PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG MARKETING CỦA SẢN PHẨMHANOI BEER PHÂN TÍCH MA TRẬN SWOT Trong qua trình hoạt động của mình các doanh nghiệp phải luôn luôn theo dõi sự biến đổi của môi trường, đặc b
Trang 1PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG MARKETING CỦA SẢN PHẨM
HANOI BEER PHÂN TÍCH MA TRẬN SWOT
Trong qua trình hoạt động của mình các doanh nghiệp phải luôn luôn theo dõi sự biến đổi của môi trường, đặc biệt là môi trường vĩ mô để từ đó có các quyết định marketing phù hợp nhất nhằm thích ứng với môi trường và sự thay đổi của nó
Khi nghiên cứu về môi trường vĩ mô người ta thường tập trung phân tích các yếu tố về nhân khẩu, kinh tế, tự nhiên, khoa học kỹ thuật, chính trị và văn hóa Dưới đây chúng ta sẽ lần lượt đi xem xét các vấn đề lớn này
I.Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô:
Môi trường nhân khẩu
+Dân số Việt Nam ước tính năm 2008 là 86.116.559 người Theo dự báo dân số Việt Nam ổn định ở mức 120 triệu người Hiện Việt Nam đang thuộc nhóm nước có quy mô, mật độ và tốc độ tăng dân số ở mức cao với mức tăng khoảng 1 triệu người/năm
Nhận xét : với tốc độ tăng dân số cao đã tạo cơ hội thị trường lớn cho sản phẩm bia phát triển, đặc biệt là dòng bia cao cấp vì càng ngày xu hướng tiêu dùng càng tăng cao Người tiêu dùng càng đòi hỏi chất lượng cao hơn
+Khi xét về cơ cấu tuổi của dân số:
0-14 tuổi: 29,4% (nam 12.524.098; nữ 11.807.763)
15-64 tuổi: 65% (nam 26.475.156; nữ 27.239.543)
trên 65 tuổi: 5,6% (nam 1.928.568; nữ 2.714.390)
(2004 ước tính)
Nhận xét: Tỉ lệ 65% những người trong độ tuổi lao động sẽ là cơ hội thị trường lớn cho sản phẩm giải khát, trong đó có bia
+Cơ cấu dân tộc: Việt Nam có 54 dân tộc anh em Bên cạnh dân tộc đông nhất là Kinh chiếm 87% dân số, các dân tộc thiểu số đông dân nhất bao gồm:
Tày (1200.000), thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái, sống chủ yếu ở vùng núi phía Bắc
Thái (520.000), thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái, cư trú tập trung tại các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Nghệ An
Mường (914.600), thuộc nhóm ngôn ngữ Việt-Mường, sống chủ yếu tại tỉnh Hòa Bình, các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa một số huyện miền núi của Nghệ An
Hoa (450.000), người gốc Trung Quốc định cư ở Việt Nam, sống tập trung đông nhất (50%) tại vùng Chợ Lớn của Thành phố Hồ Chí Minh, 50% còn lại sinh sống ở các tỉnh trên toàn quốc, phần nhiều tại các tỉnh miền Tây Việt Nam
Khmer (447.000), thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer, sống chủ yếu tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
Trang 2 Nùng (353.000), thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái, sống tập trung ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Thái, Hà Bắc, Tuyên Quang
Hmông (479.000), có nguồn gốc từ phía nam Trung Quốc, thường cư trú ở độ cao từ 800 đến 1500 m so với mực nước biển gồm hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc trong một địa bàn khá rộng lớn, dọc theo biên giới Việt - Trung và Việt - Lào
