng chí Trần Tống tôi không ngừng cảm kích và tự hào. Thế nhưng những tư liệu tôi từng tìm đọc về đồng chí còn quá ít ỏi để tôi hiểu hơn về một cuộc đời sáng ngời của đồng chí bởi những người đồng đội, anh em cùng thời với đồng chí như Tố Hữu, Nguyễn Chí Thanh, Huỳnh Ngọc Huệ, Võ Quảng,... phần lớn đã qua đời, những người còn lại thì tuổi cao sức yếu không còn ghi lại được nhiều sự việc cụ thể và sinh động. Tất cả những điều ấy cùng với tâm thế là sinh viên khoa Lịch sử, tôi không thể ngừng tìm kiếm tài liệu, học hỏi và nghiên cứu về đồng chí. Chính vì lẽ đó mà tôi đã chọn đề tài: “Trần Tống với phong trào Cách mạng Việt Nam (19361982)” làm khóa luận tốt nghiệp của mình. Với đề tài nghiên cứu này sẽ làm sáng tỏ cuộc đời – sự nghiệp, công lao – cống hiến của đồng chí Trần Tống đối với Cách mạng Việt Nam và quê hương Quảng Nam – Đà Nẵng, là tài liệu thiết thực nhằm góp giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ mai sau, giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức – lối sống cho cán bộ Đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong thời kì hiện nay.

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

Đà Nẵng, ngày 10 tháng 01 năm 2022

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, và

thực hiện đề tài: “Trần Tống với phong trào Cách mạng Việt Nam (1936-1982)” bằng sự

biết ơn và kính trọng, đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu nhà trường, quý thầy cô trong khoa Lịch sử đã giảng dạy, và tạo điều kiện cho em trong quá trình học tập và nghiên cứu Những kiến thức mà chúng em nhận được sẽ là hành trang giúp chúng em vững bước trong tương lai

Cảm ơn lãnh đạo tỉnh và các cán bộ trên địa bàn tỉnh đã luôn quan tâm, động viên và tạo điều kiện cho em trong quá trình nghiên cứu

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Duy Phương, Trưởng khoa Lịch sử, người đã tận tình dành nhiều thời gian, công sức trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, giúp

đỡ em trong suốt thời gian em nghiên cứu và hoàn thành khóa luận Và cũng là người đưa

ra những ý tưởng, kiểm tra sự phù hợp của luận văn

Cuối cùng, em xin cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân đã luôn ở bên để động viên và là nguồn cổ vũ lớn lao, là động lực giúp em hoàn thành luận văn này

Mặc dù đã cố gắng hoàn thành luận văn trong phạm vi và khả năng có thể Tuy nhiên

điều kiện về năng lực bản thân còn hạn chế, chuyên đề chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô giáo, bạn bè để bài nghiên cứu của em được hoàn thiện hơn Lời cuối cùng em xin kính chúc quý thầy cô, bạn

bè thật nhiều sức khỏe, hạnh phúc và thành công

Em xin trân trọng cảm ơn!

Đà Nẵng, ngày 20 tháng 12 năm 2021 Thìn

Lê Thị Thìn

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cảm ơn

Mục lục

MỞ ĐẦU 6

NỘI DUNG 11

CHƯƠNG I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH – TUỔI TRẺ CỦA ĐỒNG CHÍ TRẦN TỐNG 11

1.1 Quê hương 11

1.1.1 Lịch sử vùng đất Đại Lộc 11

1.1.2 Truyền thống quê hương 15

1.2 Gia đình 17

1.3 Thời niên thiếu 19

1.4 Những tiền đề tạo nên tư tưởng Cách mạng 20

1.4.1 Chủ nghĩa yêu quê hương, đất nước 20

1.4.2 Tinh thần nhân nghĩa, tương thân, tương ái 21

1.4.3 Đức tính thông minh, hiếu học, cầu tiến bộ 22

1.4.4 Tiếp thu Chủ nghĩa Mác – Lênin 23

CHƯƠNG II: QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG TRONG GIAI ĐOẠN 1937-1982 25

2.1 Hoạt động Cách mạng tại quê nhà (1937) 25

2.2 Những năm tháng sôi sục đấu tranh trong cảnh tù đày (1939-1945) 26

2.2.1 Sự kiện xét xử những nhà Cách mạng tại Vĩnh Điện (1/1940) 26

2.2.2 Tại nhà lao Hội An (1939-1940) 31

2.2.3 “Giáo sư đỏ” tại nhà đày Buôn Ma Thuột (1940-1945) 34

Trang 5

2.3 Trên cương vị một nhà lãnh đạo, một nhà giáo dục (1946-1982) 40

2.3.1 Lãnh đạo đấu tranh – truyền bá tư tưởng (1946-1954) 40

3.2.2 Hoạt động Đảng – hoạt động giáo dục (1957-1982) 48

CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA ĐỒNG CHÍ TRẦN TỐNG ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM 56

3.1 Đánh giá vai trò 56

3.2 Những bài học cho thế hệ sau 58

3.3 Ghi nhận và tôn vinh vai trò của Trần Tống 61

3.3.1 Đồng chí Trần Tống trong trái tim gia đình và đồng đội 61

3.3.2 Đường Trần Tống quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng 64

3.3.3 Trường Tiểu học Trần Tống thuộc địa bàn huyện Đại Lộc, Quảng Nam 65

KẾT LUẬN 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

PHỤ LỤC 72

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nói đến huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam là nói đến vùng đất “Cách mạng kiên cường”,

lãnh đạo và nhân dân ở đây từ trong lịch sử xa xưa đã một lòng quyết tâm xây dựng và bảo

vệ quê phương, đất nước của mình trước bao kẻ thù xâm lược Trong suốt bao năm tháng kháng chiến chống ngoại xâm, nhiều anh hùng, tướng lĩnh cũng được sinh ra từ vùng đất

vốn nghèo khó mà kiên cường này, và không thể không nhắc đến người chiến sĩ cộng sản

Trần Tống (4/1916-11/1988)

Trần Tống sinh ra trong một gia đình Nho học yêu nước tại huyện Đại Lộc, lớn lên trong bối cảnh đất nước bị giặc Pháp xâm lược, ảnh hưởng sâu sắc bởi văn hóa gia đình, xã hội; ảnh hưởng bởi hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, thế nên đồng chí Trần Tống đã sớm được giác ngộ và tôi luyện thành chiến sĩ cộng sản kiên trung, bất khuất

Đồng chí tham gia cách mạng năm 1936, được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Việt Nam năm 1937, trong quá trình hoạt động đồng chí đã giữ nhiều chức vụ quan trọng tại Trung ương và địa phương Cuộc đời và sự nghiệp hoạt động Cách mạng sôi nổi của đồng chí là một tấm gương tiêu biểu cho tấm lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân Đồng chí luôn gan góc trong nhà tù đế quốc, kiên cường đấu tranh và chiến thắng kẻ thù trong mọi tình huống, hết sức vững vàng trước mọi biến cố, say sưa hoạt động Cách mạng, say mê truyền

bá Mác – Lênin, thiện ý thực hiện tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh Cuộc đời hoạt động của đồng chí là cuộc đời luôn luôn thu hút đông đảo nhân tâm đi theo con đường tiến bộ Cách mạng, lôi kéo mọi người góp công vào xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước Đồng chí cũng là tấm gương tiêu biểu cho tinh thần học nữa học mãi để phục vụ tốt hơn cho sự nghiệp Cách mạng của Đảng và Nhà nước Ngoài đời thực, đồng chí còn là người chồng, người cha mẫu mực, người anh, người bạn thân thiết, chân thành

Đồng chí Trần Tống đã cống hiến và hy sinh cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp giáo dục của quê hương, đất nước Trong quãng thời gian tham gia hoạt động cách mạng, đồng chí luôn thể hiện được dũng khí của một người chiến sỹ kiên trung, bất khuất; một nhà cộng sản mẫu mực; luôn toát lên tinh thần hiên ngang, sẵn sàng chiến đấu và hy sinh vì độc lập, tự do cho dân tộc Cuộc đời đồng chí Trần Tống có hai điểm nhấn quan trọng:

Một là, đồng chí bị địch bắt, giam cầm tại nhiều nhà lao trong gần 7 năm, suốt khoảng thời gian đó đồng chí luôn tích cực phiên dịch và tuyên truyền, bồi dưỡng Chủ nghĩa Mác – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh phục vụ cho lực lượng Cách mạng ở cả trong và ngoài nhà lao

Trang 7

Hai là, đồng chí trải qua nhiều cương vị công tác khác nhau, dù ở cương vị nào, cũng luôn thể hiện tinh thần ham học hỏi, sự nỗ lực không ngừng nghỉ và lòng nhiệt huyết với công việc, với nhiệm vụ được giao - trở thành tấm gương sáng ngời về bản lĩnh chính trị, về đạo đức cách mạng cao cả, về trí tuệ và phong cách làm việc

Là một người con của quê hương Đại Lộc, khi nhắc về đồng chí Trần Tống tôi không ngừng cảm kích và tự hào Thế nhưng những tư liệu tôi từng tìm đọc về đồng chí còn quá ít ỏimđể tôi hiểu hơn về một cuộc đời sáng ngời của đồng chí bởi những người đồng đội, anh

em cùng thời với đồng chí như Tố Hữu, Nguyễn Chí Thanh, Huỳnh Ngọc Huệ, Võ Quảng, phần lớn đã qua đời, những người còn lại thì tuổi cao sức yếu không còn ghi lại được nhiều

sự việc cụ thể và sinh động Tất cả những điều ấy cùng với tâm thế là sinh viên khoa Lịch

sử, tôi không thể ngừng tìm kiếm tài liệu, học hỏi và nghiên cứu về đồng chí Chính vì lẽ đó

mà tôi đã chọn đề tài: “Trần Tống với phong trào Cách mạng Việt Nam (1936-1982)” làm

khóa luận tốt nghiệp của mình Với đề tài nghiên cứu này sẽ làm sáng tỏ cuộc đời – sự nghiệp, công lao – cống hiến của đồng chí Trần Tống đối với Cách mạng Việt Nam và quê hương Quảng Nam – Đà Nẵng, là tài liệu thiết thực nhằm góp giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ mai sau, giáo dục chính trị - tư tưởng, đạo đức – lối sống cho cán bộ Đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong thời kì hiện nay

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Đồng chí Trần Tống, sinh thời lúc còn trẻ giữ nhiều chức vụ trên nhiều lĩnh vực khác nhau, có được nhiều mối quan hệ gần gũi, thân thương trên cả chiến trường, giảng đường

và cuộc sống bình thường Đồng chí là một chiến sĩ cộng sản mẫu mực, luôn nỗ lực và không ngừng đấu tranh vì độc lập, tự do của quê hương đất nước Tuy nhiên cho đến nay, những công trình, sách, báo viết về đồng chí còn nhiều hạn chế, và chưa được quan tâm nhiều Sau quá trình nỗ lực tìm kiếm bằng nhiều phương pháp khác nhau tôi đã tìm được một số công trình, sách, báo liên quan đến đề tài, tôi xin chia nhóm các công trình đó thành các nhóm vấn đề nghiên cứu dưới đây:

Thứ nhất là nhóm các công trình liên quan đến quê hương, gia đình đồng chí Trần Tống như: cuốn “Lịch sử Đảng bộ Huyện Đại Lộc (1930-1975)”, là công trình do Ban chấp hành

Đảng bộ Huyện Đại Lộc biên soạn và xuất bản năm 2017; “Lịch sử Đảng bộ Quảng Nam –

Đà Nẵng (1930-1975)” của Tỉnh ủy Quảng Nam – thành ủy Đà Nẵng; cuốn “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn; hay cuốn “Địa chí Quảng Nam – Đà Nẵng”

của Thạch Phương – Nguyễn Đình An (chủ biên); ngoài ra còn có cuốn “Nhớ lại một thời

(Hồi ký)” của Tố Hữu;… Đây là những công trình có đề cập đến gia đình đồng chí Trần

Tống ; quê hương Quảng Nam – Đà Nẵng nói chung và quê hương Đại Lộc nói riêng

Trang 8

Thứ hai là nhóm liên quan đến cuộc đời hoạt động Cách mạng của đồng chí Trần Tống như: “Nhớ lại những năm đầu 40 ở nhà đày Buôn Ma Thuột (Hồi ký)” do Nguyễn Hữu

Khiếu chủ biên; “Phong trào đấu tranh của tù lao yêu nước Hội An (1908-1945” của Ngô Gia Lầu; “Lịch sử nhà Đày Buôn Ma Thuột (1930 - 1945)” của Ban tuyên giáo Tỉnh Ủy Đăk Lăk; “Quảng Nam - Những tấm gương Cộng sản (Tập 1)” của Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Nam; “Kiên trung bất khuất (Tập 6)” và “Kiên trung bất khuất (Tập 7)” của nhiều

tác gia trong Hội tù yêu nước tỉnh Quảng Nam; những công trình này không trực tiếp nghiên cứu về đồng chí Trần Tống, nhưng là những nguồn tài liệu quan trọng phục vụ cho quá trình nghiên cứu về đồng chí

Thứ ba là nhóm liên quan trực tiếp đến những đóng góp của đồng chí Trần Tống với Cách mạng Việt Nam: “Trần Tống - Người Cộng sản mẫu mực” là bộ sách do gia đình đồng

chí Trần Tống biên soạn, được Tỉnh ủy Quảng Nam bổ sung và xuất bản năm 2009 Nội dung sách chia làm 3 phần: Phần thứ nhất gồm một số bài viết của đồng chí Trần Tống Phần thứ hai gồm những bài viết của bạn bè, đồng chí, về đồng chí Trần Tống Phần thứ ba gồm những bài viết hồi tưởng về đồng chí Trần Tống của gia đình, người thân Đồng thời

bộ sách còn có một phần tóm tắt về tiểu sử của đồng chí Trần Tống Qua quá trình tìm hiểu, tôi nhận thấy cho đến nay đây là bộ sách đầu tiên và cũng là duy nhất viết về đồng chí Trần Tống; bộ sách đã tổng hợp được một số bài viết của đồng chí, đặc biệt là tổng hợp được khá nhiều hồi bút hồi tưởng của người thân, bạn bè, đồng đội về đồng chí, từ đó tạo cơ hội cho người đọc được tiếp xúc và có thể nhìn nhận một cách đa chiều cũng như có những đánh giá đúng đắn về nhân vật này Những bài hồi tưởng này, được coi là những bài viết chân thật và giàu tình cảm, thể hiện được phong cách làm việc, phong cách sống, vai trò và những

cống hiến của đồng chí, đúng với tên bộ sách “Trần Tống – Người cộng sản mẫu mực”

Tuy nhiên, bộ sách mới chỉ dừng lại ở công việc là tập hợp các bài hồi tưởng về nhân vật, các bài viết gần như giống nhau về nội dung ở từng phần, đặc biệt là ở là phần thứ hai và thứ ba, có sự lặp lại giữa các bài hồi tưởng về đồng chí mà chưa đi sâu vào nghiên cứu về cuộc đời đồng chí, nhất là quá trình hoạt động Cách mạng, nếu có thì cũng chỉ là những tóm tắt chưa thật sự rộng mở và sâu sắc Và đây cũng chính là mục đích mà đề tài khóa luận của tôi sẽ thực hiện, nghiên cứu về những đóng góp của đồng chí Trần Tống với Cách mạng Việt Nam trên nhiều khía cạnh khác nhau

Cho đến ngày nay, dường như chưa có công trình, tài liệu nào nghiên cứu một cách hệ thống và chi tiết về những đóng góp của đồng chí Trần Tống đối với phong trào Cách mạng Việt Nam Tuy nhiên, những công trình nói trên là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng, có giá trị để chúng tôi hoàn thiện đề tài nghiên cứu khoa học của mình

Trang 9

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu đồng chí Trần Tống với phong trào Cách mạng Việt Nam (1936-1982)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi thời gian: đề tài nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 1936 đến năm1982

