ĐỒNG THUẬN HƯỚNG DẪN CỦA American College of Radiology (ACR) OvarianAdnexal Reporting và Data System Committee RochelleF.Andreotti,MD • DirkTimmerman,MD,PhD • LoriM.Strachowski,MD • WouterFroyman,MD • Beryl R. Benacerraf, MD • Genevieve L. Bennett, MD • Tom Bourne, PhD • Douglas L. Brown, MD • BeverlyG.Coleman,MD • MaryC.Frates,MD • StevenR.Goldstein,MD • UlrikeM.Hamper,MD,MBA • MindyM.Horrow,MD • MartaHernanzSchulman,MD • CarolineReinhold,MD,MSc • StephenL.Rose,MD • BradP.Whitcomb,MD • WendyL.Wolfman,MD • PhyllisGlanc,MD Người dịch: BS Mai Thị Tú Uyên Hiệu chỉnh: BS Hà Tố Nguyên Khoa Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Từ dũ Hệ thống phân tầng nguy cơ, quản lý dữ liệu và báo cáo hình ảnh siêu âm buồng trứngphần phụ (ORADS) được thiết kế nhằm cung cấp cách đọc hình ảnh nhất quán, để giảm thiểu và xóa bỏ những mơ hồ trong các kết quả siêu âm nhằm tạo ra độ chính xác cao trong đánh giá nguy cơ ác tính của các khối ở buồng trứng và phần phụ và cung cấp chiến lược quản lý cho mỗi nhóm nguy cơ. Hệ thống này được phát triển bởi hội đồng quốc tế đa ngành, được bảo đảm bởi ACR và áp dụng công cụ báo cáo chuẩn cho siêu âm (US) dựa trên bảng từ vựng xuất bản năm 2018 của nhóm ORADS US. Đối với phân tầng nguy cơ, ORADS US chia thành 6 nhóm (ORADS 05), từ bình thường đến nguy cơ ác tính cao nhất. Hệ thống duy nhất này là sự kết hợp giữa cách tiếp cận dựa trên kiểu mẫu thường được sử dụng ở Bắc Mỹ và hệ thống được sử dụng rộng rãi dựa trên kiểu mẫu của Châu Âu (IOTA) – một mô hình ước đoán nguy cơ đã được nghiên cứu tiến cứu thành công và có giá trị. Kiểu tiếp cận dựa trên một phân nhóm của những yếu tố mô tả ước đoán quan trọng nhất trong bảng từ vựng theo một nghiên cứu hồi cứu từ dữ liệu các nghiên cứu tiến cứu của IOTA giai đoạn 1 đến 3 và các nghiên cứu ủng hộ khác giúp ích trong phân loại các cách quản lý khác nhau trong hầu hết các sang thương gần như lành tính. Đối với nhóm đồng thuận ORADS, các hướng dẫn trong việc quản lý các nhóm nguy
Trang 1O-RADS, HỆ THỐNG PHÂN LOẠI VÀ XỬ TRÍ CÁC KHỐI U
BUỒNG TRỨNG DỰA TRÊN SIÊU ÂM
(ACR) Ovarian-Adnexal Reporting và Data System Committee
RochelleF.Andreotti,MD • DirkTimmerman,MD,PhD • LoriM.Strachowski,MD • WouterFroyman,MD • Beryl R Benacerraf, MD • Genevieve L Bennett, MD • Tom Bourne, PhD • Douglas L Brown, MD • BeverlyG.Coleman,MD • MaryC.Frates,MD • StevenR.Goldstein,MD • UlrikeM.Hamper,MD,MBA • MindyM.Horrow,MD • MartaHernanz-Schulman,MD • CarolineReinhold,MD,MSc • StephenL.Rose,MD •
BradP.Whitcomb,MD • WendyL.Wolfman,MD • PhyllisGlanc,MD
Người dịch: BS Mai Thị Tú Uyên- Hiệu chỉnh: BS Hà Tố Nguyên
Khoa Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Từ dũ
Hệ thống phân tầng nguy cơ, quản lý dữ liệu và báo cáo hình ảnh siêu âm buồng trứng-phần phụ (O-RADS) được thiết kế nhằm cung cấp cách đọc hình ảnh nhất quán, để giảm thiểu và xóa bỏ những mơ hồ trong các kết quả siêu âm nhằm tạo ra
