1 Lý do lựa chọn đề tài Điều 2 Hiến pháp 2013 có ghi “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Nước Cộng hòa xã hội ch[.]
Trang 11 Lý do lựa chọn đề tài
Điều 2 Hiến pháp 2013 có ghi: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.” Đây được coi là cơ sở pháp
lý và cũng là văn bản pháp luật quan trọng nhất để xây dựng đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời cũng thể chế hóa đường lối của Đảng đề ra trong “cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa hội “ và “chiến lược ổn định phát triển kinh tế - xã hội” Theo đó, Nhà nước pháp quyền Việt là Nhà nước của giai cấp công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước pháp quyền Việt Nam là Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, tôn trọng và thực sự bảo vệ con người Do vậy, việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trở thành một nguyên tắc bắt buộc trong hoạt động của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để tạo cơ sở thực thi nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đảm bảo vai trò của nhân dân trong công cuộc xây dựng và quản lý đất nước và là giải pháp cho các vấn đề về tổ chức quyền lực Nhà nước, mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân…
Xây dựng nhà nức pháp quyền vừa tạo nên thiết chế phục vụ cho công cuộc đổi mới đất nước toàn diện vừa tạo ra các cơ chế tổ chức, pháp luật phù hợp, cơ chế tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật để đảm bảo cho việc thực hiện đầy đủ các quyền, lợi ích của công dân, chấm dứt tình trạng Nhà nước đứng trên xã hội
Như vậy, việc xây dựng và từng bước hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã trở thành nhiệm vụ cấp thiết của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước nói chung cũng như đổi mới hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa nói riêng Tuy nhiên cho đến nay, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một vấn đề có nội dung lớn; đòi hỏi phải có sự nghiên cứu toàn diện
cả về lý luận và thực tiễn Vì vậy, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Mốt số lý luận và thực tiễn đặt ra về xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” nhằm góp phần vào quá trình nghiên cứu về nhà nước pháp quyền hiện nay ở nước ta
2 Mục đích của tiểu luận nghiên cứu
Trang 2Từ lịch sử hình thành và phát triển của tư tưởng nhà nước pháp quyền tìm ra những phương hướng để xây dựng và ngày càng hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa
3 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, phương pháp nghiên cứu cơ bản mà tiểu luận sử dụng là phương pháp quy nạp trên cơ sở thống kê, tổng hợp, nghiên cứu và phân tích các văn kiện của Đảng và Nhà nước ta để làm rõ những quan điểm về việc xây dựng nhà nước pháp quyền
Tiểu luận cũng sử dụng các tác phẩm của Mác, Ăng-ghen, Lê-nin và các công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả trong và ngoài nước về nhà nước và pháp luật làm tài liệu tham khảo
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp logic và phương pháp so sánh đối chiếu để làm sáng tỏ nội dung của luận văn
4 Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, nội dung của Tiểu luận gồm có 3 chương được bố cục như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Chương 2: Một số vấn đề Lý luận và Thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam
Chương 3: Phương hướng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt nam hiện nay
Trang 3CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN XHCN
I Các khái niệm chung
Nhà nước là tổ chức quyền lực, chính trị của xã hội có giai cấp, có lãnh thổ, dân cư và chính quyền độc lập, có khả năng đặt ra và thực thi pháp luật nhằm thiết lập trật tự xã hội nhất định trong phạm vi lãnh thổ của mình
Nhà nước pháp quyền là một hiện tượng chính trị – pháp lý phức tạp được hiểu và nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau Hiểu đơn giản nhà nước pháp quyền
là một nhà nước quản lý kinh tế – xã hội bằng pháp luật và nhà nước hoạt động tuân theo pháp luật
Nhà nước pháp quyền XHCN là một Nhà nước vừa phải thể hiện được các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền, vừa khẳng định được bản sắc đặc thù của riêng mình
II Đặc trưng của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
1 Đặc trưng của nhà nước pháp quyền
Những đặc trưng này được xem là các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền nói chung đã được đề cập trong nhiều quan điểm, học thuyết của các nhà tư tưởng, các nhà lý luận chính trị – pháp lý trong lịch sử phát triển các tư tưởng chính trị – pháp lý nhân loại
Các giá trị phổ biến này được trình bày dưới các dạng thức khác nhau bởi các nhà lý luận, phục thuộc vào lập trường chính trị – pháp lý và quan điểm học thuật của từng người Các trình bày có thể khác nhau, song về bản chất có thể quy
về các giá trị có tính tổng quát sau:
a) Nhà nước pháp quyền là biểu hiện tập trung của chế độ dân chủ Dân chủ vừa là bản chất của nhà nước pháp quyền vừa là điều kiện, tiền đề của chế độ nhà nước.
