Nhiềudoanh nghiệp tuyên bố phá sản, thị trường chứng khoán vô cùng ảm đạm, thậmchí phải tạm ngưng hoạt động một thời gian ngắn, sản xuất bị đình trệ, nội tệmất giá không phanh, số lượng
Trang 1ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
Đề tài: Chiến lược mở rộng thị trường của Công ty kinh doanh than Hà Nội
trong thời kỳ suy thoái kinh tế hiện nay
Phần A: PHẦN MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết của đề tài
Bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ cuối năm 2007, sau đókéo theo suy thoái kinh tế Mỹ, rồi lan ra toàn cầu từ năm 2008 đến nay đã gây ranhững tác động sâu sắc đến nền kinh tế toàn thế giới, trong đó có Việt Nam.Cuộc suy thoái bắt đầu từ những biểu hiện là giá dầu thô trên thế giới liên tụctăng cao, kéo theo sự tăng lên của chỉ số giá tiêu dùng, cùng với nó tỷ lệ lạmphát ở hầu hết các nước đều ít nhất là trên hai con số
Ở Việt Nam, biểu hiện của suy thoái bắt đầu những tháng cuối năm 2007
và phát triển mạnh những tháng đầu năm 2008 đến tận bây giờ Có thể nói nềnkinh tế nước ta đã chịu những thiệt hại nặng nề từ cuộc suy thoái này Nhiềudoanh nghiệp tuyên bố phá sản, thị trường chứng khoán vô cùng ảm đạm, thậmchí phải tạm ngưng hoạt động một thời gian ngắn, sản xuất bị đình trệ, nội tệmất giá không phanh, số lượng việc làm giảm một cách nhanh chóng làm cho sốlượng thất nghiệp tăng cao nhất từ trước đến nay… Suy thoái kinh tế ảnh hưởngđến tất các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân không nhiều thì ít
Đứng trước tình hình này, Nhà nước và nhân dân đã và đang nỗ lực hếtmình để chống chọi với những khó khăn, thách thức nhằm đưa nền kinh tế thoátkhỏi tình trạng điêu đứng, suy kiệt Hầu hết các doanh nghiệp đều hiểu rằngmuốn đứng vững trên thương trường, muốn vượt qua giai đoạn khủng hoảnghiện nay, không có cách nào khác là phải tìm mọi cách nâng cao sản lượng tiêuthụ, cân đối doanh thu, duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệpmình
Công ty kinh doanh than Hà Nội, trực thuộc Công ty cổ phần kinh doanhthan Miền Bắc_ Tập đoàn Than- Khoáng sản Việt Nam cũng không tránh khỏi
Trang 2những ảnh hưởng xấu từ cuộc khủng hoảng kinh tế này, tiêu dùng quốc dângiảm khiến cho sản xuất trì trệ, sản lượng tiêu thụ than của Công ty cũng vì thế
mà sụt giảm nghiêm trọng, dẫn đến doanh thu giảm, lợi nhuận của Công ty thấpkhông đảm bảo thu nhập cho cán bộ công nhân viên, lượng hàng tồn kho lớn,vốn không đủ quay vòng… Đây không chỉ là khó khăn riêng của Công ty kinhdoanh than Hà Nội mà là khó khăn chung của toàn nền kinh tế Câu hỏi đặt ra làlàm thế nà để Công ty thoát ra khỏi hoàn cảnh khó khăn này, vẫn tồn tại và pháttriển theo đúng lộ trình mà ngành than và Công ty đề ra trước đó Đề tài nghiêncứu này của tôi sẽ trả lời cho câu hỏi đó một cách tối ưu nhất
II Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung: đưa ra một bản chiến lược khả thi và hiệu quả nhằm mở
rộng thị trường của Công ty kinh doanh than Hà Nội trong khoảng thời gian từnăm 2009- 2010, từ đó tăng sản lượng tiêu thụ, tăng doanh thu và khắc phục suythoái trong Công ty
Mục tiêu cụ thể: Phân tích và đánh giá một cách tổng quan tình hình hoạt
động sản xuất kinh doanh của ngành than nói chung và Công ty kinh doanh than
Hà Nội nói riêng
III Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty kinhdoanh than Hà Nội trong thời kỳ trước suy thoái, trong suy thoái, các tác độngcủa nền kinh tế nói chung và ngành than nói riêng đến hoạt động của Công ty để
từ đó tìm ra giải pháp tối ưu thúc đẩy sự phát triển của Công ty trong giai đoạntiếp theo
