1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt: Ownership structure, Accounting Conservatism and Firm Performance: Evidence from Vietnam.

26 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ownership Structure, Accounting Conservatism And Firm Performance: Evidence From Vietnam
Tác giả Võ Thị Thức
Người hướng dẫn GS. TS. Võ Xuân Vinh, GS. Jonathan A, Batten
Trường học Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại Luận án tiến sĩ kinh tế
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 898,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ownership structure, Accounting Conservatism and Firm Performance: Evidence from Vietnam.Ownership structure, Accounting Conservatism and Firm Performance: Evidence from Vietnam.Ownership structure, Accounting Conservatism and Firm Performance: Evidence from Vietnam.Ownership structure, Accounting Conservatism and Firm Performance: Evidence from Vietnam.Ownership structure, Accounting Conservatism and Firm Performance: Evidence from Vietnam.Ownership structure, Accounting Conservatism and Firm Performance: Evidence from Vietnam.Ownership structure, Accounting Conservatism and Firm Performance: Evidence from Vietnam.Ownership structure, Accounting Conservatism and Firm Performance: Evidence from Vietnam.Ownership structure, Accounting Conservatism and Firm Performance: Evidence from Vietnam.Ownership structure, Accounting Conservatism and Firm Performance: Evidence from Vietnam.Ownership structure, Accounting Conservatism and Firm Performance: Evidence from Vietnam.Ownership structure, Accounting Conservatism and Firm Performance: Evidence from Vietnam.Ownership structure, Accounting Conservatism and Firm Performance: Evidence from Vietnam.Ownership structure, Accounting Conservatism and Firm Performance: Evidence from Vietnam.Ownership structure, Accounting Conservatism and Firm Performance: Evidence from Vietnam.Ownership structure, Accounting Conservatism and Firm Performance: Evidence from Vietnam.Ownership structure, Accounting Conservatism and Firm Performance: Evidence from Vietnam.Ownership structure, Accounting Conservatism and Firm Performance: Evidence from Vietnam.Ownership structure, Accounting Conservatism and Firm Performance: Evidence from Vietnam.Ownership structure, Accounting Conservatism and Firm Performance: Evidence from Vietnam.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:

Trang 3

TÓM TẮT Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của luận án là nghiên cứu về ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến mức độ tuân thủ nguyên tắc thận trọng trong kế toán và lợi ích của nguyên tắc thận trọng đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ở bối cảnh Việt Nam Tổng quan các tài liệu cho thấy cấu trúc sở hữu có ảnh hưởng đến việc tuân thủ nguyên tắc thận trọng trong kế toán và nguyên tắc thận trọng cũng có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của công

ty ở các quốc gia trên thế giới, tuy nhiên, kết quả nghiên cứu này vẫn chưa thống nhất Với các nghiên cứu ở bối cảnh Việt Nam về chủ đề này, chỉ có một số ít nghiên cứu đã thực hiện và cung cấp bằng chứng về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và thận trọng trong kế toán, đặc biệt là loại hình sở hữu tập trung, sở hữu tổ chức vẫn còn hạn chế Về sự ảnh hưởng của nguyên tắc thận trọng trong kế toán đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, có rất ít nghiên cứu thực hiện nghiên cứu về vấn đề này ở bối cảnh Việt Nam

Thiết kế/phương pháp/cách tiếp cận

Mẫu nghiên cứu sử dụng trong luận án gồm các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ năm 2012 đến năm 2020 Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính hợp nhất, báo cáo thường niên, riêng giá cổ phiếu và khối lượng giao dịch của cổ phiếu được thu thập

từ Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Phương pháp dữ liệu bảng được sử dụng để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu Luận án sử dụng ba phương pháp đo lường thận trọng kế toán: Mô hình Basu (1997),

mô hình Khan và Watts (2009) và mô hình của Ahmed và Duellman (2007) Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được đo lường dựa vào phương pháp theo cơ sở kế toán và thước đo dựa trên cơ sở thị trường Cấu trúc

sở hữu được chia thành hai nhóm gồm thành mức độ tập trung sở hữu và loại hình sở hữu Loại hình sở hữu bao gồm sở hữu của nhà quản lý, sở hữu tổ chức, sở hữu nước ngoài và sở hữu nhà nước

Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng ủng hộ các giả thuyết nghiên cứu theo đề xuất của luận án Cụ thể:

sở hữu tổ chức, sở hữu nước ngoài và sở hữu nhà nước càng cao thì việc tuân thủ nguyên tắc thận trọng trong

kế toán càng cao, ngược lại, sở hữu của nhà quản lý và sở hữu tập trung càng cao thì việc tuân thủ nguyên tắc thận trọng trong kế toán càng thấp Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn cung cấp bằng chứng thực nghiệm rằng nguyên tắc thận trọng trong kế toán có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Đóng góp của nghiên cứu

Những phát hiện của nghiên cứu này đóng góp vào cơ sở lý thuyết về cấu trúc sở hữu và nguyên tắc thận trọng trong kế toán với bối cảnh nghiên cứu tại thị trường cận biên ở Việt Nam Nghiên cứu cũng đưa ra một số hàm

ý hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, những người thực hiện công tác kế toán, các nhà nghiên cứu và người sử dụng thông tin kế toán ở bối cảnh Việt Nam

Từ khóa: Nguyên tắc thận trọng; Cấu trúc sở hữu; Thị trường cận biên; Hiệu quả hoạt động

Trang 4

GIỚI THIỆU CHUNG

1 Lý do chọn đề tài

Thận trọng kế toán là một nguyên tắc phổ biến và xuất hiện từ khá lâu trong kế toán (Biddle et al., 2022)