từ Lạng Sơn đến Nghệ An, trong đó tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc Đông và Tây Bắc Việt Nam như Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La
Dao (237.000), thuộc hệ ngôn ngữ H'mông-Miên, cư trú chủ yếu dọc biên giới Việt-Trung, Việt-Lào và ở một số tỉnh trung du và ven biển Bắc bộ Việt Nam
Giarai (121.000), thuộc hệ ngôn ngữ Nam Đảo, cư trú tập trung ở các tỉnh Gia Lai, Kon Tum và phía Bắc tỉnh Đắc Lắc
Êđê (97.000), thuộc hệ ngôn ngữ Nam Đảo, cư trú tập trung ở Đắc Lắc, phía Nam Gia Lai và phía Tây hai tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên
Những dân tộc còn lại có dân số dưới 90.000 người, một nửa trong số đó có dân số dưới 10.000 người
Đa số các dân tộc này sống ở miền núi và vùng sâu vùng xa ở miền Bắc, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long Cuối cùng là các dân tộc Brâu, Ơ đu và Rơ Măm chỉ có khoảng vài trăm người
Nhận xét: Với cơ cấu dân tộc đa dạng sẽ xuất hiện nhiều nhu cầu, nhiều khe nghách thị trường khác nhau Điều đó vừa là cơ hội, vừa là nguy cơ cho thị trường giải khát trong đó có bia
+Trình độ học vấn: Cần số liệu thống kê về các nhóm trình độ học vấn từ đó sẽ có kết luận là trình độ học vấn càng cao thì có thể thu nhập càng cao, và uống bia có chừng mực hơn
+Các kiểu hộ gia đình: Ở việt nam thông thường là 3 thế hệ chung sống trong một mái nhà, nhưng cuộc sống hiện đại trong tương lai thông thường 2 thế hệ chung sống trong một gia đình
+Sự xuất hiện của các vi thị trường, thị trường nghách
Cơ hội:
- Tỉ lệ 65% những người trong độ tuổi lao động sẽ là cơ hội thị trường lớn cho sản phẩm giải khát, trong đó có bia
Thách thức:
- Với cơ cấu dân tộc đa dạng sẽ xuất hiện nhiều nhu cầu, nhiều khe nghách thị trường khác nhau Điều đó vừa là cơ hội, vừa là nguy cơ cho thị trường giải khát trong đó có bia
Môi trường kinh tế:
Trước hết chúng ta cần xem xét thực trạng nền kinh tế chung và từ đó đi đến các
vấn đề riêng của ngành bia Việt Nam cần đối mặt
Theo báo cáo thường niên triển vọng phát triển châu á (ADB) đánh giá: “Vấn đề chính đối với kinh tế Việt Nam hiện nay là áp lực lạm phát tăng, tăng trưởng GDP
Trang 3và xuất khẩu chậm lại, thị trường chứng khoán bất ổn, luồng vốn vào và kiều hối
có thể sụt giảm, thâm hụt cán cân vãng lai gia tăng” Cụ thể là, tỷ lệ lạm phát năm
2008 dự kiến tăng cao 18,3%( tính bình quân giai đoạn) hoặc 15,6%(lấy chỉ số cuối kỳ của năm 2008 so với năm 2007) Tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt 18,7%(so với năm 2007 là 21,3%) Tất cả đều cho thấy một sự thật đáng buồn đối với các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và với Bia Hà Nội nói riêng
Tuy nhiên, năm 2008 ảm đạm đã trôi qua Các doanh nghiệp Việt Nam chào đón năm 2009(kỷ sửu) với rất nhiều hứa hẹn mới Điều này cũng được ông Ayumi Konishi giám đốc quốc gia ngân hàng phát triển châu á (ADB) tại Việt Nam nhận định: “nền kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi đà tăng trưởng năm 2009, với mức tăng GDP dự kiến đạt 8,1% tăng trưởng xuất khẩu vươn lên mức 23,5% và tỉ lệ lạm phát sẽ giảm dần xuống còn 10,2% nếu tính bình quân giai đoạn và 7,6% theo chỉ