Trang 3Phần B: NỘI DUNG CHÍNH
Chương I: Cơ sở lý luận về chiến lược mở rộng thị trường
1.1 Khái niệm mở rộng thị trường
1.1.1 Thị trường là gì?
Thị trường là một khái niệm được rất nhiều ngành, nhiều lĩnh vực quantâm nghiên cứu, chính vì vậy mà rất nhiều quan điểm về thị trường ra đời Tuynhiên để sát với mục tiêu nghiên cứu của đề tài này, tôi chỉ xin đề cập đến quanđiểm về thị trường ở góc độ Marketing
Theo quan điểm Marketing, khái niệm thị trường được phân tích ở nhiềukhía cạnh, trong đó có thị trường tổng thể, thị trường tiềm năng, thị trường mụctiêu Thị trường tổng thể bao gồm một số lượng khách hàng rất lớn cư trú trongmột không gian nhất định, họ có những nhu cầu mua, đặc tính mua và sức muakhác nhau Trong một thị trường tổng thể bao giờ cũng bao gồm nhiều nhómkhách hàng khác nhau nên một doanh nghiệp không thể cùng lúc đáp ứng đượchết thị trường tổng thể Vì vậy công việc quan trọng nhất của doanh nghiệp nếumuốn tồn tại và phát triển được trên thị trường cạnh tranh là phải định vị đượcđoạn thị trường mục tiêu của mình để từ đó có thể xác định được mặt hàng màdoanh nghiệp sẽ kinh doanh, và để đảm bảo rằng mặt hàng đó có đủ sức cạnhtranh trên thị trường
Đôi khi thị trường được hiểu theo nghĩa là số lượng khách hàng của doanhnghiệp trong một vùng không gian nhất định
Doanh nghiệp cung ứng không chỉ có một mình trên thị trường Họ phảiđối mặt với nhiều đối thủ cạnh tranh cùng những cách thu hút, lôi kéo kháchhàng khác nhau Mỗi một doanh nghiệp thường chỉ có một hoặc vài thế mạnhxét trên một phương diện nào đó trong việc thoả mãn nhu cầu và ước muốn củathị trường Dựa vào những thế mạnh này doanh nghiệp sẽ nghiên cứu và định vịvùng thị trường mục tiêu cho mình
Thị trường mục tiêu chính là điều mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải
có và phải tìm ra nếu muốn tồn tại và phát triển Tuỳ theo đặc điểm của sản
Trang 4phẩm, của khách hàng, của hàng hoá thay thế, đặc điểm dân cư, văn hoá củavùng mà doanh nghiệp có thể định vị được đoạn thị trường mục tiêu của mình.
Khi xác định được thị trường mục tiêu tức là doanh nghiệp đã tìm ra ai sẽ
là những khách hàng của mình, biết được họ muốn gì và từ đó tìm cách để đápứng nhu cầu đó bằng các sản phẩm của mình Vì vậy việc xác định thị trườngmục tiêu là một công việc khó khăn và vô cùng quan trọng của mỗi doanhnghiệp
1.1.2 Mở rộng thị trường
Thị trường quyết định yếu tố thành bại trong hoạt động của doanh nghiệp,
có thị trường tức là doanh nghiệp đã xác định được khách hàng của mình là ai,nhu cầu và sở thích như thế nào để từ đó tìm cách làm thế nào để đáp ứng đượcnhu cầu thị trường đó
Quy mô của thị trường quyết định vị thế của doanh nghiệp trong nền kinh
tế, quy mô càng lớn biểu hiện cho một doanh nghiệp làm ăn phát đạt và ngượclại Vì vậy mở rộng thị trường là mục tiêu chung và vô cùng quan trọng của tất
cả mọi doanh nghiệp
Quy mô thị trường được đo lường bởi khối lượng khách hàng của doanhnghiệp trong
Mở rộng thị trường là việc làm tăng lên về quy mô của vùng thị trườngcông ty cả về chiều rộng lẫn chiều sâu nhằm mục đích cuối cùng là tăng khốilượng khách hàng và tăng sản lượng tiêu thụ
Mở rộng thị trường theo chiều rộng nghĩa là tăng quy mô thị trường, tăng
số lượng khách hàng của doanh nghiệp bằng cách mở rộng không gian địa lý,tìm kiếm các khách hàng mới ở các vùng thị trường khác ngoài vùng thị trườnghiện tại của Công ty
Mở rộng theo chiều sâu là việc tăng quy mô thị trường, tăng số lượngkhách hàng của doanh nghiệp bằng cách tìm kiếm những khách hàng mới trongchính vùng thị trường hiện tại của mình mà không phải mở rộng không gian địalý
Trang 51.2 Chiến lược mở rộng thị trường
1.2.1 Sơ lược về chiến lược kinh doanh trong doanh nghiệp
a) Khái niệm
Các doanh nghiệp được hình thành với một sản phẩm, doanh nghiệp phảiđối phó với các thủ cạnh tranh, đối phó với các nhu cầu của khách hàng, với sựthay đổi của thị trường bằng điều chỉnh sản phẩm, dịch vụ và chính sách nhằmmục tiêu tồn tại và phát triển
Chiến lược kinh doanh không chỉ là kế hoạch, cũng không chỉ là ý tưởng
mà là chân lý sống của doanh nghiệp
Chiến lược là một tập hợp các chuỗi hoạt động nhằm tạo ra lợi thế cạnhtranh
b) Sự cần thiết hoạch định chiến lược trong doanh nghiệp
Chiến lược giúp doanh nghiệp ứng phó với môi trường: mỗi doanh nghiệpcần có chiến lược để ứng phó với từng điều kiện môi trường khác nhau để có thểtồn tại và thuận lợi hơn
Chiến lược hướng tới mục tiêu của doanh nghiệp: giúp doanh nghiệp địnhhướng được mục tiêu của doanh nghiệp, đưa ra giải pháp để doanh nghiệp đạtđược mục tiêu đó
c) Nội dung chiến lược
Chiến lược là công cụ hàng đầu trong bốn công cụ quan trọng của kếhoạch hoá đó là: chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chương trình dự án Cũngmang đặc điểm chung của các công cụ kế hoạch hoá đó là tính định hướng vàvai vai trò chủ yếu là tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thịtrường, chiến lược định hướng kinh doanh trong dài hạn, giúp phân tích, tổnghợp để có được cái nhìn tổng quan về tình hình thị trường ngành và nền kinh tế,
từ đó tìm ra được điểm mạnh, điểm yếu, nhận định được cơ hội và thách thức,đưa ra được giải pháp kinh doanh tối ưu và hiệu quả nhất cho mình
Quy trình thực hiện chiến lược bao gồm 4 bước, trả lời cho 4 câu hỏichiến lược:
Trang 6+ Xác định mục tiêu chiến lược: xác định tầm nhìn, sứ mạng, mục tiêuchiến lược Bước đầu tiên này trả lời cho câu hỏi “ Doanh nghiệp muốn gì trongtương lai xác định?”.
+ Phân tích chiến lược: bao gồm phân tích môi trường bên ngoài doanhnghiệp và phân tích thực lực của doanh nghiệp( điểm mạnh, điểm yếu) Bướcnày trả lời cho câu hỏi doanh nghiệp cần làm gì và có thể làm gì?
+ Lựa chọn chiến lược: chiến lược phát triển các lĩnh vực kinh doanh vàchiến lược cạnh tranh cho từng lĩnh vực kinh doanh đó Bước này trả lời cho câuhỏi doanh nghiệp sẽ làm gì?
+ Tổ chức thực hiện chiến lược: thực hiện các kế hoạch hành động vàtheo dõi, giám sát việc thực hiện chiến lược Bước cuối cùng này trả lời cho câuhỏi làm như thế nào?
Đây là một quy trình chuẩn để hoạch định một chiến lược kinh doanh Bất
kỳ một bước nào trong quy trình cũng đều rất quan trọng, trả lời cho từng câuhỏi trên sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn về bản thân mình cũng như những gì
mà mình phải đối mặt, nên đặt ra mục tiêu gì trong thời gian tới và biết đượcmình phải làm những gì để có thể đạt được mục tiêu đó
1.2.2 Chiến lược mở rộng thị trường
a) Khái niệm
Chiến lược mở rộng thị trường là một chiến lược nhằm ứng phó với sựthay đổi của môi trường khi mà thị trường của doanh nghiệp đang có nguy cơhoặc đang bị thu hẹp dần do đối thủ cạnh tranh hoặc do thay đổi của môi trườngkinh doanh( của ngành và của nền kinh tế) nhằm mở rộng quy mô thị trường cả
về chiều rộng lẫn chiều sâu, bảo đảm doanh thu và lợi nhuận cho sự tồn tại vàphát triển của doanh nghiệp
Chiến lược mở rộng thị trường chủ yếu nhằm vào mục tiêu cụ thể là mởrộng thị trường cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, tìm mọi cách để nâng cao sốlượng khách hàng tiêu dùng sản phẩm công ty, và mục tiêu cuối cùng của nó
Trang 7cũng giống như bất kỳ chiến lược nào đó là phát triển của doanh nghiệp, là vịthế của doanh nghiệp trên thương trường.