Có nhiều định nghĩa khác nhau về nguyên tắc thận trọng, chẳng hạn như Basu (1997), Givoly và Hayn (2000), Watts (2003) Trong kế toán, nguyên tắc thận trọng cải thiện độ tin cậy của báo cáo tài chính bằng cách hạn chế các hành vi cơ hội của ban quản lý (Ball và Shivakumar, 2005; Watts, 2003; Mora và Walker 2015) Cấu trúc sở hữu thể hiện các thỏa thuận về quyền sở hữu và cơ sở để xác định cấu trúc kiểm soát của công ty, là nền tảng của quản trị công ty Đối với các công ty niêm yết, Watts (1993) cho rằng tính thận trọng trong kế toán bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố quản trị Thông tin về hiệu quả hoạt động của một công ty không thể tách rời việc sử dụng các nguyên tắc kế toán được áp dụng khi lập báo cáo tài chính (Zulfikara và cộng sự, 2020) Chất lượng của thông tin lợi nhuận trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh bị ảnh hưởng bởi việc tuân thủ các nguyên tắc kế toán (Penman và Zhang, 2002) Theo LaFond và Watts (2008), nguyên tắc thận trọng trong

kế toán có thể làm giảm việc thao túng báo cáo tài chính và giảm chi phí đại diện, từ đó sẽ làm tăng lợi nhuận

và cải thiện hiệu quả hoạt động của công ty

Nghiên cứu này nghiên cứu về việc áp dụng nguyên tắc thận trọng kế toán trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết Việt Nam, tác động của cơ cấu sở hữu đến mức độ thận trọng kế toán trong báo cáo tài chính cũng như tác động kinh tế của việc thận trọng kế toán đến hiệu quả hoạt động của công ty niêm yết Việt Nam Các nghiên cứu trước đây cho thấy cấu trúc sở hữu có thể ảnh hưởng đến việc sử dụng kế toán thận trọng, với các công ty được tổ chức chặt chẽ có nhiều khả năng sử dụng kế toán thận trọng hơn Nghiên cứu quốc tế cho thấy rằng chủ nghĩa thận trọng trong kế toán có thể có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của công ty, đặc biệt là trong các ngành dễ gặp khó khăn về tài chính (Ramalingegowda và Yu, 2018, Mohd và cộng sự, 2020; Cui và cộng sự, 2021) Tuy nhiên, các nghiên cứu về những vấn đề này trong bối cảnh Việt Nam còn hạn chế

Việt Nam là một quốc gia theo luật dân sự (An, 2022) và là một trong những thị trường mới nổi năng động

và đang phát triển với các đặc điểm luật pháp, văn hóa và thể chế đặc thù (Le và cộng sự, 2021) Ngoài ra, Việt Nam là thị trường chứng khoán cận biên có đặc điểm điển hình là mức độ sở hữu tập trung cao và khả năng bảo vệ nhà đầu tư yếu (Tran và Le, 2020) Các thông lệ báo cáo tài chính khác nhau giữa các quốc gia, đây là vấn đề được các nhà đầu tư toàn cầu quan tâm tìm hiểu, cũng như cơ cấu thể chế riêng biệt của mỗi quốc gia ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng báo cáo tài chính (Le và Moore, 2021) Hiện nay, tình hình công bố thông tin về báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam đã được cải thiện đáng kể, thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp ngày càng minh bạch hơn Tuy nhiên, theo đại diện Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), trên thực tế vẫn còn những sai sót, vi phạm Điều này gây mất niềm tin của công chúng vào thị trường chứng khoán cũng như khó khăn cho các cơ quan quản lý Nhà nước Việt Nam đang nỗ lực cải thiện công tác kế toán, triển khai và khuyến khích áp dụng IFRS Do đó, điều này sẽ cải thiện niềm tin và giảm rủi ro của nhà đầu tư

Vì những lý do nêu trên, tạo động lực cho tác giả thực hiện nghiên cứu này Cụ thể, nghiên xem xét một

số vấn đề như nguyên tắc thận trọng trong kế toán có được tuân thủ trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính ở các công ty niêm yết tại Việt Nam hay không, cấu trúc sở hữu có tác động đến việc tuân thủ nguyên tắc thận trọng hay không, bên cạnh đó là lợi ích của việc tuân thủ nguyên tắc thận trọng tại các công ty niêm yết của Việt Nam Vì vậy, luận án chọn đề tài “Cấu trúc sở hữu, thận trọng trong kế toán và hiệu quả hoạt động: Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam” để thực hiện luận án tiến sĩ

2 Mục tiêu nghiên cứu

(1) Liệu nguyên tắc thận trọng kế toán có được tuân thủ trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Việt Nam hay không;

Trang 5

(2) Liệu có mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và mức độ thận trọng kế toán của các công ty niêm yết tại Việt Nam hay không;

(3) Liệu có mối quan hệ giữa mức độ thận trọng kế toán và hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết tại Việt Nam hay không

3 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi 1: Báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Việt Nam có tuân thủ nguyên tắc thận trọng kế toán?

Câu hỏi 2: Có mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và mức độ thận trọng kế toán của các công ty niêm yết tại Việt Nam?

Câu hỏi 3: Có mối quan hệ giữa mức độ thận trọng kế toán và hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết tại Việt Nam?

4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này chủ yếu áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng Nghiên cứu được thực hiện dựa trên các lý thuyết cơ bản phổ biến như lý thuyết đại diện, lý thuyết chi phí chính trị, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết

kế toán thực chứng và dựa trên các nghiên cứu trước đây liên quan đến việc đo lường thận trọng trong kế toán, tác động của cấu trúc sở hữu đến việc tuân thủ nguyên tắc thận trọng kế toán cũng như ảnh hưởng của nguyên tắc thận trọng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp để xác định mô hình nghiên cứu và kiểm định các giả thuyết ở bối cảnh Việt Nam

5 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Luận án nghiên cứu thực trạng áp dụng nguyên tắc thận trọng kế toán; tác động của cấu trúc sở hữu đến mức độ tuân thủ nguyên tắc thận trọng và ảnh hưởng của nguyên tắc thận trọng đến hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết tại Việt Nam

Về thận trọng kế toán: Luận án tập trung vào thận trọng kế toán có điều kiện

Về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp: Luận án xem xét đo lường hiệu quả hoạt động thông qua cả phương diện là dựa trên cơ sở kế toán và dựa trên cơ sở thị trường

6 Những đóng góp mới của luận án

Đóng góp về mặt lý thuyết:

Đóng góp đầu tiên của luận án là luận án đã tổng hợp và đánh giá các phương pháp đo lường thận trọng trong kế toán, từ đó nhận ra những ưu điểm, hạn chế của từng phương pháp và lựa chọn phương pháp phù hợp để đo lường thận trọng trong kế toán đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Đóng góp thứ hai của luận án là liên quan đến việc đo lường tính thận trọng trong kế toán Để kiểm định tác động của cấu trúc sở hữu đến nguyên tắc thận trọng trong kế toán phù hợp với đặc điểm ở bối cảnh Việt Nam, luận án sử dụng các phương pháp đo lường khác nhau đối với thận trọng trong kế toán, gồm: Mô hình của Basu (1997); Khan và Watts (2009) và Ahmed và Duellman (2007) Bên cạnh đó, luận án cũng nghiên cứu tác động của nguyên tắc thận trọng kế toán đối với hiệu quả hoạt động của công ty thông qua đo lường

Trang 6

hiệu quả hoạt động dựa trên cả hai phương diện kế toán và thị trường (Demsetz và Villalonga, 2001) Kết quả của nghiên cứu của luận án bổ sung bằng chứng về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và thận trọng trong kế toán cũng như lợi ích của nguyên tắc thận trọng thông qua việc sử dụng các phương pháp đo lường khác nhau đối với thận trọng kế toán và hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết tại Việt Nam, đặc biệt phương pháp

đo lường theo mô hình của Khan và Watts (2009)

Đóng góp thứ ba, kết quả nghiên cứu của luận án có thể bổ sung một phần kết quả của các nghiên cứu trước đây chưa có sự thống nhất về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và thận trọng kế toán Đồng thời, cũng

bổ sung thêm các kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa sở hữu tổ chức, sở hữu tập trung và thận trọng kế toán mà các nghiên cứu thực hiện ở bối cảnh Việt Nam còn hạn chế Như vậy, luận án cung cấp kết quả nghiên cứu một cách toàn diện về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và thận trọng trong kế toán của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, khi thận trọng kế toán được đo lường theo mô hình của Khan và Watts (2009), kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp bằng chứng về lợi ích của việc tuân thủ nguyên tắc thận trọng kế toán đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ở bối cảnh Việt Nam Kết quả nghiên cứu này bổ sung cho bằng chứng của các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ tích cực giữa thận trọng kế toán và hiệu quả hoạt động của công ty ở thị trường cận biên như Việt Nam

Đóng góp về mặt thực tiễn:

Thứ nhất, kết quả nghiên cứu cung cấp thực trạng về việc tuân thủ nguyên tắc thận trọng kế toán bao gồm từ góc độ toàn thị trường và góc độ của từng công ty theo năm tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thông qua các phương pháp đo lường khác nhau

Thứ hai, luận án giúp cho những người làm kế toán, các nhà quản lý và những người sử dụng thông tin kế toán có đầy đủ thông tin về mức độ thận trọng kế toán trong báo cáo tài chính Nhận thức được tầm quan trọng của nguyên tắc thận trọng kế toán, tác động của việc thực hiện nguyên tắc thận trọng và phương pháp đo lường để từ đó cân nhắc áp dụng nguyên tắc thận trọng một cách phù hợp nhằm cung cấp thông tin BCTC hữu ích và đáng tin cậy hơn Ngoài ra, các nội dung liên quan đến nguyên tắc thận trọng, mối quan hệ giữa cấu trúc

sở hữu và mức độ thận trọng kế toán có thể giúp nhà đầu tư và các bên liên quan phân tích sâu hơn các nhân

tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin BCTC để có cơ sở để đưa ra các quyết định kinh tế hiệu quả nhất

Thứ ba, luận án cung cấp bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến mức độ thận trọng kế toán và tác động của mức độ thận trọng kế toán đến hiệu quả hoạt động của công ty, từ đó phân tích, đánh giá và đưa ra khuyến nghị cho các công ty niêm yết, nhà đầu tư, hoạch định chính sách và các bên liên quan khác Đặc biệt, kết quả của nghiên cứu này có thể giúp các nhà hoạch định chính sách có bức tranh về tác động của cấu trúc sở hữu đến mức độ thận trọng kế toán và lợi ích của việc tuân thủ nguyên tắc thận trọng trong kế toán để có cơ chế bảo vệ cổ đông thiểu số trước sự chi phối của cấu trúc sở hữu của các công ty niêm yết tại Việt Nam

7 Bố cục nội dung của luận án

Luận án được trình bày theo bố cục sau: Chương 1: Tổng quan nghiên cứu; Chương 2: Cơ sở lý thuyết và giả thuyêt nghiên cứu; Chương 3: Phương pháp nghiên cứu; Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận; Chương 5: Hàm ý của nghiên cứu và hạn chế của nghiên cứu

Trang 7

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHÊN CỨU

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Thận trọng trong kế toán

Basu (1997) định nghĩa thận trọng trong kế toán là xu hướng đòi hỏi điều kiện ghi nhận cao hơn đối với thông tin tốt so với thông tin xấu trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Givoly và Hayn (2000) lập luận rằng thận trọng trong kế toán là một công cụ kế toán dẫn đến việc ghi nhận chi phí nhanh hơn so với doanh thu Watts (2003) định nghĩa chủ nghĩa thận trọng trong kế toán là tính kịp thời bất đối xứng trong việc ghi nhận tổn thất so với lợi ích Đối với kế toán, họ không thể bỏ qua khái niệm thận trọng trong kế toán Thận trọng trong kế toán có thể hiểu ngắn gọn là nếu không có sự chắc chắn trong một giao dịch, kế toán có thể ước tính và ghi nhận các khoản lỗ có thể xảy ra, tuy nhiên, không ghi nhận các khoản lãi có thể xảy ra nếu chưa có bằng chứng chắc chắn

1.1.2 Cấu trúc sở hữu

Cấu trúc sở hữu là một chủ đề quan trọng trong khái niệm tổng thể về quản trị công ty (Tran và Dang, 2021) và được nhiều nhà nghiên cứu về quản trị công ty quan tâm Theo Jensen và Meckling (1976), “Cấu trúc

sở hữu” cho thấy tỷ lệ cổ phần nắm giữ giữa các thành viên trong và ngoài công ty cũng như giữa các nhà đầu

tư có vai trò quản lý trực tiếp và không trực tiếp Ngoài ra, cấu trúc sở hữu đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút lượng vốn lớn cho các công ty niêm yết Theo Anh (2019), cấu trúc sở hữu được chia thành hai nhóm:

sở hữu tập trung và loại hình sở hữu

1.1.2.1 Sở hữu tập trung

Sở hữu tập trung được định nghĩa là phần lớn cổ phần trong công ty do một cổ đông sở hữu, cổ đông này

có thể là cá nhân hoặc một nhóm cá nhân hoặc tổ chức, họ có quyền tham gia vào việc ra quyết định trong công ty Cổ đông lớn được tham gia hội đồng quản trị và thực hiện quyền kiểm soát đối với hoạt động của doanh nghiệp