Mục tiêu của nhà nước pháp quyền là xây dựng và thực thi một nền dân chủ, đảm bảo quyền lực chính trị thuộc về nhân dân Nhân dân thực hiện quyền dân chủ của mình thông qua dân chủ trực tiếp; dân chủ đại diện
Trang 4b) Nhà nước pháp quyền được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
– Hiến pháp và pháp luật luôn giữ vai trò điều chỉnh cơ bản đối với toàn bộ hoạt động Nhà nước và hoạt động xã hội, quyết định tính hợp hiến và hợp pháp của mọi tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
– Tuy nhiên không phải mọi chế độ lập Hiến, mọi hệ thống pháp luật đều có thể đưa lại khả năng xây dựng nhà nước pháp quyền, mà chỉ có Hiến pháp và hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng mới có thể làm cơ sở cho chế độ pháp quyền trong nhà nước và xã hội
c) Nhà nước pháp quyền tôn trọng, đề cao và đảm bảo quyền con người trong mọi lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và xã hội.
– Quyền con người là tiêu chí đánh giá tính pháp quyền của chế độ nhà nước Mọi hoạt động của Nhà nước đều phải xuất phát từ sự tôn trọng và đảm bảo quyền con người, tạo mọi điều kiện cho công dân thực hiện quyền của mình theo đúng các quy định của luật pháp
– Mối quan hệ giữa cá nhân và nhà nước được xác định chặt chẽ về phương diện luật pháp và mang tính bình đẳng Mô hình quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân được xác định theo nguyên tắc: Đối với cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì luật cho phép; đối với công dân được làm tất cả trừ những điều luật cấm
d) Quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền được tổ chức và thực hiện theo các nguyên tắc dân chủ: phân công quyền lực và kiểm soát quyền lực.
Tính chất và cách thức phân công, kiểm soát quyền lực nhà nước rất đa dạng, tuỳ thuộc vào chính thể nhà nước ở các nước khác nhau, nhưng đều có điểm chung là quyền lực nhà nước không thể tập trung vào một người, vào một cơ quan,
mà phải được phân công (phân chia) giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp
Đồng thời, việc tổ chức và thực thi quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ với các cơ chế kiểm soát quyền lực cụ thể kể cả bên trong bộ máy nhà nước và bên ngoài bộ máy nhà nước
đ) Nhà nước pháp quyền gắn liền với một cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật phù hợp.
Trang 5– Nền tảng của nhà nước pháp quyền là Hiến pháp và một hệ thống pháp luật dân chủ và công bằng, do vậy, một cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật luôn
là một yêu cầu, một điều kiện cần thiết nhằm đảm bảo cho Hiến pháp, pháp luật luôn được tôn trọng, đề cao và tuân thủ nghiêm minh
– Hình thức và phương thức bảo vệ Hiến pháp và pháp luật ở các quốc gia
có thể đa dạng và khác nhau, nhưng đều hướng tới mục tiêu là bảo đảm địa vị tối cao, bất khả xâm phạm của Hiến pháp, loại bỏ hành vi trái với tinh thần và quy định của Hiến pháp, không phụ thuộc và chủ thể của các hành vi này
– Đồng thời với bảo vệ Hiến pháp, nhà nước pháp quyền luôn đòi hỏi phải xây dựng và thực thi một chế độ tư pháp thật sự dân chủ, minh bạch và trong sạch
để duy trì và bảo vệ pháp chế trong mọi lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và xã hội
e) Trong nhà nước pháp quyền, quyền lực nhà nước luôn được giới hạn trong các mối quan hệ: Nhà nước và kinh tế; Nhà nước và xã hội.