b) Nội dung chiến lược
Chiến lược mở rộng thị trường của doanh nghiệp là việc xác định phươnghướng và quy mô của thị trường cần đạt đến, dựa trên cơ sở các thế mạnh vànguồn lực sẵn có để xác định phương pháp giành được mục tiêu tăng quy mô thịtrường Hoạch định một chiến lược mở rộng thị trường cần phải trả lời các câuhỏi sau:
* Nơi mà doanh nghiệp cố gắng vươn tới trong dài hạn (phương hướng) làgì?
* Thị trường tiềm năng nào doanh nghiệp đang hướng tới? Cơ sở lý luậncho thị trường tiềm năng ấy?
* Thị trường tiềm năng mà doanh nghiệp đang hướng tới có những đối thủcạnh tranh nào? Doanh nghiệp sẽ làm thế nào để hoạt động tốt hơn so với cácđối thủ cạnh tranh trên thị trường ấy?
* Những nhân tố từ môi trường bên ngoài ảnh hưởng tới khả năng cạnhtranh của doanh nghiệp( môi trường)?
* Những nguồn lực nào (kỹ năng, tài sản, tài chính, các mối quan hệ, nănglực kỹ thuật, trang thiết bị) doanh nghiệp đang có và cần phải có để có thể cạnhtranh được ( các nguồn lực)?
* Gỉai pháp và chính sách nào doanh nghiệp đưa ra để đạt được mục tiêuđó?
* Tổ chức thực hiện và giám sát như thế nào để đảm bảo cho chiến lượcđạt hiệu quả tốt nhất?
Chiến lược mở rộng thị trường là một chiến lược ứng phó nên nó đượchoạch định trong khoảng thời gian không quá dài, thường là 1- 3 năm
Trang 8Chương II: Thực trạng thị trường Công ty kinh doanh than Hà Nội trước
và trong suy thoái
Như đã phân tích ở trên, cuộc suy thoái kinh tế bắt đầu vào những thángcuối năm 2007 và bùng phát từ đầu năm 2008 đến nay Vì vậy để cho tiện phântích, tôi xin lấy năm 2008 là mốc cho bắt đầu cho thời kỳ suy thoái
2.1 Tổng quan về than và ngành than Việt Nam
2.1.1 Than là gì?
Than là một loại nguyên liệu dùng làm chất đốt, khi cháy toả ra nhiệtlượng rất lớn( khoảng trên 1000◦C, tuỳ theo từng loại than) vì vậy than được trởthành nguyên liệu quan trọng trong các ngành công nghiệp sản xuất như ximăng, nhiệt điện, hoá chất, giấy… và được coi là “vàng đen”
Than được định nghĩa là các chất rắn, thường có màu đen, dùng làm chấtđốt, do gỗ hoặc xương cháy không hoàn toàn tạo thành, hoặc do thực vật bị vùilấp dưới lòng đất, bị phân huỷ dần, bị nén dưới áp suất cao hàng triệu năm màtạo thành Thời gian phân huỷ càng lâu thì than càng gìa và hàm lượng cacbontrong than càng nhiều, nhiệt độ toả nhiệt của than càng cao
Than được chia thành nhiều loại như than đá, than cốc, than mỡ, than nâu,than bùn… Trong đó than đá là loại than có trữ lượng lớn nhất, có sức toả nhiệtmạnh nhất và là nguyên liệu được sử dụng nhiều nhất trong các ngành côngnghiệp
Do than là một loại nhiên liệu toả nhiệt cao, mặt khác lại là một nguồn tàinguyên dồi dào, giá thành rẻ nên nó trở thành nguyên liệu chủ yếu cho cácngành công nghiệp sản xuất, đặc biệt các ngành sản xuất xi măng, giấy, hoá chấtphân bón và nhiệt điện
Thành phần chính của than là Cacbon, do vậy khi than được đốt cháy thải
ra một lượng khí Cacbonic rất lớn, là nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm không khí,ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sống của con người, cũng là nguyên nhânchính khiến cho nhiệt độ trái đất nóng lên Chính vì vậy mà than được coi lànguyên liệu không sạch Nhưng vì tất cả các tác dụng của than đối với ngành
Trang 9công nghiệp nói riêng và với sự phát triển kinh tế nói chung, thêm vào đó là lợithế về trữ lượng lớn và khai thác đơn giản, dễ dàng hơn các loại nhiên liệu khác
mà than vẫn luôn luôn được coi là nguyên liệu được ưu tiên lựa chọn hàng đầucủa các doanh nghiệp nhằm tiết kiệm chi phí và đạt hiệu quả sản xuất cao
2.1.2 Ngành than Việt Nam
2.1.2.1 Lịch sử phát triển của ngành than Việt Nam
Ngành than được hiểu là ngành kinh tế chuyên khai thác, chế biến và kinhdoanh than
Than được tìm ra lần đầu tiên trên thế giới và bắt đầu được nghiên cứuvào khoảng thế kỷ XV, XVI ở Châu Âu Đến thế kỷ XVII than đã được cácnước này sử dụng như một nguyên liệu hàng đầu trong công nghiệp chế tạo vàluyện kim
Ở Việt Nam, than được phát hiện lần đầu tiên tại Đông Triều, QuảngNinh, (khi ấy là tỉnh Quảng Yên) vào khoảng thế kỷ XVII, nhưng do hiểu biết
về than còn hạn hẹp nên triều đình phong kiến khăng khăng cho rằng đó là “đáma” vì khi bị đốt nó trở lên hồng rực và toả nhiệt rất lớn( có một sự tích lý thú
về sự kiện này) Cho đến đầu thế kỷ XIX( khoảng năm 1820), triều đình nhàNguyễn mới bắt đầu chú ý đến việc khai thác và sử dụng than cho việc đúc tiền
và rèn vũ khí Từ đó thành lập đội ngũ thợ mỏ địa phương chuyên khai thác thantheo mệnh lệnh của triều đình phong kiến để phục vụ nhà nước phong kiến,nhưng số lượng khai thác nhỏ lẻ vì nhu cầu sử dụng không nhiều và kỹ thuậtkhai thác kém
Theo tư liệu, ngành sản xuất than Việt Nam đến nay đã có lịch sử 170năm – kể từ năm 1840 tổng đốc Hải An dâng sớ về triều đình xin khai thác than
đá ở mỏ Yên Lãng (nay là Yên Thọ, Đông Triều) Tất nhiên, khi ấy việc khaithác than rất thô sơ, số lượng ít, chỉ để đốt sưởi ấm Tháng 3 năm 1883, thực dânPháp thành lập Công ty Than Bắc Kỳ - phạm vi khai thác từ Bãi Cháy đến MôngDương Suốt 72 năm cho đến khi khu mỏ được giải phóng, lịch sử phát triểnngành than Việt Nam gắn liền với chính sách thuộc địa của thực dân Pháp
Trang 10Năm 1955, khi quân Pháp rút lui hoàn toàn khỏi Việt Nam, nhân dân HònGai nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung chính thức tiếp quản công việckhai thác than cho tổ quốc và trở thành người chủ thật sự của kho vàng đen tổquốc.
Từ thời điểm đó đến tận ngày nay, ngành than Việt Nam đã trải qua baothăng trầm và đã gặt hái được nhiều thành tựu đáng kể
Ngày 10/10/1994, Tổng công ty than Việt Nam ra đời là dấu mốc quantrọng cho sự phát triển của ngành than, thay đổi mạnh mẽ cơ chế từ bao cấp sangthị trường, tổ chức quản lý chặt chẽ, phát huy tối đa vai trò dân chủ của cácdoanh nghiệp, thực hiện kinh doanh đa ngành trên nền sản xuất than, từng bướctháo gỡ khó khăn trì trệ, xây dựng mục tiêu phát triển đúng đắn và bền vững
Năm 2005, Tổng công ty than Việt Nam đổi tên thành Tập đoàn Khoáng sản Việt Nam, gọi tắt là TKV, đã lãnh đạo và đưa ngành than phát triểnlớn mạnh cho đến ngày nay
Than-Khách hàng tiêu thụ than chia là 3 loại chủ yếu: Thứ nhất là nhóm cácngành công nghiệp sản xuất( điện, xi măng, giấy, hóa chất…), nhóm này chiếmkhoảng 55% tổng sản lượng tiêu thụ trong nước; thứ hai là nhóm các khách hàngtiêu thụ nhỏ như các cơ sở sản xuất nhỏ, lẻ, các làng nghề, các hộ gia đình, các
tổ chức thương mại, đại lý bán lẻ; thứ ba là xuất khẩu đi nước ngoài Trong đónhóm khách hàng thứ nhất và thứ ba tiêu thụ hầu hết sản lượng than hàng nămcủa ngành than
Đặc điểm quan trọng quyết định đến tính chất kinh doanh của ngành than
đó là than gần như được bán độc quyền, từ khâu khai thác đến sản xuất và phânphối sản phẩm than trên thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoàigần như đều do TKV quản lý, hơn nữa than là đầu vào quan trọng của rất nhiềungành sản xuất trọng yếu của Việt Nam như điện, xi măng, phân bón… nhưng
do than là tài nguyên thiên nhiên, là tài sản thuộc quyền quản lý của nhà nướcnên giá bán than cho các ngành này cũng có sự điều tiết một phần của Nhà nước
Trang 11nhằm phát triển toàn diện nền kinh tế, gía bán này luôn luôn thấp hơn giá bánthan trên thị trường và giá bán than xuất khẩu ra nước ngoài.
2.1.2.2 Chiến lược phát triển ngành than đến năm 2015
Tháng 7/2008 Chính phủ đã chính thức phê duyệt chiến lược phát triểnngành than đến năm 2015, định hướng đến năm 2025 Theo đó, mục tiêu tớinăm 2010 ngành than sẽ đạt sản lượng than sạch khoảng 48- 50 triệu tấn Cùngvới đó, hoạt động của ngành Than sẽ được chuyển mạnh theo cơ chế thị trường,hội nhập với thị trường khu vực và quốc tế có sự điều tiết của Nhà nước, cạnhtranh Giá than sẽ được xác định phù hợp với cơ chế thị trường Nhà nước điềutiết giá than qua chính sách thuế và các công cụ quản lý khác
Theo định hướng của Chính phủ, ngành than đã có lộ trình điều chỉnh giá
cụ thể Xu hướng tương lai thị trường than sẽ được điều hành theo cơ chế cạnhtranh, do đó sẽ không có sự chênh lệch giữa giá than trong và ngoài nước mà sẽ
để cho thị trường tự điều tiết
Trong thời điểm hiện tại, do một số yếu tố vĩ mô, Chính phủ vẫn phải đảmbảo sự phát triển ổn định của nền kinh tế bằng cách kiểm soát (không quyếtđịnh) một số giá cả ngành năng lượng, khống chế theo hướng tích cực vào giángành than cho các ngành tiêu thụ chiến lược như ngành điện, giấy, xi măng,hóa chất Còn các ngành khác, Chính phủ cho phép ngành than và doanh nghiệp
tự thỏa thuận về giá, chuyển dần sang cơ chế giá thị trường để đảm bảo lộ trìnhxây dựng thị trường giá cạnh tranh hoàn chỉnh vào năm 2010
2.1.2.3 Tình hình hoạt động của ngành than trong những năm gần đây
Với lịch sử gần 170 năm thành lập và phát triển, ngành than đã trải quabao thăng trầm và cũng đạt được rất nhiều thành tựu đáng kể Ngay từ nhữngngày đầu tiên khi được tiếp quản các mỏ than từ tay thực dân Pháp, ngành thanViệt Nam đã thực sự khở sắc, đáp ứng được các yêu cầu về sản xuất và tiêudùng trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài
Trong suốt quá trình phát triển của mình, ngành than Việt Nam liên tụcđạt được những thành tựu vượt bậc, luôn hoàn thành vượt mức và sớm trước các
Trang 12kế hoạch 5 năm và các mục tiêu chiến lược đề ra, cụ thể trong kế hoạch 5 năm2001- 2005 ngành than đã hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch vào cuối năm 2003, vềđích sớm trước 10 năm so với mục tiêu chiến lược đến năm 2020.
Than là một tài nguyên thiên nhiên có thể cạn kiệt, với nhu cầu sử dụngngày càng tăng và tính thiết yếu của than đối với ngành kinh tế nên nhiều nămgần đây cung than không đủ đáp ứng cầu than
Trong vài năm gần đây( kể từ năm 2003) ngành than đã nhiều lần trìnhchính phủ đề nghị được tăng giá bán than cho các hộ tiêu thụ than lớn như giấy,
xi măng, điện, phân bón… nhưng chưa được phê duyệt Nguyên nhân tăng giá là
do khi khai thác và sản xuất than tiêu tốn xăng dầu và điện nên khi điện và xăngtăng giá thì chí phí sản xuất tăng lên, ngành than cần tăng giá than để bù lỗ
Đầu năm 2007, ngành than tăng giá bán than cho các ngành sản xuất giấy,
xi măng và phân bón lên 20%, giá bán cho ngành điện sẽ được điều chỉnh theo
lộ trình tăng giá điện Động thái tăng giá này của ngành than mặc dù đã vấp phải
sự phản đối từ các hộ tiêu dùng nhưng thực hiện theo đúng chủ trương củaChính phủ là “ Năm 2007 hạn chế xuất khẩu và không bù lỗ giá than, trừ giá bánthan cho ngành sản xuất điện.”