1.1.2.2 Loại hình sở hữu

Xét về đặc điểm của cổ đông, các nhà nghiên cứu chia loại hình sở hữu thành các nhóm sau: Quyền sở hữu của nhà quản lý (MANA): Số cổ phiếu do các nhà quản lý cấp cao nắm giữ chia cho tổng số cổ phiếu đang lưu hành (Liu, 2019; El-habashy, 2019; Sugiarto và Fachrurrozie, 2018; Mohammed và cộng sự, 2017; Ahmed

và Henry, 2012); Quyền sở hữu của tổ chức (INSTI): Số cổ phiếu do các nhà đầu tư tổ chức nắm giữ chia cho tổng số cổ phiếu đang lưu hành (El-habashy, 2019; Ramalingegowda và Yu, 2012; Chi và cộng sự, 2009; Lin, 2016; Ahmed và Henry, 2012); Sở hữu nước ngoài (FORE): Số lượng cổ phiếu nắm giữ bởi nhà đầu tư nước ngoài chia cho tổng số cổ phiếu đang lưu hành (Khalil và cộng sự, 2019; Liu, 2019; Alkurdi và cộng sự, 2017);

Sở hữu nhà nước (STATE): Số cổ phần thuộc sở hữu nhà nước chia cho tổng số cổ phần đang lưu hành (Alkurdi

và cộng sự, 2017)

1.1.3 Hiệu quả hoạt động

Hiệu quả hoạt động của công ty là chỉ số mà hầu hết người sử dụng thông tin kế toán đều quan tâm (Osadchy và cộng sự, 2018), được đo lường thông qua các chỉ số tài chính và phi tài chính (Ahmed và cộng

sự, 2016) Hầu hết các nghiên cứu về quản trị doanh nghiệp đều sử dụng các thước đo dựa trên cơ sở kế toán (El-habashy, 2019) hoặc các thước đo dựa trên cơ sở thị trường (Bhagat và Bolton, 2008)

1.2 Tổng hợp các phương pháp đo lường thận trọng kế toán

Có nhiều phương pháp được sử dụng để đo lường thận trọng trong kế toán Tổng quan các nghiên cứu trước cung cấp các phương pháp đo thường đã được sử dụng bao gồm giá thị trường trên giá trị sổ sách (MTB), lợi nhuận, giá trị dồn tích, quan hệ dồn tích/dòng tiền và đo lường quan hệ nhuận/lợi nhuận cổ phiếu Các phương pháp đo lường này được phân loại thành thước đo căn cứ vào bảng cân đối kế toán, thước đo căn cứ báo cáo kết quả kinh doanh, thước đo dựa trên mối quan hệ lợi nhuận/lợi nhuận cổ phiếu (Zhong và Li, 2017)

Trang 8

1.3 Tổng quan các nghiên cứu về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và thận trọng trong kế toán

1.3.1 Sở hữu tập trung và thận trọng trong kế toán

Về mặt lý thuyết, cổ đông có lớn ảnh hưởng đến báo cáo tài chính theo hai hướng Thứ nhất, họ can thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh doanh của các công ty Thứ hai, để phục vụ lợi ích cá nhân, họ có thể thu thập, tìm kiếm thông tin dựa trên lợi thế của họ hoặc tác động đến quyết định của người quản lý (El-habashy, 2019) Theo kết quả nghiên cứu thực nghiệm, những phát hiện về mối quan hệ giữa sở hữu tập trung và thận trọng trong kế toán là chưa nhất quán

Kết quả nghiên cứu của Nguyen và cộng sự (2017) chỉ ra rằng sở hữu tập trung làm cản trở các thành viên HĐQT độc lập trong việc thực hiện chức năng giám sát của họ trong quản trị, do đó, ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của công ty với bối cảnh nghiên cứu tại Việt Nam Tran và Dang (2021) kiểm tra ảnh hưởng của mức độ sở hữu tập trung đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở các quốc gia mới nổi như Việt Nam, kết quả cho thấy mức độ sở hữu tập trung không ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận Kêt quả nghiên cứu của Nguyen và cộng sự (2022) cho thấy rằng sở hữu tập trung có mối quan hệ ngược chiều với thận trọng trong kế toán ở bối cảnh nghiên cứu tại Việt Nam

1.3.2 Loại hình sở hữu và thận trọng trong kế toán

1.3.2.1 Sở hữu của nhà quản trị và thận trọng trong kế toán

Về mặt lý thuyết, sở hữu của nhà quản lý giúp kiểm soát hành vi quản trị lợi nhuận, giúp nâng cao chất lượng thông tin kế toán (Ellili, 2013) El-habashy (2019) cho rằng các công ty có sở hữu của nhà quản lý cao, nghĩa là người quản lý là người đại diện và đồng thời là chủ sở hữu của công ty Điều này có thể làm giảm các vấn đề xung đột đại diện và phát sinh nhu cầu về thận trọng trong kế toán Tuy nhiên, theo lý thuyết kế toán thực chứng, các nhà quản lý dựa trên lợi thế của họ để điều chỉnh tăng lợi nhuận nhằm cải thiện lợi ích của họ Ball (2001), Lafond và Roychowdhury (2008) đưa ra giả thuyết và phát hiện ra rằng thận trọng trong kế toán

có quan hệ ngược chiều với sở hữu của nhà quản lý Theo kết quả nghiên cứu thực nghiệm, những phát hiện

về mối quan hệ giữa sở hữu nhà quản lý và thận trọng kế toán chưa được thống nhất Với bối cảnh nghiên cứu tại Việt Nam, Nguyen (2019) cũng cho thấy quyền sở hữu của nhà quản lý có mối quan hệ ngược chiều với thận trọng kế toán

1.3.2.2 Sở hữu của tổ chức và thận trọng trong kế toán

Về lý thuyết, trong quản trị doanh nghiệp, các nhà đầu tư tổ chức giữ vai trò quan trọng, đặc biệt là ở các thị trường phát triển (Liu, 2019) Jensen (1993) cho rằng các nhà đầu tư tổ chức là những nhà đầu tư tích cực, đóng vai trò quan trọng trong hệ thống quản trị công ty và tham gia kiểm soát công ty một cách độc lập, khách quan Do đó, họ yêu cầu thông tin cung cấp phải kịp thời và đáng tin cậy để giúp họ giám sát tốt hơn các hoạt động của công ty và tham gia hoạch định chiến lược kinh doanh của công ty (Bushman và cộng sự, 2004; Jensen, 1993) Theo kết quả nghiên cứu thực nghiệm, các nghiên cứu trước về mối quan hệ giữa quyền sở hữu

tổ chức và thận trọng kế toán đã cung cấp những kết quả nghiên cứu chưa có sự thống nhất Ở bối cảnh Việt Nam, Vo (2016a) cho thấy các nhà đầu tư tổ chức đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định tại các thị trường chứng khoán mới nổi Ha và Hiep (2019) cung cấp bằng chứng cho thấy sở hữu tổ chức có tác động đến hiệu quả hoạt động của công ty Theo như tác giả tìm kiếm, luận án chưa tìm thấy nghiên cứu khám phá

về mối quan hệ giữa sở hữu tổ chức và thận trọng trong kế toán tại các công ty niêm yết ở Việt Nam

1.3.2.3 Sở hữu nước ngoài và thận trọng trong kế toán

Về mặt lý thuyết, sở hữu nước ngoài được thu hút bởi khoản đầu tư lớn vào công ty, điều này dẫn đến mức

độ thông tin bất cân xứng thấp (Fan và Wong, 2002; Lafond và Roychowdhury, 2008; LaFond và Watts, 2008)

An (2015) lập luận rằng các cổ đông nước ngoài có thể đóng vai trò kiểm soát với tư cách là một nhà đầu tư

tổ chức lớn, kiểm soát bên ngoài bởi sở hữu nước ngoài được coi là các nhà đầu tư tổ chức lớn hạn chế cơ hội lựa chọn chủ quan của ban quản lý trong việc cung cấp thông tin kế toán tài chính, từ đó nâng cao chất lượng

Trang 9

báo cáo tài chính Kho và cộng sự (2009) cho rằng công ty sẽ được hưởng lợi nếu các cổ đông nước ngoài đến

từ các quốc gia có quản trị công ty và kiểm soát công ty tốt Và họ cũng chỉ ra rằng thận trọng kế toán làm giảm việc xử lý dữ liệu kế toán và yêu cầu sử dụng báo cáo tài chính nhiều hơn trong việc ký kết hợp đồng và hợp tác, do đó, làm tăng nhu cầu đối thận trọng kế toán (Ball và Shivakumar, 2005) Theo kết quả nghiên cứu thực nghiệm, các nghiên cứu trước về tác động của sở hữu nước ngoài đối với thận trọng trong kế toán cung cấp bằng chứng về mối quan hệ cùng chiều Ở bối cảnh nghiên cứu tại Việt Nam, Le và cộng sự (2017) và Le

và Moore (2021) chỉ ra rằng sở hữu nước ngoài có mối quan hệ ngược chiều với thận trọng trong kế toán Tuy nhiên, Dang và Tran (2020) cho rằng mối quan hệ giữa sở hữu nước ngoài và thận trọng kế toán là ngược chiều khi thận trọng kế toán được đo lường theo mô hình Ball và Shivakumar (2005), ngược lại, mối quạn hệ này không có ý nghĩa thống kê khi thận trọng kế toán được đo lường bởi Givoly và Hayn (2000) Điều này cho thấy các kết quả nghiên cứu ở bối cảnh Việt Nam về vấn đề này còn nhạy cảm với các thước đo thận trọng kế toán

1.3.2.4 Sở hữu nhà nước và thận trọng trong kế toán

Về mặt lý thuyết, có hai quan điểm trái ngược nhau Quan điểm thứ nhất cho rằng sở hữu nhà nước càng cao sẽ ảnh hưởng đến giám sát quản lý, cụ thể, nó làm cho hệ thống kiểm soát kém hiệu quả hơn và dẫn đến gia tăng các vấn đề về đại diện (Armstrong và cộng sự, 2010; Firth và cộng sự, 2007) Quan điểm thứ hai cho rằng sở hữu nhà nước làm giảm các vấn đề về đại diện Vì Nhà nước với tư cách là cổ đông và nắm quyền kiểm soát, họ vừa có lợi ích trong việc tối đa hóa lợi nhuận vừa có quyền kiểm soát công ty, khi đó lợi ích của

họ sẽ được bảo vệ (Shleifer và Vishny, 1997) Theo kết quả nghiên cứu thực nghiệm, có nhiều nghiên cứu về tác động của sở hữu nhà nước đối với thận trọng kế toán, cụ thể là liệu sở hữu nhà nước có khuyến khích hay ngăn cản thận trọng kế toán hay không, kết quả của các nghiên cứu này cung cấp nhiều bằng chứng khác nhau (Cullinan và cộng sự, 2012) Bằng chứng của các nghiên cứu ở bối cảnh Việt Nam cung cấp kết quả cũng chưa nhất quán Nguyen (2019) và Le và cộng sự (2021) cho thấy sở hữu nhà nước có mối tương quan ngược chiều với thận trọng trong kế toán Do (2022) cho thấy sở hữu nhà nước có tác động tích cực đến thận trọng trong

kế toán Tuy nhiên, Dang và Tran (2020) cung cấp bằng chứng rằng không có mối quan hệ đáng kể nào giữa thận trọng trong kế toán và sở hữu nhà nước

1.4 Tổng quan các nghiên cứu về mối quan hệ giữa thận trọng trong kế toán và hiệu quả hoạt động

Về mặt lý thuyết, Bushman và cộng sự (2001); Lambert và cộng sự (2007) cho rằng thận trọng kế toán sẽ cải thiện hiệu quả hoạt động của công ty bằng cách cung cấp cho các nhà quản lý đầy đủ thông tin để hỗ trợ việc ra quyết định Theo LaFond và Watts (2008), nguyên tắc thận trọng có thể giảm bớt việc thao túng báo cáo tài chính và giảm chi phí đại diện Giảm chi phí đại diện sẽ cải thiện lợi nhuận của công ty và sau đó nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty Ahmed và Duellman (2007) cung cấp bằng chứng rằng công ty càng tuân thủ nguyên tắc thận trọng, càng đầu tư hiệu quả hơn Các nghiên cứu trước đây cung cấp bằng chứng thực nghiệm rằng thận trọng có điều kiện dẫn đến giá trị doanh nghiệp cao thông qua giảm bớt thông tin bất cân xứng, giảm chi phí vốn, tăng cường đầu tư hiệu quả bằng cách cải thiện giám sát và ký kết hợp đồng (Lafond

và Roychowdhury, 2008; Francis và Martin, 2010; Ahmed và Duellman, 2011; Lara và cộng sự, 2011; Artiach

và Clarkson, 2014; Kim và cộng sự, 2013; Balakrishnan và cộng sự, 2016; Ha và Feng, 2018) Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng thận trọng kế toán làm giảm giá trị phù hợp của báo cáo tài chính (Ugwunta và Ugwuanyi, 2019) Đặc biệt, Feltham và Ohlson (1995); Basu (1997); Penman và Zhang (2002) lập luận rằng lợi nhuận được xác định theo nguyên tắc thận trọng kế toán ít liên quan hơn Theo lý thuyết dự phòng, có sự khác biệt trong mối quan hệ giữa thận trọng kế toán và hiệu quả hoạt động của công ty trong các môi trường thể chế khác nhau (El-habashy, 2019) Do đó, lợi ích của thận trọng kế toán cũng đang là vấn đề đang được tranh luận (Ardiansyah, 2022) Theo kết quả nghiên cứu thực nghiệm, các nghiên cứu về tác động của thận trọng kế toán đến hiệu quả hoạt động của công ty chủ yếu tập trung vào các nền kinh tế phát triển và đang phát triển trong

Trang 10

những năm gần đây và kết quả nghiên cứu chưa được nhất quán Ở bối cảnh Việt Nam, các nghiên cứu về tác động của thận trọng kế toán và hiệu quả hoạt động của công ty còn hạn chế

1.5 Khoảng trống nghiên cứu

Dựa vào lý thuyết nền, tổng quan các nghiên cứu trước được công bố trong và ngoài nước, luận án đã tìm ra một số khoảng trống nghiên cứu, gồm:

Thứ nhất, luận án nhận thấy rằng có khá nhiều nghiên cứu ở nước ngoài tìm hiểu mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và thận trọng kế toán Tuy nhiên, kết quả của các nghiên cứu chưa được thống nhất và số lượng nghiên cứu về vấn đề này ở các thị trường mới nổi như Việt Nam vẫn còn hạn chế Cấu trúc sở hữu chủ yếu tập trung vào sở hữu tập trung và các loại hình sở hữu bao gồm sở hữu nhà quản lý, sở hữu tổ chức, sở hữu nước ngoài và sở hữu nhà nước Do đó, tác giả nhận thấy cần thực hiện một nghiên cứu toàn diện về mối quan

hệ giữa cấu trúc sở hữu và thận trọng trong kế toán tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Thứ hai, về lợi ích của nguyên tắc thận trọng kế toán, hầu hết các nghiên cứu đã được thực hiện ở các nền kinh tế phát triển và đang phát triển như Sana'a (2016), Ramalingegowda và Yu (2018), Ugwunta và Ugwuanyi (2019), MOHD và cộng sự (2020), Cui và cộng sự (2021) và Al-Fasfus và cộng sự (2022) Lợi ích của nguyên tắc thận trọng trong kế toán vẫn đang là vấn đề đang tranh luận (Ardiansyah, 2022) Theo Lý thuyết bất định, mối quan hệ giữa thận trọng kế toán và hiệu quả hoạt động của công ty sẽ khác nhau tùy theo môi trường thể chế (El-Habashy, 2019) Ngoài ra, các nghiên cứu trước đây cung cấp kết quả chưa thống nhất về lợi ích của thận trọng kế toán Ở bối cảnh Việt Nam, theo như kết quả tìm kiếm của tác giá cho thấy các nghiên cứu về tác động của thận trọng kế toán đến hiệu quả hoạt động của công ty còn hạn chế

Thứ ba, về phương pháp đo lường thận trọng kế toán, ở bối cảnh Việt Nam, hầu hết các nghiên cứu chủ yếu tập trung đo lường theo mô hình của Basu (1997); Givoly và Hayn (2000); Ball và Shivakumar (2005); Ahmed và Duellman (2007) Có một phương pháp đo lường mức độ thận trọng kế toán khá phổ biến và được

áp dụng trong các nghiên cứu ở nước ngoài, đó là mô hình của Khan & Watts (2009) Mô hình này được phát triển từ mô hình của Basu (1997), mức độ thận trọng kế toán của từng công ty theo năm (C_SCORE) Dựa trên tổng quan tài liệu, tác giả thấy rằng mô hình này rất ít nghiên cứu áp dụng ở bối cảnh Việt Nam

Trang 11

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYÊT NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý thuyết

2.1.1 Lý thuyết đại diện

Lý thuyết đại diện được phát triển bởi Jensen và Meckling (1976) Các nghiên cứu liên quan đến quản trị doanh nghiệp được nghiên cứu chủ yếu dựa vào lý thuyết đại diện (Abdullah, 2006), chỉ ra mối quan hệ giữa bên ủy quyền (cổ đông) và bên được ủy quyền (người quản lý) Lý thuyết đại diện kiểm tra mối quan hệ giữa chủ sở hữu và người quản lý của công ty và cho rằng sự tách biệt giữa chủ sở hữu và người quản lý làm phát sinh vấn đề đại diện vì mỗi bên sẽ luôn tối đa hóa lợi ích của mình Mối quan hệ này sẽ làm phát sinh sự bất cân xứng thông tin giữa người quản lý và chủ sở hữu được gọi là vấn đề đại diện Vấn đề này có thể được giải quyết bằng một hệ thống được gọi là cơ chế quản trị doanh nghiệp bằng cách giảm xung đột giữa bên ủy quyền

và bên đại diện (Subramaniam, 2006) Khi áp dụng lý thuyết này vào luận án, tác giả kỳ vọng rằng các công

ty có tỷ lệ sở hữu tập trung và sở hữu nhà quản lý càng cao, mức độ thận trọng kế toán càng giảm

1.1.3 Lý thuyết tín hiệu

Lý thuyết tín hiệu dựa vào hai nghiên cứu của Arrow (1972) và Schipper (1981) Lý thuyết này được sử dụng để mô tả hành vi của hai bên (cá nhân hoặc tổ chức) khi họ có quyền truy cập thông tin khác nhau Thông thường, một bên (người gửi) phải xem xét việc cung cấp thông tin và cách thức cung cấp thông tin (hoặc tín hiệu) đó và bên kia (người nhận) phải chọn cách diễn giải tín hiệu (Connelly và cộng sự, 2011) Lý thuyết tín hiệu giải quyết vấn đề bất cân xứng thông tin giữa doanh nghiệp và nhà đầu tư Theo lý thuyết này, các công

ty phải tự nguyện công bố thông tin cho thị trường và gửi tín hiệu cho các nhà đầu tư, chẳng hạn như mô hình tín hiệu, để tạo ra sự khác biệt về chất lượng hiệu quả của họ so với một công ty khác Khi áp dụng lý thuyết này vào luận án, tác giả kỳ vọng rằng các công ty có sở hữu tổ chức, sở hữu nước ngoài và sở hữu nhà nước càng cao, mức độ thận trọng kế toán càng cao

1.1.4 Lý thuyết kế toán thực chứng

Lý thuyết kế toán thực chứng được phát hiện đầu tiên bởi Beaver (1968) Sau đó, lý thuyết này đã được công nhận bởi nghiên cứu của Watts và Zimmerman (1978) Lý thuyết chủ yếu giải thích và dự đoán việc sử dụng một phương pháp kế toán phù hợp cho một đơn vị, nó không chỉ ra phương pháp nào phù hợp để đề nghị các công ty áp dụng (Watts và Zimmerman, 1986) Khi được áp dụng vào nghiên cứu này, luận án kỳ vọng rằng công ty có mức độ thận trọng kế toán càng cao, có hiệu quả hoạt động càng cao

2.2 Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu

2.2.1 Giả thuyết nghiên cứu

2.2.1.1 Mối quan hệ giữa sở hữu tập trung và thận trọng trong kế toán

Tổng quan tài liệu cho thấy sở hữu tập trung cao sẽ dẫn đến việc ít ưu tiên cho các cổ đông để tham gia giám sát các hoạt động của công ty, ít tham gia vào việc ra quyết định và kiểm soát việc áp dụng các chính sách kế toán, cụ thể là nguyên tắc thận trọng Nghiên cứu của Cullinan và cộng sự (2012) cho thấy sở hữu tập trung có mối quan hệ ngược chiều với thận trọng kế toán Với mẫu nghiên cứu tại Ai Cập, El-Habashy (2019) cũng phát hiện rằng sở hữu tập trung càng cao, dẫn đến đến mức độ dự phòng kế toán ít hơn và sẽ cung cấp

Trang 12

thông tin kế toán chất lượng thấp, điều đó thể hiện các cổ đông lớn có được lợi ích cá nhân hoặc tác động đến quyết định của người quản lý Các doanh nghiệp Việt Nam có đặc điểm là sở hữu tập trung cao, với hệ thống quản trị công ty chưa tốt (Nguyen và cộng sự, 2015) Do đó, nghiên cứu này đề xuất giả thuyết sau:

H1: Có mối quan hệ ngược chiều giữa sở hữu tập trung và thận trọng trong kế toán

2.2.1.2 Mối quan hệ giữa sở hữu nhà quản lý và thận trọng trong kế toán

Theo Jensen (1993), các nhà quản lý có động lực để thực hiện nhiệm vụ nếu họ có cổ phần đáng kể trong công ty (được gọi là hiệu ứng liên kết) Tuy nhiên, Morck và cộng sự (1988), Jiang và Kim (2000) cho rằng tỷ

lệ sở hữu của nhà quản lý cao (tập trung) sẽ dẫn đến hiệu quả hoạt động kém hơn và chất lượng báo cáo thấp tương ứng do ảnh hưởng của người trong cuộc (được gọi là hiệu ứng thao túng) Lafond và Roychowdhury (2008) đã cung cấp bằng chứng cho thấy có tác động ngược chiều giữa sở hữu của nhà quản lý và thận trọng trong kế toán Mohammed và cộng sự (2017) lập luận rằng sở hữu nhà quản lý càng cao, nhu cầu thận trọng càng thấp Tại Việt Nam, đặc trưng cấu trúc sở hữu của các công ty là tỷ lệ cổ phần thuộc sở hữu của ban quản trị, tỷ lệ cổ đông nội bộ khá lớn, dẫn đến khả năng thông tin không minh bạch cao (Vo và cộng sự, 2020) Vì vậy, nghiên cứu này đề xuất giả thuyết sau:

H2: Có mối quan hệ ngược chiều giữa sở hữu nhà quản lý và thận trọng trong kế toán

2.2.1.3 Mối quan hệ giữa sở hữu tổ chức và thận trọng trong kế toán

Đầu tư của tổ chức là một trong những yếu tố hữu hiệu khi tham gia vào hệ thống kiểm soát với vai trò là kiểm soát bên ngoài trong hệ thống quản trị doanh nghiệp Các tổ chức là một nhóm các nhà đầu tư, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động quản lý của một công ty (Gillan và Starks, 2003) Thông qua sự giám sát của các nhà đầu tư tổ chức, hành vi của các nhà quản lý có thể bị hạn chế (Gillan và Starks, 2003)

Từ việc giảm vấn đề liên quan đến thông tin bất cân xứng, Jiang và Kim (2000) phát hiện ra rằng quyền sở hữu của tổ chức làm tăng mức độ thận trọng trong kế toán và giảm thông tin bất đối xứng Ngoài ra, chúng có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn các thủ tục kế toán và có tác động đến báo cáo tài chính, cuối cùng là nâng cao chất lượng báo cáo tài chính bằng cách kiểm soát hành vi của ban quản lý (Song, 2015) Một số nghiên cứu cho rằng sở hữu của tổ chức có tác động tích cực đến thận trọng trong kế toán như Ramalingegowda và

Yu (2012), Alkurdi và cộng sự (2017) Việt Nam là thị trường cận biên có đặc điểm là bảo vệ nhà đầu tư chưa cao (Tran và Le, 2020) Vì vậy, nghiên cứu này đề xuất giả thuyết sau:

H3: Có mối quan hệ cùng chiều giữa sở hữu tổ chức và thận trọng trong kế toán

2.2.1.4 Mối quan hệ giữa sở hữu nước ngoài và thận trọng trong kế toán

Cổ đông lớn bên ngoài có thể giám sát quản lý một cách hiệu quả thông qua quyền kiểm soát, do đó giúp giảm các vấn đề về đại diện (Shleifer và Vishny, 1986) Vì có sự giám sát rất chặt chẽ và hiệu quả từ bên ngoài của sở hữu nước ngoài nên cơ hội chủ quan trong việc công bố thông tin kế toán bị hạn chế hơn Và để bảo vệ tài sản của họ và cắt giảm chi phí giám sát, các cổ đông nước ngoài có những động cơ và chuyên môn để kiểm soát độc lập các công ty Do đó, tỷ lệ sở hữu nước ngoài cao giúp các công ty cải thiện tính minh bạch và giảm

cơ hội lựa chọn và ra quyết định trong kế toán quản trị An (2015) cung cấp bằng chứng thực nghiệm rằng sở hữu nước ngoài có mối quan hệ cùng chiều đến thận trọng kế toán với bối cảnh nghiên cứu tại Hàn Quốc Liu (2019) cũng phát hiện ra rằng sở hữu nước ngoài có tác động tích cực đến thận trọng kế toán với mẫu nghiên cứu tại Jordan Đối với các công ty niêm yết tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu của Vo (2017) cho thấy sở hữu nước ngoài có xu hướng thận trọng hơn trong quản trị tài chính Vì vậy, nghiên cứu này đề xuất giả thuyết sau: H4: Có mối quan hệ cùng chiều giữa sở hữu nước ngoài và thận trọng trong kế toán

2.2.1.5 Mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước và thận trọng trong kế toán

Dựa trên lý thuyết chi phí chính trị, luận án kỳ vọng rằng sở hữu nhà nước càng cao thì chất lượng BCTC càng tốt, đặc biệt thể hiện mức độ thận trọng trong việc trình bày BCTC càng cao Cullinan và cộng sự (2012) cho rằng sở hữu nhà nước có tác động tích cực đến mức độ thận trọng kế toán với bối cảnh nghiên cứu tại

Trang 13

Malaysia Hơn nữa, Bushman và Piotroski (2006) phát hiện rằng mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước và thận trọng trong kế toán phụ thuộc vào hệ thống pháp luật Cụ thể, họ nhận thấy rằng sở hữu nhà nước có liên quan đến mức độ thận trọng thấp hơn ở các quốc gia thông luật (chẳng hạn như Hoa Kỳ) và mức độ thận trọng cao hơn ở các quốc gia theo luật dân sự (chẳng hạn như Trung Quốc) Việt Nam với hệ thống pháp luật mang nhiều đặc điểm theo hướng luật dân sự, đặc điểm của công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam bắt nguồn từ việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (Le và cộng sự, 2021) Do đó, dựa trên các lập luận trên, giả thuyết được phát biểu như sau:

H5: Có mối quan hệ cùng chiều giữa sở hữu nhà nước và thận trọng trong kế toán

2.2.1.6 Mối quan hệ giữa thận trọng trong kế toán và hiệu quả hoạt động của công ty

Bushman và Smith (2001) lập luận rằng thông tin kế toán đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát các nhà quản lý cấp cao trong công ty, góp phần làm cho các vấn đề về rủi ro đạo đức trở nên tốt hơn và giảm thiểu các vấn đề do thông tin bất cân xứng gây ra (Lara và cộng sự, 2009), và tạo điều kiện cho việc ước tính dòng tiền trong tương lai của các công ty (Lambert và cộng sự, 2007) Bushman và Smith (2001), Lambert và cộng

sự (2007) gợi ý rằng những tác động này dự kiến sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động của công ty bằng cách hỗ trợ

ra các quyết định đầu tư của công ty Affes và Sardouk (2016) kết luận rằng thận trọng trong kế toán có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của công ty LaFond và Watts (2008) lập luận rằng việc áp dụng nguyên tắc thận trọng trong báo cáo tài chính có thể làm giảm khả năng thao túng báo cáo tài chính của các nhà quản

lý và giảm chi phí đại diện Ngoài ra, Zulfikara và cộng sự (2020) nhận thấy nguyên tắc thận trọng trong kế toán sẽ giảm chi phí đại diện và cải thiện chất lượng thông tin báo cáo tài chính để từ đó cải thiện hiệu quả hoạt động của công ty Callen và cộng sự (2016) cung cấp bằng chứng rằng trong cơ chế thông tin bất cân xứng cao, những người đi vay (Công ty) có tính thận trọng cao thường phải chịu chênh lệch lãi suất thấp hơn

so với những người đi vay ít thận trọng hơn Nghiên cứu của Dinh và cộng sự (2022) cũng xem xét mối quan

hệ giữa chất lượng BCTC và hiệu quả đầu tư với mẫu các công ty niêm yết tại Việt Nam, họ nhận thấy rằng chất lượng BCTC có mối quan hệ tỷ lệ thuận với hiệu quả đầu tư Do đó, giả thuyết có thể được hình thành như sau:

H6: Có mối quan hệ cùng chiều giữa thận trọng kế toán và hiệu quả hoạt động của công ty

2.2.1.7 Các yếu tố khác không thuộc cấu trúc sở hữu ảnh hưởng đến mức độ thận trọng kế toán

Quy mô công ty (FSIZE), Đòn bẩy tài chính (LEV), Tăng trưởng doanh thu (GROWS), Khả năng sinh lời (ROA), Giá trị thị trường trên giá trị sổ sách (MTB)

Ngày đăng: 06/06/2023, 07:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w