Nếu như trên thế giới hệ thống chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh nổi tiếng McDonald phục vụ Coca-Cola đi kèm với thức ăn thì ở tại Việt Nam chuỗi cửa hàng luôn có mặt các sản phẩm của Peps
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH KHOA THƯƠNG MẠI – DU LỊCH – MARKETING
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM NƯỚC GIẢI KHÁT CỦA CÔNG TY PEPSICO VIỆT
NAM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
GVHD: GV Nguyễn Văn Trưng SVTH: Nguyễn Thị Kim Thơ Lớp: Maketing 01 Khóa: 33
STT: 48
LỜI MỞ ĐẦU
TP Hồ Chí Minh , ngày 19 tháng 06 năm 2009
Trang 2Cùng với sự phát triển của nền công nghiệp trên thế giới nói chung cũng như
ở Việt Nam nói riêng, sản phẩm công nghiệp cũng phát triển nhanh hơn, hàng hoá tiêu dùng đa dạng hơn, dịch vụ phục vụ cho con người cũng tăng lên nhanh chóng Cùng với sự phát triển này, đời sống của con người cũng tăng lên, tốt hơn so với trước đây Nhưng đi kèm với sự tiến bộ này, con người ngày càng phải sống nhanh hơn, vội hơn trong guồng quay không ngừng của sự phát triển công nghiệp Trong
xu thế này, nước giải khát có gas cũng như 1 số sản phẩm không có gas khác vẫn là sự lựa chọn số một cho người tiêu dùng bởi vì nó giúp giải khát rất nhanh, được bày bán ở nhiều nơi, giá cả phù hợp cho người tiêu dùng Chính vì vậy, mặc dù đã trải qua hơn 100 năm phát triển nhưng Pepsico vẫn không có dấu hiệu chựng lại Nếu như trên thế giới hệ thống chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh nổi tiếng McDonald phục vụ Coca-Cola đi kèm với thức ăn thì ở tại Việt Nam chuỗi cửa hàng luôn có mặt các sản phẩm của Pepsico như: KFC, Jolibee, Lotteria… Chính vì vậy nên đòi hỏi công ty Pepsico phải có chiến lược thật hợp ly mới có được chỗ đứng lâu dài ở thị trường Việt Nam nói chung và thị trường tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
Tại sao người Việt Nam thích sản phẩm của công ty Pepsico? Làm thế nào
để công ty Pepsico có thể chiến thắng các nhãn hàng nước giải khát khác ? Để làm được điều này thì cần phải nghiên cứu thật kỹ chiến lược sản phẩm của công ty Pepsico tai thị trường Việt Nam nói chung va thị trường nước giải khát tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Để có thể biết rằng đâu là thế mạnh mà công ty
Pepsico nên phát triển và đâu là măt yếu kém mà công ty Pepsico cần khắc phục
Đó là lý do em chọn đề tài phân tích chiến lược nước giải khát của công ty pepsico Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN XÉT
Trang 3………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
MỤC LỤC
1.1Khái niệm sản phẩm và chiến lược sản phẩm Trang 01 1.1.1 Khái niệm sản phẩm và các phân loại sản phẩm Trang 01
1.1.2 Khái niệm chiến lược sản phẩm và vai trò của nó Trang 02
Trang 41.2Nội dung chiến lược sản phẩm Trang 021.2.1 Quyết định liên quan đến đặc tính sản phẩm Trang 021.2.2 Thiết kế bao bì sản phẩm Trang 031.2.3 Dịch vụ hỗ trợ sản phẩm Trang 032.1 Tổng quan về ngành nước giải khát tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Trang 042.1.1 Thực trạng ngành hàng nước giải khát tại thành phố Hồ Chí Minh Trang 042.1.2 Phân tích sơ lược 1 vài đối thủ cạnh tranh về sản phẩm nước giải khát Trang 08
của công ty Pepsico Việt Nam
2.2 Sơ lược về công ty Pepsico Việt Nam Trang 13
2.2.2 Thị trường kinh doanh của công ty Pepsico Trang 17
2.2.3 Lược sử hình thành và phát triển của công ty Pepsico Việt Nam: Trang 202.2.4 Thị trường kinh doanh của Công ty Pepsico Việt Nam tại thành phố Trang 20
Hồ Chí Minh2.3 Phân tích chiến lược sản phẩm nước giải khát của công ty Pepsico Việt Nam Trang 21tại thành phố Hồ Chí Minh
2.3.1 Pepsi Trang 212.3.2 7 – UP Trang 222.3.3 7 – UP REVIVE Trang 232.3.4 7 – UP H2OH Trang 232.3.5 MIRINDA Trang 242.3.6 STING Trang 242.3.7 EVERVESS Trang 242.3.8 TWISTER TROPINACA Trang 252.3.9 LIPTON ICE TEA Trang 252.3.10 LIPTON PURE GREEN Trang 252.3.11 AQUAFINA Trang 262.3.12 BODY NATURALS Trang 262.4 Đánh giá chiến lược sản phẩm nước giải khát của công ty Pepsico Việt Nam Trang 27tại thành phố Hồ Chí Minh
2.5 Phân tích Swot đối với chiến lược sản phẩm nước giải khát của công ty Trang 28Pepsico Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh
2.6 Một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện chiến lược sản phẩm nước Trang 29giải khát của công ty Pepsico Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh
2.6.1 Các kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện chiến lược sản phẩm Trang 29
nước giải khát của Công ty PepsoCo Việt Nam2.6.2 Các kiến nghị và giải pháp đối với các chiến lược hỗ trợ cho chiến Trang 29
lược sản phẩm nước giải khát của Công ty PepsiCo Việt Nam