số cuối kỳ” Đây cũng là một tín hiệu đáng mừng cho các doanh nghiệp việt nam trong năm 2009 Nhưng bên canh đó cũng cần phải xem xét khắc phục bởi tỷ lệ lạm phát như vây là vẫn rất cao, vẫn còn rất nhiều lao động không có việc làm Đây cũng là một bài toán đau đầu đối với nhà nước ta nói chung và với các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê thì thu nhập bình quân đầu người cả năm năm 2008 đạt mức 1024USD/người Tuy nhiên, do giá tiêu dùng tính bình quân năm 2007 tăng 8,3% nhưng năm 2008 tăng tới 23%, cộng với đồng USD tăng giá khoảng 2,35% Nếu tính quy về mức năm 2007, trừ tốc độ tăng CPI và mất giá của USD thì con số thu nhập bình quân đầu người năm 2008 ước chỉ hơn 900 USD/người
Do số liệu thống kê về thu nhập bình quân đầu người/tháng theo khu vực và theo vùng ở những năm 2007 và 2008 chưa đầy đủ nên chúng ta chỉ xét số liệu từ năm
1993 đến năm 2006 thông qua bảng sau:
Bảng 1: Thu nhập bình quân người/tháng chia theo khu vực, vùng
Đơn vị tính: 1000đ
1993 1998 2002 2004 2006
Đồng bằng sông Hông 91,3 272,0 353,1 488,2 653,0
Đông Bắc
66,7 179,6
268,8 379,9 512,0
Trang 4Bắc Trung Bộ 63,3 193,8 235,4 317,1 418,0
Duyên Hải Nam Trung Bộ 71,1 226,9 305,8 414,9 511,0
Đồng bằng sông Cửu Long 105,5 253,3 371,3 471,1 628,0
(Nguồn Tổng cục Thống kê, KSMS 1992-1993, ĐTMS 1997-1998, ĐTMS 2002, KSMS 2004, KSMS
2006).
Bảng 1 cho thấy, phân phối thu nhập bình quân không đồng đều giữa các vùng
và khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa các vùng, các tầng lớp dân cư có xu
hướng tăng lên qua các năm Tuy nhiên, sự khác nhau phản ánh trong thu nhập
giữa các nhóm dân cư là thể hiện sự tác động của những điều kiện tự nhiên, kinh
tế, văn hóa, xã hội đến phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo Một điều cần lưu ý
là, số liệu thu nhập bình quân đầu người do Tổng cục Thống kê thực hiện đã được
điều chỉnh theo chênh lệch giá giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn, do đó
sự khác biệt này phản ánh mức độ phân tầng xã hội trên thực tế
Theo kết quả khảo sát mức sống của hộ gia đình năm 2006 do Tổng cục Thống
kê thực hiện, chênh lệch về thu nhập bình quân đầu người/tháng giữa nhóm hộ
giàu nhất và nhóm hộ nghèo nhất có một khoảng cách lớn So sánh 20% số hộ có
mức thu nhập cao nhất với 20% số hộ có thu nhập thấp nhất thì khoảng cách chêch
lệch giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất là 8,4 lần
Theo kết quả điều tra từ năm 1990 đến nay, khoảng cách chênh lệch về thu nhập
bình quân đầu người/tháng giữa nhóm có thu nhập thấp nhất và nhóm có thu nhập
cao nhất có xu hướng ngày càng tăng Do đó, thị trường bia dành cho sản phẩm
cao cấp ngày càng tăng lên rõ rệt
Mức chi tiêu bình quân đầu người/tháng của cả nước theo giá cả hiện hành có xu
hướng tăng lên: năm 1993 là 110.400đ; năm 1996 là 195.300đ; năm 1998 là
246.100đ; năm 2002 là 293.700đ; năm 2004 là 396.800đ và năm 2006 là
511.000đ, trong đó chi tiêu cho đời sống đạt 460.000đ tăng 27,9% so với năm
2004, bình quân mỗi năm tăng 13,5% (giai đoạn 2002 - 2004 mỗi năm tăng