Đến tháng 7/2008, do ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế, lạm phát tăngcao, giá bán than cho các hộ tiêu thụ lớn như điện, xi măng, giấy và phân bóntiếp tục tăng thêm từ 20- 70% nữa để sát với giá thực tế, tức là mức giá này vẫncòn bao cấp chứ chưa thực sự là giá thị trường Sự kiện này đã gây ra một tácđộng dây chuyền khiến cho tất cả các mặt hàng có liên quan nhau như vật liệuxây dựng, lương thực thực phẩm tăng giá đáng kể, gây tâm lý hoang mang chongười tiêu dùng, làm cho tốc độ lạm phát tăng cao hơn
Việc than tăng giá đã gây ra nhiều ảnh hưởng nặng nề đến sản xuất vàkinh doanh của các ngành công nghiệp trọng yếu, thêm vào đó do ảnh hưởngcủa lạm phát nên tiêu dùng giảm mạnh dẫn đến sản xuất của hầu hết tất cả cácngành giảm mạnh, vì thế mà tiêu dùng than cũng có chiều hướng giảm khôngchỉ với tiêu dùng trong nước mà cả lượng than xuất khẩu nữa
Trang 132.2 Công ty kinh doanh than Hà Nội thời kỳ trước và trong suy thoái
2.2.1 Sơ lược về Công ty kinh doanh than Hà Nội
Công ty kinh doanh than Hà Nội là một công ty trực thuộc Công ty cổphần kinh doanh than Miền Bắc thuộc Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam
Được thành lập từ 01/01/1975, từ năm 1993 trở về trước, Công ty kinhdoanh than Hà Nội có nhiệm vụ chủ yếu và quan trọng là quản lý phân phối thantrong khu vực Hà Nội và các vùng phụ cận như Hưng Yên, Hoà Bình, Sơn La,Lai Châu theo sự điều phối của Bộ năng lượng
Từ năm 1994 trở đi, sau sự kiện Tổng công ty than Việt Nam( sau này làTập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam- TKV) được thành lập vào ngày 10/10,thay đổi toàn bộ cơ chế hoạt động thích nghi với nền kinh tế thị trường có sựtham gia điều tiết của Nhà nước, các công ty than trong TKV được phân chia thịtrường theo vùng địa lý và có nhiệm vụ phải tự phát triển thị trường tiêu thụ củamình Theo đó, Công ty kinh doanh than Hà Nội được phân vùng thị trường làkhu vực Hà Nội, Hà Tây cũ, Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu
Đến nay sản phẩm than của Công ty đã chiếm lĩnh hầu hết vùng thị trườngcủa mình, xây dựng hệ thống kho trạm kinh doanh và chế biến than bao gồmnhiều trạm phân bố ở các khu vực xung quanh Hà Nội như Sơn Tây, giáp Nhị,Vĩnh Tuy, Ô Cách, Cổ Loa, Hoà Bình… Hệ thống này ngày càng được mở rộng
để thuận lợi cho việc phân phối than đến các vùng này
- Sản phẩm của Công ty bao gồm ba nhóm:
+ Nhóm than cục: gồm các loại than cục số 2, số 3, số 4, số 5 Nhóm nàychiếm khoảng 50% tổng doanh thu của Công ty
+ Nhóm than cám: gồm các loại than cám số 3, số 4 , số 5, số 6, số 7.Nhóm này chiếm tỷ trọng khoảng 35% trong tổng doanh thu than kinh doanhcủa Công ty
+ Nhóm than chế biến: là loại than do công ty chế biến thành để phục vụnhu cầu than cho sinh hoạt, bao gồm than tổ ong và than đóng bánh Nhóm này
Trang 14chiếm khoảng 15% trong tổng doanh thu kinhh doanh than.
Ta có bảng cơ cấu các chủng loại than kinh doanh của Công ty:
Bảng 2.1: Cơ cấu các chủng loại than kinh doanh của Công ty kinh doanh than
Nguồn: Phòng tài chính và kế toán
Thị trường đầu vào của Công ty kinh doanh than Hà Nội là các công ty vàcác mỏ than ở Quảng Ninh và các mỏ này trực thuộc TKV, bao gồm: Công tythan Quảng Ninh, Công ty than Uông Bí, Công ty than Đông Bí, Công ty thanNội địa, mỏ than Hà Tu, mỏ than Cọc Sáu, Khe Chàm, Cao Sơn, Đèo Nai, HàLầm…
Dù được phân chia vùng thị trường rõ ràng nhưng đó là sự phân chia củaCông ty cổ phần knh doanh than Miền Bắc Hiện nay nền kinh tế hoạt động theo
cơ chế thị trường nên trên vùng thị trường của Công ty kinh doanh than Hà Nội
đã xuất hiện một số đối thủ cạnh tranh như Công ty than Nội Địa, Công ty thanĐông Bắc… Ngoài ra một mối lo không chỉ của Công ty kinh doanh than HàNội mà còn của tất cả các công ty than đó là hiện tượng than lậu, than “ thổ phỉ”đang được bán tràn lan trên thị trường với giá rẻ nhưng chất lượng than rất thấp.Điều này đã và đang làm đau đầu toàn ngành than, nhất là trong hoàn cảnh hiệnnay khi mà chi phí sản xuất than tăng cao còn cung than đang bị thu hẹp dần
2.2.2 Công ty kinh doanh than Hà Nội thời kỳ trước suy thoái
Tuân thủ theo sự phân chia thị trường của Công ty cổ phần than Miền Bắc
và TKV, Công ty kinh doanh than Hà Nội trong những năm qua đã nỗ lực hếtmình luôn hoàn thành tốt và vượt mức các chỉ tiêu cấp trên giao cho, trở thànhmột trong những đơn vị tiêu thụ chủ lực của Công ty cổ phần kinh doanh thanMiền Bắc và TKV
Trang 15Nhiệm vụ chủ yếu của của Công ty là thu mua than tại các mỏ, sau đó bántrực tiếp hoặc chế biến rồi bán cho các nhà máy, xí nghiệp… nhằm phục vụ nhucầu sản xuất kinh doanh của nhân dân Hà Nội và các tỉnh lân cận
Để phục vụ một cách tốt nhất và thuận tiện cho khách hàng, hiện nayCông ty đã đặt nhiều trạm than ở các địa điểm khác nhau trong khu vực thịtrường của mình là trạm Ô Cách, trạm Cổ Loa, trạm Giáp Nhị, trạm Vĩnh Tuy,trạm Sơn Tây, trạm Hoà Bình Ở mỗi trạm có hệ thống nhà kho và cửa hàng bánhàng độc lập để phục vụ khách hàng Công ty cũng có nhiều hình thức vậnchuyển khác nhau để phù hợp với từng địa hình và vị trí địa lý khác nhau nhưvận chuyển đường thuỷ, vận chuyển đường bộ và vận chuyển đường sắt
Khách hàng của Công ty chia làm 3 nhóm:
+ Khách hàng là các tổ chức sản xuất: các khách hàng này dùng than như
là một nguyên liệu đầu vào cho sản xuất nên thường mua than với khối lượnglớn, tương đối ổn định và kí hợp đồng theo năm Chủng loại than mà nhóm nàyyêu cầu thường là các loại than cục và than cám chất lượng cao Có thể nói đây
là nhóm khách hàng quan trọng nhất của Công ty
+ Khách hàng là các tổ chức thương mại: các khách hàng này mua sảnphẩm của Công ty phục vụ mục đích thương mại, buôn bán Chủng loại than mànhóm khách hàng này yêu cầu thường là than cục và than cám, chất lượngkhông đòi hỏi cao nhưng giá cả phải hợp lý
+ Khách hàng là hộ sản xuất nhỏ và hộ gia đình: nhóm này tiêu thụ sảnphẩm của Công ty với khối lượng không lớn nhưng lại giúp Công ty thu hồi vốnnhanh và đẩy tốc độ quay vòng vốn, số lượng mua ổn định Nhóm khách hàngnày thường tiêu dùng than cám và than chế biến
Dưới đây là tỷ trọng tiêu dùng than của các nhóm khách hàng này:
Bảng 2.2: Tỷ trọng tiêu dùng than của các nhóm khách hàng của Công ty kinh doanh than Hà
Nội.
Nhóm khách hàng Tỷ trọng trong tổng sản lượng tiêu
thụ