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM
1.1 Khái niệm sản phẩm và chiến lược sản phẩm
Chiến lược sản phẩm là một bộ phận quan trọng trong chiến lược Marketing của doanh nghiệp Thực hiện tốt chiến lược sản phẩm sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc triểnkhai và phối hợp các công cụ Marketing khác nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất
Trang 51.1.1 Khái niệm sản phẩm và các phân loại sản phẩm
1.1.1.1 Khái niệm sản phẩm
Sản phẩm là bất cứ thứ gì có thể đưa vào một thị trường để đạt được sự chú ý, sự chấp nhận, sử dụng hoặc tiêu thụ, có khả năng thỏa mãn được một ước muốn hay một nhu cầu
Sản phẩm có thể tồn tại dưới dạng vật chất hay phi vật chất, bao gồm hàng hóa, dịch
vụ, con người, nơi chốn, tổ chức, hoạt động, tư tưởng hay sự hứa hẹn thỏa mãn một hay nhiều nhu cầu của thị trường ở một thời điểm cụ thể
Với quan điểm trên thì sản phẩm được cấu thành từ 4 mức độ:
Sản phẩm cốt lõi: là phần thể hiện lợi ích hoặc dịch vụ cụ thể của sản phẩm đó.Sản phẩm cụ thể: là dạng cơ bản của sản phẩm đó, bao gồm 5 yếu tố: đặc điểm, nhãn hiệu, bao bì, chất lượng, kiểu dáng của sản phẩm
Sản phẩm gia tăng: bao gồm những dịch vụ lợi ích phụ thêm để phân biệt với sản phẩm, của các đối thủ cạnh tranh, đó là các vật phẩm trang bị them nơi phục vụ, dịch vụ sau bán, bảo hành, giao hàng và cho hưởng tính dụng
Sản phẩm tiềm năng: là nững giới hạn vượt ra khỏi cung cách cạnh tranh thong thường
nó vạch ra tương lai mới cho sự phát triển của sản phẩm
1.1.1.2 Phân loại sản phẩm
a Theo mục đích sử dụng của người mua hàng: có 2 loại
Hàng tiêu dùng: là những mặt hàng thỏa mãn nhu cầu cá nhân hay gia đình, có thể bao gồm hàng mua thường ngày, hàng mua có đắn đo, hàng đặc hiệu và hàng hóa thiết yếu
Hàng tư liệu sản xuất: là những mặt hàng phục vụ cho sản xuất và chế biến của các doanh nghiệp, bao gồm nguyên liệu và phụ kiện, các thiết bị cơ bản và các vật tư cung ứng, dịch vụ bảo trì, sửa chữa, tư vấn phục vụ việc kinh doanh
b Theo thời gian sử dụng: có 2 loại
Hàng bền: là những hàng hóa thường được sử dụng rất nhiều lần
Hàng không bền: là những hàng hóa thường chỉ qua 1 lần hay vài lần sử dụng
c Theo đặc điểm cấu tạo: có 2 loại
Sản phẩm hữu hình: là những sản phẩm mà người ta có thể thấy, nếm, sờ, nghe hoặc ngửi được trước khi mua
Dịch vụ: là những hoạt động, ích lợi hay những cách thỏa mãn nhu cầu khác được đưa ra và chào bán Các dịch vụ thì không cụ thể, không đồng nhất không tách bạch ra được giữa sản xuất và tiêu dùng và không thể dự trữ được
d Theo tính chất phức tạp của các loại sản phẩm: có 2 loại
Hàng đơn giản: là những hàng hóa không đa dạng như 1 số mặt hàng nông sản phẩm
Trang 6Hàng phức tạp: là những hàng hóa có nhiều chủng loại, kiểu, cỡ, màu sắc khác nhau như những mặt hàng công nghệ phẩm.
1.1.2 Khái niệm chiến lược sản phẩm và vai trò của nó
1.1.2.1 Khái niệm chiến lược sản phẩm
Chiến lược sản phẩm là sự gắn bó của sự lựa chọn và những biện pháp phải sử dụng
để xác định một tập hợp sản phẩm bao gồm các dòng sản phẩm và các món hàng sao cho phù hợp với từng thị trường và phù hợp với từng giai đoạn khác nhau trong chu kỳ sống của sản phẩm đó
Hay là định hướng và quyết định liên quan đến sản xuất và kinh doanh sản phẩm trên
cơ sở bảo đảm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng trong từng thời kỳ hoạt động kinh doanh và các mục tiêu Marketing của doanh nghiệp
1.1.2.2 Vai trò của chiến lược sản phẩm
Chiến lược sản phẩm đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong chiến lược Marketing:Chiến lược sản phẩm là công cụ cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp
Thực hiện tốt chiến lược sản phẩm thì các chiến lược định giá, phân phối và chiêu thịmới triển khai và phối hợp một cách hiệu quả
Triển khai chiến lược sản phẩm là một trong những yếu tố giúp doanh nghiệp thực hiện tốt các mục tiêu Marketing được đặt ra trong tửng thời kỳ
Trong quá trình thực hiện chiến lược sản phẩm, doanh nghiệp thường xuyên phân tích và ra các quyết định liên quan đến:
Kích thước tập hợp của sản phẩm
Nhãn hiệu sản phẩm
Quyết định về chất lượng
Vấn đề thiết kế bao bì sản phẩm
Dịch vụ hỗ trợ cho sản phẩm
Phát triển sản phẩm mới
Các quyết định trong từng giai đoạn của chu kỳ sống sản phẩm
1.2 Nội dung chiến lược sản phẩm
1.2.1 Quyết định liên quan đến đặc tính sản phẩm
1.2.1.1Quyết định chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm là tổng thề những chỉ tiêu và đặc trưng của sản phẩm thể hiện được sự thỏa mãn trong điều kiện tiêu dùng xác định, phù hơp công dụng sản phẩm
Để đảm bảo chất lượng sản phẩm trong quá trình sản xuất –kinh doanh, niềm tin của khách hàng về chất lượng sản phẩm và uy tín của mình, doanh nghiệp quản lý rất chặt chẽ
1.2.1.2 Đặc tính sản phẩm
Những đặc điểm thể hiện chức năng sản phẩm và tạo sự khác biệt khi sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp
Các doanh nghiệp thường nghiên cứu thị trường, hành vi khách hàng để đưa vào sản phẩm những đặc tính mới Ví dụ: điện thoại Nokia Nseries chơi nhạc chuyên nghiệp của tập đoàn Nokia trong năm 2005, …
Trang 71.2.1.3 Thiết kế sản phẩm
Những yếu tố nêu trên thể hiện khả năng thiết kế của sản phẩm, thiết kế sản phẩm bảo đảm tính chất, kiểu dáng, công dụng và độ tin cậy của sản phẩm
Một sản phẩm có thiết kế tốt không chỉ thể hiện ở hình thức của nó mà còn giúp cho người mua cảm thấy an toàn, sử dụng dễ dàng, thuận tiện, hưởng được những dịch vụ tốt,doanh nghiệp đạt hiệu quả cao trong quá trình sản xuất, kinh doanh sản phẩm
1.2.2 Thiết kế bao bì sản phẩm
Thiết kế bao bì là những hoạt động liên quan đến việc thiết kế và sản xuất những bao gói hay đồ đựng sản phẩm
1.2.2.1 Các thành phần của bao vì sản phẩm
Bao bì tiếp xúc: Lớp bao bì trực tiếp đựng hoặc gói sản phầm
Bao bì ngoài: Nhằm bảo vệ lớp bao bì tiếp xúc, bảo đảm an toàn cho sản phẩm và giatăng tính thẩm mỹ cho bao bì
Bao bì vận chuyển: Được thiết kế để bảo quản, vận chuyển sản phẩm thuận tiện Mộtthành phần không thể thiếu trên bao bì là nhãn và thông tin gắn trên bao bì là nhãn và thông tin gắn trên bao bì hoặc sản phẩm thuận tiện
1.2.2.2 Những chức năng cơ bản của bao bì sản phẩm
Cung cấp cho khách hàng những thông tin cần thiết về sản phẩm như thông tin về nhà sản xuất, hướng dẫn sử dụng, thành phần sản phẩm, thời hạn sử dụng…
Bao bì giúp bảo vệ sản phẩm không bị hư hỏng, biến chất trong quá trình vận
chuyển, tiêu thụ sản phẩm
Bao bì thể hiện hình ảnh về nhãn hiệu, công ty, thể hiện ý tưởng định vị của sản phẩm
Tác động vào hành vi khách hàng qua hình thức, màu sắc và thông tin trên bao bì
1.2.3 Dịch vụ hỗ trợ sản phẩm
Dịch vụ hỗ trợ ảnh hưởng tới ảnh hưởng đến nhận thức của khách hàng về sản phẩmcủa doanh nghiệp Tùy thuộc vào đặc tính sản phẩm, đặc điểm sử dụng và yêu cầu của khách hàng mà dịch vụ cung ứng cho khách hàng có thể khác nhau
Các doanh nghiệp có thể lựa chọn những dịch vụ sau để hỗ trợ cho sản phẩm:
Bảo hành, bảo trì và sửa chữa sản phẩm
2.1 Tổng quan về ngành nước giải khát tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
2.1.1 Thực trạng ngành hàng nước giải khát tại thành phố Hồ Chí Minh
Trang 8Các công ty nước giải khát trong nước đang chuyển dịch mạnh sang sản xuất các sản phẩm nước trái cây thiên nhiên và nước uống bổ dưỡng, giảm tỷ trọng nước uống có gas.Trong những năm gần đây có sự cạnh tranh sản phẩm giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Chiếm lĩnh thị trường nước giải khát tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay vẫn là hai đại gia Coca-Cola và Pepsi Cola (chiếm hơn 60% thị phần cả nước), còn lại thị trường của các đơn vị sản xuất trong nước như Tân Hiệp Phát (THP), TRIBECO, BIDRICO… Do áp lực cạnh tranh trên thị trường, khiến các doanh nghiệp không ngừng tung ra các sản phẩm mới và thay đổi chiến lược sản xuất; trong đó có việc giảm tỷ trọng sản xuất nước giải khát có gas.
Hình 1: Thị phần nước giải khát (ĐVT: %) tại TP Hồ Chí Minh năm 2008 [Nguồn
TNS Việt Nam]
Thị trường xuất khẩu nước giải khát, đặc biệt là các loại nước ép hoa quả, nước uống
bổ dưỡng đã tăng trưởng nhanh chóng trong vài năm trở lại đây Giá trị xuất khẩu nước uống bổ dưỡng chiếm trên 60% tổng giá trị xuất khẩu nước giải khát Ngành nước giải khát đã chiếm được một thị phần lớn tại các thị trường cao cấp như: Hà Lan, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Anh, Canada, Singapre, Trung Quốc Các doanh nghiệp nước giải khát có nhiều sản phẩm xuất khẩu phải kể đến như: Công ty CP thực phẩm Đồng Giao, Công ty Yến sào Khánh Hòa, Công ty CP Nước giải khát TRIBECO…
Nhìn chung, các công ty có công suất lớn trong nước hoặc có vốn đầu tư nước ngoài đều đầu tư dây chuyền sản xuất tiên tiến, tự động hóa như Tân Hiệp Phát, TRIBECO, Dona Newtower… Tuy nhiên, vẫn còn nhiều cơ sở nước giải khát quy mô nhỏ, đầu tư chắp vá, thiếu đồng bộ, dẫn đến không đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm
Trang 92.1.1.1 Thực trạng thị trường nước giải khát có gas tại thành phố Hồ Chí Minh
Thị trường nước giải khát có gas tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay khá sôi động với nhiều tên tuổi lớn đã thành công trong ngành cũng như những tên tuổi mới nổi lên.Ngành hàng nước giải khát có gas hương Cola tại thành phố Hồ Chí Minh phải kể đến 2 tên tuổi lão làng là Coca-Cola và Pepsi Cola Đây là 2 “đại gia” đang chiếm phần lớn thị phần của ngành hàng này Đứng trước thực trạng các công ty nước ngoài chiếm lĩnh hầu như toàn bộ thị trường này, các công ty trong nước đã nhảy vào cuộc Trong số
đó phải kể đến Công ty Tribeco Tribeco được người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh biết đến qua sản phẩm sữa đậu nành đóng chai Trong những năm đầu thập niên 90,
có thể nói Tribeco cũng là một đại gia tại thì trường nước giải khát có gas, nhưng đến khi Pepsi được phép đầu tư vào Việt Nam thì mãnh đất màu mỡ này đã bị Pepsi giành trọn (Thời điểm đó Coca-Cola chưa được cấp phép đầu tư vào Việt Nam) Đến tháng 2 năm
1994, Mỹ bãi bỏ cấm vận Việt Nam thì khi đó Coca-Cola chính thức có mặt tại thị trườngViệt Nam Trở lại thời điểm hiện tại, với sự cạnh tranh không phân thắng bại của hai đại gia Pepsi và Coke (tên gọi khác của Coca-Cola) thì miếng bánh Cola sẽ phải được phân chia lại
Ngành hàng nước giải khát có gas “Uncola” (Không phải hương cola) cũng không kém phần sôi động và kịch tính Coca-Cola có Sprite, thì Pepsi có 7-Up, Coca-Cola có Fanta thì Pepsi có Mirinda, Pepsi có Sting thì Coca-Cola có Samurai Diet Pepsi phải đối đầu với Diet Coke của Coca-Cola, Schweppes của Coke phải đương đầu với sự cạnh tranh của Evervess thuộc Pepsi Coca-Cola có sản phẩm nào thì Pepsi sẽ có sản phẩm đấy Tribeco cũng không nằm ngoài cuộc chiến này, Tribeco cũng có đầy đủ các sản phẩm Uncola của mình là Tribeco cam, Tribeco xá xị, Tribeco chanh và Tribeco Soda Bên cạnh đó, phải kể đến một tên tuổi cũng khá nặng ký của lĩnh vực nước khoáng nhưngcũng nhảy vào chiếm lĩnh “mãnh đất uncola” này đó là Vĩnh Hảo, khi thương hiệu này tung ra 3 loại sản phẩm nước uông có gas là nước ngọt Vĩnh Hảo hương cam, hương chanh và hương xá xị, với sự bảo trợ là sản phẩm dựa “trên nền khoáng Vĩnh Hảo” Nói đến nước ngọt hương xá xị tại thành phố Hồ Chí Minh mà không nói đến Xá xị Chương Dương là một thiếu xót lớn Chương Dương là một thương hiệu có từ lâu đời, được thànhlập năm 1952, tiền thân là nhà máy USINE BELGIQUE, thuộc tập đoàn BGI (Pháp quốc) Trước năm 1975, là nhà máy sản xuất nước giải khát lớn nhất miền Nam Việt Nam Năm 1977 nhà máy được tiếp quản và trở thành nhà máy quốc doanh với tên gọi Nhà máy nước ngọt Chương Dương Từ năm 1993 là công ty nước giải khát Chương Dương Năm 2004, Công ty chuyển thành Công ty Cổ phần Nước giải khát Chương Dương Tân Hiệp Phát cũng không từ bỏ sân chơi béo bỡ này, THP Group tham gia thị trường với hầu như đầy đủ sản phẩm uncola
Ngành hàng nước giải khát có gas “tăng lực” cũng không mấy yên bình khi cuộc chiến giữa các “đại gia” còn chưa phân thắng bại Có thể nói Red Bull là một tên tuổi đáng gờm trong lĩnh vực này, xuất hiện đầu tiên tại Việt Nam nói chung và thị trường thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, Red Bull (Bắt nguồn từ Thái nhưng được Áo phát triển
ra toàn thới giới) đã sớm lấy được lòng của khách hàng Nhưng do sản phẩm chỉ có dạng lon và giá cũng tương đối cao (trên 5000/lon) nên nắm bắt được yếu điểm ấy, THP Group
đã tung ra Number 1 dạng chai thủy tinh, với mức giá rẻ hơn Number 1 được phân phối
Trang 10đến hầu hết các cửa hàng, từ các quán café sang trọng cho đến quán cóc ven đường, chính
vì lẽ đó nên Number 1 đã sớm có được thị trường của mình mà không phải đối mặt trực tiếp với Red Bull Cũng từ sự thành công của Number 1 nên sau đó THP “thừa thắng xông lên” tung ra một loạt các sản phẩm khác với sự bảo trợ của nhãn hàng Number 1
(Các sản phẩm đều gắn với nhãn Number 1, và có cùm từ “Sản phẩm của Number 1”)
như Number 1 Đậu nành, Nước tinh khiết Number 1,… có đến 7 sản phẩm khác nhau mang nhãn Number 1 Nhưng không phải tất cả các sản phẩm mang nhãn Number 1 cũnggặt hái được thành công trên thị trường, minh chứng cho điều này là Number 1 Cola sau khi ra mắt một thời gian ngắn đã “Quất ngựa truy phong” Không đứng ngoài sân chơi nước giải khát tăng lực, 2 vị Coke và Pepsi cũng nhảy vào với các sản phẩm được xây dựng một cách bài bản như Sting của Pepsi và Samurai của Coca-Cola Nhưng trong cuộc đua này, nhờ vào sự định vị đúng đắn nên Sting đã có phần hơn Đạt được điều này là do Pepsi tung ra một sản phẩm tăng lực dành cho cả 2 giới – Sting dâu tây đỏ Trước
đó, các nhà sản xuất đã không chú ý đến thị trường ngách này nên Pepsi đã chiếm lĩnh, không chỉ do có cái nhìn đúng đắn về thị trường mà do đã kết hợp được chiến lược sản phẩm với một chiến dịch Maketing phù hợp Còn về phần Sumurai của Coke thì cũng không phải thất bại mà cũng chẳng mấy thành công như Sting của Pepsi Giải thích cho điều này là do Coke đã không định vị cho Samurai một vị trí thích hợp và rõ ràng, ngoài
ra các chiến dịch hỗ trợ cho sản phẩm này cũng đã không thật sự thành công, ghé một quán café nhỏ hoặc một quán cóc mà gọi một chai Samurai thì sẽ ít khi nào có được! Tuy nhiên, Samurai không chết vì là “con” của một thương hiệu lớn là Coke, và Coke đã có một lượng “fan cuồng nhiệt” của mình nên phần nào đó các “fan” này dã cứu vớt cho anhchàng Samurai! Bên cạnh đó Samurai còn có dạng gói tiện dụng nên có thể chiếm được lòng của một số khách hàng muốn “tăng lực” mà không phải uống nước ngọt có gas
2.1.1.2 Thực trạng thị trường nước giải khát không gas tại thành phố Hồ Chí Minh
Về thực trạng ngành hàng nước giải khát không gas tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay cũng không kém phần sôi động Sự sôi động này được đưa lên đến đỉnh điểm khi THP tung ra sản phẩm trà xanh uống liền đóng chai với nhãn hiệu Không Độ
Thị trường các sản phẩm giải khát không gas vốn bình lặng hơn so với thị trường nước giải khát có gas, nhưng nay điều ấy đã không hoàn toàn đúng đắn nữa Nhờ tìm được hướng đi đúng đắng cũng như phát hiện được thị trường ngách trong ngành hàng này mà THP đã thành công khi cho ra đời sản phẩm Không Độ Được biết trước đó, Công
ty URC (trực thuộc Tập đoàn URC Quốc Tế) đã cho ra thị trường nước giải khát C2, nhưng vì là một tên tuổi khá mới cùng với một thương hiệu nước ngoài ít được người tiêudùng biết đến nên C2 đã không được phổ biến như mong đợi của URC Trước tình hình
đó, Pepsi và Unilever – 2 gã khổng lồ trong ngành nước giải khát và thực phẩm đã nhảy vào cuộc với một nhãn hiệu khá lạ mà cũng khá quen Lạ vì cái tên Pure Green – Xanh thanh khiết, quen vì cái tên Lipton (Thương hiệu trà trên 100 năm kinh nghiệm về các sảnphẩm được chế biến từ trà), đó chính là sản phẩm trà xanh Lipton Pure Green với 2 hương vị Trà xanh Hương Chanh tươi mát và Trà xanh Chanh Mật Ong dịu mát Có thể nói, từ khi Pepsi nhảy vào cuộc chơi này thì miếng bánh béo bỡ - trà xanh đóng chai đã được chia lại, không còn riêng về URC hay THP Tribeco và Wonderfarm cũng đứng ngoài cuộc chơi Công ty Cổ phần nước giải khát Sài Gòn (Tribeco) cho ra thị trường
Trang 11ngay lập tức Trà xanh 100, với sự hỗ trợ của 2 tên tuổi lớn trong ngành thực phẩm là Kinh Đô và UniPresident Còn Wonderfarm thì nhảy vào với sản phẩm Trà xanh Green Tea +.
Hình 2 Thị phần Trà xanh đóng chai (ĐVT: %) tại TP.HCM năm 2008 [Nguồn
ACNeilsen VN]
Các chương trình dùng thử sản phẩm của các nhãn hàng rầm rộ khắp nơi, nào là thử Lipton Pure Green tại các trường học, Trà xanh 100 tài các trục đường lớn và các Siêu thị,… người tiêu dùng phải đặt ra câu hỏi là “tại sao đi đâu cũng thấy thấp thoáng hai chữ
trà xanh?” Một bên thì nào là tăng sức đề kháng, bên kia cũng không kém cạnh với
chống lại quá trình lão hóa, một bên thì từ những lá trà Thái Nguyên chọn lọc, bên nọ thì 100% những lá trà non,… không ngờ bắt nguồn từ thói quen của người tiêu dùng – thói quen uống trà, mà đã nảy sinh ra một cuộc chiến có một không hai trong “lịch sử ngành hàng nước giải khát không gas” thế đó!
Quay trở lại với nước giải khát không gas hiện có trên thị trường thành phố Hồ Chí Minh, ngoài sản phẩm trà xanh khuấy động thị trường thì phải kể đến các sản phẩm nước
ép trái cây và các sản phẩm có nguồn góc từ thiên nhiên như Vinamilk với các sản phẩm mang nhãn V-Fresh, từ V-Fresh sữa đậu nành đến V-Fresh Cam, V-Fresh Táo, V-Fresh Cà Chua,… và Vinamilk lặp hẳn một trang Web cho nhãn hàng này tại địa chỉ www.V-Fresh.com.vn Đó là chưa kể đến các sản phẩm nước ép trái cây từ các công ty nước ngoài được nhập và bán tại các chợ và siêu thị tại thành phố Hồ Chí Minh Các đại gia như Coke hay Pepsi cũng tham gia phân chia miếng bánh nước ép này vơi 2 sản phẩm Splash (của Coke) và Twister (của Pepsi) Splash với khẩu hiệu “Không phải tép cam nào
Trang 12cũng như nhau” cong Twister thì “sánh vàng ngàn tép cam tươi” V-Fresh được nhắc ở trên với câu slogun “Nguồn sống từ đất mẹ” Và gần đây nhất là trà thảo mộc dr Thanh của THP với chiến lược quảng cáo sản phẩm thật đáng sợ.
Có thể nói, thị trường nước giải khát tại thành phố Hồ Chí Minh không lúc nào không sôi động, từ ngành hàng nước giải khát có gas đến ngành hàng nước giải khát không gas,
từ các sản phẩm Cola truyền thống đến các sản phẩm Uncola, từ nước tăng lực đến nước
ép trái cây, đến sữa đậu nành,… không ngành hàng nào không có sự cạnh tranh và giành giật thị trường lẫn nhau
Tóm lại, với một cái nhìn tổng quan về thị trường nước giải khát tại thành phố Hồ ChíMinh thì nêu lên như thế có thể chưa toàn diện về nó, nhưng với những nét phát họa như trên ta có thể hình dung được một phần nào về thị trường sôi động này
2.1.2 Phân tích sơ lược 1 vài đối thủ cạnh tranh về sản phẩm nước giải khát của
công ty Pepsico Việt Nam.
2.1.2.1Công ty TNHH Coca – Cola Việt Nam
Lịch sử Công ty TNHH Coca – Cola Việt Nam
1960: Lần đầu tiên Coca-Cola được giới thiệu tại Việt Nam
Tháng 2 năm 1994: Coca-Cola trở lại Việt Nam và bắt đầu quá trình kinh doanh lâu dài
Tháng 8 năm 1995: Liên Doanh đầu tiên giữa Coca-Cola Đông Dương và công ty Vinafimex được thành lập, có trụ sở tại miền Bắc
Tháng 9 năm 1995: Một Liên Doanh tiếp theo tại miền Nam mang tên Công
ty Nước Giải Khát Coca-Cola Chương Dương cũng ra đời do sự liên kết giữa Coca-Cola và công ty Chương Dương của Việt Nam
Tháng 1 năm 1998: Thêm một liên doanh nữa xuất hiện tại miền Trung - Coca-Cola Non Nước Đó là quyết định liên doanh cuối cùng của Coca-Cola ĐôngDương tại Việt Nam, được thực hiện do sự hợp tác với Công ty Nước Giải Khát Đà Nẵng
Tháng 10 năm 1998: Chính Phủ Việt Nam đã cho phép các Công ty Liên Doanh trở thành Công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài Các Liên Doanh của Coca-Cola tại Việt Nam lần lượt thuộc về quyền sở hữu hoàn toàn của Coca-Cola Đông Dương, và sự thay đổi này đã được thực hiện trước tiên bởi Công ty Coca-Cola Chương Dương – miền Nam
Tháng 3 đến tháng 8 năm 1999: Liên doanh tại Đà Nẵng và Hà Nội cũng chuyển sang hình thức sở hữu tương tự
Tháng 6 năm 2001: Do sự cho phép của Chính phủ Việt Nam, ba Công ty Nước Giải Khát Coca-Cola tại ba miền đã hợp nhất thành một và có chung sự quản lý của Coca-Cola Việt Nam, đặt trụ sở tại Quận Thủ Đức – Thành Phố Hồ Chí Minh
Từ ngày 1 tháng 3 năm 2004: Coca-Cola Việt Nam đã được chuyển giao cho Sabco, một trong những Tập Đoàn Đóng Chai danh tiếng của Coca-Cola trên thế giới
Các sản phẩm công ty Coca-Cola Việt Nam kinh doanh tại thị trường thành phốHồ Chí Minh
Trang 13Coca-Cola Việt Nam kinh khá đầy đủ các sản phẩm nước giải khát, từ có gas đếnkhông gas, từ hương Cola đến Uncola, từ dạng đóng chai thủy tinh đến dạng đóng gói tiện dụng Dưới đây là danh mục các sản phẩm mà Coca-Cola Việt Nam kinh doanh tại Thị trường thành phố Hồ Chí Minh:
Coca-Cola - Chai thủy tinh, lon, và chai nhựa
Fanta Cam - Chai thủy tinh, lon, và chai nhựa
Fanta Dâu - Chai thủy tinh, lon, và chai nhựa
Sprite - Chai thủy tinh, lon, và chai nhựa
Fanta Trái Cây - Chai thủy tinh, lon, và chai nhựa
Diet Coke - lon
Schweppes Tonic - Chai thủy tinh, lon
Schweppes Soda Chanh - Chai thủy tinh, lon, và chai nhựa
Crush Sarsi - Chai thủy tinh, lon
Nước đóng chai Joy - Chai PET 500 ml và 1500 ml
Nước uống tăng lực Samurai - Chai thủy tinh, lon và bột
Sunfill Cam - Bột trái cây
Sunfill Dứa - Bột trái cây
2.1.2.2 Công ty TNHH TM – DV Tân Hiệp Phát (THP Group)
Lược sử hình thành và phát triển của THP Group
Tập đoàn Tân Hiệp Phát có tiền thân là Nhà máy bia và nước giải khát Bến Thành được hình thành vào đầu thập niên 90 Trải qua 15 năm, với những nỗ lực xây dựng và phát triển không ngừng, đến nay tập đoàn Tân Hiệp Phát đã tạo dựng được một cơ ngơi với đầy đủ tiện nghi cùng thiết bị dây chuyền sản xuất hiện đại vào bậc nhất Đông Nam
Á, cho ra các sản phẩm chất lượng cao với các thương hiệu : Number 1, Bia Laser, Bia Bến Thành, Bia Gold Bến Thành,Trà xanh 00, Number 1 Active, đã khẳng định được vịtrí của mình trên thị trường Bia & Nước giải khát và đã nhận được sự tín nhiệm và yêu thích của người tiêu dùng
Năm 1994, Tập đoàn Tân Hiệp Phát tung ra thị trường 3 sản phẩm mới đó là Bia chai
- Bia Hơi Bến Thành và bia tươi Flash, khởi đầu cho sự phát triển quy mô thị trường ngày càng lớn Bia Bến Thành luôn đạt danh hiệu “Hàng Việt Nam chất lượng cao” liên tục từ năm 1998 đến nay
Năm 2001, cùng với chiến lược tiếp thị độc đáo bằng các chiến dịch quảng cáo " Number 1 sắp có mặt tại Việt Nam" Tập đoàn THP đã làm được điều kì diệu chưa từng
có cho sản phẩm này là đạt kỷ lục "Sản phẩm đứng vào hàng Top 5" trên toàn Việt Nam chỉ trong vòng 3 tháng sau khi có mặt trên thị trường
Năm 2002, nhằm đa dạng hóa sản phẩm mới và đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng ngày càng cao của đông đảo khách hàng, Tập đoàn THP đã đưa ra thị trường cũng dưới nhãn hiệu nổi tiếng Number 1, các loại nước giải khát có gaz với những hương vị độc đáoriêng như Number 1 Cola, Cam và Cream Soda
Tháng 12/2003 lần đầu tiên, người tiêu dùng Việt Nam biết đến sản phẩm “Bia Tươi"được đóng chai là bia Laser Sản phẩm bia Laser được sản xuất bởi dây chuyền công nghệ hiện đại bậc nhất Đông Nam Á, và là sản phẩm bia tươi đóng chai đầu tiên tại Việt Nam, mở ra một trang sử mới cho ngành Bia Việt Nam
Trang 14Tháng 10/2004, sản phẩm sữa đậu nành dưới thương hiệu Number 1 tiếp nối ra đời và một lần nữa, sữa đậu nành Number 1 đã khẳng định là một loại sữa có thương hiệu hàng đầu tại Việt Nam với sự đón nhận nồng nhiệt của khách hàng.
Tháng 10/2005, sau một thời gian nghiên cứu, Tập đoàn THP đã tung ra thị trường một sản phẩm mang tên bia Gold Bến Thành, gắn liền với những hình ảnh gần gũi của người tiêu dùng như sự may mắn, sự thành công, sự chia sẻ trong cuộc sống đời
thường.Gold Bến Thành với những thông điệp “Mừng cho khí thế” “Rửa cho hoành tráng”, “Khao cho xứng đáng” đã đi đầu trong việc khai thác xu hướng cảm xúc mới của người tiêu dùng trong phân khúc thị trường đầy tiềm năng này
Các sản phẩm của THP Group
Bia
o Bia Bến Thành chai thủy tinh
o Bia Gold Bến Thành chai thủy tinh
o Bia Laser chai thủy tinh
o Bia Hơi can
Nước tăng lực
o Nước tăng lực Number 1 chai thủy tinh, lon
o Nước tăng lực Number 1 Dâu chai thủy tinh, lon
o Nước tăng lực Number 1 Chino chai thủy tinh
Trà xanh
o Trà xanh Không Độ Chanh chai thủy tinh, chai nhựa
o Trà xanh Không Độ Không Đường chai nhựa
o Trà xanh Không Độ Chanh Mật Ong chai thủy tinh, chai nhựa
o Trà xanh Không Độ Fruite Táo/ Dâu chai nhựa
Trà Thảo mộc Dr.Thanh chai nhựa
Trà Barley chai nhựa và hợp giấy
Trà Bí Đao Không Độ chai thủy tinh, chai nhựa và lon
Sữa đậu nành
o Sữa Đậu nành Number 1chai thủy tinh
o Sữa Đậu nành Number 1 Bắp chai thủy tinh
o Sữa Đậu nành Number 1 Dâu chai thủy tinh
o Sữa Đậu xanh Number 1 chai thủy tinh
Number 1 Active chanh muối chai nhựa
Nước ép trái cây
o Number 1 Juice Khóm chai nhựa
o Number 1 Juice Chanh Dây chai nhựa
o Number 1 Juice Mãng Cầu chai nhựa
o Number 1 Juice Me chai nhựa
2.1.2.3 Công ty TNHH La Vie Việt Nam
Giới thiệu sơ lược về La Vie Việt Nam
Trang 15Thành lập tháng 9 năm 1992, La Vie là công ty liên doanh giữa Perrier Vittel - Pháp (sở hữu 65% vốn), thuộc tập đoàn Nestlé, một công ty hàng đầu thế giới trong ngành nước đóng chai và công ty thương mại tổng hợp Long An Việt Nam.
La Vie lần đầu tiên được đưa ra thị trường vào tháng 7 năm 1994 và đã nhanh chóng phát triển thành nhãn hiệu dẫn đầu trong ngành nước đóng chai tại Việt Nam La Vie là nhãn hiệu nước đóng chai duy nhất có mặt trên toàn quốc
La Vie là công ty nước giải khát đầu tiên tại Việt nam đạt chứng nhận tiêu chuẩn quốc tế ISO 9002 về đảm bảo chất lượng năm 1999
Các sản phẩm của La Vie Việt Nam
Nước khoáng Lavie
o Chai 350ml phục vụ cho những ai không có nhu cầu dùng nước nhiều
o Chai 500ml tiện dụng khi đi lại
o Chai 1,5l kích thước vừa vặn cho vào tủ lạnh hoặc đi cắm trại, đi du lịch
o Chai 6l tiết kiệm sử dụng cho cả gia đình
Nước khoáng Lavie có gas chai 500ml giải khát mát lạnh và cung cấp chấtkhoáng cho cơ thể, có thể dùng để pha chế các loại nước uống khác nhau
2.1.2.4 Công ty Cổ phần Giải khát TRIBICO
Lịch sử hình thành và phát triển
Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Tribeco thành lập theo giấy phép số 571/GP-UB do
Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06/10/1992 với số vốn điều lệ là 8,5
tỷ đồng, trong đó phần vốn Nhà nước (FOODEXCO) góp 51%, 49% còn lại do cổ đông bên ngoài đóng góp
Năm 1993, Liên doanh với Nhà máy Bánh kẹo Tràng An Hà Nội thành lập Công tyNước Giải khát Tribeco Hà Nội với số vốn điều lệ là 800 triệu VNĐ, trong đó Công ty Nước Giải khát Sài Gòn chiếm 56,25% Năm 2001, Công ty Nước Giải khát Hà Nội làm thủ tục giải thể
Năm 1999, Nhà nước chuyển nhượng 51% vốn Điều lệ trong Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Tribeco cho tư nhânTháng 02 năm 2001, Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Nước Giải khát Sài Gòn chuyển thể thành Công ty Cổ phần Nước Giải khát Sài Gòn – Tribeco theo Giấy phép Đăng ký Kinh doanh số 4103000297 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh cấp với số vốn Điều lệ là 27,403 tỷ VNĐ
Tháng 04 năm 2001, sáp nhập Công ty Cổ phần Viết Tân vào Công ty Cổ phần Nước Giải khát Sài Gòn với tổng số vốn điều lệ 37,403 tỷ VNĐ
Ngày 07/01/2001, Công ty Cổ phần Nước Giải khát Sài Gòn trích 500 triệu VND
từ lợi nhuận chưa phân phối để tăng vốn điều lệ lên 37,903 tỷ VNĐ
Công ty bắt đầu niêm yết với mã chứng khoán TRI ngày 26/11/2001 trên sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh
Các sản phẩm nước giải khát của Tribeco
Nước ngọt có gas hương Cola Tribeco chai thủy tinh
Nước ngọt có gas Tribeco Xá xị, Soda, Cam, Chanh chai thủy tinh và lon
Sữa đậu nành Tribeco có đường và không đường chai thủy tinh, bịch Fino tiện dụng
Trang 16Trà xanh 100 chai nhựa và chai thủy tinh (Sản xuất với sự hỗ trợ của Kinh Đôvà UniPresident)
2.1.2.5 Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam
Lược sử hình thành và phát triển
Năm 1976 : Tiền thân là Công ty Sữa, Café Miền Nam, trực thuộc Tổng Công ty Lương Thực, với 6 đơn vị trực thuộc là Nhà máy sữa Thống Nhất, Nhà máy sữa Trường Thọ, Nhà máy sữa Dielac, Nhà máy Café Biên Hòa, Nhà máy Bột Bích Chi và Lubico.Năm 1978 : Công ty được chuyển cho Bộ Công Nghiệp thực phẩm quản lý và Công ty được đổi tên thành Xí Nghiệp Liên hợp Sữa Café và Bánh Kẹo I
Năm 1988 : Lần đầu tiên giới thiệu sản phẩm sữa bột và bột dinh dưỡng trẻ em tại Việt Nam
Năm 1991 : Lần đầu tiên giới thiệu sản phẩm sữa UHT và sữa chua ăn tại thị
trường Việt Nam
Năm 1992 : Xí Nghiệp Liên hợp Sữa Café và Bánh Kẹo I được chính thức đổi tên
thành Công ty Sữa Việt Nam và thuộc sự quản lý trực tiếp của Bộ Công Nhiệp Nhẹ Công ty bắt đầu tập trung vào sản xuất và gia công các sản phẩm sữa
Năm 1994 : Nhà máy sữa Hà Nội được xây dựng tại Hà Nội Việc xây dựng nhà
máy là nằm trong chiến lược mở rộng, phát triển và đáp ứng nhu cầu thị trường Miền BắcViệt Nam
Năm 1996 : Liên doanh với Công ty Cổ phần Đông lạnh Quy Nhơn để thành lập Xí
Nghiệp Liên Doanh Sữa Bình Định Liên doanh này tạo điều kiện cho Công ty thâm nhậpthành công vào thị trường Miền Trung Việt Nam
Năm 2000 : Nhà máy sữa Cần Thơ được xây dựng tại Khu Công Nghiệp Trà Nóc,
Thành phố Cần Thơ, nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu tốt hơn của người tiêu dùng tại đồng bằng sông Cửu Long Cũng trong thời gian này, Công ty cũng xây dựng Xí Nghiệp Kho Vận có địa chỉ tọa lạc tại : 32 Đặng Văn Bi, Thành phố Hồ Chí Minh
Năm 2003 : Chính thức chuyển đổi thành Công ty cổ phần vào tháng 12 năm 2003
và đổi tên thành Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam cho phù hợp với hình thức hoạt động của Công ty
Năm 2004 : Mua thâu tóm Công ty Cổ phần sữa Sài Gòn Tăng vốn điều lệ của
Công ty lên 1,590 tỷ đồng
Năm 2005 : Mua số cổ phần còn lại của đối tác liên doanh trong Công ty Liên
doanh Sữa Bình Định (sau đó được gọi là Nhà máy Sữa Bình Định) và khánh thành Nhà máy Sữa Nghệ An vào ngày 30 tháng 06 năm 2005, có địa chỉ đặt tại Khu Công Nghiệp Cửa Lò, Tỉnh Nghệ An
Liên doanh với SABmiller Asia B.V để thành lập Công ty TNHH Liên Doanh SABMiller Việt Nam vào tháng 8 năm 2005 Sản phẩm đầu tiên của liên doanh mang thương hiệu Zorok được tung ra thị trường vào đầu giữa năm 2007
Năm 2006 : Vinamilk niêm yết trên thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí
Minh vào ngày 19 tháng 01 năm 2006, khi đó vốn của Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà nước có tỷ lệ nắm giữ là 50.01% vốn điều lệ của Công ty
Mở Phòng Khám An Khang tại Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 6 năm 2006 Đây là phòng khám đầu tiên tại Việt Nam quản trị bằng hệ thống thông tin điện tử Phòng
Trang 17khám cung cấp các dịch vụ như tư vấn dinh dưỡng, khám phụ khoa, tư vấn nhi khoa và khám sức khỏe.
Khởi động chương trình trang trại bò sữa bắt đầu từ việc mua thâu tóm trang trại Bò sữa Tuyên Quang vào tháng 11 năm 2006, một trang trại nhỏ với đàn bò sữa khoảng 1.400 con Trang trại này cũng được đi vào hoạt động ngay sau khi được mua thâu tóm
Năm 2007 : Mua cổ phần chi phối 55% của Công ty sữa Lam Sơn vào tháng 9 năm
2007, có trụ sở tại Khu công nghiệp Lễ Môn, Tỉnh Thanh Hóa
Các sản phẩm thuộc ngành hàng nước giải khát của Vinamilk
Sữa đậu nành V-Fresh Có đường/ Không đường hộp 1 lít, Hộp 200ml, Bịch Fino 220ml
Sữa đậu nành V-Fresh Giàu Đạm ít đường Hộp 1 lít; Hộp 200 ml; Bịch Fino
200 ml/ 220 ml
Nước Cam Ép V-Fresh Hộp giấy 1L, bịch Fino 220ml
Nước Táo Ép V-Fresh Hộp 1L
Nước Cà Chua Ép V-Fresh Hộp 1L
Necta Cam – Cam ép 40% V-Fresh Hộp giấy 1L, Hộp giấy 200ml, Bịch fino 220ml
Necta Đào – Đào ép 42% V-Fresh Hộp 1L
2.2 Sơ lược về công ty Pepsico Việt Nam
2.2.1 Lược sử về công ty Pepsico
Lịch sử hình thành của công ty Pepsico
1898 – Caleb Bradham mua quyền sáng chế cho thương hiệu PepCola và đặt tên lại là PepsiCola
1902 – Thương hiệu PepsiCola được đăng ký
1934 – Doanh số của PepsiCola tăng vọt tại Mỹ
1941 – Thâm nhập châu Âu 1947 – Mở rộng sang Phillipines và Trung Đông
1964 – Diet Pepsi – nước ngọt dành cho người ăn kiêng đầu tiên trên thị trường
1998 – PepsiCo hoàn tất việc mua lại Tropicana với trị giá $ 3.3 tỉ
o Hiện nay, PepsiCo là: o Công ty nước giải khát và thực phẩm hàng đầu thế giới
o Công ty hoạt động trên gần 200 quốc gia với hơn 185,000 nhân viên trên toàn cầu
o Công ty có doanh số hàng năm 39 tỷ đô la
o Công ty nước giải khát và thực phẩm phát triển nhanh nhất thế giới
o Công ty bao gồm PepsiCo Americas Foods (PAF), PepsiCo Americas Beverages (PAB) và PepsiCo International (PI)
2.2.1.1 Quá trình phát triển thương hiệu Pepsi
Năm 1886, Bradham không thể hiểu được mức độ thành công của Pepsi trong tương lai khi mà ông pha chế ra một loại nước uống dễ tiêu làm từ nước cacbonat, đường, vani và một chút dầu ăn Nó được bán trong khu vực dưới tên “Nước uống của Brad” nhưng