15,7%) Năm 2006, chi tiêu cho đời sống chiếm hơn 90% tổng chi tiêu, điều này
cho thấy thị trường bia cấp thấp có xu hướng bị mất đi và thay vào đó là thị trường
bia cấp cao tăng lên Tỷ trọng chi tiêu cho ăn uống ở thành thị là 48,2% trong khi
ở nông thôn là 56,2%; nhóm các hộ giàu nhất là 45,8% và nhóm các hộ nghèo nhất
là 65,2% Do đó, Bia Hà Nội không nên coi thường thị trường nông thôn mà cần
Trang 5phải có kênh phân phối tốt nhất để đáp ứng được cả thị trường này góp phần vào
việc nâng cao lợi nhuân và bao phủ thị trường
Thách thức:
-Tỷ lệ lạm phát và thất nghiệp tăng cao làm cho xu hướng tiêu dùng chậm lại
-Tỷ lệ thu nhập bình quân đầu người/tháng chia theo khu vực thành thị và nông
thôn có sự chênh lệch lớn
Cơ hội:
-Thu nhập bình quân đầu người/năm tăng
-Thu nhập bình quân đầu người/tháng của khu vực thành thị rất cao
Ảnh hưởng của môi trường tự nhiên:
Hiện tại nhiệt độ trên trái đất đang tăng lên, mùa đông ngắn lại và mùa hè dài thêm
Đây chính là điều kiện thuận lợi để phát triển các sản phẩm giải khát và bia Hà Nội
cũng là 1 sản phẩm rất được ưa chuộng Đây là một lợi thế
Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới, rất khó khăn để bảo quản, và cách thức
bao gói các sản phẩm Bia là 1 sản phẩm mà không thể bảo quản và dự trữ quá
lâu, nên các nhà sản xuất cần lưu ý thời hạn sử dụng của sản phẩm để tránh những
trường hợp xấu do thời tiết mang lại
Hơn nữa miền Nam nước ta có khí hậu nóng quanh năm nên nhu cầu sử dụng
các sản phẩm giải khát là rất lớn
Hiện nay giá dầu trên đang ở mức thấp nên chi phí vận hành các loại máy móc
sản xuất cũng giảm đi đáng kể Đây là 1 điều kiện thuận lợi để mở rộng sản xuất
Việt Nam là nước có những điều kiện tự nhiên rất thuận lợi để trồng lúa, mía
Mà 2 loại cây này cung cấp nguyên liệu chính để tạo ra bia là gạo và đường
Nước là 1 trong những yếu tố tự nhiên vô cùng quan trọng để sản xuất bia
Các loại chất thải thải ra môi trường tự nhiên là một vấn đề đang được dư luận
quan tâm Sau khi các công ty nước ngoài như Vedan có hành động đổ nước thải ra
sông Thị Vải thì các vấn đề bảo vệ môi trường của các nhà sản xuất đang được
người dân rất quan tâm Các chất thải từ bia nếu không được xử lý tốt cũng sẽ là 1
vấn đề đe dọa đến môi trường
Cơ hội:
Sự thay đổi khí hậu đặc biệt là hiện tượng trái đất nóng lên sẽ làm gia tăng cầu về tiêu thụ bia
Thách thức:
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm là thị trường tiềm năng lớn thu hút nhiều hãng bia nổi tiếng của nứoc ngoài dẫn đến cạnh tranh càng khốc liệt hơn
Môi trường chính trị việt nam trong thời gian tới, nhìn trung tình hình chính
tri tại việt nam là ổn định trong thời gian tới với mức độ an ninh quốc phòng tốt
đây là yếu tố luôn được kỳ vọng của các doanh nghiệp trong nước cũng như các
nhà đầu tư nước ngoài
Trang 6Môi trường pháp luật tại việt nam không ổn định Về cơ bản pháp luật việt nam còn thiếu rất nhiều điều khoản và chưa thực sự chặt chẽ Đây là một trong những yếu tố rất bất lợi với các doanh nghiêp đang hoạt động tại việt nam ở việt nam không thi hành luật nghiêm minh ở các cấp địa phương, nơi tham nhũng cũng rất cao là yếu tố khiến toàn bộ hệ thống luật pháp bị coi là còn rất yếu kém