độ chính xác cao trong đánh giá nguy cơ ác tính của các khối ở buồng trứng và phần phụ và cung cấp chiến lược quản lý cho mỗi nhóm nguy cơ Hệ thống này được phát triển bởi hội đồng quốc tế đa ngành, được bảo đảm bởi ACR và áp dụng công cụ báo cáo chuẩn cho siêu âm (US) dựa trên bảng từ vựng xuất bản năm 2018 của nhóm O-RADS US Đối với phân tầng nguy cơ, O-RADS US chia thành 6 nhóm (O- RADS 0-5), từ bình thường đến nguy cơ ác tính cao nhất Hệ thống duy nhất này là
sự kết hợp giữa cách tiếp cận dựa trên kiểu mẫu thường được sử dụng ở Bắc Mỹ và
hệ thống được sử dụng rộng rãi dựa trên kiểu mẫu của Châu Âu (IOTA) – một mô hình ước đoán nguy cơ đã được nghiên cứu tiến cứu thành công và có giá trị Kiểu tiếp cận dựa trên một phân nhóm của những yếu tố mô tả ước đoán quan trọng nhất trong bảng từ vựng theo một nghiên cứu hồi cứu từ dữ liệu các nghiên cứu tiến cứu của IOTA giai đoạn 1 đến 3 và các nghiên cứu ủng hộ khác giúp ích trong phân loại các cách quản lý khác nhau trong hầu hết các sang thương gần như lành tính Đối với nhóm đồng thuận O-RADS, các hướng dẫn trong việc quản lý các nhóm nguy cơ
Trang 2khác nhau được đề nghị Cả hai hệ thống đã được phân tầng để cùng đạt được một phân loại nguy cơ như nhau và chiến lược quản lý bất kể ban đầu được phân loại như thế nào Tại thời điểm này, O-RADS US là hệ thống phân loại duy nhất có đầy
đủ tất cả các nhóm nguy cơ và cách quản lý cho từng nhóm
@RSNA 2019
Chữ viết tắc
ADNEX: Assessment of Different Neoplasias in the Adnéa, CA-125= cancer antigen 125, IOTA: International Ovarian Tumor Analysis, O-RADS: Ovarian-Adnexal Reporting and Data System
Tóm lược
Hệ thống phân tầng nguy cơ, quản lý dữ liệu và báo cáo hình ảnh siêu âm u buồng trứng-phần phụ (O-RADS) dựa trên các thuật ngữ chuẩn, kết hợp chặt chẽ tất cả các tầng nguy cơ và đề nghị một chiến lược quản lý cho mỗi tầng nguy cơ
Kết quả then chốt
• Hệ thống phân tầng nguy cơ, 3 quản lý dữ liệu và báo cáo hình ảnh siêu âm buồng trứng-phần phụ (O-RADS) đề xuất một phương tiện để cung cấp cách đọc hình ảnh nhất quán và giảm thiểu những mơ hồ trong các kết quả siêu âm cho nguy cơ ác tính
• Những khuyến cáo này có chức năng hướng dẫn trong việc fquản lý nhóm bệnh nhân có sang thương phần phụ với nguy cơ trung bình mà không có triệu chứng cấp Quản lý trường hợp cá nhân có thể thay đổi dựa trên các quyết định của chuyên gia, bất chấp khuyến cáo của O-RADS
Trang 3• Các hướng dẫn bao gồm một bảng từ vựng cô đọng chỉ chứa những mô tả cần
có với mục đích làm cho dễ dàng và hiệu quả hơn trong việc việc ứng dụng các thuật ngữ trong hệ thống phân tầng nguy cơ
Giới thiệu
Việc mô tả chính xác các đặc điểm của những khối u buồng trứng và phần phụ khác
là thiết yếu cho việc tối ưu hóa trong quản lý bệnh nhân Theo dõi hoặc xử trí ít xâm lấn phù hợp cho những sang thương mà nhiều khả năng lành tính Ngược lại, khi nghi ngờ ác tính, bệnh nhân nên được tư vấn đến chuyên gia ung bướu phụ khoa bởi
vì điều này sẽ giúp kết cục tốt hơn (1-3) Mục đích cuối cùng là cần đạt được kết
cục trong điều trị ung thư buồng trứng tốt nhất trong khi giảm thiểu tối đa các can thiệp không cần thiết ở những bệnh nhân có nguy cơ ác tính thấp Cần xem
xét để giảm thiểu biến chứng liên quan phẫu thuật cũng như duy trì nguồn nội tiết cho những bệnh nhân có nguy cơ ác tính thấp Một nghiên cứu gần đây (4) ở những bệnh nhân có các khối u không triệu chứng được phân loại lành tính trên siêu âm ủng hộ việc theo dõi bệnh nhân hơn là can thiệp nhằm giảm biến chứng liên quan phẫu thuật cũng như chi phí chăm sóc y tế Một báo cáo đồng thuận bởi các chuyên gia đa ngành trong quản lý các khối phần phụ xuất bản năm 2017 (5) cũng kết luận rằng có thể tránh các phẫu thuật đối với những sang thương lành tính nhờ việc cải thiện trong đánh giá chúng trước mổ
Những nghiên cứu được xuất bản, cũng như đồng thuận của các chuyên gia, ủng hộ việc sử dụng các kiểu nhận diện sang thương bởi người siêu âm có kinh nghiệm là phương cách chính xác nhất trong phân biệt những sang thương lành và ác (6-10) Tuy nhiên, mức độ kinh nghiệm của những người làm siêu âm và đọc kết quả rất khác nhau (5) Đây là lý do cần cải thiện việc phân tầng nguy cơ bằng việc xây dựng những thuật toán đánh giá nguy cơ chuẩn và dựa trên chứng cứ
Trang 4Hiện ACOG cũng khuyến khích cần sử dụng siêu âm nhiều hơn, chi tiết hơn khi khảo sát đánh giá các tính chất của khối U buồng trứng Cần sự phối hợp chặt chẻ nếu kết quả nguy cơ cao dựa trên hệ thống phân loại nguy cơ chính thống như của nhóm IOTA Nhóm IOTA vừa mới phát triển những thuật ngữ và các định nghĩa dựa trên chứng cứ (12) được sử dụng trong hệ thống phân loại ‘luật đơn giản’ và mô hình ADNEX để phân biệt các khối phần phụ lành và ác (13-15) Luật đơn giản không thể phân loại tất cả các khối phần phụ là lành hoặc ác Nên một phương pháp chẩn đoán khác (như đánh giá bởi một chuyên gia siêu âm) cần được thực hiện để phân loại các khối không phân loại được trong khoảng 20% bệnh nhân, đó là giới hạn của luật này Tuy nhiên, 10 đặc điểm siêu âm ở quy luật này hiện được hợp nhất trong một mô hình toán học để tính toán mức độ khả dĩ ác tính (14) Mô hình toán học được ưa chuộng hơn của nhóm IOTA là mô hình ADNEX (15), không chỉ tính toán mức độ khả dĩ ác hay lành của một khối phần phụ mà còn tính độ khả dĩ của một khối là u giáp biên ác, ung thư xâm lấn nguyên phát giai đoạn I, ung thư xâm lấn nguyên phát giai đoạn II-IV, hoặc một khối di căn buồng trứng từ một u nguyên phát khác Mặc dù giá trị tiên đoán của những luật và mô hình này cao (và có giá trị bên ngoài và được sử dụng phổ biến ở Châu Âu), mức độ chấp nhận chúng bị giới hạn trong thực hành ở Hoa Kỳ và Canada Điều này có thể được lý giải do trường phái
Mỹ thích các kiểu nhận diện bởi người làm hơn là các mô hình tính toán (ADNEX), cũng như không có hướng dẫn chi tiết trong việc đánh giá nhiều sang thương mà hầu như lành
Những hệ thống mô tả đặc điểm và quản lý khối buồng trứng khác cũng được đề nghị, bao gồm tuyên bố đồng thuận của hội siêu âm SRU Society of Radiologists in Ultrasound (6); chỉ số kiểu hình của đại học Kentucky (16-18); và hệ thống dữ liệu
và báo cáo hình ảnh phụ khoa, GI-RADS (19) Tuyên bố đồng thuận của hội siêu âm (SRU), phổ biến ở Bắc Mỹ, hữu ích trong việc quyết định sang thương dạng nang
Trang 5nào đòi hỏi theo dõi, cần thêm phương tiện hình ảnh khác, hoặc phẫu thuật Tuy nhiên, tuyên bố này không bao gồm các thuật ngữ và định nghĩa chuẩn và không khuyến cáo trong việc quản lý các sang thương nguy cơ cao GI-RADS cũng không cung cấp tiêu chí khách quan cho tất cả các sang thương Chỉ số kiểu hình bởi nhóm đại học Kentucky định nghĩa những thuật ngữ kiểu hình khách quan mà khi kết hợp với thể tích khối u, ước đoán tốt cho những khối u buồng trứng ác tính từ dân số tầm soát ung thư buồng trứng, nhưng nó chưa được kiểm tra giá trị bên ngoài và chưa được chấp nhận rộng rãi Đó là lí do cần một công cụ báo cáo được sử dụng rộng khắp dựa trên các thuật ngữ phổ biến, cũng như hệ thống quản lý cho tất cả các tầng nguy cơ.
Bảng từ vựng hệ thống dữ liệu và báo cáo hình ảnh buồng trứng – phần phụ RADS) cho siêu âm (20) được xuất bản năm 2018, cung cấp một hệ thống từ vựng chuẩn bao gồm tất cả các mô tả và định nghĩa thích hợp của các đặc điểm siêu âm của buồng trứng bình thường và các sang thương buồng trứng hoặc phần phụ khác
(O-Hệ thống từ vựng dựa trên hội đồng thuận Xem xét những chứng cứ ủng hộ cho việc sử dụng các thuật ngữ khác nhau trong y văn đối với việc phân loại khối lành hay ác, các thành viên trong hội đồng đồng ý các thuật ngữ tương tự được sử dụng trong mô hình IOTA Chúng tôi kiểm tra các mô tả được sử dụng trong hệ thống từ vựng O-RADS từ bộ dữ liệu lớn của các nghiên cứu IOTA giai đoạn 1-3 để phân nhóm nguy cơ ác Những thuật ngữ hữu ích trong việc phân loại nguy cơ ác được đặt trong bản từ vựng cô đọng để phân tầng nguy cơ (Hình 1) Cuối cùng, với việc
sử dụng các nghiên cứu dựa trên chứng cứ khác trong y văn để đề xuất hướng dẫn chiến lược quản lý cho các nhóm sang thương bao gồm các sang thương lành như nang đơn giản, nang xuất huyết, nang bì, u lạc nội mạc, nang cạnh buồng trứng, nang vùi phúc mạc, ứ dịch tai vòi, và nhóm O-RADS, chúng tôi đề xuất hướng dẫn cho việc quản lý các nhóm nguy cơ Hướng dẫn được đề nghị là cách tiếp cận mang tính
Trang 6cộng tác, đa ngành, quốc tế cho cả Châu Âu và Bắc Mỹ Hướng dẫn bao gồm tất cả
các nhóm nguy cơ với chiến lược quản lý cái mà chưa được đề cập trong bất cứ hệ
thống nào trước đây
Nhóm sinh lý (buồng trứng sinh lý bình thường)
Nang noãn Nang đơn giản ≤ 3cm ở lứa tuổi sinh sản
Hoàng thể Nang thành dày ≤ 3cm, có thể có bờ trong răng cưa, có hồi âm,
Doppler màu bắt mạnh ở viền
Đôi khi là vùng giảm âm ở buồng trứng có tín hiệu mạch máu ngoại vi
mà không có đặc điểm dạng nang
Nhóm sang thương (không liên quan với sinh lý bình thường)
Đơn thùy, không thành
Nang đơn thùy có thành
phần đặc Giống như trên nhưng có thành phần đặc > 3mm
Đa thùy, không thành
đè ép
Đường kính lớn nhất Đường kính lớn nhất của sang thương ở bất kỳ mặt phẳng nào
Viền ngoài
Trơn láng Bờ ngoài đều
Không đều Bờ ngoài không đồng nhất Bờ ngoài đa thùy được xem là không
đều
Bên trong
Bóng lưng Ảnh giả do bị cản bởi cấu trúc hấp thu hoặc phản âm Thường liên quan đóng vôi hoặc mô
xơ
Bờ trong hoặc thành chứa thành phần đặc
Nhú hoặc nốt Thành phần đặc chiều cao ≥ 3mm, xuất phát từ thành hoặc vách
nang nhô vào bên trong Số lượng nhú nên được đề cập
Trang 7Đều Bờ trong đều, đồng nhất có thể gồm bờ trong của thành phần
đặc mà không phải là nhú
Không đều
Bờ không đều, không đồng nhất Có thể bao gồm thành không đều do vách không hoàn toàn, thành phần đặc < 3mm, nhú, viền của thành phần đặc hoặc bờ của bất kỳ vùng nang bên trong thành phần đặc
Bên trong, thành phần nang
Dịch trống âm Không có hồi âm hoặc bất kỳ cấu trúc nào
Thành phần tăng âm Vùng tăng âm nghĩ là phần mô buồng trứng bình thường và
không có bóng lưng
Liên quan nang bì hoặc sang thương xuất huyết
Mô tả lành tính “kinh điển” – xem định nghĩa hình 3
• Nang xuất huyết
Sử dụng tiêu chuẩn của nhóm IOTA Doppler phổ có thể được sử dụng để phân biệt dòng máu và ảnh giả
Mô tả lành tính “kinh điển” – xem định nghĩa hình 3
Giới hạn ở túi cùng Douglas, dưới mức đáy tử cung hoặc giữa
tử cung và bàng quang khi tử cung gập/ngã sau Báng bụng Dịch vượt qua đáy tử cung, khỏi túi cùng Douglas khi gập/ngã
trước, và trước/trên tử cung khi gập/ngã sau Khác Dày hoặc nốt phúc mạc Nốt hoặc dày lan tỏa nếp phúc mạc, bề mặt thành mạc, thường
liên quan carcinomatosis
Hình 1: Hình ảnh cho thấy những từ khóa thuật ngữ O-RADS trong đánh giá nguy
cơ IOTA= International ovarian tumor analysis
Trang 8Phương pháp phân tầng nguy cơ
Dựa trên ý kiến chuyên gia, nhóm O-RADS US định nghĩa 6 nhóm nguy cơ
• O-RADS 0, đánh giá chưa đầy đủ;
• O-RADS 1, nhóm chức năng (buồng trứng bình thường tuổi sinh sản);
• O-RADS 2, nhóm hầu như chắc chắn lành (<1% nguy cơ ác);
• O-RADS 3, nguy cơ ác thấp (1% đến 10%);
• O-RADS 4, nguy cơ ác trung gian (10% đến 50%);
• O-RADS 5, nguy cơ ác cao (≥ 50%)
Chúng tôi thực hiện phân tích hồi cứu bộ dữ liệu tiến cứu từ IOTA giai đoạn 1-3 để phân loại nguy cơ ác Trong những nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu đa trung tâm này, các bệnh nhân với sang thương phần phụ được tập hợp từ 24 trung tâm ở 10 quốc gia từ năm 1999 đến 2012 như sau: giai đoạn 1 (21) giữa năm 1999 đến 2002, giai đoạn 1b (22) giữa 2002 và 2005, giai đoạn 2 (23) giữa 2005 và 2007, và giai đoạn 3 (24) giữa 2009 và 2012 Tất cả các bệnh nhân được thực hiện khảo sát siêu âm chuẩn
sử dụng các thuật ngữ và định nghĩa của IOTA (12) và được phẫu thuật bởi nhà lâm sàng Trong tất cả 6169 bệnh nhân được ghi nhận trong bộ dữ liệu từ các giai đoạn
1, 1b, 2, và 3, chúng tôi loại 255 bệnh nhân (4.1%) (15) Tiêu chuẩn chọn vào và loại trừ chi tiết cũng như việc thu thập dữ liệu được xuất bản trong các nghiên cứu gốc (15,21-24) Thêm nữa, 9 bệnh nhân được loại ra do người khảo sát siêu âm không mô tả cụ thể loại u Kết quả cuối cùng có 5905 bệnh nhân đại diện cho bộ dữ liệu lớn nhất và kết quả mô học được sử dụng làm tiêu chuẩn tham chiếu (15) Dựa vào ý kiến chuyên gia của hội đồng, những đặc điểm của bảng được kết hợp để đại diện cho các nhóm u tương quan lâm sàng và được đặc vào các nhóm nguy cơ khác nhau dựa trên tỉ lệ hiện mắc ác tính tương ứng được tìm thấy ở bộ dữ liệu IOTA (bảng) Những nhóm thuật ngữ này kết hợp với các mô tả có thể được sử dụng để
Trang 9phân nhóm một số lớn các khối buồng trứng và phần phụ trên siêu âm Phân loại này bao gồm luôn cách quản lý dựa trên sự đồng thuận của các nhà phụ khoa, ung thư phụ khoa, và các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh trong nhóm O-RADS tạo ra nền tảng cho hệ thống phân loại O-RADS siêu âm (Hình 2,3)
Bảng: Dữ liệu IOTA giai đoạn 1-3 được sử dụng để định nghĩa phân loại O-RADS
Nang xuất huyết kinh điển ≥ 5 cm đến
U lạc nội mạc kinh điển < 10 cm 583 (9.9) 4 (0.7)
Nang đơn thùy trơn láng khác > 3 cm
Đa thùy trơn láng CS 1-3 < 10 cm 577 (9.8) 19 (3.3)
Trang 11Sau mãn kinh
> 5 cm và < 10 cm Theo dõi trong
8-12 tuần Sang thương lành kinh điển Xem hình 3 Xem hình 3
Nang đơn thùy không đơn giản, bờ trong trơn láng
≤ 3 cm
Không Theo dõi
trong 1 năm, nếu nghi SA chuyên gia hoặc MRI
> 3 cm và < 10 cm
Theo dõi trong
8-12 tuần, nếu nghi chuyên gia SA
Chuyên gia
SA hoặc MRI
3
Nguy cơ ác
tính thấp
[1 - <10%]
Nang đơn thùy ≥ 10 cm (đơn giản hoặc không)
Chuyên gia US hoặc MRI Quản lý bởi nhà phụ khoa
Nang bì điển hình, u lạc nội mạc, nang xuất huyết ≥ 10 cm Nang đơn thùy, bất kỳ kích thước với thành trong < 3mm
Nang đa thùy < 10 cm, thành trong trơn láng, CS = 1-3 Đặc trơn láng, bất kỳ kích thước, CS = 1
Chuyên gia US hoặc MRI Quản lý bởi nhà phụ khoa với tư vấn của nhà ung thư phụ khoa hoặc bởi nhà ung thư phụ khoa
Bất kỳ kích thước, thành trong trơn láng, CS=4
Bất kỳ kích thước, thành trong không đều và/hoặc vách
Trang 12không đều, bất kỳ thang điểm màu Nang đơn thùy có thành phần đặc Bất kỳ kích thước, 0-
3 nhú, CS=bất kỳ Nang đa thùy có thành phần đặc Bất kỳ kích thước,
Nang đơn thùy, bất kỳ kích thước, ≥ 4 nhú, CS = bất kỳ
Nhà ung thư phụ khoa
Nang đa thùy đặc, bất kỳ kích thước, CS = 3-4 Đặc trơn láng, bất kỳ kích thước, CS = 4 Đặc không đều, bất kỳ kích thước, CS = bất kỳ Báng bụng và/hoặc nốt phúc mạc**
Hình 2: Hình cho thấy hệ thống quản lý và phân tầng nguy cơ O-RADS US * = ít
nhất theo dõi 1 năm cho thấy không đổi hoặc giảm kích thước được khuyến cáo xem xét theo dõi hàng năm cho đến 5 năm, nếu ổn định Tuy nhiên, hiện tại chưa đủ chứng cứ cho thời gian theo dõi cụ thể ** = hiện diện báng bụng với nhóm sang thương 1-2, cần xem xét ung thư ác tính từ cơ quan khác hoặc nguyên nhân báng bụng không ác tính CS = thang màu, IOTA = nhóm phân tích u buồng trứng quốc
tế, N/A = not applicable
Trang 13Bảng thuật ngữ Định nghĩa Hướng xử trí PN chưa MK Hướng xử trí PN sau MK
Nang xuất huyết điển hình
Lưới: đường mỏng, các dải fibrin
Cục máu đông: vùng vô mạch phản âm bờ lõm, co kéo
≤ 5 cm Không
Chuyên gia SA, phụ khoa hoặc MRI
> 5 cm và < 10 cm Theo dõi 8 -12 tuần, nếu tồn tại hoặc lớn, chuyên gia SA, phụ khoa hoặc MRI
Chuyên gia SA, phụ khoa hoặc MRI
Nang bì điển hình < 10 cm
Tăng âm, có bóng lưng Đường hoặc chấm tăng
âm Cấu trúc tăng âm trôi
Theo dõi 8-12 tuần dựa vào độ
tự tin trong chẩn đoán Nếu không phẫu thuật, theo dõi
SA hàng năm * Chuyên gia SA hoặc MRI nếu tăng kích thước, thay đổi hình thái hoặc có thành phần mạch máu
Chuyên gia SA phụ khoa hoặc MRI
Nếu chẩn đoán tự tin, nếu không phẫu thuật, SA hàng năm * MRI nếu tăng kích thước, thay đổi hình thái hoặc có thành phần mạch máu
U lạc nội mạc điển hình <
10 cm
Phản âm kém kính mờ đồng nhất
Nang cạnh buồng trứng đơn
giản/bất kỳ kích thước
Nang đơn giản cách biệt buồng trứng, di động độc lập với buồng trứng khi
ấn đầu dò
Không Nếu không đơn giản, quản lý tiêu chuẩn buồng trứng
Theo dõi 1 năm
Nang vùi phúc mạc/bất kỳ
kích thước
Uốn theo cơ quan vùng chậu hoặc phúc mạc, không hiệu ứng khối và điển hình có vách Buồng trứng có thể được bao quanh bởi sang thương
Hình 3: Hình cho thấy hệ thống quản lý và phân tầng nguy cơ O-RADS cho những
sang thương lành kinh điển và những mô tả liên quan (O-RADS 2) * = hiện tại có
ít chứng cứ về thời gian theo dõi Chứng cứ ủng hộ tăng nguy cơ ác tính ở u lạc nội mạc sau mãn kinh
Trang 14Để phân nhóm một sang thương cụ thể, có hai chiến lược bổ sung nhau Một là có thể áp dụng những mô tả SA để khảo sát sang thương, nhận diện sang thương bởi chuyên gia siêu âm được xem là phương pháp chính xác nhất trong phân biệt sang thương lành và ác được thể hiện trong bảng từ vựng O-RADS US Cách khác, có thể ước đoán nguy cơ bằng cách sử dụng mô hình ADNEX IOTA (Hình 4), một mô hình toán học gồm 3 biến lâm sàng (tuổi bệnh nhân, trung tâm ung thư hoặc không, và
CA – 125) và 6 biến US (Hình 5) Kết quả từ công thức hồi quy logistic có thể được tính toán miễn phí tại https:// www.iotagroup.org/adnexmodel/ hoặc
https://www.evidencio.com/models/show/946) trên smartphones, hoặc tích hợp vào
hệ thống siêu âm Mô hình ADNEX đã được kiểm định giá trị bên ngoài thành công (25-27), bao gồm cả những người siêu âm ít kinh nghiệm (26)
Hình 4: Hình cho thấy sự sát nhập mô hình ADNEX vào hệ thống O-RADS
Trang 15Hình 5: Hình cho thấy đặc điểm US được sử dụng trong khảo sát mô hình ADNEX
Tóm tắt chiến lược quản lý và phân tầng nguy cơ O-RADS của ACR
Quan điểm chủ đạo
1 Các khuyến cáo trong xử trí các khối u buồng trứng và phần phụ nên được xem là
có chức năng hướng dẫn hơn là bắt buộc Một số trường hợp cá biệt, cách xử trí sẽ được thay đổi theo ý kiến đánh giá của chuyên gia, bất chấp khuyến cáo O-RADS siêu âm là gì
2 Hệ thống xử trí được dựa trên các bệnh nhân có nguy cơ bệnh lý mức độ trung bình, không có những triệu chứng cấp tính và không có yếu tố nguy cơ đặc biệt cho ung thư buồng trứng, như tiền sử gia đình nổi bật có ung thư buồng trứng hoặc đột biến gen BRCA Nếu các yếu tố này hiện diện, xử trí có thể khác
3 Sự tham gia của các chuyên gia siêu âm, là người thực hành siêu âm chuyên đánh giá các sang thương phần phụ, được thêm vào hệ thống O-RADS (5) Tuy nhiên,
Trang 16thời điểm hiện tại, không có các tiêu chuẩn yêu cầu hoặc hướng dẫn nào để định nghĩa một chuyên gia như vậy
4 Mỗi bệnh nhân sẽ được phân nhóm là trong độ tuổi sinh sản hoặc mãn kinh, nhóm mãn kinh được định nghĩa là nhóm không có kinh trong hơn 1 năm
5 Kích thước sang thương, một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá nguy cơ, đường kính nên được đo ở một mặt phẳng bất kì mà có đường kính sang thương lớn nhất
6 O-RADS chỉ ứng dụng cho những sang thương liên quan buồng trứng và vòi trứng Nếu sang thương ở vùng chậu chưa xác định nhưng nghi ngờ từ buồng trứng hoặc tai vòi, O-RADS vẫn có thể được áp dụng Nếu sang thương đã được xác định không thuộc buồng trứng và tai vòi, hệ thống O-RADS chỉ phù hợp trong trường hợp nang cạnh buồng trứng hoặc nang vùi phúc mạc và, nếu khác, không áp dụng
7 Khuyến cáo dựa vào siêu âm ngã âm đạo, tuy nhiên cũng có thể sử dụng đầu dò ngã bụng hoặc ngã trực tràng khi cần
8 Trong trường hợp nhiều sang thương hoặc hai bên, mỗi sang thương nên được mô
tả riêng, và xử trí nên dựa vào sang thương có thang điểm O-RADS cao nhất
Sự phân tầng nguy cơ được chia thành 6 nhóm cơ bản (O-RADS 0-5), với nhóm nguy cơ được phát triển bởi hội đồng dựa vào dữ liệu IOTA được mô tả ở phần
“phương pháp phân tầng nguy cơ” Các mục này được mô tả tiếp theo sau
Các nhóm O-RADS
O-RADS 0: đánh giá không đầy đủ do các yếu tố kỹ thuật như hơi ruột, sang thương
kích thước lớn, vị trí của phần phụ, hoặc không thể chịu được siêu âm ngã âm đạo (Hình 2,3)
Trang 17O-RADS 1: nhóm sang thương sinh lý liên quan đến độ tuổi sinh sản, bao gồm nang noãn và nang hoàng thể, được định nghĩa ở Hình 1 (cũng có thể thấy ở Hình 6,7)
Để tránh hiểu lầm, khuyến cáo kết quả siêu âm nên mô tả là nang noãn hay nang hoàng thể hơn là chỉ mô tả là nang Mặc dù được phân nhóm O-RADS 1 (buồng trứng bình thường), vài bệnh nhân, khi thấy thuật ngữ nang trong kết quả, có thể khó hiểu rằng nó không có bất thường
nang bên trong
Chỉ áp dụng cho phụ nữ trong độ tuổi sinh sản
Hình 6: Hình cho thấy nhóm O-RADS 1, buồng trứng bình thường