Phạm vi không gian: đề tài nghiên cứu đóng góp đồng chí Trần Tống với Cách mạng Việt Nam và quê hương Quảng Nam – Đà Nẵng ở phạm vi các khu vực lãnh thổ đồng chí đã sinh sống và hoạt động cách mạng, tập trung ở các tỉnh, thành Quảng Nam, Đà Nẵng, Đắk Lắk,

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được những mục đích nêu trên, công trình cần thực hiện những nhiệm vụ sau:

Nghiên cứu cơ sở hình thành tư tưởng cách mạng, tinh thần yêu nước, đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc đối với các hoạt động cách mạng của đồng chí Trần Tống

Phân tích tình hình cách mạng Việt Nam trải qua các giai đoạn, thời kì lịch sử…

Nghiên cứu cơ sở thực tiễn về vai trò và những đóng góp của đồng chí Trần Tống với phong trào Cách mạng Việt Nam

Trên cơ sở những đóng góp của Trần Tống cho cách mạng Việt Nam, tác giả đưa ra nhận định, đánh giá vai trò của Trần Tống và rút ra được những đức tính cao quý của đồng chí để giáo dục thế hệ trẻ hôm nay, mai sau học tập noi gương

Trang 10

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tài liệu

a Tài liệu: Sách, báo, hồi ký

b Tài liệu mạng

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù của ngành khoa học lịch sử với hai phương pháp chính là phương pháp lịch sử và phương pháp logic

Phương pháp lịch sử được sử dụng mô tả diễn biến cuộc đời và sự nghiệp hoạt động Cách mạng của đồng chí Trần Tống

Phương pháp lôgic được sử dụng để đánh giá công lao, những đóng góp nổi bật của đồng chí Trần Tống trong toàn bộ sự nghiệp hoạt động Cách mạng

Ngoài hai phương pháp nói trên, đề tài còn kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp phân tích - tổng hợp trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu, công trình nghiên cứu về tiểu sử của đồng chí Trần Tống và những tài liệu, công trình nghiên cứu có liên quan Tác giả khoá luận tiếp thu, kế thừa, nghiên cứu, tìm hiểu chi tiết và hệ thống hóa lý thuyết

Phương pháp điền dã: Tác giả khoá luận trực tiếp đến địa phương, nguồn cội của đồng chí Trần Tống, quan sát và chụp ảnh ngôi trường Tiểu học mang tên đồng chí

6 Cấu trúc của công trình

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung khóa luận được kết cấu thành 3 chương như sau:

CHƯƠNG I: QUÊ HƯƠNG – GIA ĐÌNH – TUỔI TRẺ CỦA ĐỒNG CHÍ TRẦN TỐNG

CHƯƠNG II: QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG CỦA ĐỒNG CHÍ TRẦN TỐNG TRONG GIAI ĐOẠN 1936-1982

CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA ĐỒNG CHÍ TRẦN TỐNG ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Trang 11

NỘI DUNG CHƯƠNG I:

QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH – TUỔI TRẺ CỦA ĐỒNG CHÍ TRẦN TỐNG

1.1 Quê hương

1.1.1 Lịch sử vùng đất Đại Lộc

Đồng chí Trần Tống, tên khai sinh là Trần Tống, bí danh là Trần Song sinh ngày 4 tháng

4 năm 1916 (Bính Thìn) tại làng Thừa Bình, tổng Đại An nay là thôn Song Bình, xã Đại Quang, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam trong một gia đình Nho giáo giàu truyền thống yêu nước

Một vùng đất đã đi qua chặng đường hơn 500 năm lịch sử, Quảng Nam, với ý nghĩa là vùng đất rộng lớn về phương Nam, khi ấy từ sông Hương An (ở nơi ranh giới giữa huyện Quế Sơn và huyện Thăng Bình trên đất Quảng Nam hiện hữu) vào cho đến đèo Cù Mông (ranh giới giữa 2 tỉnh Bình Định và Phú Yên ngày nay) Quảng Nam từng là vùng đất “phên dậu” ở nơi đầu sóng ngọn gió trong cuộc mở cõi của dân tộc ta; từng là đất đóng đô của một vương quốc cổ có thời gian tồn tại 15 thế kỷ; dưới triều Lê Thánh Tông (năm 1471), Quảng Nam trở thành một bộ phận của Đại Việt và trong thời điểm Trịnh-Nguyễn phân tranh, Quảng Nam thuộc quyền cai quản của chúa Nguyễn (từ năm 1570) Chúa Nguyễn Hoàng

có nhận định: “đây là đất yết hầu của miền Thuận Quảng”, là “đất dụng võ của người anh

hùng”, “đất địa linh nhân kiệt”… Những yếu tố về tự nhiên, lịch sử - xã hội của vùng đất

này đã kiến tạo và rèn đúc nên con người Quảng Nam đức tính cần cù, chịu khó, nhẫn nại

mà bản lĩnh, ngoan cường, kiên trung, thông minh và quyết đoán, giàu chí tiến thủ, giàu lòng nhân ái, yêu nước nồng nàn và lao động sáng tạo

Bước vào thời kỳ cận đại, Quảng Nam cũng là nơi xuất hiện nhiều phong trào yêu nước, đấu tranh chống ngoại xâm kiên cường, bất khuất và anh dũng Nhiều vùng đất ở Quảng Nam là căn cứ chống Pháp của Nghĩa hội Cần Vương (1885-1887); là địa bàn hoạt động mạnh mẽ, sôi nổi của phong trào Đông Du và Duy Tân (1904-1908); là vùng đất đi đầu trong phong trào chống sưu, thuế năm 1908; nơi khởi xướng cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quang phục hội năm 1916…Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nhiều tên đất, tên người làm sống động truyền thống đấu tranh bất khuất của người dân Quảng Nam như:

Cụ Huỳnh Thúc Kháng, Tiến sĩ Trần Văn Dư, Phan Bá Kiến, đồi Bồ Bồ, Bến Giằng… Đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, Đảng bộ và nhân dân Quảng Nam đã lập nên nhiều chiến công hiển hách, tiêu biểu như Chiến thắng Núi Thành (26.5.1965), Chiến thắng Cấm Dơi (8-

1972), Chiến thắng Thượng Đức (7.8.1974),…

Trang 12

Không chỉ có bề dày về lịch sử, Quảng Nam còn là vùng đất học, nơi sản sinh ra nhiều danh nhân khoa bảng Tiêu biểu là Khoa thi năm Mậu Tuất (1898), toàn quốc có 18 vị Tân Khoa, thì Quảng Nam có 5 vị, 3 Tiến Sĩ và 2 Phó Bảng Ðó là một điều hy hữu trong lịch

sử thi cử của nước nhà Kể từ các triều Lý , Trần, Lê, Nguyễn có tất cả 187 khoa thi Tiên Sĩ với 2971 người đậu Tiến Sĩ nhưng chưa có khoa nào 5 người đồng hương cùng đậu Vua Thành Thái và triều Nguyễn đã ban danh hiệu Ngũ Phụng Tề Phi để khen tặng Năm vị đó

là các ông Phạm Liệu, Phan Quang, Phạm Tuấn, Ngô Lý và Dương Hểin Tiến Và nhiều lớp người hơn nữa, họ bậc anh hùng, hào kiệt, danh nhân với những tố chất cao quý và đặc biệt xuất chúng trong các lĩnh vực quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.[Lê Thí]

Với bề dày văn hóa và truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc, người dân xứ Quảng từ thế hệ này đến thế hệ khác luôn cháy bỏng khát vọng tự do, độc lập, không cam chịu làm nô lệ, dũng cảm đấu tranh chống ngoại xâm để bảo vệ quê hương, đất nước, góp phần làm giàu truyền thống đấu tranh giữ nước của dân tộc

Huyện Đại Lộc – quê hương của đồng chí Trần Tống nằm về phía Bắc tỉnh Quảng Nam,

có vị trí địa lý khá thuận lợi cho việc giao lưu, phát triển: là vùng vành đai, cách Trung tâm thành phố Đà Nẵng 25 km về phía Tây Nam, cách tỉnh lỵ Tam Kỳ 70 km; nằm trên trục hành lang kinh tế Đông - Tây, nối các tỉnh Tây Nguyên, cửa khẩu Quốc tế Bờ Y - Kom Tum, Đắc Tà Oóc - Nam Giang về Đà Nẵng và các tỉnh duyên hải miền Trung Phía Đông giáp huyện Điện Bàn, phía Đông Nam giáp huyện Duy Xuyên, phía Nam giáp huyện Quế Sơn, phía Tây Nam giáp huyện Nam Giang, phía Tây Bắc giáp huyện Đông Giang

Sau cuộc hôn nhân huyền thoại của công chúa Trần Huyền Trân vào năm 1306, vua Chăm

là Chế Mân đã dâng hai châu Ô và Lý cho nhà Trần để làm sính lễ Sau khi nhận phần đất sính lễ, năm 1307, vua Trần Anh Tôn cử Hành khiển Đoàn Nhữ Hài vào trông coi hai châu

Ô, Lý giờ đã được đổi tên thành Thuận Châu, Hóa Châu, lập huyện Điện Bàn miền núi (Điện Bàn cổ) Đại Lộc chúng ta bấy giờ thuộc Hóa Châu

Năm 1435, địa danh Điện Bàn cổ (bao gồm cả Đại Lộc ngày nay như đã nói ở trên) được

Nguyễn Trãi ghi vào “Dư địa chí” gồm 95 xã thuộc phủ Triệu Phong của lộ Thuận Hóa

Năm 1471, vua Lê Thánh Tông thành lập đạo thừa tuyên Quảng Nam Năm 1520, vua Lê

Trang 13

Chiêu Tông đổi thành trấn Quảng Nam Điện Bàn bấy giờ là một huyện thuộc phủ Triệu Phong của trấn Thuận Hóa Năm 1605, Nguyễn Hoàng cho tách huyện Điện Bàn ra khỏi trấn Thuận Hóa, thăng lên thành phủ và nhập về Quảng Nam dinh Dinh trấn Quảng Nam đóng tại xã Thanh Chiêm, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, do các công tử của Chúa Nguyễn lần lượt đến trấn thủ

Từ năm 1740, vùng đất Đại Lộc thuộc quyền quản lý của Tây Sơn Đến năm Tân Dậu (1801), nhà Nguyễn chiếm lại được Quảng Nam, lấy hai Phủ Thăng và Phủ Điện Bàn đặt làm Quảng Nam dinh nhưng đến năm Thành Thái 11 (12.1899) mới có sắc lệnh thành lập huyện Đại Lộc và cái tên Đại Lộc1 có từ đây Đến năm Thành thái thứ 12 (1900) chính thức cắt hai tổng Đại An, Mỹ Hòa của huyện Diên Phước và 3 tổng Đức Hòa, An Phước, Phú Khê của huyện Hòa Vang hình thành huyện Đại Lộc Huyện Đại Lộc lúc này có 5 tổng, 109

xã, thôn, phường, châu

Sau khi Cách mạng tháng 8-1945 thành công, trước những yêu cầu đổi mới, chính quyền địa phương đã bỏ tổng thay thành xã, xã thuộc huyện Như vậy với 109 xã (làng) trong cả huyện đã được hợp thành 25 xã Riêng các xã, tổng An Lễ, Quảng Hòa, Phú Mỹ của Duy Xuyên được tổ chức thành khu Tán Thừa2 Đến tháng 10/1946, để tiện quản lí, chính quyền tiến hành sáp nhập 25 xã ban đầu thành 7 xã: Đại Hiệp, Đại Hòa, Đại Nghĩa, Đại Quang, Đại Lãnh, Đại Hồng, Đại Đồng Tháng 11/1946, 11 xã của Duy Xuyên sáp nhập vào huyện Đại Lộc với 3 xã mới: Đại Chánh, Đại Phong, Đại Minh Đến 6/1949 thành lập thêm 2 xã Đại Lãnh và Đại Sơn

Sau hiệp định Gionevo, quận Đại Lộc được sắp xếp lại địa giới bao gồm các xã: Lộc Phú, Lộc Khương, Lộc Thuận, Lộc Xuân, Lộc An, Lộc Chánh, Lộc Tân, Lộc Hòa, Lộc Phước, Lộc Qúy, Lộc Thành, Lộc Sơn, Lộc Thái, Lộc Thủy, Lộc Thắng3 Ngày 9/10/1959 sáp nhập Lộc Thái, Lộc Thọ thành Lộc Mỹ; Lộc Thủy và Lộc Thắng thành Lộc Quang Ngày 27/10/1960 sáp nhập Lộc Thuận, Lộc Xuân thành Lộc Hưng; Lộc Khương, Lộc Phú thành Lộc Phong 4 Ngày 20/10/1963 tiếp tục cắt các xã Lộc Sơn, Lộc Quý, Lộc Thành5 để cùng với một số xã của huyện Duy Xuyên, Quế Sơn thành lập quận Đức Dục; cắt các xã phía Tây

để thành lập quận Đức Dục

1 Về địa danh Đại Lộc hiện nay có 2 cách giải thích, thứ nhất giải thích theo Hán Tự: Đại Lộc nghĩa là chân núi lớn, xuất phát từ đặc điểm trung du của vùng này; cách thứ hai giải thích rằng Đại Lộc nghĩa là lộc lớn, dựa theo những điều kiện thuận lợi mà thiên nhiên đem lại

2 Tán Thừa là danh xưng của cụ Trần Đỉnh – Tán tương quân sự của Nghĩa Hội Quảng Nam (1885-1887)

3 Theo Nghị định số 35-BNV/NC/8/NĐ của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng hòa

4 Theo Nghị định số 1420-BNV/NCB8/NĐ của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa

5 Theo Nghị định số 1130-NV của Việt Nam Cộng hòa

Trang 14

Sau kháng chiến chống Mỹ, chính quyền tiến hành sáp nhập lại các xã, cho các xã lấy lại tên trong kháng chiến chống Pháp Từ năm Hiện nay, huyện Đại Lộc có 01 thị trấn Ái Nghĩa

và 17 xã là: Đại Sơn, Đại Hồng, Đại Lãnh, Đại Hưng, Đại Đồng, Đại Quang, Đại Nghĩa, Đại Hiệp, Đại An, Đại Hòa, Đại Cường, Đại Thắng, Đại Minh, Đại Phong, Đại Tân, Đại

Chánh và Đại Thạnh

1.1.1.2 Lịch sử đấu tranh

Các thế hệ đi trước đã dày công vun đắp nên những truyền thống quý báu về lịch sử đấu tranh, tinh thần bất khuất chống ngoại xâm; truyền thống văn hóa từ đời này sang đời khác bằng nhiều nét riêng độc đáo được thể hiện qua nhiều di tích, di chỉ lịch sử, văn hóa; tất cả

đã tạo nên bản sắc của một vùng đất - con người Đại Lộc

Nói về truyền thống đấu tranh của quê hương Đại Lộc, chúng ta trở lại mốc lịch sử 1307, sau khi cuộc hôn nhân ngắn ngủi chưa tròn năm của Chế Mân - Huyền Trân tan vỡ, bang giao Chiêm Việt đã xấu đi nhanh chóng Hóa Châu trở thành vùng tranh chấp và có thời gian bị quân Chiêm chiếm giữ hơn 10 năm Trong hoàn cảnh bị đe dọa thường trực, ở vị trí địa lý đầu sóng ngọn gió, nhân dân vùng Hóa Châu - có cư dân Đại Lộc ngày nay đã phải

tổ chức chiến đấu để tự bảo vệ và bảo vệ vùng biên cương của Tổ quốc, mỗi người dân vì thế được tôi luyện thành chiến sỹ cương cường, chịu đựng gian khổ, chiến đấu và chiến đấu giỏi Có lúc, chúa Trịnh Kiểm phải thốt lên: “Thuận Hóa là một kho tinh binh, nơi địa thế hiểm trở và dân khí cương cường”