Sự thay đổi các chính sách cũng cần được quan tâm đến, đặc biệt là các văn bản pháp luật tại địa phương và các chính sách tại địa phương
Đối với ngành bia – rượu và nước giải khát có quyết định của bộ công nghiệp số
18/2007/QĐ-BCN ngày 8 tháng 5 năm 2007 phê duyệt, điều chỉnh, bổ xung quy hoạch tổng thể phất triển ngành bia – rượu-nước giai khát việt nam đến năm 2010 của bộ trưởng bộ công nghiệp.(1)
Áp lực cạnh tranh khi gia nhập wto:
Theo số liệu của Bộ Công nghiệp, cả nước hiện có trên 300 cơ sở sản xuất bia với công suất thiết kế 1,7 tỷ lít/năm Trong số các nhà máy bia hiện đang hoạt động có 19 nhà máy đạt sản lượng sản xuất thực tế trên 20 triệu lít, 15 nhà máy bia có công suất lớn hơn 15 triệu lít, còn lại phần lớn các cơ sở chỉ có năng lực sản xuất dưới 1 triệu lít/năm
Nhận định của Hiệp hội Rượu bia và nước giải khát cho biết, hiện thuế tiêu thụ đặc biệt với bia chai sản xuất trong nước và nhập khẩu là 75%, bia hơi và bia tươi năm 2006-2007 là 30% từ năm 2008 là 40% Trường hợp áp dụng mức thuế suất mới theo lộ trình gia nhập WTO, đa số các doanh nghiệp bia địa phương có khả năng lỗ và gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh cũng như đầu tư phát triển
Bộ Công nghiệp cho biết, hiện chỉ những nhà máy bia có công suất trên 100 triệu lít tại Việt Nam mới có thiết bị hiện đại, tiên tiến, được nhập khẩu từ các nước có nền công nghiệp phát triển mạnh như Đức, Mỹ, Ý Các nhà máy bia có công suất trên 20 triệu lít cho đến nay cũng đã được đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị, tiếp thu trình độ công nghệ tiên tiến vào sản xuất Các cơ sở còn lại với công suất thấp vẫn đang trong tình trạng thiết bị, công nghệ lạc hậu, yếu kém, không đạt yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm Các cơ sở sản xuất bia tại địa phương còn rất nhiều khó khăn Phần lớn các doanh nghiệp này có công suất thấp, trang thiết bị lạc hậu và thương hiệu kém nổi tiếng, an toàn vệ sinh thực phẩm, chất lượng sản phẩm thấp, công suất thấp Trong thời gian qua các doanh nghiệp này đầu tư cho sản xuất không nhiều, chuẩn bị cho hội nhập kém
Khi ngành bia, rượu hội nhập WTO, chỉ những doanh nghiệp có tiềm lực mạnh mới có tương lai Bên cạnh đó, bia nhập khẩu cũng sẽ thâm nhập vào thị trường Việt Nam và sự cạnh tranh sẽ khốc liệt ngày càng sẽ trở nên gay gắt Không đổi mới trang thiết bị, mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và đẩy mạnh quảng bá thương hiệu, chắc chắn nhiều doanh nghiệp khó tồn tại được trước các đối thủ lớn Theo dự đoán, số lượng các cơ sở sản xuất bia trong thời
Trang 7gian tới sẽ còn giảm nhiều nữa Nhiều doanh nghiệp sẽ phải sáp nhập để nâng cao sức cạnh tranh và nhiều doanh nghiệp sẽ bị thua lỗ, phá sản, giải thể
Cơ hội:
Việt Nam là quôc gia có sự ổn định chính trị cao, tạo điều kiện cho việc phát triển các nhà máy với quy mô lớn
Chính phủ có các chính sách phát triển ngành bia rượu, dẫn đến có nhiều thuận lợi trong việc đầu tư phát triển và mở rộng quy mô sản xuất
Thách thức:
Hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện vẫn còn nhiều kẽ hở và có sự điều chỉnh tuỳ vào từng địa phương có thể dẫn đến nhiều rui ro hơn trong kinh doanh đến từ chính quyền và các đối thủ cạnh tranh khác
Môi trường khoa học kĩ thuật và công nghệ :
Môi trường khoa học kĩ thuật và công nghệ nói chung:
Khoa học kĩ thuật, như chúng ta đã biết, ngày càng phát triển và vẫn không ngừng được nâng cao Khoa học công nghệ giờ đây ảnh hưởng tới mọi mặt của đời sống
xã hội và mọi sản phẩm tiêu dùng của con người Một sản phẩm quen thuộc với mọi người như bia cũng chịu sự chi phối mạnh mẽ của khoa học công nghệ
Xét về lịch sử hình thành : Khoảng 7000 năm trước, tại khu vực Iran ngày nay, áp dụng phương pháp lên men tự nhiên của các chất chứa đường, một loại đồ uống hấp dẫn và được ưa chuộng nhất của con người đã được ra đời – đó chính là Bia! (source: KoolBeer.com)
Từ đó đến nay, công nghệ sản xuất bia đã phát triển đến đỉnh cao và liên tục được cải tiến để phục vụ nhu cầu ngày càng cao của con người Với sự đồng hành của khoa học và công nghệ, bia giờ đây ko chỉ la sự lên men tự nhiên mà đã được con người can thiệp đề tạo ra thêm nhiều hương vị hấp dẫn, thêm bọt mịn và màu sắc lôi cuốn Ta có thể kể đến một vài công nghệ đang được áp dụng tại Việt Nam hiện nay như:
Công nghệ sản xuất men bia và phụ gia (công nghệ quan trọng nhất, tạo hương vị của bia)
- Công nghệ thanh trùng, đảm bảo vệ sinh trong sản xuất
- Công nghệ chiết keg, đóng chai, đóng lon
- Công nghệ ngâm, ủ và bảo quản bia và men bia
- Công nghệ tạo bọt và màu sắc
Công nghệ suy trì nhiệt độ và độ ẩm thích hợp
Nhưng một điều cần được lưu tâm là hầu hết công nghệ này có nguồn gốc từ nước ngoài và được áp dụng tại Việt Nam qua sự liên doanh liên kết Các nhà khoa
Trang 8học Việt Nam vẫn đang tiếp tục nghiên cứu, tuy nhiên về cơ bản, công nghệ sản xuất bia của Việt Nam vẫn chưa thể so sánh được với thế giới, nhất là các nước nổi tiếng về Bia như Đức, Hà Lan, Đan Mạch
Ngoài các công nghệ về kĩ thuật cũng cần nhắc tới công nghệ trong quản lý
và điều hành Có được sự quản lý và điều hành tốt thì mới có thể vận hành một dây chuyền sản xuất cũng như vận hành sự hoạt động của cả công ty
Môi trường khoa học kĩ thuật và công nghệ của công ty Bia Hà Nội:
Cùng với sự phát triển của nhu cầu về bia, công ty bia Hà Nội cũng đã đẩy mạnh
áp dụng KHKT vào quá trình sản xuất sản phẩm của mình Bằng chứng là công ty
đã cho ra đời nhiều loại đồ uống khác nhau (không chỉ về bia mà còn các đồ uống chứa cồn và không chứa cồn khác)
Với uy tín và thương hiệu đã được biết tới, công ty liên tục đầu tư công nghệ vào nhiều khâu trong quá trình sản xuất Mới đây là công nghệ thanh và khử trùng đạt tiêu chuẩn quốc tế; công nghệ chiết keg, đóng chai và các tiêu chuẩn đã đạt chứng chỉ ISO trong quản lý
Đánh giá một cách chủ quan thì bia Hà Nội có một môi trường công nghệ thuận lợi hơn so với các công ty sản xuất bia trong nước Tuy nhiên vẫn cần nỗ lực nghiên cứu và phát triển để bắt kịp với bước đi của công nghệ trên thế giới
Môi trường văn hoá.
Những nét chung về văn hoá Việt Nam.