– Trong mối quan hệ giữa Nhà nước và kinh tế, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước được xác định bởi tính chất, trình độ của các mô hình kinh
tế thị trường, theo hướng Nhà nước tôn trọng, phát huy các quy luật khách quan của thị trường, thông qua thị trường để điều tiết các quan hệ kinh tế, đồng thời khắc phục, hạn chế các mặt tiêu cực của thị trường
– Trong mối quan hệ với xã hội, Nhà nước thông qua luật pháp để quản lý
xã hội, tôn trọng đề cao vị trí, vai trò và quyền tự chủ (tự quản) của các cấu trúc xã hội (các tổ chức xã hội, các cộng đồng xã hội)
– Mối quan hệ giữa Nhà nước, kinh tế, xã hội là mối quan hệ tương tác, quy định và chi phối lẫn nhau Nhà nước không đứng trên kinh tế và xã hội Nhà nước pháp quyền gắn liền với kinh tế và xã hội, phục vụ kinh tế và xã hội trong phạm vi Hiến pháp và pháp luật
2 Đặc trưng của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
– Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân
– Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp
Trang 6– Nhà nước pháp quyền Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật, bảo đảm vị trí tối thượng của pháp luật trong đời sống xã hội
– Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tôn trọng và bảo vệ quyền con người, các quyền và tự do của công dân, giữ vững mối liên hệ giữa Nhà nước và công dân, giữa Nhà nước và xã hội
– Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp, có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện quyền lực nhà nước
– Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
III Tính tất yếu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN
Tính tất yếu lịch sử của việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam bắt nguồn từ chính lịch sử xây dựng và phát triển của Nhà nước ta Ngay từ khi thành lập và trong quá trình phát triển, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã và luôn
là một nhà nước hợp hiến, hợp pháp Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ
sở các quy định của Hiến pháp và pháp luật và luôn vận hành trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Các đạo luật tổ chức Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và các đạo luật về chính quyền địa phương được xây dựng trên cơ sở các Hiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980 và năm 1992 Những lần Hiến pháp được sửa đổi và thông qua là những bước củng cố cơ sở pháp luật cho tổ chức và hoạt động của bản thân các cơ quan nhà nước Vì vậy, có thể nói, quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam là một quá trình lịch
sử được bắt đầu ngay từ Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và Hiến pháp năm 1946 Quá trình này đã trải qua hơn nửa thế kỷ với nhiều giai đoạn phát triển đặc thù Ngày nay, quá trình này đang được tiếp tục ở một tầng cao phát triển mới với nhiều đòi hỏi và nhu cầu cải cách mới
Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam xuất phát từ định hướng xã hội chủ nghĩa mà mục tiêu cơ bản là xây dựng một chế độ xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Chúng ta ý thức sâu sắc rằng, để xây dựng được một chế độ xã hội có tính mục tiêu như vậy, công cụ, phương tiện cơ bản chỉ có thể là nền kinh tế thị trường định
Trang 7hướng xã hội chủ nghĩa và một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh Tính tất yếu khách quan ấy còn xuất phát từ đặc điểm của thời đại với xu thế toàn cầu hóa Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách nhà nước, cải cách pháp luật, bảo đảm cho Nhà nước không ngừng vững mạnh, có hiệu lực để giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, thực hành dân chủ, củng cố độc lập, tự chủ và hội nhập vững chắc vào đời sống quốc tế
Trang 8CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG NHÀ
NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN Ở VIỆT NAM Khẳng định xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa theo mô hình Nhà nước pháp quyền là một bước đột phá trong tư duy và thực tiễn xây dựng Nhà nước trong thời kỳ đổi mới của Đảng ta Đó là cơ sở chính trị cho việc tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu về nhà nước pháp quyền, đổi mới một cách căn bản, có hệ thống tổ chức và phương thức hoạt động của Nhà nước ở nước ta hiện nay Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là ngày một, ngày hai chúng ta có thể xác lập ngay được Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Trong lý luận và cả trong thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta đang đặt ra nhiều vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải tiếp tục giải quyết Đó là:
I. Vấn đề thiết kế mô hình cụ thể Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
Mô hình nhà nước pháp quyền đã được nhân loại thử nghiệm, chọn lọc qua nhiều thế kỷ và đang trở thành hình thức phổ biến trong thế giới đương đại Tuy nhiên, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam không có nghĩa là “bê nguyên” những hình thức ấy Vả lại, ngay cả ở các nước phương Tây, nhà nước pháp quyền cũng không hoàn toàn giống nhau Ở mỗi quốc gia, nhà nước pháp quyền cũng có những nét độc đáo riêng, tuỳ thuộc vào các đặc điểm, truyền thống dân tộc cũng như điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá Hơn nữa, Nhà nước pháp quyền
mà nhân dân ta đang xây dựng là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Nhà nước đó, về bản chất, là đối lập với nhà nước pháp quyền tư sản Do vậy, về nội dung pháp luật, về bản chất của pháp luật chắc chắn cũng khác với nhà nước pháp quyền tư sản Còn về hình thức có thể có những nét tương đồng mà qua nghiên cứu, chọn lọc, cải biến, chúng ta có thể kế thừa mặt này, mặt kia của mô hình này hay mô hình khác Tuy nhiên, đây cũng không phải là điều đơn giản, thậm chí còn
là khá phức tạp và rất nhạy cảm về chính trị
Chẳng hạn, việc có vận dụng hay không vận dụng, vận dụng đến mức độ nào thuyết phân lập các quyền của phương Tây Ngay cả ở các nước tư bản, mức độ vận dụng học thuyết này cũng không giống nhau Điều đó không phải do có sự khác nhau về chế độ chính trị, mà bắt nguồn từ nhiều lý do khác, trong đó có những quan niệm khác nhau về tác dụng của sự phân quyền Mục đích của việc phân quyền là để tránh sự độc đoán, chuyên quyền, lạm dụng quyền lực Đó là mặt
Trang 9tích cực Nhưng việc phân quyền giữa các cơ quan thực hiện quyền lực cũng có những mặt trái của nó Do vậy, ở các nước phương Tây cũng xuất hiện quan điểm cho rằng, không nên cường điệu ý nghĩa mang tính chất lý thuyết của thuyết phân quyền Hơn nữa, thuyết phân quyền của phương Tây cũng không chỉ thuần tuý ở khía cạnh kỹ thuật tổ chức – pháp lý, mà còn là đặc trưng xã hội – chính trị của nhà nước pháp quyền tư sản Hay, nói cách khác, không chỉ là phân lập các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, mà còn là việc phân chia quyền lực, phân bố quyền lực giữa các giai cấp và các nhóm xã hội, các lực lượng xã hội Xuất phát từ những
lý do đó, Đảng ta đặt vấn đề, trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, chúng ta không áp dụng nguyên xi thuyết phân quyền của phương Tây, mà
“có sự phân công rành mạch giữa ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và có sự phối hợp giữa các cơ quan thực hiện những quyền đó” Vấn đề đặt ra là làm sao tạo lập được những cơ chế, thiết chế phù hợp đảm bảo sự phân công rành mạch ba quyền và sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan thực hiện quyền lực Thiếu những cái đó khó tránh khỏi tình trạng như đã và đang diễn ra ở những mức độ nhất định: lấn quyền, lạm quyền, vượt thẩm quyền hoặc bỏ sót quyền, chưa sử dụng hết quyền hạn của mình,…
Với nước ta, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất có chức năng lập pháp, có quyền quyết định các vấn
đề trọng đại của đất nước và có quyền giám sát tối cao hoạt động của các cơ quan nhà nước khác Trong hệ thống các cơ quan quyền lực của Nhà nước ta, Quốc hội
có vị trí, vai trò rất lớn theo luật định Quốc hội “được làm” nhưng có “làm được” hay không - đó là vấn đề không nhỏ Điều đó liên quan trực tiếp tới thiết chế tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội Ở nước ta, trong quá trình đổi mới, cải cách Nhà nước nói chung, Quốc hội nói riêng, hiện cũng đang đặt ra một số vấn đề: Quốc hội ta là quốc hội quốc dân hay quốc hội nhân dân; hoạt động thường xuyên hay định kỳ, Quốc hội “tham luận” hay “tranh luận”, Quốc hội chuyên nghiệp hay nghiệp dư, tỷ lệ đại biểu chuyên trách và đại biểu nghiệp dư, cơ cấu và chất lượng đại biểu; quan hệ giữa Quốc hội với các cơ quan nhà nước khác, v.v Xét về mặt lý thuyết, Quốc hội ta là quốc hội quốc dân, đại biểu cho cử tri, cho nhân dân cả nước Nhưng vì nhiều lý do nên trên thực tế, điều đó chưa hẳn đã là như vậy Chức năng đại diện của Quốc hội ta vẫn thiên về đại biểu cho các địa phương, đại diện cho cử tri ở đơn vị bầu cử, chứ chưa hẳn là cử tri cả nước Điều này có liên quan đến tổ chức bầu cử (bầu cử gắn với địa phương, và do vậy, cách
Trang 10giải quyết như thế nào vẫn là vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu Quốc hội mang tính nghiệp dư hay tính chuyên nghiệp hoá? Xung quanh vấn đề này hiện vẫn còn
có những ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng, nếu Quốc hội hoạt động thường xuyên, mang tính chuyên nghiệp hoá thì các đại biểu mất đi mối liên hệ trực tiếp với cử tri, với cơ sở Dĩ nhiên, Quốc hội hoạt động thường xuyên, mang tính chuyên nghiệp hoá sẽ xuất hiện những trở ngại đó, nhưng không phải không có cách giải quyết, khắc phục Vả lại, theo kinh nghiệm của nhiều nước cũng như yêu cầu của Nhà nước pháp quyền, chỉ có Quốc hội hoạt động thường xuyên mới hoàn thành được chức năng lập pháp, mới có đủ khả năng thay đổi, bổ sung luật, đạo luật theo kịp với yêu cầu của cuộc sống Đó là điều cần suy nghĩ Chuyên nghiệp hoá Quốc hội cũng là hướng cần thiết Nghị sĩ quốc hội phải làm chức năng đại biểu mà muốn vậy, phải có tài năng, khả năng và phải dành thời gian để làm tròn nghĩa vụ và thạo nghề đại biểu Đó là chưa nói đến chuyện họ phải là những người lập pháp thành thạo, có chuyên môn sâu, hay ít nhất cũng phải có năng lực thẩm định, phản biện, chất vấn Vấn đề tỷ lệ đại biểu chuyên trách đã được đặt ra trong những khoá gần đây (hiện nay tỷ lệ đó vào khoảng 30%) Đó là hướng đi đúng, nhưng đủ chưa Ở đây, còn phải tính đến tỷ lệ đại biểu được tái cử và không được tái cử Như vậy, chỉ xoay quanh việc cải cách Quốc hội theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền cũng đã làm xuất hiện nhiều vấn đề còn phải tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm, thực hiện Chính vì vậy mà cho đến nay, Đại hội X của Đảng vẫn khẳng định: “Tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội”(9)
II Vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước.
Điều khác nhau căn bản với nhà nước pháp quyền tư sản là Nhà nước pháp quyền ở nước ta do Đảng Cộng sản lãnh đạo Hơn nữa, chế độ ta là chế độ một đảng Nói chế độ nhiều đảng dân chủ hơn chế độ một đảng là không chính xác, nhưng cũng phải thấy rằng, trong chế độ một đảng, Đảng lãnh đạo như thế nào để đảm bảo dân chủ, đảm bảo cho Nhà nước thực sự là quyền lực của nhân dân cũng
là vấn đề phức tạp Đảng ta lãnh đạo Nhà nước không có mục đích nào khác hơn là đem lại quyền dân chủ, quyền làm chủ cho nhân dân Nhưng, lãnh đạo như thế nào
để đạt được mục đích đó là một bài toán không dễ Thực tiễn trong hơn 20 năm đổi mới đã cho thấy điều đó