Ở TK XV, nhân dân Đại Lộc đã tham gia chống giặc Minh được vua Lê Thái Tổ hết sức khen ngợi Ở nữa sau TK XVIII, nhân dân Đại Lộc lại tích cực tham gia phong trào Tây Sơn Đến năm 1885, triều Nguyễn phát động phong trào Cần Vương khắp cả nước, hưởng ứng chiếu Cần Vương ở Quảng Nam lúc này thành lập phong trào Nghĩa Hội được các giới trí thức, sĩ phu ở huyện Đại Lộc tham gia như Tú Đỉnh (Trần Đỉnh), lão túy ông Đỗ Đăng Tuyển; Trần Huy, Dương Văn Thưởng, bên cạnh đó là phong trào Đông Du và Duy Tân

Năm 1908, không cam chịu ách bóc lột của thực dân, phong kiến, nhân dân Đại Lộc, đa

số là nông dân đã nổi dậy đấu tranh, mở đầu cho phong trào chống sưu thuế diễn ra trời long đất lở khắp các tỉnh miền Trung với những Trương Hoành, Hứa Tạo Cùng với cả nước, các phong trào yêu nước ở Đại Lộc diễn ra mạnh mẽ

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ với tinh thần kháng chiến mạnh mẽ, quân và dân Đại Lộc đã có nhiều trận chiến ác liệt với quân địch và giành được những thắng lợi vẽ vang Lịch sử nhắc đến là chiến thắng Hà Vy năm 1966 ở xã Đại Hồng, chiến thắng cầu Ông Nở năm 1967 ở xã Đại Thắng, chiến thắng Thượng Đức ngày 7 tháng 8 năm 1974 ở xã Đại Lãnh,

Trang 15

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp chống Mỹ, Đại Lộc gánh chịu những hậu quả hết sức nặng nề Trong kháng chiến chống Mỹ, Đảng bộ và nhân dân huyện được trao tặng nhiều danh hiệu cao quý Cả huyện có 1.557 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 21 tập thể và 43 cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Bình quân 8 người dân có 1 người được Đảng và Nhà nước khen thưởng [Hoàng Liên]

Sinh ra và lớn lên trên vùng địa linh nhân kiệt, mảnh đất giàu truyền thống cách mạng và anh hùng, Trần Tống đã được thấm nhuần tinh thần yêu nước sục sôi, thấm đẫm nghĩa khí anh hùng xả thân vì nước của các bậc tiền bối và đông đảo nhân dân huyện Đại Lộc trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc

1.1.2 Truyền thống quê hương

Con người Đại Lộc được hun đúc và nuôi dưỡng bởi mạch nguồn của sông Vu - núi Ái thuộc vùng nước non Sài giang - Hành lãnh ở phía nam Hải Vân quan - “môt nơi cảnh đẹp núi kỳ” Nhiều đức tính của người Quảng Nam đã lắng đọng trong tâm hồn, tính cách của người Đại Lộc, hình thành những truyền thống quý báu của quê hương Đại Lộc

Trước hết không thể quên rằng, Quảng Nam là một vùng đất mới Và chính cái hoàn cảnh địa lý, xã hội phức tạp của vùng đất mới Quảng Nam nói chung và Đại Lộc nói riêng đã tạo nên những con người có cá tính, phong cách khá độc đáo nơi đây, mà qua thời gian, cá tính

ấy càng được định hình trên cái nền tính cách của người Việt, góp phần làm giàu thêm cho văn hóa Việt Nam

Nét nổi bật trong những truyền thống của con người Đại Lộc là đức tính cần cù trong lao động nông phu chăm đồng ruộng, siêng sản xuất,tháo vát thông minh trong ứng xử Những đức tính đó thể hiện rất rõ trong các sáng tác dân gian Ngay từ thời cuối triều Trần đầu triều

Lê, những bậc tiền bối của cư dân Đại Lộc đã di cư đến mảnh đất này, ra sức khai hoang và thiết lập làng xã Trên vùng đất nơi hai con sông Vu Gia - Thu Bồn chảy qua hình thành một vùng nông nghiệp chuyên canh:

“Con tằm Đại Lộc xe tơ Bãi dầu Đại Lộc lờ mờ bên sông”

Ngay trong cách ăn mặc cũng vậy, người Đại Lộc cũng chỉ chuộng “ăn chắc mặc bền”

Hoàn cảnh địa lý hiểm trở, kẻ thù luôn quấy rối, lại thường xuyên gặp cảnh thiên tai lũ lụt hạn hán kéo dài, nên nếp sống của con người ở đây từ xa xưa đã là nếp sống khắc khổ, tiện tặn, không thể và không thích nhiễm tập những thói xa hoa phù phiếm Họ thường tìm hứng

Trang 16

thú trong sinh hoạt ngay trong sự phấn đấu, trong lao động với tất cả sự thiết tha, vật lộn không ngừng, can đảm, kiên cường, và sẵn sàng hy sình vì nghĩa cả

Truyền thống thứ hai của người dân Đại Lộc, Quảng Nam đó là truyền thống hiếu học,

ham hiểu biết, “học trò chăm học hành” Vượt lên những bận rộn nông trang, vừa học hành

đã xuất hiện nhiều tấm gương “cần học” và “khổ học” của con người Đại Lộc đến cảm

động: bắt đom đóm bỏ vào chai để lấy ánh sáng học bài, cắt lá chuối làm vở để tập viết chữ… Dưới triều Nguyễn toàn huyện có 15 người đó Cử nhân, Phó bảng một số gia tộc có nhiều người đỗ đạt cao như tộc Phan, tộc Trương ở thôn Phiếm Ái (xã Đại Nghĩa), tộc Lê ở làng Phường Chào (xã Đại Cường), tộc Hồ làng Phú Mỹ (xã Đại Minh)… Trong đó, tộc Hồ làng Phú Mỹ là một trong sáu gia đình khoa bảng hàng đầu của tỉnh Quảng Nam với 01 phó bảng và 4 cử nhân.Có những gia đình “dòng dõi một nhà, khoa trước sau đều đỗ” cử nhân,

tú tài như nhà cụ Hồ Lệ, cụ Huỳnh Quỳ,…

Nhưng bao trùm lên tính cách của người Đại Lộc và dân Quảng Nam được tổng kết là

“họ vui làm việc nghĩa và rất sốt sắng việc công”, “đánh giặc không tiếc mình, xông vào chỗ vạn tử, lấy một địch muôn”, dân khí cương cường, có sức đấu tranh mạnh, có ý thức

phản kháng cao, có ý tưởng và biết quyết đoán, hay giúp đỡ những người cô thế… Đó là những đức tính quý báu hiếm có Không phải ngẫu nhiên mà sau khi phong trào Cần Vương được phát động trong toàn quốc (năm 1885), Phong trào Nghĩa hội Quảng Nam (1885-1887)

ở Đại Lộc nhiều người đã hưởng ứng ngay từ đầu mới thành lập như Đỗ Đăng Tuyền, Trần

Huy, Trấn Đỉnh, Dương Văn Thưởng; Phong trào "kháng sưu, cự thuế” (1908) diễn ra long

trời lở đất khắp các tỉnh miền Trung mà khởi đầu là ở huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, vô cùng vinh dự và tự hào đối với Đại Lộc là:

“Đại Lộc xin trước

Xin thuế xin xâu

Ban đầu la cực

Sau lại làm hung

Trong réo lãnh binh

Ngoài khiêng tri phủ…”6

6 Trích Vè xin xâu, được người dân truyền tai nhau trong phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ năm 1908 hay còn gọi

là Trung Kỳ dân biến, sự kiện nổi bật của phong trào chống thực dân Pháp ở Việt Nam trong những năm đầu TK 20

Trang 17

Rồi đến kháng chiến chống Mỹ người dân Đại Lộc cũng đã để lại những trang sử vẻ vang với chiến thắng như trận Hà Vy (1966), trận Cầu Ông Nở (1967), trận Thượng Đức (1974),

“Cầu Chim nổi tiếng đánh Tây, Núi Lở anh dũng phơi thây quân thù”

Người Đại Lộc bất khuất, kiên cường là thế, và họ còn là những con người có tấm lòng

“Kiển nghĩa bất vi vô dũng dã” (Nhìn thấy việc nghĩa mà không ra tay thì không phải là

con người có lòng dũng vậy) Có thể nói, tất cả truyền thống đó đã được thể hiện ở con người Đại Lộc từ xưa cho đến nay, mà rõ nét nhất là ở các vị danh nhân của huyện nhà, trong đó có đồng chí Trần Tống

1.2 Gia đình

Đồng chí Trần Tống sinh ra trong một gia đình Nho học có truyền thống yêu nước ở làng Thừa Bình, tổng Đại An, nay là thôn Song Bình, xã Đại Quang, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam Cha là cụ Trần Cảnh, thường gọi là Cửu Phan; mẹ là Trần Thị Phan, là những người nông dân cần cù, nhẫn nại, biết cách làm ăn, hiền lành, đức độ Cụ Cửu Phan nêu gương yêu nước thương dân bằng nhiều việc đơn giản hàng ngày Là người có chức sắc trong xã nhưng

cụ không hề giống những người ở cùng tầng lớp thời bấy giờ Cụ luôn sẵn lòng giúp đỡ mọi người, đấu tranh để giảm sưu thuế cho dân làng Những ngày giáp hạt đói kém, cụ giúp gạo thóc cho những nhà nghèo khó, mà không lấy lãi, kể công Nhà ông đầy củi chất đống mà ông vẫn mua củi giùm cho những người nghèo kiếm củi trong núi về bán, để họ kiếm được chén cơm qua ngày trong những lúc đói kém Mùa gặt đến, công gặt được trả bình thường

là 12 tổ thóc được trả 1 tô nhưng bà ngoại lại trả nhiều hơn hẳn: 1 tô cho 8 tổ công

Gia thế đồng chí Trần Tống vào hạng “thường thường bậc trung" mà thôi Từ đời ông cố của đồng chí về trước là nông dân nghèo, sang đời ông nội có khấm khá hơn Nhờ đó, thân sinh đồng chí Trần Tống, cụ Trần Cảnh được học hành, có hiểu biết khá nhiều về Hán văn, với những nội dung quan điểm về nhân sinh, vũ trụ của Nho giáo, Lão giáo, Khổng giáo trong Tứ thư, Ngũ kinh

Cụ Trần Cảnh sinh ra vào thời kỳ phong trào Cần vương Nghĩa hội diễn ra sôi nổi tại Trung, Bắc Kỷ và ngay trên quê hương Quảng Nam - Đà Nẵng, lớn lên trong thời kỳ hậu Cần vương Cũng như nhiều nhà Nho đương thời, Cụ chịu ảnh hưởng tinh thần yêu nước của các phong trào nói trên nên tuy có học vấn tương đối khá, nhưng cụ Cảnh không tham gia thi cử, không mơ con đường “vi quan” mà xoay sang “vi y”, nghiên cứu học làm thuốc

để có thể giúp đời và nuôi dạy con cái Người ta làm thầy thuốc để làm giàu nhưng Cụ Cửu tôi làm thuốc chỉ nhằm cứu giúp người nghèo, không lấy tiền Là một người vừa có tài vừa

Trang 18

có đức, Cụ sớm trở thành ông lang có tay nghề, có tên tuổi ở một vùng quê Đại Lộc, được nhân dân trong vùng kính nể Vì thế cụ có thể cho anh em đồng chí Trần Tống, Trần Hãnh (Trần Hồng Chu), Trần Chi, Trần Thị Hiến, Trân Thị Thọ… đi học ở các trưởng sơ học, tiểu học gần nhà Trần Tống còn trực tiếp thụ giáo cụ thân sinh về Hán văn và chịu ảnh hưởng trực tiếp về tinh thần yêu nước của cha

Qua dạy Hán văn, cụ Cảnh đã tạo dựng bước đầu trong Trần Tống ý chí, quan điểm của

kẻ sĩ từ buổi thiếu thời Về sau trong những lúc trò chuyện với đồng chí, đồng sự hay xen trong các bài giảng về tinh thần, ý chí cách mạng Tại các lớp huấn luyện cán bộ, đảng viên Trần Tống hay nhắc lại những câu trong Trung Dung7, chẳng hạn như: Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất, sử vị trường phu chi khí tiết 8

Với những tư chất đó, cụ Trần Cảnh đã sớm nuôi dạy các con của mình là đồng chí Trần Tống, Trần Hãnh (Trần Hồng Chu), Trần Chi, Trần Thị Hiến, Trân Thị Thọ… thành những người con Đại Lộc yêu nước, đều tham gia cách mạng từ trước năm 1945 “Nhà còn có hai thằng nhỏ đang hoạt động, thằng Hãnh và thèn Hãn (Trần Chi) đó, nhưng hai đứa đi rải

truyền đơn rồi, đi từ sáng sớm, chưa biết thế nào, có yên được không” Và tích cực trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương Đồng chí Trần Tống, Trần Hồng Chu, Trần Hãn

(Trần Chi) là một trong những Đảng viên tiêu biểu gieo mầm cho sự ra đời của Đảng bộ Huyện Đại Lộc

Trong những năm tháng chống ngoại xâm, gia đình cụ Trần Cảnh còn là cơ sở cách mạng: nuôi dấu cán bộ, thường xuyên tiếp tế lương thực, thực phẩm vào núi Những năm đầu thập niên bốn mươi, trong khi Trần Tống đang bị tù đày tại Buôn Ma Thuột, thì những người thân trong gia đình đồng chí đã hỗ trợ, nuôi giấu nhiều cán bộ, chiến sĩ cộng sản, trong đó

có đồng chí Tố Hữu Khi trở thành Phó Thủ tướng Chính phủ, đồng chí Tổ Hữu vẫn còn như lần vượt ngục đó cùng với sự cứu giúp của gia đình cụ Trần Cảnh Trong Hồi ký Nhớ lại một thời của mình, nhà thơ Tố Hữu có viết rằng: “ lên Thừa Bình được cả gia đình anh Trần Tống, từ cụ thân sinh và chị vợ anh đến vợ chồng anh Trần Hiến và các em, các cháu trong nhà che giấu, nuôi dưỡng bảo vệ hết lòng Suốt cả tháng trời trên đất huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, tôi được an toàn vượt qua các đợt lùng sục vây ráp của quân thù,…” [9, tr.98] Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, gia đình đồng chí cũng như nhiều gia đình khác, từ ông bà, cha mẹ đều nối tiếp nhau tham gia cách mạng, chiến đấu với quân thù, góp phần nhỏ bé của mình vào sự thắng lợi vĩ đại của dân tộc

7 Trung dung là một trong Tử thư gồm có: Trung dung, Đại học, Luận ngữ, Mạnh tử

8 Giàu sang không thay lòng, nghèo khó không đổi dạ, uy vũ không khuất phục, đó là khí triết của người trượng phu

Trang 19

1.3 Thời thiếu niên

Với tư chất thông minh, lạnh lợi, gia đình lại biết cách làm ăn tích lũy, kinh tế ổn định nên đồng chí Trần Tống được cha mẹ cho cắp sách đến trường Sau khi học xong Đông Lâm, đồng chí thi vào trường tiểu học Mỹ Hòa 9ở quê nhà với số điểm rất cao, được đặt cách qua lớp Nhì nhị niên, học thẳng qua lớp Nhất nhị niên Trong học tập cũng như vui chơi, đồng chí luôn quan tâm, giúp đỡ bạn bè với tình cảm chân thành, cởi mỡ

Tháng 9 năm 1935, sau khi học xong bậc Tiểu học, nhờ có ý chí và nghị lực, đồng chí thi đỗ đầu vào trường Quốc học Huế - một trường trung học lớn nhất của miền Trung lúc bấy giờ10 Đây là tin vui lớn của bản thân, gia đình và bạn bè Ngay từ năm học đầu tiên, đồng chí đã thành thạo tiếng Pháp, tiếp thu luồng tư tưởng Cách mạng mới Đồng chí còn thường xuyên đến hiệu sách Hương Giang để mua sách, báo, hỏi tin tức, tình hình thời sự,

mở rộng quan hệ giao lưu Với những tri thức học được, cùng với các mối quan hệ đồng chí sớm đi con đường Cách mạng vô sản, trở thành người cộng sản mẫu mực của bao thế hệ