Những giá trị văn hoá bền vững của Việt Nam được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, được duy trì trong suốt các giai đoạn của lịch sử bao gồm: “Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình – làng xã - tổ quốc, lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù sang tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống”
Trên đây là các giá trị văn hoá bền vững chung cho cả dân tộc Việt Nam, tuy nhiên, mỗi một vùng miền lại có những nét văn hoá đặc trưng cho riêng mình Ở Việt Nam có thể phân chia ra thành 7 vùng miền với các đặc trưng riêng, như: Vùng đồng bằng Bắc Bộ, Vùng Việt Bắc, Vùng Tây Bắc và miền núi Thanh Nghệ, Vùng Bắc Trung Bộ, Vùng Nam Trung Bộ, Vùng Trường Sơn - Tây Nguyên, Vùng Nam Bộ
Từ khi Việt Nam hội nhập sâu hơn với thế giới, đã có một sự giao lưu giữa các giá trị văn hoá của Việt Nam với các nền văn hoá trên thế giới, được gọi là sự tiếp biến văn hoá Một số giá trị văn hoá của các nước khác đã được du nhập hay ảnh hưởng tới Việt Nam Ví dụ như một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay chịu ảnh hưởng khá nhiều của lối sống tự do của phương Tây, sống tự do phóng khoáng, muốn thoát ra khỏi các giá trị văn hoá truyền thống, khẳng định cái tôi của bản thân mình Nhưng điều đó lại gây ra một sự mâu thuẫn rất lớn với các giá trị văn hoá Việt Nam
Trang 9Đôi nét về sự ảnh hưởng của văn hóa tới vấn đề tiêu dùng bia của người Việt Nam.
Người Việt Nam thích uống rượu bia, uống mọi nơi mọi lúc có thể Uống từ quán bia quán rượu, đến quán nước chè, về nhà, hay ngay cả nơi công sở cũng có thể uống được Uống bất kì lúc nào, sang trưa chiều tối Uống để bàn công việc, để gặp gỡ anh em bạn bè, có rất nhiều lí do để uống Nhất là các dịp lễ tết thì người dân Việt Nam ai cũng uống rượu bia, bởi chúng ta quan niệm, ngày lễ tết phải có chút rượu bia thì mới vui vẻ, mới đúng là tết Cũng chính từ lí do trên, thị trường bia Việt Nam tăng trưởng rất nhanh, thị trường vẫn chưa đạt bão hòa
Ngoài ra, cùng với sự phát triển kinh tế, sự du nhập văn hóa phương Tây kéo theo sự tràn ngập của các sản phẩm ngoại nhập vào thị trường Việt Nam Cùng với tâm lý cho rằng dùng đồ ngoại nhập tốt hơn, sang trọng hơn, nhất là trong các dòng sản phẩm cao cấp Đối với thị trường bia, những sản phẩm bia cao cấp của nước ngoài, có thương hiệu nổi tiếng toàn cầu sẽ được ngừời tiêu dùng Việt Nam lựa chọn, bởi uống những sản phẩm như là Heineken, Tiger sẽ khẳng định được đẳng cấp, vị thế sang trọng của ngừời uống
Cơ hội:
- Với tập quán uống bia như trên của Người Việt Nam, thị trường bia sẽ còn tăng trưởng rất mạnh trong những năm sắp tới
- Khẳng định rõ ràng lợi thế của các sản phẩm Bia Hà Nội, “một nét văn hoá Hà Nội”, 1 nét văn hóa truyền thống của thủ đô ngàn năm văn hiến
Thách thức:
-Chịu thách thức rất lớn từ các sản phẩm có thương hiệu nổi tiếng như Heineken và Tiger
II.Môi trường vi mô:
Tập trung vào phân tích môi trường vĩ mô chúng ta cũng không thể bỏ sót môi
trường vi mô Cần tìm hiểu rõ những điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp, đối thủ cạnh tranh, quan hệ công chúng, các trung gian thương mại, phương tiện truyền thông… Những yếu tố có thể ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến lợi ích của công ty bia Hà nội nói chung và với sản phẩm Hà nội beer nói riêng Từ đó có được những chiến lược cho phù hợp và tối ưu nhất.
Về nhà cung cấp:
- Malt bia, houblon:
Hiện nay có công ty TNHH Đường malt sản xuất tại khu công nghiệp Tiên Sơn-Bắc Ninh đã cho công suất trên 40.000tấn/năm và đang tiến hành mở rộng dây chuyền tại khu công nghiệp Phú Mỹ, Bà rịa-Vũng tàu nâng công suất lên gấp đôi nhưng nguồn đại mạch phải nhập khẩu hoàn toàn
Trong quy hoạch ngành đến 2010, chính phủ có chủ trương khuyến khích viếc phát triển vùng nguyên liệu này trong nước, trong đó sẽ tập trung nghiên cứu trồng đại
Trang 10mạch ở các tỉnh miền núi phía bắc để tương lại ngành bia có thể thay thế 25-30% lượng đại mạch nhập khẩu Tuy nhiên, chương trình trồng thử nghiệm đã không đem lại hiệu quả mong muốn
Houblon(Hoa bia): Việc trồng loại hoa đòi hỏi nhiều sự chăm sóc, các yếu tố kỹ thuật cao Hiện tại, ngành bia của Việt Nam phải nhập khẩu 100% nguồn nguyên liệu này
- Nguyên liệu gạo
Gạo là một trong những nguyên liệu thay thế trong sản xuất bia( từ 30-40% malt) Dùng nguyên liệu này với nhiều mục đích nhưng chính là hạ giá thành sản phẩm Theo báo cáo của hiệp hội lương thực thì lúa gạo ở Việt Nam có diện tích gieo cấy tương đối lớn 7.201 ngàn ha/năm và cho sản lượng trung bình đạt khoảng 40 triệu tấn/năm Gạo của Việt Nam là ngưồn nguyên liệu sẵn có trong nước
- Nước sử dụng trong sản xuất bia
Trong sản xuất malt và bia, mức độ nước phụ thuộc vào tuổi của các thiết bị, công nghệ các phương pháp rửa Do đó, công tác đào tạo nhân sự, giá nước, công việc xử
lý nước… quyết định lượng nước cung cấp cho mỗi công đoạn Sản xuất malt sử dụng trung bình khoảng 8-22 m³ nước/tấn đại mạch, sản xuất bia khoảng 6-20 l nước/l bia Với thiết bị hiện đại khoảng 4 l nước/l bia thành phẩm, có thể coi trung bình 6-7 l /l bia
- Enzym trong sản xuất bia:
Nhìn chung các cơ sở sản xuất bia trong nước đã ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất, sử dụng các sản phẩm enzym đặc hiệu, an toàn về vệ sinh thực phẩm giúp nâng cao tỷ lệ chất lượng nguyên liệu thay thế, rút ngắn thời gian đường hóa và lên men, tiết kiệm năng lượng, hạ giá thành sản phẩm
Điểm mạnh: Sử dụng nguyên liệu gạo giá thánh rẻ Nguồn nước phong phú
Điểm yếu: Phải nhập khẩu hầu hết các nguyên liệu sản xuất bia như: Malt bia, houblon, Enzym
Về đối thủ cạnh tranh, đối thủ cạnh tranh chủ yếu của dòng bia cao cấp Hà nội
beer trên thị trường miên bắc gồm có Heiniken, Tiger và một số sản phẩm nhập bia cao cấp nhập ngoại khác như bia DAB, bia Leffe…Nhưng sự cạnh tranh chủ yếu vẫn diễn ra giữa Habeco với các đại gia bia trong nước đó là: Công ty bia Thanh Hóa,
Công ty bia Huế, Sabeco, Công ty TNHH Nhà máy bia Hà Tây (cũ) Trong đó
Sabeco và công ty TNHH Nhà máy bia hà tây luôn là đối thủ đáng gờm với sức
mạnh về sản phẩm, kênh phân phối và chiến lược quảng bá Do bia Hà nội chủ yếu
chiếm lĩnh thị trường miền bắc nên chúng ta chỉ đi phân tích hai sản phẩm chủ yếu của Bia Hà tây đó là: Heineken và Tiger để thấy được sức cạnh tranh khốc liệt từ hai dòng sản phẩm cao cấp này với Hà nội beer
Thông tin về nhà máy bia Hà tây: Nhà máy bia Hà Tây do Tập đoàn các nhà máy bia châu Á-Thái Bình Dương (APB) đầu tư 100% vốn với tổng số tiền đầu tư 65 triệu USD Trong tương lai, APB sẽ đầu tư thêm nhiều hạng mục vào Nhà máy bia Hà Tây nhằm tăng năng xuất và sản lượng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị