Với chế độ tỷ giá cố định, thâm hụt ngân sách và thươngmại lớn, dự trữ ngoại hối, đồng tiền bị định giá cao, hệ thống ngân hàng yếu kém và nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào dòng vốn từ bên
Trang 1
Tên đề tài:
Nghiên cứu đề xuất giảm giá từng bước VND để
kích thích kinh tế của nhóm nghiên cứ Harvard
GVHD: TS Nguyễn Thị Liên Hoa
Nhóm SVTH: TCDN 10_K32
Trương Ngọc Tín Lương Vũ Quang Trung
Nguyễn Ngọc Hoàng Phạm Thị Ngân Hà Đinh Thị Ngọc Thảo
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Tháng 05/2009
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
TP HCM, Ngày Tháng Năm 2009 Giảng viên hướng dẫn
Trang 3I Tổng quan bản thảo luận chính sách số 4 3
II Đề xuất giảm giá từng bước VND 6
Phần II
DIỄN BIẾN TỶ GIÁ NĂM 2008 – QUÝ I/2009.
I Giai đoạn đầu : (01/01/2008 – 25/03/2008): Tỷ giá liên tục giảm, dưới mức sàn 17
II Giai đoạn 2 (từ 26/03/2008 – 16/07/2008): Tăng với tốc độ chóng mặt tạo cơn sốt USD trên cả thị trường liên ngân hàng lẫn thị trường tự do 18
III Giai đoạn 3 (từ 17/07/2008 – 15/10/2008): Giảm mạnh và dần đi vào bình ổn 18
IV Giai đoạn 4 (cuối năm 2008): tỷ giá USD tăng trở lại 19
V Giai đoạn 5: (1/2009 đến nay) 19
Trang 4CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN BẢN THẢO LUẬN CHÍNH SÁCH SỐ 4 VÀ ĐỀ XUẤT GIẢM GIÁ TỪNG BƯỚC VND CỦA NHÓM NGHIÊN CỨU HARVARD
I Tổng quan bản thảo luận chính sách số 4:
Bản thảo luận chính sách số 4 của nhóm nghiên cứu Harvard được viết theoyêu cầu của Chính phủ Việt Nam nhằm phân tích tác động của khủng hoảng kinh
tế toàn cầu đối với nền kinh tế Việt Nam và đưa ra những khuyến nghị chính sáchgiúp chính phủ kích thích tăng trưởng và giảm thiểu rủi ro của khủng hoảng tàichính toàn cầu
Trong những bài thảo luận chính sách trước đây, nhóm nghiên cứu Harvard
đã chỉ ra rằng tình trạng bất ổn vĩ mô của Việt Nam xuất phát từ những nguyênnhân sâu xa bên trong và do vậy, phản ứng chính sách thích hợp phải là nhữngthay đổi có tính cơ cấu Trong bài thảo luận chính sách này, nhóm Harvard muốnchỉ ra rằng trong bối cảnh suy giảm kinh tế quốc tế ngày một sâu sắc thì nhu cầucải cách cơ cấu của Việt Nam lại càng trở nên cấp thiết Hơn nữa, họ lo ngại rằnggói kích thích tiền tệ và tài khoá do chính phủ đề xuất không những không đem lạitác động mong muốn mà còn có nguy cơ làm gia tăng lạm phát và rủi ro hệ thốngcho khu vực tài chính Với chế độ tỷ giá cố định, thâm hụt ngân sách và thươngmại lớn, dự trữ ngoại hối, đồng tiền bị định giá cao, hệ thống ngân hàng yếu kém
và nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào dòng vốn từ bên ngoài, Việt Nam không thểdập khuôn chính sách mở rộng tài khoá và tiền tệ của các nền kinh tế lớn nhưTrung Quốc, Mỹ và Anh Những chính sách thích hợp hơn cho tình hình hiện tạicủa Việt Nam bao gồm việc từng bước giảm giá VND, tái phân bố đầu tư côngcho các dự án thâm dụng lao động và không phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu vàthành lập Tổ công tác đầu tư công với nhiệm vụ đề xuất các giải pháp cải cáchnhằm đơn giản hoá cơ chế, thủ tục đầu tư công nhưng vẫn đảm bảo được tínhminh bạch và trách nhiệm giải trình
Vì vậy, Harvard khuyến nghị một nhóm các chính sách thay thế bao gồm việc từng bước giảm giá VND và điều chỉnh chương trình đầu tư công
Trang 5khuyến khích các dự án thâm dụng lao động và không phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu Ngay cả khi phải ứng phó với tình thế khẩn cấp thì chính phủ cũng
không được sao nhãng các mục tiêu dài hạn và cần đảm bảo rằng khi kinh tế thếgiới phục hồi thì vị thế cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam đã được chuẩn bị sẵnsàng để trở lại quỹ đạo tăng trưởng nhanh và bền vững Điều này đòi hỏi chínhphủ phải tiếp tục giải quyết các ách tắc cố hữu về cơ sở hạ tầng, lao động, thể chế
và giảm thiểu các rủi ro hệ thống
7 khuyến nghị của bản thảo luận chính sách số 4:
1 Từng bước giảm giá VND Việc giảm giá VND có kiểm soát so với
đồng tiền của các đối tác thương mại chính phải được tiến hành song song với việckiểm soát chặt thâm hụt ngân sách và theo dõi cẩn thận lãi suất tiết kiệm Ngânhàng Nhà nước phải truyền tải thông điệp chính sách một cách rõ ràng và thuyếtphục tới thị trường và công chúng, giúp họ có đủ thời gian và thông tin để điềuchỉnh hoạt động của mình
2 Xem xét lại ưu tiên của đầu tư công Chương trình đầu tư công của
Việt Nam phải tập trung vào những dự án thâm dụng lao động, không đòi hỏi phảinhập khẩu nhiều và giúp khắc phục những ách tắc chủ yếu trong nền kinh tế.Chính phủ nên tạm dừng các dự án thâm dụng vốn và phải nhập khẩu nhiều Các
dự án không có luận chứng kinh tế thuyết phục như lọc dầu và tổ hợp cảng cầnphải hủy bỏ
3 Thành lập tổ công tác đặc biệt về đầu tư công với nhiệm vụ đề xuất
những cải cách thủ tục liên quan tới quá trình hoạch định, xét duyệt, thực hiện vàđánh giá các dự án đầu tư công để giúp đẩy nhanh tiến độ giải ngân, đồng thời vẫnđảm bảo được tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và tỷ suất lợi nhuận nhấtđịnh
4 Ngừng cấp phép thành lập mới ngân hàng, công ty tài chính, bảo hiểm và đánh giá lại cơ cấu sở hữu của những tổ chức tài chính hiện hữu Đây
là lúc phải củng cố hệ thống tài chính bằng cách loại trừ việc cho vay trong nội bộ
Trang 6tập đoàn và các hành động tập trung quyền lực tài chính và rủi ro vào trong taymột vài tập đoàn lớn của nhà nước.
5 Không nên tăng thâm hụt ngân sách Thâm hụt ngân sách của Việt
Nam hiện đã ở mức rất cao Điều này có nghĩa là dư địa cho việc thực hiện góikích thích thông qua chính sách tài khóa là rất hạn chế và việc cho phép gia tăngthâm hụt ngân sách đồng nghĩa với mức rủi ro cao hơn đối với nền kinh tế
6 Không được đánh mất sự kiểm soát đối với tăng trưởng cung tiền và tín dụng Lạm phát đã giảm nhưng chưa hoàn toàn biến mất vì những nguyên
nhân có tính cơ cấu của nó chưa bị loại trừ Việc tăng tín dụng đột ngột sẽ làm lạmphát quay trở lại và khuyến khích nhập khẩu trong khi nguồn ngoại tệ để tài trợnhập khẩu của Việt Nam ở thời điểm này hạn chế Tín dụng tăng trưởng nhanhcũng có thể sẽ dẫn đến bong bóng tài sản, ảnh hưởng tới sự bền vững của tăngtrưởng Tất cả những phân tích này cùng dẫn đến một kết luận là dư địa cho việcthực hiện gói kích thích thông qua chính sách tiền tệ ở Việt Nam cũng khá hạnchế
7 Cần phải khuyến khích cạnh tranh Các doanh nghiệp của Việt Nam,
đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước, sẽ không thể có năng lực cạnh tranh trênthị trường thế giới nếu như không được tập dượt cạnh tranh trên thị trường nội địa.Những khó khăn kinh tế hiện thời không thể bị lợi dụng để quay trở lại nhữngchính sách phi cạnh tranh, chẳng hạn như hạn chế đấu thầu cạnh tranh và tăngquyền chỉ định định thầu cho các doanh nghiệp nhà nước
Chúng tôi xin nghiên cứu một trong 7 khuyến nghị mà nhóm nghiên cứuHarvard đặt ra đối với chính phủ Việt Nam, cũng là một lựa chọn của chính sách,
là từng bước giảm giá VND.
Trang 7II Đề xuất giảm giá từng bước VND:
Báo cáo nghiên cứu của Harvard nhận định, trong hai năm 2007 và 2008,Việt Nam đã tiếp nhận một lượng vốn rất lớn từ bên ngoài Đồng thời, để đạt mụctiêu tăng trưởng cao, Chính phủ đã không ngừng đẩy mạnh đầu tư Hệ quả của hai
sự kiện này làm thâm hụt ngân sách nặng nề, thâm hụt thương mại kỷ lục và nềnkinh tế trở nên quá nóng
Trong 3 năm 2006 - 2008, Việt Nam đã thu hút hơn 90 tỷ USD, chiếm 58% tổngvốn từ năm 1988 đến nay Đầu tư vào Việt Nam lên tới 34 tỉ USD trong năm 2008,chiếm 39% trong tổng sản lượng nội địa (GDP) và con số đầu tư này đã giảm sovới 45% của năm 2007, cùng lúc với nền kinh tế bị phát triển chậm lại
Nền kinh tế Việt Nam phát triển 6.3% trong năm 2008, dưới xa mục tiêu đề ra lúcđầu và giảm hẳn đi so với mức 8.5% trong năm 2007, cùng lúc lạm phát gia tăng19.9% và thâm thủng trong cán cân mậu dịch lên tới 20.6%, khoảng 17 tỉ USD.Việt Nam dự định tổng số đầu tư vào Việt Nam trong năm 2009 sẽ đều đặn vàchiếm khoảng 39.5% của GDP, mà nhà nước nhắm mục tiêu tăng trưởng kinh tếtrong năm 2009 sẽ là 6.5% Trong lúc Qũy Tiền tệ Quốc tế đã tiên đoán sự pháttriển kinh tế của Việt Nam trong năm tới chỉ sẽ là 5%
Theo tính toán của nhóm nghiên cứu, tỷ giá hiệu dụng thực của VND đã
giảm trong giai đoạn 2000 - 2003, nhưng sau đó đã tăng gần như liên tục (trừ mộtgiai đoạn giảm giá ngắn trong nửa đầu 2006) khi lạm phát bắt đầu tăng nhanh
Hình: Tỷ giá hiệu dụng thực REER ( là tỷ giá của VND so với đồng tiền của các đối tác thương mại chủ yếu sau khi đã điều chỉnh lạm phát) từ tháng 1/2000 cho tới tháng 9/2007
Trang 8Nguồn : Tổng cục Thống kê và Thống kê Tài chính Quốc tế (IMF)
Tỷ giá thực của VND vào thời điểm tháng 9/2008 đã cao hơn mức của tháng1/2000 là 20% và cao hơn mức của tháng 1/2004 tới 33% Và xu hướng tăng tỷ giáthực của VND vẫn được duy trì trong 3 tháng cuối năm 2008 do đồng USD mạnhlên so với đồng tiền khác: Đồng EURO giảm từ 1,62 xuống còn 1,30 mất giá20%, bảng Anh từ 2,0 xuống còn 1,44 mất giá gần 30%, Yên Nhật từ 180 đồngcòn 90 đồng mất giá 50%, nội tệ Thái Lan đã mất giá 16,1%, Rupee của Ấn Độmất giá 18%, Rupiah của Indonesia mất giá 14%, Peso của Philipinnes mất giá13% Trong khi đó VND tính đến 25/12/2008 chỉ mất giá 9,5%
Việc duy trì tỷ giá VND/USD khá ổn định trong thời gian qua đã dẫn tới việcVND lên giá so với các đồng tiền này Dễ dàng nhận thấy VND đã tăng so vớiđồng EURO khoảng 10%, với đồng tiền của một số nước trong khu vực từ 5-7%
Hơn nữa, các đối tác thương mại chủ yếu của Việt Nam là các nước thành viên ASEAN, Trung Quốc, Liên hiệp Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và Hoa Kỳ
Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong 5 năm liền.Việt Nam là thị trường lớn nhất của Trung Quốc ở khu vực Đông Nam Á về hợp
Trang 9đồng kỹ thuật Trong khi đó, ngày càng nhiều các doanh nghiệp Trung Quốc sangđầu tư ở thị trường Việt Nam.
Trong những năm gần đây, thương mại song phương giữa Trung Quốc và ViệtNam đã phát triển nhanh chóng và tổng kim ngạch thương mại song phương đã đạt19,46 tỉ đô la trong năm 2008, tức là tăng 28,8% một năm Trong đó kim ngạchxuất khẩu của Trung Quốc sang Việt Nam tăng 27,2% và đạt 15,12 tỉ đô la, vànhập khẩu đạt 4,34 tỉ đô tức là tăng 34,6%
Năm 2008 EU là đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Nam với tổngmức trao đổi thương mại đạt 14,23 tỷ USD EU còn là thị trường xuất khẩu lớn thứhai của Việt Nam, chiếm khoảng 19,32% tổng lượng hàng hóa xuất khẩu của ViệtNam và là nhà đầu tư lớn thứ hai xét về nguồn vốn được thực hiện (gần 5 tỷ USD),chỉ đứng sau Nhật Bản
VND đã trở nên quá mạnh so với các các đồng tiền của các đối tác thương mại chủ yếu là một nguyên nhân của tình trạng thâm hụt thương mại.
Vài số liệu về xuất nhập khẩu hàng hóa ở Việt Nam trong những năm gần đây.
Trang 11Cán cân thương mại trong những tháng cuối năm 2008 và đầu năm 2009 được cảithiện khá nhiều với tốc độ nhập khẩu giảm nhanh hơn đáng kể so với xuất khẩu.Sau tháng 1/2009 lần đầu tiên có thặng dư cán cân thương mại Theo báo cáo của
Bộ Công thương, trong 2 tháng đầu năm 2009, nước ta xuất siêu gần 300 triệuUSD Nhưng theo Trung tâm nghiên cứu phát triển: Xuất siêu 2 tháng đầu nămchủ yếu là xuất khẩu vàng, đá quý (gần 1 tỷ USD), nếu tách lĩnh vực này ra là trởthành nhập siêu Đấy là chưa kể, do nền kinh tế nước ta vẫn đang trong tình trạng
Trang 12khó khăn, sản xuất bị thu hẹp, dẫn đến nhu cầu đối với các mặt hàng là nguyênliệu, vật tư giảm sút nên nhập khẩu giảm
Khi đồng tiền được định giá cao, nhập khẩu sẽ trở nên rẻ hơn còn xuấtkhẩu trở nên đắt hơn, do vậy lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu sẽ giảm Là mộtnền kinh tế dựa nhiều vào xuất khẩu và ngày càng mở cửa đối với nhập khẩu nênViệt Nam không thể giữ tỷ giá thực của VND quá cao trong một thời gian quá dài,đặc biệt trong bối cảnh suy giảm toàn cầu năm 2009
Xuất khẩu của nước ta xấp xỉ bằng 80% GDP, điều này chứng tỏ xuất khẩu
có vị trí quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế Song những nền kinh tế lớn nhất làHoa Kỳ, EU, Nhật Bản - là những thị trường chiếm trên 50% kim ngạch xuất khẩucủa nước ta - lại đang lâm vào suy thoái, trên 40% là châu Á và châu Đại Dương,cũng là những khu vực chịu tác động mạnh của khủng hoảng, số còn lại là khu vựcchâu Phi và Trung Đông, khu vực chịu tác động ít hơn nhưng kim ngạch xuất khẩucủa ta vào khu vực này còn nhỏ
Trong bối cảnh Trung Quốc lại vừa giảm giá đồng Nhân dân tệ, áp lựctrước mắt mà ai cũng có thể thấy là hàng Trung Quốc giá rẻ, do không xuất đượcsang các nước phát triển nên đang đe dọa tràn sang Việt Nam
Cạnh tranh về giá trong bối cảnh suy thoái trở nên quyết liệt nhất và chính sách tỷ giá cần giúp định giá hàng Việt Nam cạnh tranh hơn trên thị trường thế giới.
Nhóm nghiên cứu cho rằng thâm hụt thương mại của Việt Nam hiện rấtcao Việc đơn giản tăng chi tiêu của Chính phủ trong khi giữ tỷ giá cố định sẽ nớirộng thâm hụt thương mại trong khi không giúp kích cầu nội địa đáng kể Khôngnhững thế, các doanh nghiệp trong nước sẽ phải chịu rủi ro cạnh tranh hàng nhậpkhẩu rẻ tiền
Kích cầu kinh tế là một trong năm nhóm giải pháp ngăn chặn nguy cơ suy thoái vàgiảm phát, được Chính phủ đề xuất từ cuối năm 2008 và bắt đầu triển khai từ đầu
2009
Trang 13Cuối năm 2008 Chính phủ công bố gói kích cầu 100.000 tỷ đồng (khoảng 6
tỷ USD).Cụ thể, Chính phủ sẽ không thu về khoản 20.000 tỷ đồng tạm ứng của cácDNNN năm ngoái; phát hành thêm khoảng 20.000 tỷ đồng trái phiếu chính phủ;
để lại thuế thu nhập doanh nghiệp, hoãn, giãn, miễn giảm thuế chưa thu khoảng20.000 tỷ đồng; khoản 30.000 tỷ đồng vốn đầu tư ngân sách năm ngoái chưa giảingân hết sẽ tiếp tục được sử dụng trong nửa đầu năm 2009
Bên cạnh đó, Chính phủ sẽ nới bảo lãnh cho doanh nghiệp tiếp cận vốn quốc tế,ước khoảng 1,2 - 2 tỷ USD phục vụ cho đầu tư, mua sắm thiết bị có lợi cho quốc
kế dân sinh (tận dụng cơ hội mặt bằng giá trên thế giới đang thấp)
Chính phủ dùng 1 tỷ USD (tương đương 17.000 tỷ đồng) từ dự trữ ngoạihối quốc gia để hỗ trợ giảm 4% lãi suất vốn vay lưu động ngắn hạn cho doanhnghiệp trong năm 2009 Với số tiền hỗ trợ này, dự kiến có khoảng 600.000 tỷ đồngvốn vay ưu đãi được bơm ra nền kinh tế
Cho đến hết tháng 2/2009 thì hầu hết các biện pháp trong gói kích thíchkinh tế của Chính phủ đã được công bố và có hướng dẫn thực hiện để đi vào hiệulực, trong đó biện pháp cho vay bù lãi suất được hưởng ứng mạnh mẽ bởi ngânhàng và doanh nghiệp Từ đầu tháng 2/2009 tới giữa tháng 3/2009, khoảng 93.027
tỷ đồng vốn kích cầu của Chính phủ đã được giải ngân
Mặc dù vậy, vẫn còn hai điểm lo ngại lớn về hiệu quả và khả năng thực thi của góikích cầu:
(1) Khi thị trường tiêu thụ (thế giới và trong nước) bị thu hẹp, thì các doanhnghiệp dù có vay được nhiều vốn giá rẻ nhưng lại không được đưa vào sản xuấthiệu quả, có thể tạo nguy cơ cho nền kinh tế, trước tiên là lạm phát Giảm lãi suất
để doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất kinh doanh là tốt, song trong bối cảnh suythoái, tiêu dùng sụt giảm, doanh nghiệp khó tìm đầu ra, lượng hàng hóa làm ra cónguy cơ tồn đọng
(2) Khả năng huy động nguồn vốn lớn cho Ngân sách nhằm tài trợ gói kíchcầu thông qua phát hành Trái phiếu chính phủ hiện là một bài toán khó
Trang 14Vài sự kiện quan trọng:
Ngày 6/11/2008, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quyết định
số 2635/QĐ-NHNN, cho phép các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoạihối nới rộng biên độ tỷ giá cho giao dịch mua bán giao ngay USD từ ± 2% lên ±3% so với tỷ giá bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàngNhà nước công bố
Ngày 25/12/2008 Ngân hàng Nhà nước nâng tỷ giá giao dịch liên ngânhàng lên 3% (thực chất là giảm giá VND 3%) tức là ở mức 16.988 VNĐ/USD.Ngay lập tức, tỷ giá giao dịch của các ngân hàng thương mại bị đẩy lên trần biên
độ giao dịch 3%, tức là gần đạt mức 17.500 VNĐ/USD cho thấy sẽ cần thêm
những đợt nới rộng tỷ giá tiếp theo Nhóm nghiên cứu đánh giá quyết định trên
là một sự khởi đầu đúng hướng.
Nhưng trên thực tế nhà nhập khẩu vẫn phải chạy hụt hơi theo tỷ giá, muốn muaUSD thậm chí với giá cao cũng khó khăn Vì thế, đã xuất hiện một số trường hợpcác ngân hàng thương mại thực hiện việc kết hợp nhiều công cụ phái sinh nhưcách "bắc cầu" để đưa việc mua bán USD trực tiếp thành việc trao đổi hay muabán các sản phẩm khác nhằm đưa giá USD cao hơn biên độ nhưng không bị vướngquy định
Vì vậy, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ngày 18/3/2009 có công văn số
1819 về việc chấn chỉnh hoạt động mua bán ngoại tệ Theo đó, Ngân hàng Nhànước cấm các ngân hàng thương mại áp dụng các hình thức nhằm lách luật để muabán USD cao hơn biên độ cho phép
Cụ thể, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định, các Tổ chức tín dụng đượcphép hoạt động ngoại hối không được sử dụng kết hợp các công cụ phái sinh nhằmmục đích mua bán đôla Mỹ giao ngay với tỷ giá cao hơn trần biên độ do Ngânhàng Nhà nước quy định
Ngày 24/3/2008 Ngân hàng Nhà nước tiếp tục mở biên độ tỷ giá cho giaodịch mua bán giao ngay USD là ± 5%, ngoài việc khuyến khích xuất khẩu, Ngân
Trang 15hàng Nhà nước còn có ý hạn chế việc kinh doanh trên thị trường không chínhthức, tạo linh động hơn cho ngân hàng.
Cảnh giác những rủi ro
Chính sách giảm giá VND có kiểm soát là cần thiết, nhưng nhóm nghiên cứu cũngđưa ra một số rủi ro liên quan mà Chính phủ Việt Nam cần cảnh giác nếu theođuổi chính sách đó
Rủi ro thứ nhất là nhiều doanh nghiệp của Việt Nam đã vay USD từ các
ngân hàng trong nước và quốc tế Nếu nguồn thu nhập chính của họ bằng VND vàphải trả nợ bằng USD thì khi tỷ giá USD/VND tăng, lợi nhuận của các doanhnghiệp này sẽ giảm, thậm chí một số trường hợp có thể không trả được nợ và ngânhàng phải chịu thêm nợ xấu Việc giảm giá VND quá nhanh sẽ tạo nên một cú sốcrất lớn trên thị trường, nhất là với doanh nghiệp nhập khẩu trong đó có các doanhnghiệp nhập khẩu nguyên liệu sản xuất đầu vào Điều này sẽ có hại cho nền kinhtế
Khối lượng nợ bằng USD của các DN Việt Nam, hiện nay là gần 20 tỉ USD, làtương đối cao Các DN sẽ phải trả cho ngân hàng bằng USD, mà nếu điều chỉnh tỷgiá nghiêng về phá giá VND, sẽ tạo nên gánh nợ mới cho các doanh nghiệp Hiệnnay, việc tạo thêm gánh nặng cho họ như vậy, càng đẩy họ đến khó khăn hơn
Việc áp dụng chính sách này sẽ đặt một gánh nặng lớn lên vai của ngân hàng Nhànước, đòi hỏi một lộ trình tái cấu trúc toàn diện tổ chức này Ngoài ra, ngân hàngNhà nước cần truyền tải thông điệp chính sách rõ ràng, thuyết phục tới thị trường
và công chúng, để họ có đủ thời gian và thông tin nhằm điều chỉnh hoạt động củamình
Vì lý do trên, khuyến nghị đưa ra là việc điều chỉnh tỷ giá nên tiến hành theo từngbước và Ngân hàng Nhà nước phải phát đi những tín hiệu rõ ràng để những người
đi vay ngoại tệ có thời gian điều chỉnh
Thứ hai là rủi ro về lạm phát Việc phá giá VND so với USD sẽ tác
động tương đối tiêu cực đến nỗ lực kiềm chế lạm phát vốn thành công trong năm
2008 Rủi ro lạm phát tăng trở lại có thể khiến chính sách điều chỉnh tăng tỷ giá có
Trang 16thể sẽ trở nên thận trọng hơn, do tỷ giá tăng sẽ làm tăng giá các mặt hàng nhậpkhẩu, sẽ làm tăng chi phí đầu vào cho sản xuất, nền kinh tế sẽ chịu một cú sốccung tiêu cực vì giá cả sẽ tăng, đẩy lạm phát tăng cao.
Giá nội tệ giảm làm hàng nhập khẩu trở nên đắt hơn một cách tương đối Khi đó,nếu các nhà sản xuất trong nước có thể cung cấp những hàng hóa thay thế hàngnhập khẩu với giá rẻ hơn thì người tiêu dùng và doanh nghiệp sẽ chuyển sang muanhững hàng hóa này Tuy nhiên, thực tế là nhiều hàng hóa mà người dân và doanhnghiệp cần trong nước lại chưa sản xuất được, hay sản xuất được nhưng có mứcgiá cao hơn hay chất lượng thấp hơn hàng nhập khẩu Kết quả là nền kinh tế sẽnhập khẩu lạm phát từ bên ngoài khi VND giảm giá
“Đây là một nguyên nhân khiến cho việc tăng thâm hụt ngân sách tại thời điểmnày trở nên rất rủi ro Nếu áp lực lạm phát cao trở lại, việc giảm giá VND sẽ dẫntới tình trạng leo thang giá cả Đối với một nền kinh tế nhỏ và mở như Việt Nam,chính sách giảm giá đồng nội tệ tỏ ra hợp lý hơn việc gia tăng thâm hụt ngân sách.Nếu hai điều này xẩy ra cùng một lúc thì lạm phát sẽ còn tăng nhanh hơn nữa”,nhóm nghiên cứu nhận định
Thứ ba, Khi hạ giá cũng phải tính đến mối tương quan giữa lãi suất
VND với USD và tỷ giá của những ngoại tệ khác so với USD nếu không nó sẽ tác
động xấu tới tâm lý người gửi tiền và hệ thống tài chính Tỷ giá USD/VND có thể
bị “tăng quá mức” khi người trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài mất niềm
tin vào khả năng quản lý cung tiền của các cơ quan điều hành chính sách tiền tệ.Người dân và doanh nghiệp sẽ tranh mua ngoại tệ mạnh hay vàng khi đồng nội tệbắt đầu mất giá Vì thế nhiều năm qua lãi suất tiền gửi VND luôn được duy trì ởmức cao hơn lãi suất USD
Nếu tính huống đó xảy ra, hệ quả mà nhóm nghiên cứu đề cập tới là “trong nỗ lựcbảo toàn tài sản, người ta có thể chấp nhập trả một mức giá cao bất thường miễn làmua được ngoại tệ, và không một mức lãi suất nào đủ cao để kéo họ trở lại vớiđồng nội tệ”
Với lý do trên, Chính phủ không thể vừa cắt lãi suất, vừa giảm giá đồng tiền.Người tiết kiệm VND phải được hưởng lãi suất cao hơn để bù đắp cho việc VND
Trang 17mất giá Nói cách khác, tốc độ giảm giá hàng năm của VND phải phản ánh sựkhác biệt về lãi suất tiết kiệm giữa USD và VND.
Phần II
Trang 18DIỄN BIẾN TỶ GIÁ NĂM 2008 – QUÝ I/2009
I Giai đoạn đầu : (3 tháng đầu năm từ 01/01/2008 – 25/03/2008):
Trong giai đoạn 3 tháng đầu năm, tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân
hàng liên tục sụt giảm (từ mức 16.112 đồng xuống 15.960 đồng Mức thấp nhất là15.560 đồng/USD) Trên thị trường tự do, dao động từ mức 15.700 – 16.000 đồng/USD
Chênh lệch lãi suất lớn giữa USD và VND
Các nhà đầu tư đẩy mạnh việc bán USD chuyển qua VND Các nhà đầu tư nướcngoài tập trung đầu tư vào Trái phiếu Chính phủ Việt Nam (1,4 tỷ USD), cácdoanh nghiệp xuất khẩu vay USD để phục vụ sản xuất kinh doanh…Các NHTMlúc này cũng đẩy mạnh bán USD
II Giai đoạn 2 (từ 26/03 – 16/07):
Trang 19Tỷ giá USD/VND tăng với tốc độ chóng mặt tạo cơn sốt USD trên cả thị trường liên ngân hàng lẫn thị trường tự do.
Trong giai đoạn này, tỷ giá tăng dần đều và đột ngột tăng mạnh từ giữa tháng
6, đỉnh điểm lên đến 19.400 đồng/USD vào ngày 18/06, cách hơn 2.600 đồng sovới mức trần Tâm lý hoang mang cộng với động thái đầu cơ của giới buôn ngoại
tệ trên thị trường tự do đẩy USD cùng với giá vàng tăng mạnh lên gần 19 triệuđồng/lượng
Sau ngày 18/06 tỷ giá giảm dần Ngày 27/06, NHNN tăng biên độ USD/VND từ1% lên 2%
Diễn biến tỷ giá USD/VND năm 2008 - Nguồn: BIDV
Nguyên nhân
Nhu cầu mua ngoại tệ trả các khoản nợ của cả DN xuất và nhập khẩu đến hạn cao.Cung ngoại tệ thấp do NHNN không cho phép cho vay ngoại tệ đối với doanhnghiệp xuất khẩu để giảm hiện tượng doanh nghiệp xuất khẩu vay ngoại tế bán lạitrên thị trường.Tăng nhập khẩu vàng do chênh lệch lớn giữa giá vàng trong nước
và quốc tế
Nhà ĐTNN bắt đầu rút vốn khỏi Việt nam bằng việc bán TPCP (Do lo ngại vềtình hình kinh tế và do tình hình thanh khoản thấp trên thị trường thế giới đẩy nhucầu mua USD chuyển vốn về nước lên cao (bán ròng 0,86 tỷ USD).)
Tâm lý bất ổn của doanh nghiệp và người dân khi thấy cầu USD tăng nhanh cànglàm cho nhu cầu USD lên cao hơn
III Giai đoạn 3 (từ 17/07 – 15/10): Tỷ giá giảm mạnh và dần đi vào bình ổn.
Tỷ giá giảm mạnh từ 19.400 đồng/USD xuống 16.400 đồng/USD và giaodịch bình ổn quanh mức 16.600 đồng trong giai đoạn từ tháng 8 – tháng 11
Nguyên nhân
Khi cơn sốt USD đã ở mức báo động, lần đầu tiên trong lịch sử, NHNN đãcông khai công bố dự trữ ngoại hối quốc gia 20,7 tỷ USD khi các thông tin trên thịtrường cho rằng USD đang trở nên khan hiếm
Trang 20Đồng thời lúc này, NHNN đã ban hành một loạt các chính sách nhằm bình
ổn thị trường ngoại tệ như kiểm soát chặt các đại lý thu đổi ngoại tệ (cấm mua bánngoại tệ trên thị trường tự do không đăng ký với các NHTM), cấm mua bán USDthông qua ngoại tệ khác để lách biên độ, cấm nhập khẩu vàng và cho phép xuấtkhẩu vàng; bán ngoại tệ can thiệp thị trường thông qua các NHTM lớn
IV Giai đoạn 4 (cuối năm 2008)
Tỷ giá USDVND tăng đột ngột trở lại từ mức 16.600 lên mức cao nhất là16.998 sau đó giảm nhẹ Giao dịch nằm trong biên độ tỷ giá Tuy nhiên cung hạnchế, cầu ngoại tệ vẫn lớn Sau khi NHNN tăng biên độ tỷ giá từ 2% lên 3% trongngày 7/11/2008, tăng tới mức 17.440 đồng/USD
Nguyên nhân:
Trong khoảng thời gian từ tháng 10 - tháng 11, nhà đầu tư nước ngoài đẩymạnh việc bán ra chứng khoán trong đó bán trái phiếu (700 triệu USD), cổ phiếu(100 triệu USD) Nhu cầu mua ngoại tệ của khối nhà đầu tư nước ngoài tăng caokhi muốn đảm bảo thanh khoản của tổ chức tại chính quốc
Nhu cầu mua USD của các ngân hàng nước ngoài cũng tăng mạnh (khoảng 40triệu USD/ngày)
Cầu USD trên thị trường tự do tăng cao bởi khi NHNN không cho phépnhập vàng thì hiện tượng nhập lậu vàng gia tăng, làm tăng cầu USD để nhập khẩu(do USD là đồng tiền thanh toán chính)
NHNN bán hơn 1 tỷ USD cho các NHTM đáp ứng nhu cầu nhập khẩu một
số mặt hàng thiết yếu
V Giai đoạn 5: (1/2009 đến nay)
Nhìn chung từ đầu tháng 1/2009 đến giữa tháng 2/2009, tỷ giá USD/VND không
có biến động mạnh - tăng giảm trong khoảng 17.480 đến 17.490 VND/USD
Nguyên nhân phần lớn là do có sự can thiệp của nhà nước
Những ngày đầu tháng 1/2009 nhu cầu vay vốn bằng ngoại tệ của doanhnghiệp đã giảm hẳn sau khi các NH áp dụng chương trình vay vốn được bù 4% lãisuất Cơ chế bù lãi suất chỉ áp dụng cho các trường hợp vay vốn bằng VND,không áp dụng cho trường hợp vay vốn bằng USD Các doanh nghiệp đã tính toán,vay USD vừa phải lo lắng về biến động tỉ giá lại không được bù lãi suất Từ đó,doanh nghiệp đã dừng vay vốn bằng USD để chuyển sang vay VND, số đã vayđến hạn trả nợ, không vay thêm làm số dư vốn vay USD giảm
Trang 21Đầu ra của USD ở nước ngoài bị thu hẹp dần.
Như vậy, gói kích cầu đã làm cho cầu đồng nội tệ tăng, vì các NHTM cầnVND để cho vay nên lãi suất huy động VND tăng,làm giá VND tăng Đồng thời,gói kích cầu cũng làm cho nhu cầu USD giảm, lãi suất huy động USD giảm, làmcho giá USD giảm
Nhưng, đến tuần thứ ba (16/2 – 20/2/2009), tỷ giá lại biến động
Nguyên nhân:
Tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng vẫn không đổi, nhưng trên thị trường tự
do tỷ giá USD/VND có nơi đã lên đến 18.000đ Do việc chênh lệch tỷ giá giaodịch giữa ngân hàng và thị trường tự do đã khiến cho những người dân hay doanhnghiệp có USD không bán cho các ngân hàng mà bán trên thị trường tự do Dẫnđến tình trạng trong hệ thống ngân hàng đã xảy ra tình trạng thiếu USD, khiến chonhiều người có nhu cầu không thể đổi được ngoại tệ
Như vậy đã có chênh lệch khá cao giữa tỷ giá niêm yết và tỷ giá giao dịchphi chính thức Vấn đề này có thể buộc Ngân hàng Nhà nước có những chính sáchnâng tỷ giá hoặc nới rộng biên độ trong thời gian tới
Ngày 18/3/2009, Thống đốc NHNN Việt Nam có công văn số1819/NHNN-QLNH về việc chấn chỉnh hoạt động mua bán ngoại tệ.)
Thứ nhất, các Tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối không được
sử dụng kết hợp các công cụ phái sinh nhằm mục đích mua bán đô la Mỹ giaongay với tỷ giá cao hơn trần biên độ do NHNN quy định
Thứ hai, tăng cường kiểm tra, thanh tra việc tuân thủ các quy định về hoạtđộng mua bán ngoại tệ và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm
Tỷ giá đồng USD trên thị trường liên ngân hàng do đang còn giữ trần sovới quy định của NHNN nên có những điều chỉnh giá giảm cùng tỷ giá tham khảo.Phần lớn các ngân hàng hiện nay vẫn giữ giá mua ngang với giá bán xuống quanhmức 17.482 đồng Rất nhiều ngân hàng đang trong tình trạng khan hiếm USD khinhiều khách hàng muốn mua USD sẽ phải chờ đợi thanh toán theo hợp đồng
Ngày 24/3, biên độ mới của tỷ giá giữa USD với VND của Ngân hàng Nhànước chính thức có hiệu lực, nới từ +/-3% lên +/-5% Trong ngày đầu tiên ápdụng, tỷ giá bình quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố được giữnguyên ở mức 16.980 VND; giá niêm yết của các ngân hàng thương mại phổ biếndưới mức trần khoảng 50 VND
Trang 22Từ ngày 25/3 đến 1/4, tỷ giá bình quân liên ngân hàng liên tục giảm mạnh,đặc biệt từ ngày 29/3 với mức giảm từ 7 - 11 VND mỗi ngày giao dịch; tính chung
đã giảm 37 VND trong khoảng thời gian trên; mức áp dụng trong ngày 1/4 chỉ còn16.943 VND Đây cũng là đợt điều chỉnh giảm mạnh và liên tục nổi bật nhất kể từđầu năm
Cho đến ngày 11/05/2009 tỷ giá liên ngân hàng là: 16.930 VND