Thời gian học ở đây, Trần Tống làm gia sư cho gia đình công chức ở khu Thượng Tứ để trang trải cuộc sống và phục vụ học tập Vốn thông minh, lại chăm chỉ học hành, đồng chí nhanh chóng vào loại nhất nhì ở trường Quốc học lúc bấy giờ, nhất là về tiếng Pháp Nhờ

đó khi học ở ban Thành chung cũng như ban Tú tài, ông đọc được rất nhiều sách lý luận Cách mạng bằng tiếng Pháp, nên ông có vốn lí luận Mác-Lênin phong phú, giúp ông rất nhiều trong nhà đày Buôn Ma Thuột sau này

Mặc dù học tập xa nhà, điều kiện bấy giờ rất khó khăn, vất vả, nhưng đồng chí Trần Tống đã vượt qua tất cả, học tập rất giỏi và tham gia Cách mạng rất tích cực, đức tính của đồng chí được moi người yêu quý, kính nể Rõ ràng, tình cảm bạn bè cũng là một phần ảnh hưởng đến từng bước trưởng thành của đồng chí Trần Tống, là những yếu tố nền tảng hung đúc nên một Trần Tống giản dị, trí tuệ, chan hòa, giàu lòng yêu thương, nhưng cũng rất mẫu mực và bất khuất kiên cường

9 Trường tiểu học Mỹ Hòa được thành năm 1922, nằm ở thôn Hòa Thạch, xã Đại An hiện nay Đây là trường Tiểu học đầu tiên của huyện Đại Lộc và các huyện miền núi phía Bắc Quảng Nam Ngôi trường này nổi tiếng dạy giỏi và học giỏi của tỉnh, nhiều học sinh sau này đã trở thành hạt nhân cho phong trào Cách mạng của địa phương tiêu biểu như: Huỳnh Ngọc Huệ, Trần Tống, Lê Thị Xuyến, Nguyễn Xuân Hữu,…

10 Trường Quốc học Huế thành lập năm 1896, là ngôi trường trung học nổi tiếng của Cố đô Huế Có rất nhiều tên tuổi nổi tiếng từng là cựu học sinh của trường, trên lĩnh vực chính trị có Nguyễn Sinh Cung (Hồ Chí Minh), Hà Huy Tập,

Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Diểu ; trên lĩnh vực khoa học có Nguyễn Thúc Hào, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Khánh Toàn, Đặng Thai Mai, Đào Duy Anh, Nguyễn Lân, Tôn Thất Tùng ; về văn hóa - nghệ thuật có Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Tố Hữu, Trần Hoàn, Nguyễn Văn Thương

Trang 20

Tố Hữu người cùng học với đồng chí Trần Tống kể lại, từ những năm học đầu đệ nhất

và đệ nhị niên11 tại Quốc học Huế Trần Tống vào loại học sinh xuất sắc và tiêu biểu nhiều mặt Tại ký túc xả nhà trường ai cũng biết và quý mến anh vì tư cách và trí tuệ Trần Quỳnh (nguyên Phó Thủ tướng) cũng là người cùng học với đồng chí Trần Tống cho biết: Sang năm học thứ hai (đệ nhị niên) trở đi, ý thức chính trị, tinh thần yêu nước ở Trần Tổng có sự chuyển biến về chất Từ một học sinh tiến bộ, Trần Tống sớm trở thành một đoàn viên, một cán bộ của Đoàn thanh niên Dân chủ và là một trong những cốt cán tin cậy của tổ chức Đảng tại nhà trường Lúc này Trần Tổng hay thổ lộ một cách khéo léo với người đồng học rằng: học để làm người Nếu sau khi ra trường có tìm được công ăn việc làm nào đó trong cơ quan công quyền hay các ngành sự nghiệp, thì xem đó là phương tiện, chử đừng nâng lên thành mục đích

Cũng theo đánh giá của đồng chí Trần Quỳnh thì học lực, uy tín, sự giao thiệp, quen biết rộng của anh Trần Tống sau khi ra trường dễ tìm được việc làm Nhưng Trần Tống không

có ý định lập nghiệp theo hướng đó, mà quyết lập thân theo con đường đã chọn: tham gia cách mạng, giải phóng quê hương, đất nước, dù biết “dấn thân vô (sớm muộn) sẽ bị tù đày"

Vì vậy, ngay trong những năm còn là học sinh Quốc học Huế, Trần Tống đã giác ngộ được một số bạn tham gia Đoàn thanh niên Dân chủ Trong đó có người đã được anh giới thiệu vào Đảng như Tố Hữu, Trần Quỳnh

1.4 Những tiền đề tạo nên tư tưởng Cách mạng

1.4.1 Chủ nghĩa yêu quê hương, đất nước

Đề cập đến chủ nghĩa yêu nước của dân tộc, chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ,

to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước”.12

Có thể nói chủ nghĩa yêu quê hương, đất nước là dòng chủ lưu chảy xuyên suốt trường

kỳ lịch sử Việt Nam, là chuẩn mực cao nhất, là nhân tố hàng đầu trong bảng giá trị tinh thần của con người Việt Nam nói chung, của người dân huyện Đại Lộc, Quảng Nam nói riêng Đại Lộc - Quảng Nam là vùng quê nổi tiếng có truyền thống lịch sử - văn hóa, yêu nước, kiên cường, bất khuất chống xâm lược, chống mọi ách áp bức, bất công Đây còn là vùng

11 Trung học cấp 2 bấy giờ (nay gọi là Trung học cơ sở) phải qua 4 năm: đệ nhất, đệ nhị, đệ tam, đệ tử (thử nhất, thứ

hai, thứ ba, thứ tư)

12 Trích trong Báo cáo Chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại Hội lần thứ II, tháng 2 năm 1951

Trang 21

đất có nhiều ưu thế cho nghề trồng dâu nuôi tằm, trồng bông dệt vải - những điều kiện thuận lợi cho phát triển nguyên liệu cho công nghiệp dệt may

Khi hoàn thành công cuộc xâm lược, chiếm đóng Việt Nam, thực dân Pháp thiết lập chính quyền cai trị ở tỉnh Quảng Nam, chính quyền thực dân đã tiến hành khai thác, bóc lột nguồn tài nguyên thiên nhiên, con người ở đây để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa, bồi đắp chiến tranh, làm giàu cho chính quốc Theo một số tài liệu ghi lại, đầu thế kỷ

20, tư bản Pháp - đại diện là hãng Đờlinhông (Delignon) nhanh chóng nhảy vào Đại Lộc, mua đất, xây dựng đường sá, thành lập các cơ sở hấp kén ở Phú Lương, Quảng Huế, Hà Dục

và một nhà máy ươm tơ Giao Thủy, với hơn 100 chảo ươm và 300 công nhân Với các cơ

sở trên, phương thức bóc lột của chủ nghĩa tư bản thực sự xuất hiện ở Đại Lộc và cùng với phương thức bóc lột phong kiến đã tạo ra một sự phân hóa mới trong mọi tầng lớp nông dân, thợ thủ công, hình thành đội ngũ công nhân đầu tiên của vùng đất Đại Lộc, thay đổi phần nào hình ảnh của một Đại Lộc xa xưa, vốn êm đềm, trữ tình và nhân hậu: “Sáng trăng sáng

tỏ hai hàng/ Bên chàng đọc sách, bên nàng quay tơ”

Sinh ra, lớn lên trên quê hương Đại Lộc - Quảng Nam, hằng ngày, hằng giờ tận mắt chứng kiến cảnh sống lầm than cơ cực người dân quê hương, bị bọn thực dân phong kiến, bọn tổng lý, ngũ hương, viên hào, chức sắc làng xã hạnh họe, áp bức bóc lột Hình ảnh người

dân nghèo “ăn cơm vay, cày ruộng rẽ”, chịu nhiều đau thương đã ăn sâu vào trong tâm trí

đồng chí Trần Tống từ lúc tuổi thơ đến khi tham gia hoạt động cách mạng Đồng chí nhận

ra rằng, dù là nông dân hay công nhân trong nhà máy cũng đều chịu áp bức bất công, chịu cảnh một cổ hai tròng nô lệ Rồi đến các câu chuyện về Tán Tương Bình Yên, Trần Huy,

Đỗ Đăng Tuyển - những nghĩa sĩ dũng cảm của phong trào Cần Vương và Chống sưu cao thuế nặng rung chuyển khắp Trung kỳ; hay từ sự kiện những người thợ dệt vùng Giao Thủy ngày đêm miệt mài bên khung cửi, trên những chiếc thuyền đậu dọc sông Thu Bồn, Vĩnh Điện dệt vải làm quân trang cho nghĩa quân trong cuộc khởi nghĩa Trần Cao Vân, Thái Phiên (năm 1916) đã vun đắp trong Trần Tống ý thức, trách nhiệm về độc lập dân tộc, sớm có hoài bão, ước mơ đi theo con đường chủ nghĩa yêu nước cộng sản

1.4.2 Tinh thần nhân nghĩa, tương thân, tương ái

Truyền thống nhân nghĩa, đoàn kết, tương thân tương ái của nhân dân Việt Nam đã được hun đúc, đắp bồi qua nhiều thế hệ Hình thành cùng với sự hình thành dân tộc, từ hoàn cảnh

và nhu cầu đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên và với giặc ngoại xâm Người Việt sống với nhau có tình có nghĩa, sống thủy chung, sống biết tôn kính những người có công với dân, với nước, sống bao dung độ lượng, luôn đề cao nhân nghĩa, trọng hiền tài, chia sẽ những buồn vui sướng khổ

Trang 22

Ở giai đoạn lịch sử nào cũng có những biểu hiện cụ thể, thắm thiết tình dân tộc, nghĩa đồng bào Tinh thần ấy, tình cảm ấy theo thời gian đã trở thành lẽ sống của mỗi con người Việt Nam, làm cho vận mệnh mỗi cá nhân gắn chặt vào vận mệnh của cộng đồng, vào sự sống còn và phát triển của dân tộc Nó là cơ sở của ý chí kiên cường, bất khuất, tinh thần dũng cảm hy sinh vì dân, vì nước của mỗi con người Việt Nam, đồng thời là giá trị tinh thần thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng và của mỗi cá nhân trong quá trình dựng nước và giữ nước, làm nên truyền thống yêu nườc, đoàn kết của dân tộc Đồng chí Trần Tống sớm nhận thấy rõ điều đó và tiếp thu

Bên cạnh việc tiếp thu truyền thống của dân tộc, ngay từ nhỏ, đồng chí Trần Tống cũng

đã được giáo dục, rèn luyện về đức hạnh qua tấm gương và những lời giáo huấn của cha, từ tình yêu thương, sự khoan dung độ lượng và câu chuyện kể của mẹ Đó là truyền thống lao động cần cù, yêu nước và đánh đuổi ngoại xâm, truyền thống khoa bảng và văn hóa của dòng họ Đồng chí được sinh ra và lớn lên dưới sự dạy dỗ của cụ Trần Cảnh, một nhà Nho học có tinh thần yêu nước và tấm lòng nhân ái: “Ông luôn sẵn lòng giúp đỡ mọi người Nhà ông đầy củi chất đống mà ông vẫn mua củi giùm cho những người nghèo kiếm củi trong núi về bán, để họ kiếm được chén cơm qua ngày trong những lúc đói kém Mùa gặt đến, công gặt được trả bình thường là 12 tổ thóc được trả 1 tô nhưng bà ngoại lại trả nhiều hơn hẳn: 1 tô cho 8 tổ công ” [4, tr.508] Cùng với việc được học hành, hằng ngày chứng kiến cảnh người dân chịu sự áp bức, bóc lột, đồng chí đã sớm hình thành đức tính nhân nghĩa, thương người, tin và đi theo chủ nghĩa yêu nước cộng sản, mong muốn đem sức mình đóng góp vào công cuộc giải phóng quê hương, đất nước Tấm lòng nhân ái ấy được thể hiện ngay trong những ngày đầu đến trường và trong suốt quá trình hoạt động cách mạng và giáo dục sau này của đồng chí

1.4.3 Đức tính thông minh, hiếu học, cầu tiến bộ

Khi phân tích về con người Quảng Nam, Đại Nam Nhất thống Chí cũng đã nêu rõ đức tính hiếu học, ham hiểu biết của con người ở đây và Trần Tống là đại diện Thuở nhỏ sau khi học xong trường Đông Lâm, Trần Tống thi vào trường tiểu học Mỹ Hòa với số điểm rất cao Tháng 9 năm 1935 sau khi học xong bậc Tiểu học, đồng chí thi đỗ vào trường Quốc học Huế, rời xa quê hương yêu dấu giữa lúc có nhiều biến động

Để thực hiện mong ước sống có lý tưởng, Trần Tống đã sớm giác ngộ và lựa chọn con đường cách mạng Ngay năm đầu ở trường Quốc học, đồng chi đã chăm chỉ học tập, miệt mài nghiên cứu sách báo tiến bộ, năng nổ hoạt động trong các phong trào đòi dân sinh, dân chủ do Đảng khởi xưởng Với những tri thức đã học được, đồng chí mở rộng quan hệ bạn

bè, học hỏi, đến tháng 9 năm 1936 Trần Tống được đàn anh giác ngộ, tham gia lãnh đạo phong trào học sinh Huế, biểu tình đón phái bộ chính phủ Mặt trận Bình dân Pháp, đưa dân

Trang 23

nguyện tại Viện Dân biểu Trung Kỳ Cũng qua quan hệ bạn bè, đồng chí tiếp xúc được với Phan Đăng Lưu và Bùi San Nhận thấy tinh thần nhiệt huyết cách mạng của thanh niên Quảng Nam, Phan Đăng Lưu và Bùi San đã tiếp tục bồi dưỡng về lí luận và tư tưởng cho Trần Tống Trên cơ sở đó, cuối năm 1936, được sự giúp đỡ của Phan Đăng Lưu, Trần Tống

đã thành lập ra Đoàn thanh niên dân chủ Huế Với sự giác ngộ và hoạt động tích cực, tháng

2 năm 1937, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, được phân công phụ trách vận động học sinh trường Quốc học và xây dựng các cơ sở Đảng trong trường học Kết quả, đồng chí đã giới thiệu đồng chí Tố Hữu và đồng chí Trần Quỳnh vào Đảng” [7, tr.177-178] Ngay từ khi còn là chàng thanh niên đi tìm lý tưởng, Trần Tổng đã hết sức chăm chỉ học tập, thường xuyên tìm đọc sách báo nhất là các sách báo tiến bộ, cố gắng phấn đấu

để trở thành một học sinh giỏi (chỉ một năm ở Quốc học, Trần Tống đã thông thạo tiếng Pháp)

Chính nỗ lực ban đầu này đã trang bị tiền đề vững chắc cho con đường hoạt động của đồng chí Những kiến thức được học và tự tìm tòi hỗ trợ tích cực giúp đồng chí trở thành cánh chim đầu đàn trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận, dịch thuật các chuyên đề lý luận, huấn luyện nâng cao trình độ lý luận và chính trị cho cán bộ và đảng viên trong những năm kháng chiến

Sinh ra trong gia đình khá giả do bàn tay cày sâu, cuốc bẩm xây dựng nên, được học hành tử tế, Trần Tống từng đỗ đầu vào trường Quốc học Huế (1935), đỗ Thành Chung năm

1938 (những điều kiện hoàn toàn có thể đưa Trần Tống trở thành một công chức của chế độ thực dân phong kiến bấy giờ) Tuy nhiên, cậu học trò thông minh, lanh lợi, học giỏi lại “hết sức căm ghét cái kiếp vào luồn, ra củi, luôn khúm núm, dạ dạ, vâng vâng trước mặt mấy tên chủ Tây ngạo mạn, hách dịch" Đồng chí chỉ “mong ước sẽ dấn thân vào con đường mà ở

đó mình có thể hoạt động thoải mái vừa đạt lý tưởng của mình vừa giữ được phẩm giả con người”

1.4.4 Tiếp thu Chủ nghĩa Mác – Lênin

Sinh thời đồng chí Trần Tống được sinh ra giữa lúc quê hương, đất nước có nhiều biến động, thực dân Pháp xâm lược và đặt ách cai trị hà khắc, bóc lột nhân dân một cách thậm

tệ Cũng trong hoàn cảnh đó, người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc đi trước đã tìm đến Chủ nghĩa Mác – Lênin (1920) và tìm thấy ở lý luận cách mạng và khoa học đó con đường cứu nước đúng đắn, gắn liền sự nghiệp giải phóng dân tộc với sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng con người của chủ nghĩa cộng sản và tích cực truyền bá vào Việt Nam Nếu chủ nghĩa Mác - Lênin lấy mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng con người làm điểm trung tâm, làm động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã

Trang 24

hội, thì tư tưởng Hồ Chí Minh đặt vấn đề giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người và lấy đó làm nguồn lực của cách mạng Việt Nam trong đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Người đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc, chống đế quốc thực dân, phong kiến lên hàng đầu và xác định trước hết phải giành cho được độc lập dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội

Hồ Chí Minh xác định, muốn cách mạng thành công thì dân chúng (công nông) là gốc, đồng thời phải có Đảng vững bền, phải đoàn kết và đi theo chủ nghĩa Mác - Lênin, dân tộc cách mạng phải liên hệ chặt chẽ với thế giới cách mạng Nói tóm lại, độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội và người cách mạng phải có đạo đức cách mạng, có lòng khoan dung, độ lượng, có khí phách kiên cường, không hề run sợ trước sức mạnh của kẻ thù, không

sợ phải hy sinh, gian khổ, có niềm tin vững chắc vào sự lựa chọn con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội

Như bao thế hệ người đi trước, đồng chí Trần Tống được tiếp xúc và học hỏi chủ nghĩa Mác – Lênin cùng với đó là tiếp thu luồng tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là giành độc lập cho dân tộc gắn liền tất yếu với thực hiện quyền tự do, dân chủ, hạnh phúc của đồng bào, ý chí tự lực, tự cường, quyết tâm đấu tranh vì nền độc lập và phát triển đất nước

Những tiền đề nêu trên đã nuôi dưỡng và sớm hình thành nên một Trần Tống yêu quê hương, đất nước, sớm có hoài bão, quyết tâm đi theo con đường giải phóng độc lập dân tộc không ngại khó khăn, không cầu mưu lợi

Trang 25

CHƯƠNG II: QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG CỦA ĐỒNG CHÍ

TRẦN TỐNG TRONG GIAI ĐOẠN 1936-1982 2.1 Hoạt động Cách mạng tại quê nhà (1936-1938)

Đối với Trần Tống ở đâu có quần chúng là ở đó có vận động cách mạng.Sau thời gian học tại trường Quốc học Huế, được giác ngộ và gia nhập Đảng, tiếp tục tinh thần cùng với

ý chí mở rộng hoạt động Đảng, những dịp nghỉ hè về quê, Trần Tống luôn luôn tranh thủ tuyên truyền, giáo dục, cách mạng hóa những người đồng hương và dòng họ, thân nhân của mình Cũng trong dịp nghỉ hè năm 1937, đồng chí về huyện Đại Lộc mở lớp dạy học thường xuyên tại làng Hóa Tây, tổng Mỹ Hòa (nay thuộc xã Đại An) Thỉnh thoảng khoảng hai, ba tuần đồng chí mới ra ngoài vào buổi tối và qua đêm, đến chiều hôm sau mới về, thật chất là

đi họp, đi tuyên truyền cách mạng

Ở đây đồng chí đã tổ chức cho lưu hành các sách báo tiến bộ và cách mạng, tổ chức các cuộc vui chơi để tập hợp thanh niên, bí mập tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lenin và con đường đấu tranh chống đế quốc, phong kiến dành lại độc lập dân tộc do Đảng lãnh đạo Thời gian này, đồng chí vừa dạy học vừa tuyên truyền, giác ngộ học trò tham gia công tác cách mạng Tuy công việc này chỉ thực hiện trong thời gian ngắn, nhưng đồng chí đã giác ngộ được nhiều thanh niên, học sinh tiến bộ, sau này đều trở thành những cán bộ cốt cán, trung kiên của Đảng, trong đó có cả anh em ruột của đồng chí Trần Hồng Chu, Trần Chi Trước khi kết thúc kì nghĩ hè, đồng chí đã chọn một số thanh niên, học sinh có ý thức cao về cách mạng giới thiệu cho đồng chí Nguyễn Đức Thiệu – lúc này là Tỉnh ủy viên Quảng Nam, phụ trách huyện Đại Lộc tiếp tục bồi dưỡng giác ngộ Và trên cơ sơ đó, đồng chí Nguyễn Đức Thiệu thành lập chi bộ Đảng tổng Mỹ Hòa gồm các đồng chí Hồ Phước Hậu, Trương Văn Chấn, Bùi Thương và Ngô Quang Tám do đồng chí Hồ Phước Hậu làm bí thư Cùng với chi

bộ tổng Đại An và chi bộ tổng Đức Hạ, chi bộ tổng Mỹ Hòa trở thành một trong ba chi bộ Đảng đầu tiên của hiện, là cơ sở cho sự thành lập Đảng bộ huyện Đại Lộc (9/12/1937) [Đảng bộ Huyện Đại Lộc] Các lớp cán bộ đó đều trở thành những cán bộ lãnh đạo của Đảng

có nhiều đóng góp cho sự nghiệp cách mạng của Đảng

Khi làm những việc này, đồng chí Trần Tống cũng không ngờ rằng những cơ sở mà đồng chí đã xây dựng ở huyện nhà không lâu sau, những năm 1940-1942 là những nơi lưu trú an toàn của cán bộ Xứ ủy Trung Kỳ, trong đó có các đồng chí như Trương An, Võ Toàn, Huỳnh Cự, Đặc biệt những cơ sở này đã che giấu, bảo vệ đồng chí Tố Hữu trong nhiều ngày sau khi vượt ngục về, chờ ngày ra hoạt động trở lại

Qua những hoạt động nói trên, Trần Tống bị nghi ngờ theo dõi Trong năm học thứ tư, đồng chí bị cắt học bổng Cũng vì thế đồng chí không đủ điều kiện học lên Ban Tú tài, phải

Trang 26

nghỉ học sau khi tốt nghiệp Thành chung (1938) và từ đây đồng chí đem hết khả năng của mình để phục vụ cho Đảng.nhưng chỉ trong một thời gian, trường Thành Chung bị lộ và bị giải tán

Nghỉ học, Trấn Tống được tổ chức giới thiệu về sinh hoạt ở Quảng Nam - Đà Nẵng Thời gian này, ở Đà Nẵng có một số cơ sở cách mạng hợp tác và xây dựng mở trường Trung học Thành Chung là trường Trung học đầu tiên ở Đà Nẵng Học sinh cho đến cán bộ giảng dạy,

có một số là đảng viên, cơ sở cách mạng Để tiện hoạt động, đồng chí Trần Tống không về quê, mà xin vào dạy ở trường Thành Chung và được cử làm Phó Bí thư Tỉnh ủy phụ trách các chi bộ ở Đà Nẵng Tranh thủ thời cơ đồng chí Trần Tống đã đem hết nhiệt huyết và khả năng của mình vào công tác tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin cho đảng viên, cán bộ và quần chúng chưa vào Đảng… Nhiều lần đồng chí Trần Tống đã công khai đối đầu tranh luận với số trí thức chịu ảnh hưởng Quốc dân đảng về đường lối quần chúng của Đảng

ta, đồng chí nêu rõ cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, vì họ cho rằng vai trò cá nhân lãnh tụ quyết định sự thành bại của cách mạng

Đồng chí đã tranh luận với một số cá nhân cho rằng “cộng sản là vô gia đình” Bọn

Tơ-rôt-kit cho rằng “phụ nữ giải phóng là không có gia đình” và ca ngợi thuyết “hồi gia” của phát xít Đức - là phụ nữ phải trở về gia đình Qua những cuộc tranh luận về những quan điểm sai trái với chủ nghĩa Mác - Lênin, nhiều thanh niên tiến bộ đã cóxu hướng mạnh mẽ hướng về mục đích đấu tranh giải phóng dân tộc gắn liền với xây dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa khoa học Một cán bộ trẻ có học vấn, có ý chí mãnh liệt, có tư cách và khiêm tốn trong đối xử, Trần Tống được các đồng chí trong Tỉnh ủy và trong Đảng bộ tỉnh nói chung kính trọng và rất tin cậy

Những việc đồng chí Trần Tống nghĩ và đã thực hiện trong thời gian này mặc dù không nhiều và thời gian không dài, nhưng đó lại là những đóng góp vô cùng to lớn trong công cuộc bảo vệ độc lập và gìn giữ quê hương, tạo điều kiện cho nhiều thanh niên, học sinh có

cơ hội được học tập và tham gia hoạt động Đảng, tạo ra một trong số ba hạt nhân đầu tiên cho sự thành lập Đảng bộ huyện Đại Lộc

2.2 Những năm tháng sôi sục đấu tranh trong cảnh tù đày (1939-1945)

2.2.1 Từ sự kiện xét xử những nhà Cách mạng tại Vĩnh Điện ( 1/1940)

Ngày 1 tháng 9 năm 1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, nước Pháp bị phát xít Đức tấn công và lâm vào cuộc chiến Tháng 6 năm 1940, đế quốc Pháp bị phát xít Đức đánh bại, bọn thực dân Pháp ở Đông Dương thực hành chính sách cai trị thời chiến cực kỳ tàn bạo, thẳng tay đàn áp dã man phong trào kháng chiến của Đảng ta, ra lệnh cấm các hoạt động chính trị Các quyền tự do dân chủ đã đòi được từ ngày Mặt trận bình dân Pháp lên

Trang 27

cầm quyền đều bị xoá bỏ như: tự do đi lại, tự do ngôn luận, tự do hội họp, quyền được tăng lương, giảm giờ làm cho công nhân, quyền được xoá bỏ các loại thuế bóc lột nông dân, đã

bị xoá bỏ Các tổ chức mang tính xã hội đã bị giải tán, như hội “Ái hữu”, hội “Từ thiện”, hội “Vòng công lợp nhà”, hội cấy Chúng còn cho bắt giam hàng loạt Đảng viên Cộng sản

và quần chúng cách mạng chúng Riêng ở Quảng Nam chúng bắt hơn 60 người đày đi Phú Bài, Trà Khê, Ly Hy Những tháng cuối năm 1939, tổ chức Đảng bề vỡ ở nhiều phủ, huyện Hầu hết các đồng chí trong Tỉnh uỷ đều bị bắt giam, cũng như Nguyễn Thành Hãn, Nguyễn Đức Thiệu, Nguyễn Như Khuê, Phan Khắc ( Phan Thêm)… Tháng 10 năm 1939, đồng chí Trần Tống sa lưới mật thám, bị bắt tại Đà Nẵng rồi đưa về nhà lao tỉnh Quảng Nam

Bị theo dõi, ghi số đen từ khi còn là học sinh ở Quốc học Huế, bây giờ bắt được Trần Tống với chức vụ đương nhiệm là Phó Bí thư Tỉnh ủy (do một người bị bắt trước đó khai ra), Rảynô, chủ mật thám Quảng Nam lúc ấy mừng rỡ như một con thú dữ về được mỗi ngon Y trực tiếp hỏi cung và giục bọn tay sai khảo tra liên tục Vàng mười thử lửa Là một người cộng sản, đồng chí đã tự mình xác định, nếu lỡ bị địch bắt, bị tù đày, "gươm kề cổ, súng kề tai" đến phải hy sinh tính mạng cũng không bao giờ chịu tiết lộ “đầu hàng, phản bội" làm ảnh hưởng đến thanh danh của Đảng, có hại cho tổ chức, cho phong trào Khí tiết cách mạng ấy đồng chí đã giữ trọn, cho nên khi bị địch dùng mọi thủ đoạn để tra tấn hết sức

dã man, đồng chí vẫn nhất quyết không khai các cơ sở Đảng do đồng chí xây dựng và móc nối, mà còn đấu lý trực diện với Râynô, thuyết phục đấu tranh một cách nhẹ nhàng với những nhân viên tay sai trực tiếp khai thác, hỏi cung ông Những tay sai đắc lực và nguy hiểm của mật thám Quảng Nam lúc ấy như Phạm Banh, Hồ Trung Dũ,… những kẻ mà Trần Tống có quen biết từ những năm cùng học, sau khi chạm trán bị Trần Tống vạch mặt, chúng ngượng và lánh, không trực tiếp hỏi cung đồng chí nữa, mà giao cho đồng bọn là người ngoài tỉnh như Nho, Hoành Sau gần hai tháng bị tra khảo, hỏi cung mật thám Quảng Nam

phong cho ông danh hiệu “phần tử nguy hiểm” và trả về nhà lao tỉnh ở Vĩnh Điện, chờ kêu

án

Từ cuối năm 1939 đầu năm 1940, Trần Tống cùng với các đồng chí Nguyễn Đức Thiệu, Nguyễn Xuân Nhị, Nguyễn Thúy, Nguyễn Quang Chung, Phạm Xuân Sơn, Khưu Thúc Cự

thành lập “Ban liên lạc” tại nhà lao, nhằm đoàn kết tất cả anh chị em tù nhân thành một

khối thống nhất, biến nhà lao thành nơi hoạt động cách mạng Qua theo dõi, anh em tù nhân biết địch sẽ mở phiên tòa sơ thẩm và chung thẩm xử án những người cộng sản tại dinh Án sát bù nhìn Quảng Nam vào ngày 6 tháng 1 năm 1940, nhằm vào ngày kỷ niệm sinh nhật Đảng13 Đây là một âm mưu của địch nhằm đánh vào uy tín của Đảng ta Đồng chí Trần Tống cùng các đồng chí khác nhân cơ hội này vạch trần tội ác của bọn tay sai như gương

13 Lúc bấy giờ, ta tổ chức kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vào ngày 6-1 hằng năm

Trang 28

của đồng chí Đi-mi-tơ-rốp (chiến sĩ Cách mạng người Bungari) trước toà phán xét Đức Mặc

dù, các đồng chí đều đoán biết trước là sau cuộc chạm trán công khai mặt giáp mặt trong toà

án sắp tới, các đồng chí sẽ phải trả giá rất đắt, quân thù có thể kết án thật nặng, đưa đi đày

ở nơi rừng thiêng nước độc, có thể dùng cả bạo lực, súng đạn để khủng bố, đàn áp Nhưng không một ai lưng chừng do dự, không một ai đăn đo, tính toán thiệt hơn, không một ai sợ hãi trước uy quyền của bọn thống trị Tất cả vì sự nghiệp của Đảng, quyết giáng một đồn chí mạng vào uy quyền của bọn thống trị, nâng cao uy tín và tuyên truyền chính nghĩa của Đảng trước đồng bào

Để phô trương thanh thế, trấn áp dư luận, chúng cho một số bà con ở thị trấn Vĩnh Điện

và người nhà viên chức đến dự phiên tòa Lợi dụng tình hình đó, các đồng chí không quên tìm cách báo tin cho gia đình, người thân biết để huy động người tới dự Một số cơ sở cách mạng còn lại ở Tam Kỳ, Hội An Duy Xuyên, Điện Bàn biết được địch mở phiên toà cũng tìm cách đến tham gia, cổ vũ tinh thần đấu tranh cho các đồng chí

Trước khi bị giải đi xử án, bọn cai trị Nam triều chia các chiến sĩ cộng sản thành nhiều nhóm đi đến nơi xử án Sáng sớm ngày 06 tháng 01 năm 1940, khi cổng nhà lao tỉnh vừa

mở, nhóm chiến sĩ của đồng chí Trần Tống được gọi đi trước gồm sáu người từ từ bước ra khỏi cổng giữa đám đông quần chúng đã đứng chờ sẵn hai bên đường, các đồng chi nhất loạt hô vang khẩu hiệu:

“- Đả đảo đế quốc Pháp! Đả đảo

- Đả đảo bọn quan lại phong kiến tay sai! Đả đảo

- Đả đảo tòa án bù nhìn! Đả đảo

- Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm!

- Việt Nam hoàn toàn độc lập!” [11, tr.51]

và tiến về nơi xử án cách nhà lao chừng hơn 100 m Hơn 300 đồng bào, phần lớn là người nhà tù nhân và quần chúng cảm tình cách mạng đã đến vây quanh nơi xử án Tiếng hô vang dội, hùng tráng, làm náo động bào không khí yên tĩnh trước cổng nhà tù, tiếng hô càng to, lòng căm thù giặc càng dâng cao, tinh thần đấu tranh vì độc lập dân tộc càng hùng mạnh, sức mạnh ấy, chính là sức mạnh đại đoàn kết toàn quân dân

Với tài hùng biện và vốn lý luận của mình, Trần Tống đã biến phiên tòa xét xử thành nơi

tố cáo tội ác của bọn thực dân phong kiến, bảo vệ lý tưởng cách mạng của mình, tuyên truyền ảnh hưởng trước nhân dân tham dự phiên tòa Khi tên Án sát Võ Vọng vừa cất giọng:

"Các anh can tội lập hội kín âm mưu lật đổ Chính phủ Chiếu theo luật hình, toà phạt mỗi

Trang 29

người 5 năm tù giam Có ai muốn kêu lên quan trên giảm án không?” Tức thì, đồng chí Trần Tống người đứng hàng đầu đoàn tù nhân nhìn thẳng vào mặt tên Võ Vọng lên tiếng: "Chúng tôi là đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương, đứng ra lập các tổ chức bí mật của Đảng trong tỉnh Quảng Nam Các tổ chức này vận động, tuyên truyền tổ chức đông đảo đồng bào đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, đòi cải thiện điều kiện làm việc cho công nhân viên chức, đòi chia lại ruộng đất công cho công bằng, đòi giảm xấu, giảm thuế, đòi các quyền tự

do dân chủ như các quyền tự do lập hội, tự do ngôn luận, tự do nghiệp đoàn, tự do tổ chức v.v Chúng tôi chuẩn bị khi có thời cơ tiến lên đánh đổ ách thống trị của thực dân Pháp và

bộ máy cai trị của bọn quan lại phong kiến tay sai giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc Việt Nam yêu quỷ ! Đấu tranh về quyền lợi sống còn của đồng bào, đấu tranh vì độc lập, tự do cho đất nước là có tội hay sao? Đây là nghĩa vụ, đây là vinh dự, đây là quyền lợi đương nhiên của chúng tôi, đây là quyền lợi đương nhiên của người Việt Nam mất nước, đây là quyền lợi đương nhiên của mỗi người dân mất tự do Chúng tôi không có tội gì cả Chúng tôi làm nghĩa vụ đối với Tổ quốc, đối với đồng bảo sao các anh lại bảo chúng tôi có tội ?" [11, tr.52] Lúc này, để tỏ ý cổ vũ với diễn giả, đồng chí Nguyễn Thành Hãn người cao to nhất trong đoàn tù nhân giơ cao nắm tay hộ lớn "Hoan hô ! Hoan hô", lập tức cả đoàn tù nhân cùng giơ nắm tay hồ theo: "Hoan hô ! hoan hô ! rất hoan hô!"

Nhận được sự cổ vũ nhiệt tình của đồng chí, đồng đội, của nhân dân, khí thế người cách mạng càng dâng cao, cứ thế Trần Tống đanh thép tố cáo, vạch trần tội ác của bọn đế quốc, thực dân phong kiến, tỏ rõ nổi căm hờn của đồng chí, của cả dân tộc Việt Nam “Vậy ai là

kẻ can tội ? Trước hết là bọn đế quốc Pháp thống trị nước ta là kẻ can tội lớn nhất Tội cướp mất nước ta, tội cướp mất tự do của dân ta, tội bóc lột đồng bào ta đến tận xương tủy, tội đàn áp những người yêu nước dám đứng lên chống lại chúng nó ” [11, tr.53]“Vậy còn ai

là người can tội nữa? Bạn can tội thứ hai là bạn quan lại phong kiến, là các anh, những người tay sai của đế quốc Pháp Các anh là những kẻ can tội bán nước Các anh là tôi tớ cho chúng

nó, các anh đồng loã với chúng nó bóc lột đồng bào, áp bức đồng bào Các anh ăn cơm chúng nó, vâng lệnh chúng nó đàn áp những người yêu nước đám đứng lên chống lại chúng

nó, dám đứng lên chống lại các anh.Ví dụ như các anh đàn áp chúng tôi hiện nay Các anh

là những người can tội Cho nên, cái gọi là tòa ăn của các anh không đủ tư cách để buộc tội bất cứ ai Chúng tôi kịch liệt phản đối cái tòa án bù nhìn này của các anh Chúng tôi kịch liệt phản đối cái gọi là lời buộc tội, là bản án của các anh ” [11, tr.53-54] Trước những lý

lẽ sắc bén của đồng chí Trân Tông, bọn quan lại Nam triều choáng váng, lúng túng không biết đối phó thể nào trước đòn đánh bất ngờ này, Chánh án lập lại câu nói lúc đầu: "Vậy các anh có muốn kêu lên quan trên xin giảm án không?" như thể muốn các đồng chí nhận phần tội về mình, nhưng lí tưởng người cộng sản nào đâu dễ bị lung lay như vậy Đồng chí Trần Tổng, với tư cách người diễn giả, đại diện cho anh em tù nhân, thong thả đưa mắt nhìn quanh

Trang 30

một vòng về phía đồng bào đang chăm chú theo dõi, rồi quay lại ném thẳng vào mặt tên mật thám khét tiếng bằng một giọng đanh thép :"Tôi đã nói là đảng viên cộng sản, chúng tôi kêu gọi và tổ chức đồng bào đứng lên đấu tranh vì độc lập, vì tự do cho Tổ quốc, vì cơm áo cho nhân dân Làm những việc đó chúng tôi không có tội gì cả Còn cái gọi là tòa án này, cái tòa án trà hé của các anh, chúng tôi không bao giờ công nhận Chúng tôi kịch liệt phản đối

nó Chúng tôi kiên quyết bác bỏ nó Vì thế, chúng tôi không căn kêu ca với ai cả Chúng tôi không cần xin xỏ ai giảm án cả Chúng tôi không cần" [2, tr.69]

Nhân cơ hội này, bằng một giọng hết sức tha thiết đồng chí kêu gọi đồng bào đứng lên đấu tranh lật đổ ách thống trị của bọn thực dân phong kiến, quyết giành lại độc lập tự do cho đất nước, tự do cơm áo cho nhân dân "Hỡi đồng bào yếu quý! Hãy tố cáo bọn thực dân Pháp cướp nước! Hãy tố cáo bọn quan lại bán nước, tôi tớ của thực dân Pháp! Hãy tổ cáo cái tòa ăn bán nước bẩn thỉu này! Đồng bào hãy đoàn kết lại muốn người như một! Hãy đứng lên đấu tranh và khi điều kiện chín muối, hãy tiến lên đánh đổ ách thống trị của đế quốc Pháp và của bọn quan lại phong kiến cùng với toàn bộ pháp luật phản động của nó, giành lại độc lập tự do cho đất nước, giành lại tự do, cơm áo cho nhân dân" [2, tr.69] Sau cùng các chiến sĩ cách mạng hát vang bài ca cách mạng: “Bớ công nông, phất cờ lên, đồng tâm tiến tới giết loài sài lang, theo ngọn cờ Mác- Lênin công nông mình quyết ra tay trì lũ

đế quốc diệt loài phong kiến, đừng để chủng nó bắn giết công nông ngồi an nhiên mà vui chơi mà đua nhau thu góp bạc vàng ”

Kết quả chống phiên toà thắng lợi vượt hơn cả dự kiến, trong đó có sự góp sức to lớn của Trần Tống “Tiếng lành đồn xa”, Tú14 Tống phản bác, mắng quan toà tại phiên xét xử

án nhanh chóng lan xa và sâu rộng trong tỉnh Với tư cách là đảng viên Cộng sản, Trần Tống cùng đồng đội của mình đã biến toà án phản động thành toà án công khai, từ bị cáo tự chuyển mình thành quan toà cách mạng, đứng lên buộc tội thực dân Pháp và bè lũ bán nước Việt gian Thắng lợi ấy cũng đã có tác dụng củng cố tinh thần của những tù nhân cộng sản vừa mới bị bắt, xây dựng lòng tin cho những hoạt động, đấu tranh mới trong tù Đồng bào dự phiên toà loan tin cho nhau "Cộng sản lật ghế quan toà" và hả lòng, hả dạ, tin tưởng con đường cách mạng của Đảng cộng sản là chính nghĩa, nhiều người cũng từ đó giác ngộ, tham gia vào tổ chức Cách mạng và trở thành những cán bộ cốt cán của Đảng sau này như Hứa

Tự Nhung, Nguyễn Phán Từ đây, bọn thống trị ở tỉnh không dám mở phiên toà xét xử tù nhân cộng sản mà chúng tự làm án rồi đến cổng nhà lao loan báo cho từng người biết

14 Người đỗ Thành chung trước đây hay được gọi là Tú

Trang 31

Sự kiện Trần Tống phản ứng tại buổi xử án là một trong những nguyên nhân trực tiếp thúc đẩy hình thành các tổ chức cách mạng (Đoàn thanh niên phản đế, Hội phụ nữ phản đế)

ở trong và ngoài tỉnh Quảng Nam

Khí phách của Trần Tống biểu lộ trước phiên tòa đã tạo nên một động lực tinh thần và sớm biến thành sức mạnh vật chất hiện thực trong toàn tỉnh Ngoài lớp trẻ và quần chúng cơ bản, lớp nhà Nho đã tham gia phong trào hậu Cần Vương cũng tán thưởng và nể trọng Trần Tống Ông Huỳnh Thế Kỷ, Tú tài Hán học quê huyện Thăng Bình, người mà trước kia (1916) được vua Duy Tân mật phong Hình Bộ tham tri15, đã nói về Trần Tổng trong một bữa đám giỗ có nhiều người nghe rằng: “Tú Tống có cùng dòng họ, hoặc hậu duệ gần của Trần Quý Cáp hay không mà khí phách như cụ Trần lúc sinh thời ngày ấy”

Tư cách, phẩm chất cao quý của một đảng viên, hơn nữa là một cán bộ lãnh đạo ở Trần Tống đã thể hiện từ thời trai trẻ và đã tạo nên ảnh hưởng chính trị, uy thế lớn cho Đảng bộ Quảng Nam - Đà Nẵng lúc bấy giờ nói riêng và góp phần nâng cao thanh danh của Đảng Cộng sản Đông Dương nói chung trong những năm đầu thập niên 40 của thế kỷ trước Cũng như những cán bộ, đảng viên tiêu biểu của Đảng ta, cách mạng chưa thành công mà Trần Tống đã sớm “thành nhân” Sau sự kiện tù chính trị đấu tranh chống phiên tòa của Nam triều

xử án ngày 6 tháng 1 năm 1940, bọn thống trị tuyên án đồng chí Trần Tống 5 năm tù và chuyển xuống giam tại nhà lao Hội An cùng một số đồng chí khác

2.2.2 Hoạt động Cách mạng tại nhà lao Hội An (1939-1940)

Ngay từ đầu thế kỷ XX, ở Quảng Nam, một số nhà tù đã được thực dân Pháp cho xây dựng như: Nhà Lao tỉnh Quảng Nam, nhà lao Tourane để đàn áp những người con yêu nước của Quảng Nam tham gia các phong trào chống Pháp

Ở Hội An (lúc bấy giờ pháp gọi là thành phố Faifo) cũng vậy, ngoài việc xây dựng những công trình hành chính, quân sự như: Tòa Công sứ, đồn Giám binh, đồn lính Khố Xanh, tăng cường các điếm canh thực dân Pháp còn cho xây ở đây một nhà lao lớn và thường được mọi người nhắc đến với tên gọi là nhà lao Hội An (văn bản của mật thám Pháp ghi là nhà lao Faifo) Nhà lao Hội An lúc bấy giờ được thực dân Pháp xây dựng trên khu đất rộng 2ha thuộc ấp Trường Lệ, nằm ở phía đông bắc nội ô Hội An cách Tòa Công sứ 500m về phía đông nam, cách đồn lính Khố Xanh chừng 100m, nay thuộc khu vực khoa Lao – Trung tâm

y tế Hội An Nhà Lao này thuộc quyền quản lý trực tiếp của quan chức người Pháp thuộc Công sứ Hội An được dựng lên nhằm giam cầm những người tham gia các phong trào đấu

15 Phó Thượng thư (Thứ trưởng) Bộ Hình

Trang 32

ntranh yêu nước cả trong và ngoài tỉnh Quảng Nam Trong đó một số ít là dùng để giam

thường phạm

Sau ngày 06 tháng 01 năm 1940, đồng chí Trần Tổng cùng 6 đồng chỉ khác (trong số 64 người thành án) bị thực dân Pháp xem là cầm đầu nổi loạn, tống giam xuống nhà lao Hội

An, hầu hết giam ở bót 3; cùng đó có các đồng chí ở Nghệ An, Hà Tỉnh bị địch bắt từ

1930-1931 còn lại như đồng chí Trần Xi, Lê Hà, Nguyễn Dược, Trần Bàng, Trong thời gian bị giam giữ, đồng chí là một trong những người tích cực tham gia lãnh đạo các phong trào đấu tranh chống lại chế độ giam cầm hà khắc của bọn thực dân, đòi cải thiện điều kiện sinh hoạt Tiêu biểu là phong trào đấu tranh chống lại việc bắt đi lao dịch trên vùng bến Hiên, bến Giằng vào tháng 1/1940, vì “vùng này trước đó còn là nơi rừng thiêng nước độc, có đi mà không có về Do đó anh em tù chính trị một mặt tung tin gây dư luận, mặt khác kiên quyết đấu tranh chống lại thà chết chứ để địch bắt đi quyết không đi bến Hiên, bến Giằng” [4, tr.39-40] Sau một thời gian, không thấy bọn giảm binh và linh khố xanh bàn tán gì nữa và bọn chúng cũng thôi việc đưa đi lao dịch ở Bến Hiện, Bến Giằng Phong trào tuyệt thực và tuyệt ẩm để đòi giải quyết đời sống cho anh em chính trị phạm (6/1940)

Đáng lưu ý là đồng chí đã làm tốt công tác huấn luyện lý luận và phương pháp công tác cách mạng cho cán bộ, đảng viên đang bị giam cầm “Đặc biệt đồng chí đã bí mất dịch tài

liệu: “Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô (cb)” từ tiếng Pháp sang tiếng Việt” [4, tr.11] Trong

tù tài liệu không có, hiểu biết chênh lệch nhau, khi huấn luyện “mò” về lý luận cách mạng, thường nảy sinh lắm bất đồng Để khắc phục, đồng chí Trần Tống chỉ đạo phải tìm cho bằng được đồng chí Huỳnh Cự16, lấy cuốn sách “Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô”, chuyển vào nhà tù để dịch, việc rất gian nan Vì phải xây dựng cơ sở mật từ trong cai tù, lính khố xanh,

“móc” dần ra ngoài, về lại Duy Xuyên, đào lên, chuyển vào Hội An

Nửa cuối năm 1940, những trang đầu cuốn “Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô” mới đến được với đồng chí Trần Tống Hàng ngày, các đồng chí Xi, Hà đi lao dịch (corvec) ở Toà

sứ, được phân công liên lạc với các đồng chí bên ngoài; và mang về mỗi ngày 1 - 2 tờ trong quyển lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô Ngắt ra, mỗi người học thuộc lòng bằng tiếng Pháp một đoạn Lộ thì vò giấy nuốt luôn Dịch nhanh thì xé tiếp, chuyển vào Quyển sách này vốn

đã được các cán bộ, đảng viên ta bí mật cất giấu, nay có điều kiện liên lạc được với anh em trong nhà lao, nên tổ chức đưa vào dịch thành tài liệu học tập

16 Đại uý Xứ uỷ Trung Kỳ chuyển cuốn sách “Lịch sử Đảng Cộng sản Bôn sê vích Nga” bằng tiếng Pháp ấy cho đồng chí Nguyễn Thành Hãn, lúc đó là Tổng Bí thư tỉnh uỷ Quảng Nam (từ năm 1937) Do không rành tiếng Pháp, nên đồng chí Nguyễn Thành Hãn cùng đồng chí Huỳnh Cự gói bọc cẩn thận, rồi chôn gần Trà Kiệu, chờ dịp sẽ dịch ngay Chẳng may,

ít lâu sau đồng chí bị bắt giam tại nhà lao Hội An rồi sau đó chúng đày đồng chí lên Buôn Ma Thuột

Trang 33

Tài liệu được giao cho đồng chí Trần Tống lần lượt dịch ra tiếng Việt Các đồng chí giả kêu lắm muỗi đề xin đưa đèn sáp vào, vừa lấy ánh sáng để dịch vừa chữa đau lưng Giả đau lưng, cần đấm bóp để lê cùm lại gần nhau, chồng chéo ba người lên nhau, vừa để dịch vừa canh chừng lính gác Trong điều kiện vô cùng khó khăn của nhà tù, bị kìm kẹp, o ép, thiếu phương tiện, thiếu ánh sáng, Trần Tống khổ công dịch thuật tư liệu này tại nhà lao là một việc làm khó nhọc và đầy nguy hiểm Dịch xong, đồng chí Trần Tống hiệu đính lại Mỗi người lần nữa lại phải tự học thuộc lòng bằng tiếng Việt đoạn văn mình đã dịch Nhờ hiểu tiếng Pháp nhất trong nhóm, đồng chí Trần Tống trở thành người dịch chủ yếu Các đồng chí Ngô Huy Diễn, Trương Nhi, Khưu Thúc Cự, Trương Kim Ấn cũng tham gia dịch, lại là những người viết chữ đẹp, nên được phân công thay nhau ghi chép bằng những dòng chữ nhỏ xíu bằng bút chì trên giấy mỏng…cùng với các đồng chí chi uỷ và các tổ nòng cốt ở các bót học trước Các đồng chỉ này đọc thuộc lòng các tài liệu, bài giảng, rồi phân công phụ trách từng tổ nhóm hai, ba người đưa nhau xuống gầm sàn ngủ, chỗ lỗ thông hơi, xem như

để thở không khí, mà sự thật là dự huấn luyện, nghe giảng bài, thảo luận Hoặc đến các giờ

ra sân thở không khí, cứ hai, ba người vừa bá vai nhau, vừa đi trong sản, vừa nghe huấn luyện Những đồng chí biết chữ thì chuyển tài liệu để luân phiên đọc, sau đó nếu thắc mắc, trao đổi, thảo luận, giải đáp ở tổ, nhóm Công việc này được làm suốt cả năm 1940

Chuyện có thật này là điều chưa từng có trong dòng chảy cách mạng Việt Nam Biết rằng, những chuyện na ná như thế thì khá nhiều Ví như, năm 1932, đồng chí Hà Huy Tập tại Liên Xô, trong hoàn cảnh thiếu tư liệu, bằng trí nhớ phi thường, vẫn viết được cuốn Lịch

sử Đảng Cộng sản Việt Nam; tháng Tám năm 1945, đồng chí Nguyễn Khang, lãnh đạo Uỷ ban Khởi nghĩa thành phố Hà Nội dù chưa nhận được liên lạc với Thường vụ Trung ương Đảng, vẫn biên soạn được tài liệu và tổ chức tốt việc khởi nghĩa giành chính quyền tại Thủ đô; rất nhiều tấm gương khác đã làm báo khổ nhỏ, diễn kịch, viết tuồng, diễn chèo, trong lao tù Nhưng dịch thành công cuốn sách trong sự canh giữ nghiêm ngặt, tra trấn, lăng nhục của kẻ thù, thì lịch sử chỉ có đồng chí Trần Tống

Có trong tay cuốn “Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô (cb)” được dịch từ tiếng Pháp sang

tiếng Việt cùng với vốn kiến thức đã tích lũy được, đồng chí Trần Tống soạn thành mười chuyên đề rất phù hợp với tình hình trước khi Tổng khởi nghĩa ra một số Sau đó đồng chí Trần Tống căn cứ vào đó để biên soạn Qua chuyên đề “Thời cơ để cách mạng nổ ra và thắng lợi”, nhóm các chiến sĩ cách mạng này đã xác định cách mạng toàn Việt Nam sắp nổ ra, cần chuẩn bị cần kíp lực lượng cán bộ; nên đồng chí nào bị tù ít hơn đều được huấn luyện trước, nhằm bổ sung sớm lực lượng cho bên ngoài Với chuyên đề “Bước đường đi từ cơ sở", mà thực chất là bản về công tác chi bộ Đảng, cách thức phát triển đảng viên, phương thức vận động quần chúng ở cơ sở, người học nắm bắt thêm được nhiều những vấn đề thực tiễn Đảng

bộ bên ngoài nhờ các tài liệu đó đẩy mạnh tuyên truyền, vận động quần chúng , mở rộng đội

Trang 34

ngũ đưa phong trào đấu tranh lên liên tục.So lịch sử, những điều ấy thật đáng quý Lúc đó, còn sơ lược; nhưng ngày nay, chúng ta đã có thể tìm thấy một cách có hệ thống và khoa học trong bộ môn Chính trị học đang được giảng tại Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia

Hồ Chí Minh Các chuyên đề ấy đều được thông qua trước ở chỉ uỷ và ban liên lạc trong nhà lao Hội An, rồi được phổ biến rộng cho học viên

Từ khi có mặt Trần Tống, không khi trong lao thay đổi từng ngày Anh em tù lao được thông tin về tình hình trong nước, thế giới, về chiến tranh Trung Nhật, sách lược của Đảng

ta trong tình hình mới, triển vọng của cách mạng Việt Nam và thế giới Trần Tống không trực tiếp đối diện với giám binh - cai ngục mà chỉ đóng vai thông dịch Đồng chí nói tiếng Pháp trôi chảy và lưu loát, với tư thế chững chạc, cai ngục không dám coi thường Từ ngày

có mặt tù nhân Trần Tống, bọn họ không gọi anh em tù nhân là bọn mày, chúng mày mà gọi các anh Từ thượng sĩ (quản cơ) đến binh nhì trong đơn vị lính tập gọi đồng chí là giáo Tống

Do tham gia lãnh đạo trong nhà lao Hội An, để lâu Trần Tống ở nhà lao Hội An sẽ biến

số đông tủ nhân ở đây thành những “phần tử nguy hiểm”, lại bị địch cho là một kẻ cứng đầu, không cai tạo được, nên đến cuối năm 1940, Trần Tống cùng một số đồng chí khác bị bọn thực dân đày lên nhà đày Buôn Ma Thuột, vùng rừng núi hoang vu xa xôi của tỉnh Đắk Lắk Mặc dù bị đày lên Buôn Ma Thuột, nhưng đồng chí đã để lại ảnh hưởng to lớn đối với đồng

đội, bạn bè tại nhà lao Hội An, những người này đã tiếp nhận và sử dụng cuốn “Lịch sử

Đảng Cộng sản Liên Xô (cb)” được đồng chí dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Việt làm tài liệu

nghiên cứu, tuyên truyền, vận động anh em trong tù, lúc này những phần cần thiết trong cuốn sách trên đã được dịch xong, các chuyên đề cũng đã tương đối ổn định Đây là nguồn tài liệu quý giá giúp nâng cao trình độ hiểu biết của những người cộng sản còn lại ở nhà lao Hội An, vì đa số những người bị bắt vào đây đều thiếu điều kiện hiểu biết sâu sắc con đường mình đang đi Nên tài liệu này đã trở thành kim chỉ nam làm rõ ý nghĩa, mục tiêu, phương hướng về con đường mà họ đang đi Nhờ vậy, khi Cách mạng tháng Tám tại Quảng Nam -

Đà Nẵng nổ ra, chúng ta đã có được nhiều chiến sĩ cách mạng tiền bối vững vàng về lý luận,

am hiểu thực tiễn, gần gũi và động viên được sức mạnh quần chúng, đưa sự nghiệp cách mạng tiếp tục tiến lên Nay những vị cách mạng tiền bối ấy đã trở thành “thiên cổ” Một tuyến đường mới tại thành phố Đà Nẵng đã được mang tên Trần Tống

2.2.3 Hoạt động Cách mạng tại nhà đày Buôn Ma Thuột (1940-1945)

Nhà đày Buôn Ma Thuột thuộc Phường Tự An, Thành phố Buôn Ma Thuột Cách trung tâm thành phố khoảng 1 km về phía Đông Nam Nhà đày Buôn Ma Thuột được xây dựng năm 1930 nhằm giam giữ những người yêu nước, những đảng viên cộng sản bị bắt, bị xử

án nặng ở các tỉnh Trung Kỳ, với quy mô kiên cố trên một mảnh đất hình vuông, mỗi cạnh

Trang 35

200m, tường cao dày bao bọc xung quanh Nhà đày chia ra 6 lao, mỗi lao giam giữ mỗi loại

tù nặng nhẹ khác nhau

Thực dân Pháp lợi dụng địa hình rừng núi hẻo lánh của nhà đày Buôn Ma Thuột để cách

ly những người tù cộng sản khỏi phong trào cách mạng của quần chúng đang lên; giam giữ,

đày ải, trấn áp tinh thần và giết dần tù nhân cộng sản, hòng biến ý chí và thể xác của những người yêu nước trở thành bùn đen cát bụi Nhưng thực tế thì hoàn toàn ngược lại, chúng không ngờ rằng các chiến sĩ cộng sản đã biến nhà tù thành trận tuyến đấu tranh, thành trường học cách mạng của mình Đến nhà đày Buôn Ma Thuột, sau khi nắm chắc tình hình tại đây Trần Tồng cùng các đồng chí cũ và mới đến xây dựng chương trình “biến nhà tù thành trường học lý luận” Một trường học hình thành trong máu lửa và gông cùm Tại đây, anh Tống cùng với đồng chí Nguyễn Hữu Khiếu cho ra mắt tác phẩm “Hy sinh” ghi lại cuộc đấu tranh của đồng chí Trần Hữu Dực trước sự đàn áp dã mang của tên mật thám Farèz17 Trang đầu của cuốn sách có ghi 2 câu thơ bằng chữ Hán do đồng chí Trần Hữu Dực đặt ra để tự tu luyện:

“Hiệu tự, toàn nhân quần vĩ nghiệp, Chung sinh, sự Đảng chính hoằng cương.”

Vịnh, Đặng Thí,…thành lập một tổ chức bí mật gọi là “lực lượng kiên trung” Tuy không

gọi là Chi bộ Đảng nhưng trên thực tế lực lượng này đã đóng vai trò một Chi bộ Cộng sản

Cũng từ hạt nhân Chi bộ Đảng đầu tiên đó đã gieo mầm, tạo những "hạt giống đỏ" cho Đảng

bộ tỉnh Đắk Lắk; nhiều nhân sĩ, trí thức, công chức là người dân tộc thiểu số làm việc cho chính quyền thực dân đã được những người cộng sản giáo dục, cảm hóa thành những cán

bộ cách mạng theo Đảng, theo Bác Hồ, có uy tín lớn đối với nhân dân các dân tộc Tây Nguyên

17 Farèz là Chánh mật thám ở Ninh Thuận, Bình Thuận và Tây Nguyên

Trang 36

Trong điều kiện luôn bị tra tấn dã man bởi những trận đòn roi khủng khiếp, làm suy

nhược đến mức kiệt quệ cả về thể chất lẫn tinh thần người tù, nhưng “xiềng xích và gông

gắt” của nhà tù không làm lay chuyển được ý chí đấu tranh của Trần Tống, ông đã sát cánh

cùng các tù nhân tiếp tục đấu tranh chống lại chính sách hà khắc của nhà tù; đồng thời, biến nhà tù thành trường học cách mạng, tích cực học tập và giảng giải lý luận chủ nghĩa Mác-

Lênin cho những người bạn tù cùng chung lý tưởng Đồng thời, tìm mọi cách nắm bắt tình hình cách mạng ở bên ngoài, tổ chức vượt ngục, bắt nối với các cơ sở cách mạng, chuẩn bị lực lượng chờ thời cơ

Đóng góp lớn nhất của đồng chí Trần Tống trong chi bộ là tuyên truyền, bồi dưỡng chủ nghĩa Mác – Lênin, bảo vệ những nguyên tắc về quan điểm và tổ chức hoạt động của Đảng Bằng trí nhớ của mình, đồng chí đã biên soạn trên 20 tài liệu làm bài giảng về chủ nghĩa Mác – Lênin Đặc biệt đồng chí nhớ và chép lại gần đúng nguyên văn bản dịch 2 chương

của cuốn sách: “Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô (cb)” mà đồng chí đã dịch khi còn ở nhà

tù Hội An Mỗi chương được tách thành 2 cuốn sách riêng và một cuốn sách có tiêu đề: “Cơ

sở triết học của chủ nghĩa Mác – Lênin; chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử” và một cuốn có nhan đề “Những bài học được rút ra từ Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô” “đồng chí còn biên soạn tài liệu vắn tắt về lí luận kinh tế chính trị của Mác đó là

cuốn: “Gía trị và thặng dư giá trị” Đặc biệt nữa là cuốn “Những nguyên lý của chủ nghĩa

Lênin” bằng tiếng Pháp cũng được đồng chí nhớ và dịch ra tiếng Viết gần giống với bản

gốc Các tài liệu trên đã giúp nhiều đống chí trong tù nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác – Lênin và về Đảng” [4, tr.12], được xem là những tài liệu hết sức quý báu đối với các đồng chí lúc bấy giờ.18

Được tập thể phân công, Trần Tống bằng trí nhớ của mình, đã biên soạn lại những bài học lý luận chính trị Những bài học đó được đồng chí diễn đạt thành câu chuyện thời sự, hoặc câu chuyện tâm tình giao tiếp hằng ngày, đưa lại người nghe những điều mới lạ, suy

tư Và ai cũng thấy lòng mình được bồi đắp thêm một tí giữa hoàn cảnh lao tù để cùng nhau nuôi chỉ khi đấu tranh Rồi cũng bằng trí nhớ mọi người lần lượt truyền nối cho gần 500 tù nhân ở nhà đày Buôn Ma Thuột và 200 tù nhân ở nhà tù Hội An Gần 700 tù nhân đó, khi

ra tù đều nắm được những điều cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin để làm kim chỉ nam cho hành động cách mạng sau này Trong thực tế các đồng chí đã trở thành lực lượng rất quan trọng trong đội ngũ 5.000 đảng viên cộng sản của cả nước lãnh đạo dân tộc đứng lên làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945

Trang 37

Do những hoạt động tích cực nêu trên, nên Trần Tống cùng 60 đồng chí khác bị bọn

quản ngục Buôn Ma Thuột cho là những phần tử “Rất nguy hiểm” và cuối năm 1941 bị

chúng đưa lên trại giam Đắk Mil19 (Camp de Concentraition Đăk Mil) Mục đích của địch khi đày các chiến sĩ cộng sản lên đây là nhằm lấy cái đói rét, bệnh tật và lao dịch khổ sai để tiêu diệt ý chí cách mạng và thủ tiêu dần các chiến sĩ cộng sản

Trừ những phần tử tha hóa, cầu an, phần lớn những người bị giam giữ tại nhà đảy Buôn

Ma Thuột trong những năm 1941 đến mổng 9 tháng 3 năm 1945 trình độ hiểu biết được nâng lên một bước Trong đó, những người hăng hải có học vấn nhất định, sau khi ra tù trở thành những cán bộ sắc sảo, có lý luận Tại nhà đày Buôn Ma Thuột trong những năm 1941

- 1945, bạn đồng lao gọi Trần Tống là “Giáo sư Đỏ” Chính đồng chí đã trí thức hoá, đã đào tạo cho Đảng một lực lượng cán bộ có hiểu biết, có năng lực hành động và do đó có tác dụng tốt và rất tốt đối với phong trào Quảng Nam - Đà Nẵng, nhiều tỉnh Trung Kỳ và cả một số địa phương khác trong cả nước

Bị giam giữ ở nhà đày Buôn Ma Thuột chủ yếu là người Trung Kỳ nhưng tại sao những việc làm nói trên của Trần Tổng lại có tác dụng đến một số địa phương khác trong cả nước

Vì do một số người đồng lao là “học trò” của Trần Tống khi mãn hạn tù họ không được trả

tự do, mà bị đưa đi an tri ở nơi khác Đến nơi giam giữ mới, những anh em này lại truyền đạt tri thức cho những người đồng lao như đồng chí Trần Tống đã làm đối với họ “Năm

1944 tại camp an trí Ly Hy Thừa Thiên tôi và nhiều anh em khác bị giam giữ tại đây, may mắn được thụ giáo những học trò của anh Trần Tống tử Buôn Ma Thuột đến về những vấn

đề đã nêu trên Đến nay trên 60 năm, tôi vẫn còn nhớ những điều được thụ giáo các thầy lúc ấy” [4, tr.169]

Một số chiến hữu của đồng chí Trần Tống đánh giá cao công lao, tác dụng của anh Trần Tống trong vấn đề nêu trên là rất to lớn, là vô giá, không phải ai cũng làm được Thực tế lịch sử là như vậy Những người cộng sản Việt Nam trước đây đã biến nhà tù, nơi kẻ dịch giam giữ mình thành trường học Nhưng trong những thời gian khác nhau, vì những đặc điểm khác nhau, những trường học này đem lại những hiệu quả không giống nhau

Trong những năm 1936 - 1939, thời kỳ Mặt trận Dân chủ gần như làm chủ, chi phối chính trưởng Việt Nam, sách bảo tiến bộ được xuất bản Một bộ phận đảng viên của Đảng hoạt động bán công khai, công khai hợp pháp Người Cộng sản nói chung, nhất là những đồng chí nhiệt tình cao, có học vấn, có điều kiện tiếp xúc với sách báo tiến bộ, nhất là những sách kinh diễn hoặc có tính chất kinh điển về Học thuyết Mác-xít Trần Tống là một trong

số không nhiều Đảng viên ấy Khi vào tù họ đem những hiểu biết, những tri thức đã tiếp thu

19 Trại giam này nằm trong phạm vi của nhà đày Buôn Ma Thuột, cách Buôn Ma Thuột khoảng 50km về phía Nam

Trang 38

được truyền đạt lại cho đồng chí của mình Tại nhà tù Côn Đảo, trong những năm tháng Tám-1945, đồng chí Lê Duẩn đã làm việc trên Cũng thời gian ấy, tại nhà đày Buôn Ma Thuột, cũng công việc ấy, đồng chí Trần Tống là một chiến sĩ đảm nhiệm việc ấy

Cách mạng là vấn đề khoa học Lý luận cách mạng là những môn khoa học Không có

lý luận cách mạng thì không thể có hành động cách mạng trong thực tiễn Muốn có lý luận cách mạng phải có ý chí và nhiệt tình cách mạng, nhưng chưa đủ, mà còn phải có tri thức chung, có trình độ học vẫn cần thiết Vào nhà đày Buôn Ma Thuột trước sau cùng thời gian với Trần Tống còn có nhiều đồng chỉ khác, nhưng không phải ai cũng làm được như Trần Tống đã làm tại đây

Tham gia, có chân trong Ban lãnh đạo, bộ phận trung tâm, đầu não của đồng lao, phụ

trách Tuyên huấn và những việc phức tạp khác, nhưng đồng chí không hài lòng, "Thân thể

ở trong lao, tinh thần ở ngoài lao”, đồng chí luôn suy nghĩ và tìm cách vượt ngục

Đưa các chiến sĩ cách mạng vượt khỏi nhà lao địch để gấp rút bổ sung cho đội ngũ cán

bộ nhằm đắp ứng yêu cầu của phong trào là một chủ trương của Đảng trong thời gian này Cũng như những nhà tù khác, những người tù cộng sản ở trại giam Đắk Mil đã tổ chức cho nhiều người vượt ngục, trong đó có đồng chí Trần Tống Tháng 01 năm 1943, tổ chức Đảng trong nhà tù bố trí cho đồng chí Trần Tống và hai đồng chi Nguyễn Tuy và Vũ Nhân (Lê Hữu Khai) vượt ngục rời khỏi trại giam Đắk Mil Công việc chuẩn bị cho cuộc vượt ngục

đã được tiến hành chu đáo Đồng chí Nguyễn Thành Hãn, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam, lúc này đang ở tủ cùng đồng chí Trần Tống, cùng các đồng chí Đỗ Ngọc Mai, Văn Diệp và Nguyễn Liễu mỗi sáng đẩy xe thủng đi lấy nước uống cho nhà tủ, đã bí mật giấu các đồng chí Trần Tống, Nguyễn Tuy và Vũ Nhân vào thùng đựng nước đẩy ra ngoài nhà

tù, tên lính áp tải tù không hề hay biết Đến nơi lấy nước, giả vờ quên chốt thùng nước phải chạy về lấy buộc lĩnh áp tải phải theo về Nhân cơ hội đó Trần Tống cùng đồng chíNguyễn Tuy, Vũ Nhân mở nắp thùng chạy trốn Nhưng không may bị địch phát hiện, chúng đuổi theo và bắt lại giữa rừng, trên đường trốn thoát Kể từ lúc đó, đồng chí bị giam cầm nghiêm ngặt và bị đánh đập tàn nhẫn, mang thương tật! Bạn đồng lao, đồng chí liên quan trực tiếp việc vượt ngục của Trần Tống bị giám ngục giết hại 20

Việc vượt ngục của đồng chí không thành, nhưng nó lại có tác động lớn đối với những người đồng lao ở nhà đày Buôn Ma Thuột và có ảnh hưởng về chính trị, tư tưởng sâu rộng đến nhiều nhà lao khác ở Trung Kỳ lúc ấy

20 Sau đó các đồng chí Nguyễn Thành Hãn, Đỗ Ngọc Mai, Văn Diệp, Nguyễn Liễu bị địch sát hại

Trang 39

Vào một ngày tháng 7 năm 1944, tại camp an tri Ly Hy, trong rừng phía tây Thừa Thiên, lúc sương núi chưa tan, các đồng chí Phan Bá (Phan Binh), Huỳnh Đắc Hương, Nguyễn Tập tạm biệt đồng lao của mình trước khi vượt ngục Các đồng chí nói: “Các bạn đừng lo, giáo Tống, Tố Hữu vốn là “dân thầy" nhiều tuổi hơn và sức khỏe không bằng bọn minh, mà có thể băng rừng, lội suối Bọn mình trẻ, khỏe hơn, chuẩn bị kỹ, phải đi, phải về, cùng anh em

ở ngoài tạo đón thời cơ , giành lại chính quyền " [4, tr.171] Rồi đến câu chuyện ban đầu

về việc nhảy tàu, trốn thoát của đồng chí Giám (Nguyễn Tiến Chế), trong câu anh nói: “vào nhà đày Buôn Ma Thuột rồi chúng mình luôn tiếc rẻ, trước khi có tin sẽ bị bắt, lại chờ cho chúng bắt, mà không trốn thoát Vào tù, tìm cách vượt ngục nhưng rất khó Sau anh Tố Hữu rồi đến anh Trần Tổng vượt ngục, chúng mình càng sốt ruột Sắp đến ngày mãn hạn tù, được tin chúng sẽ đưa đi an trí, mà không trả tự do Anh em bàn cách trốn thoát, trên đường giải đi; hàng ngày, khi có điều kiện là tập nhảy tàu, tập mở xích số tám và quyết tâm đã thành

sự thật Việc nhảy tàu thành công, trừ một anh bị bắt lại khi về thăm nhà” [4, tr.171-172]

Ấy, mọi cử chỉ của những người như Trần Tống có ảnh hưởng, tác động tích cực là rất lớn Trong thời gian thực dân Pháp thống trị đất nước ta, những người cộng sản bị chúng giam giữ, số vượt ngục không ít, nhưng cũng không nhiều, có thể đếm được trên đầu ngón tay

Đó là những con người thép và siêu thép, cộng sản thứ thiệt Những con người sẵn sàng nhận sự hy sinh, để giành lại sự sống cho dân tộc Trần Tống, Huỳnh Ngọc Huệ, Tố Hữu

là những con người tiêu biểu trong số những con người thép nói trên, là những kẻ sĩ trong thời đại mới, thời đại Hồ Chí Minh

Cùng với quá trình tuyên truyền, bồi dưỡng chủ nghĩa Mác – Lênin, chương trình học tập Đảng, đồng chí Trần Tống còn tích cực tham gia đấu tranh chống lại chế độ giam cầm

hà khắc, âm mưu cắt xén chế độ ăn uống và tăng cường lao dịch nặng nhọc cho tù nhân của bọn thực dân, chống lại kẻ sát nhân Mốt – xin, sau khi chúng gây ra vụ thảm sát tàn bạo Cuộc đấu tranh kéo dài 18 ngày và đồng chí Trần Tống vừa là một trong những người chỉ huy bí mật vừa là người đại biểu công khai của tù nhân Hoàn tất quá trình chuẩn bị về lí luận, đường lối, đúng giờ cơm được sự ủng hộ của anh em trong tù, đồng chí Trần Tống

cùng Nguyễn Hoàng cầm đơn vào gặp Mốt – xin, trịnh trọng, đanh thép tuyên bố: “Bắt đầu

từ chiều nay chúng tôi đình công, yêu cầu chính phủ giải quyết yêu sách của anh em tù” Từ

ngày hôm đó, các đồng chí phải chịu chế độ “cơm lạt, nước lã” và bị đánh đập “máu chảy lên sàn, máu xối lên cùm, máu phụt lên tường chảy ngoằn ngoèo” các cuộc đấu tranh vì thế cũng kéo dài suốt hai, tuần mãi cho đến khi bọn thực dân phải chịu thua, cam kết không đánh đập, bắn giết tù nhân vô cớ, thay đổi tên chúa ngục Mốt-xin

Trong lịch sử đấu tranh của nhà ngục, chưa từng có trường hợp tù nhân có thể thay đổi được chúa ngục Chúa ngục gian ác chỉ có thể bị thay đổi khi chế độ thống trị ấy bị sụp đổ

Ngày đăng: 06/06/2023, 11:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[15]. Thạch Phương – Nguyễn Đình An (chủ biên) (2010), Địa chí Quảng Nam – Đà Nẵng, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí Quảng Nam – Đà Nẵng
Tác giả: Thạch Phương, Nguyễn Đình An
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2010
[16]. Quốc sử Quán triều Nguyễn (1994), Đại Nam nhất thống chí, tỉnh Quảng Nam, NXB Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam nhất thống chí
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 1994
[17]. Đặng Thí (2002), Một thời sôi động (Hồi ký), NXB Thống kê, Hà Nội. b. Tài liệu Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một thời sôi động (Hồi ký)
Tác giả: Đặng Thí
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2002
[18]. Hoàng Liên (2019), “Lễ kỷ niệm 120 năm thành lập huyện Đại Lộc (1899 – 2019)’, Blog Quảng Nam https://blogquangnam.com/ky-niem-120-nam-thanh-lap-huyen-dai-loc,ngày 10/1/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ kỷ niệm 120 năm thành lập huyện Đại Lộc (1899 – 2019)
Tác giả: Hoàng Liên
Nhà XB: Blog Quảng Nam
Năm: 2019
[21]. Lê Năng Đông (2013), “Một đời vì cách mạng”, Báo Quảng Nam Online, http://baoquangnam.vn/dat-va-nguoi-xu-quang/mot-doi-vi-cach-mang-13511.html, ngày 12/05/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một đời vì cách mạng
Tác giả: Lê Năng Đông
Nhà XB: Báo Quảng Nam Online
Năm: 2013
[23]. Lê Thí (2017), “Về vùng đất học”, Báo Quảng Nam Online https://baoquangnam.vn/dat-va-nguoi-xu-quang/ve-vung-dat-hoc-51234.html, ngày 10/06/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vùng đất học
Tác giả: Lê Thí
Nhà XB: Báo Quảng Nam Online
Năm: 2017
[24]. Minh Huyền (2020), “Nhà đày Buôn Ma Thuột - Cái nôi của Đảng bộ tỉnh”, Báo Đắk Lắk Điện tử http://baodaklak.vn/channel/3721/202011/nha-day-buon-ma-thuot-cai-noi-cua-dang-bo-tinh-5711017/ , ngày 14/05/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà đày Buôn Ma Thuột - Cái nôi của Đảng bộ tỉnh
Tác giả: Minh Huyền
Nhà XB: Báo Đắk Lắk Điện tử
Năm: 2020
[25]. Nguyễn Công Lý (2020), “Tri ân các chiến sĩ cách mạng tại Nhà đày Buôn Ma Thuột”, Báo Nhân dân https://nhandan.com.vn/tin-tuc-su-kien/tri-an-cac-chien-si-cach-mang-tai-nha-day-buon-ma-thuot-447650/ , ngày 15/05/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tri ân các chiến sĩ cách mạng tại Nhà đày Buôn Ma Thuột
Tác giả: Nguyễn Công Lý
Nhà XB: Báo Nhân dân
Năm: 2020
[26]. Điện Ngọc – Thanh Xuân (2016), “Ký ức ngày Tổng tuyển cử đầu tiên”, http://ansontamky.gov.vn/index.php/news/print/Van-hoa-Xa-hoi/Ky-uc-ngay-Tong-tuyen-cu-dau-tien-234/ , ngày 13/05/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký ức ngày Tổng tuyển cử đầu tiên
Tác giả: Điện Ngọc, Thanh Xuân
Năm: 2016
[27]. “Những năm tháng lao tù” (2011), Báo Nhân dân https://nhandan.com.vn/tin-tuc-su-kien/Nh%e1%bb%afng-n%c4%83m-th%c3%a1ng-lao-t%c3%b9-(*)-555539/ ngày11/05/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những năm tháng lao tù
Nhà XB: Báo Nhân dân
Năm: 2011
[28]. “Trần Tống – nhân vật lịch sử Việt Nam”, http://vansu.vn/viet-nam/viet-nam-nhan-vat/2167/tran-tong , ngày 14/05/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Tống – nhân vật lịch sử Việt Nam
Năm: 2021
[29]. UBND huyện Đại Lộc, “Đại Lộc, Đất và người -”, http://www.dailoc.quangnam.gov.vn/Portals/0/Dai%20Loc-Dat%20va%20nguoi.doc, ngày 11/5/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Lộc, Đất và người -
Tác giả: UBND huyện Đại Lộc
Năm: 2021
[30]. Thanh Vân (2012), “Giới thiệu chung Lịch sử - Địa lý huyện Đại Lộc”, http://www.dailoc.quangnam.gov.vn/Default.aspx?tabid=107&NewsViews=1152 , ngày 10/5/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu chung Lịch sử - Địa lý huyện Đại Lộc
Tác giả: Thanh Vân
Năm: 2012

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm