bên cạnh những lợi ích vẫn còn những bất cập về giải quyết tranh chấp phát sinh áp dụng các quy phạm pháp luật đó, từ đó đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN VÕ HỮU CHÁNH
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 9
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN VÕ HỮU CHÁNH
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 9
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết
quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chính xác Các dữ liệu, luận
điểm được trích dẫn đầy đủ, đúng quy định và là kết quả nghiên cứu của tôi
Tác giả luận văn
Trần Võ Hữu Chánh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 6
LÝ LUẬN VẤN ĐỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VÀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TẠI TÒA ÁN 6 1.1 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng tín dụng và tranh chấp hợp đồng tín dụng 6
1.2 Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án 16
dụng tại Tòa án 16
Pháp luật Việt Nam hiện hành đã có những quy định cụ thể về điều kiện của hợp đồng tín dụng có tác dụng định hướng chi sự lựa chọn các thỏa thuận trong việc ký kết hợp đồng tín dụng 16
Trang 52.1 Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án
22
Tòa án 22
Tòa án 24
2.2 Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân
Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh 29
2.2.1 Thực trạng tranh chấp hợp đồng tín dụng và số vụ việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân Quận 9, tp Hồ Chí Minh 29
2.2.2 Một số vụ tranh chấp điển hình được xét xử tại Tòa án Quận 9, TP.Hồ Chí Minh 32
2.3 Đánh giá thực trạng giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại TAND Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh 37
2.3.1 Những thành tựu đã đạt được 37
2.3.2 Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 38
Tiểu kết chương 2 43
Chương 3 44
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤPHỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TẠI TAND QUẬN 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 44
3.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụngtại Tòa án 44
3.1.1 Quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án nói chung và giải quyết các vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng nói riêng 44
3.1.2 áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp hợp dồng tín dụng tại Tòa án nhân dân ở Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh 45
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án 46
Trang 63.2.1 Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật nhằm hạn chế
tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng 46
3.2.2 Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng liên quan đến giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án 51
3.3 Giải pháp nâng cao chất lượng giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh 55
Tiểu kết chương 3 59
KẾT LUẬN 60
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Số liệu thống kê các vụ án xét xử sơ thẩm về tranh chấp hợp đồng
tín dụng của Tòa án nhân dân Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh 29
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau gần 34 năm đổi mới, Việt Nam từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, đến nay đã xây dựng được cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước đáp ứng được cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Các hình thức giao thương, giao dịch và mua bán diễn ra hàng ngày trong xã hội ngày càng đa dạng mà ở đó pháp luật khó có thể điều chỉnh các quan hệ
về giao dịch dân sự Việc giao thương, giao dịch, mua bán không chỉ được thực hiện thông qua quan hệ giao tiếp, giao dịch miệng mà còn có một hình thức phổ biến đó là hình thức giao dịch bằng văn bản Trong các hình thức giao dịch bằng văn bản, các chủ thể trong mối quan hệ giao dịch, mua bán thường sử dụng hình thức hợp đồng Trong các hợp đồng thì hợp đồng tín dụng là phổ biến nhất trong các giao dịch với các chủ thể có nhu cầu vay vốn trong phát triển kinh doanh, sản xuất Song song sự kiện pháp lý, việc hai bên tuân thủ theo thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao kết hợp đồng thì còn có vụ việc tranh chấp xảy ra giữa các bên trong các điều khoản hợp đồng hết sức nhạy cảm, phức tạp Khi lợi ích giữa các bên bị ảnh hưởng quyền lợi hợp pháp sẽ làm thủ tục khởi kiện ra Tòa án hoặc trọng tài thương mại để được pháp luật vảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên một cách công bằng, đúng theo quy định pháp luật
Các phát sinh từ hợp đồng tín dụng dẫn đến tranh chấp hợp đồng tín dụng thông qua Tòa án giải quyết đóng vai trò rất quan trọng trong việc góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giữ gìn trật tự an toàn
xã hội và đặc biệt góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Thành phố
Hồ Chí Minh có 24 quận huyện, Quận 9 có thể nói là một vùng sâu, vùng xa của thành phố được tách từ Quận Thủ Đức từ năm 1997 Hiện nay, trong việc đẩy mạnh tốc độ xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, tốc độ dân số
Trang 10nhập cư tăng lên, từ đó xuất hiện nhiều khu vực kinh doanh như trung tâm thương mại, chợ truyền thống ở Quận 9 đãthu hút các thương nhân ở các nơi
về đây giao thương Song song quá trình phát triển của Quân 9, các giao dịch dân sự, đặc biệt là giao dịch thông qua hợp đồng tín dụng diễn ra ngày càng nhiều dẫn đến nhiều mẫu thuẫn và nhiều tranh chấp phức tạp làm việc giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án ngày càng khó khăn Trước tình hình đó cần phải hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật liên quan đến việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng nhằm tạo đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp các bên nói riêng, trong việc phát triển kinh tế bền vững nói chung
Trong những năm qua, pháp luật về tổ chức tín dụng, pháp luật về tranh chấp pháp sinh từ hợp đồng tín dụng đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm sâu sắc Thông qua đó là hoàn thiện các quy phạm pháp luật như: Bộ luật Dân
sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật các tổ chức tín dụng, Luật Ngân hàng nhà nước, kèm theo đó là các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành giúp cho hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng thuận lợi, thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia chặt chẽ tránh được rủi ro làm ảnh hưởng đến tiền tệ quốc gia, thúc đẩy phát triển doanh nghiệp, tổ chức sản xuất kinh doanh, kinh tế bên cạnh những lợi ích vẫn còn những bất cập về giải quyết tranh chấp phát sinh
áp dụng các quy phạm pháp luật đó, từ đó đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng con đường Tòa án, hiểu rõ hơn việc áp dụng pháp luật giải quyết gặp những thuận lợi khó khăn gì trong thực tiễn
Trang 112 Tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây đã có rất nhiều công trình nghiên cứu thông qua các bài viết đăng trên các tạp chí Dân chủ và pháp luật, tạp chí Tòa án nhân dân , Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí Luật học và các luận văn liên quan đến lĩnh vực giải quyết tranh chấp tại Tòa án nói chung và giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nói riêng
Các công trình nghiên cứu làm sáng tỏ một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân Đồng thời các công trình nghiên cứu cũng phân tích các nguyên nhân tranh chấp hợp đồng tín dụng của các ngân hàng hiện nay và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án
Tuy nhiên, luận văn của tôi nghiên cứu thêm những bất cập trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân Quận 9, thành phố
Hồ Chí Minh đặc thù và cá biệt chưa nêu ra được trong các công trình nghiên cứu gần đây, để có thêm một góc nhìn về việc nghiên cứu đề tài pháp luật về hợp đồng tín dụng tại TAND Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn là cấp thiết
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu là tìm ra những mâu thuẫn trong quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án và thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án , trên cơ sở có những kiến nghị để hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích và làm rõ một số quy định của pháp luật về hợp đồng tín dụng còn vướng mắc, khó khăn áp dụng trong thực tiễn
Trang 12Tìm hiểu thực tiễn vận dụng pháp luật khi giải quyết về tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh trong những năm gần đây.Đưa ra kiến nghị giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Lý luận và thực tiễn về xét xử giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân Quận 9
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn không nghiên cứu toàn bộ các quy phạm pháp luật về hợp đồng tín dụng, mà chỉ tập trung nghiên cứu về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2015 đến năm 2019
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng những quan điểm, phương pháp luận của triết học, của lý luận chung về nhà nước và pháp luật, đường lối và chính sách của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh để làm cơ sở cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về vấn dề giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học kết hợp lý luận và thực tiễn, bằng việc sử dụng tổng hợp các phương pháp cụ thể như phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn giải, quy nạp, thống kê, thực tiễn, luận đánh giá khách quan các hiện tượng và các quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân Quận 9 từ đó có cơ sở để đưa ra các quan điểm và giải pháp có ý nghĩa thực tiễn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Việc nghiên cứu đề tài này góp phần nào đó phát hiện vấn đề phát sinh trong thực tiễn và kẻ hở pháp luật trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án để nhằm bổ sung và phát triển lý luận về vai trò của
Trang 13pháp luật và áp dụng luật trong giải quyết các tranh chấp về hợp đồng tín dụng của Tòa án nhân dân
Luận văn có thể được dùng như một tài liệu tham khảo hay kinh nghiệm cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức, pháp nhân có liên quan trong mối quan hệ tranh chấp giải quyết hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân
7 Kết cấu luận văn
Luận văn sẽ bao gồm phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và 3 chương với nội dung là:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tranh chấp hợp đồng tín dụng và
pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp
đồng tín dụng của TAND Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng giải
quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại TAND quận 9, thành phố Hồ Chí Minh
Trang 14Chương 1
LÝ LUẬN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VÀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TẠI TÒA ÁN 1.1 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng tín dụng và tranh chấp hợp đồng tín dụng
1.1.1 Khái niệm hợp đồng tín dụng
Việc các bên thiết lập với nhau những quan hệ trao đổi để qua đó chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất, thặng dư của cá nhân, tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng , đó là một tất yếu để tồn tại và phát triển xã hội Tuy nhiên, việc chuyển giao các lợi ích vật chất đó không phải tự nhiên hình thành bởi tài sản không thể tự tìm đến với nhau để thiết lập các quan hệ Các quan hệ tài sản chỉ được hình thành từ những hành vi có ý chí của các chủ thể
Mặt khác giữa các bên có sự thống nhất ý chí thì quan hệ trao đổi lợi ích vật chất mới được hình thành nếu chỉ có một bên thể hiện ý chí của mình
mà không được bên kia chấp nhận cũng không thể hình thành một mối quan
hệ để qua đó thực hiện việc chuyển giao tài sản hoặc làm một công việc đối với nhau được việc thể hiện sự giao kết các bên được thể hiện qua hợp đồng dân sự Như vậy, cơ sở đầu tiên để hình thành một hợp đồng dân sự là việc thỏa thuận bằng ý chí tự nguyện của các bên Hợp đồng đó chỉ có hiệu lực pháp luật cần đảm bảo ý chí các bên không trái với ý chí của Nhà nước Phải đặt “ tự do” thiếp lập hợp đồng của các bên trong giới hạn bởi lợi ích chung của xã hội Tránh tình trạng các bên dùng sự tự do trong thiết lập hợp đồng làm phương tiện để kẻ giàu bóc lột người nghèo và sẽ là nguy cơ đối với lợi ích chung của xã hội Vì vậy, phải đi xa hơn nữa trong vấn đề tăng cường sự can thiệp của nhà nước vào các “quan hệ pháp luật tư”, các việc dân sự…
Trang 15không được bỏ qua một khả năng tối thiểu nào để mở rộng sự can thiệp của nhà nước vào những quan hệ dân luật
Nhà nước không những là việc buộc các bên phải giao kết hợp đồng phù hợp với lợi ích chung và đạo đức xã hội mà nhà nước can thiệp vào việc các bên phải thực hiện hợp đồng đúng với những cam kết mà họ đã thỏa thuận khi các bên đã tự nhận về mình những nghĩa vụ pháp lý nhất định Các bên phải thực hiện theo đúng nội dung đã cam kết đối với nhau các quyền và nghĩa vụ của mình dưới sự hỗ trợ của pháp luật
Từ những nhận định về hợp đồng tín dụng, các mối quan hệ dân sự và cùng đối chiếu theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 ta đưa ra khái quát định nghĩa về hợp đồng tín dụng như sau: “bên vay nhận được khoản tiền từ bên cho vay (tổ chức tín dụng, ngân hàng) để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” Từ đó ta thấy được hợp cho vay là hợp đồng tín dụng
Hợp đồng vừa được xem xét ở dạng cụ thể vừa được xem xét ở dạng khái quát hợp đồng là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí trong việc xác định mua bán, thuê, vay, mượn, tặng, cho tài sản, làm một việc hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng với nhau nhằm
đi đến sự thỏa thuận để cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân
sự Từ định nghĩa cụ thể trên để quy định của pháp luật có thể bao trùm được toàn bộ các hợp đồng dân sự theo Điều 385 BLDS hợp đồng dân sự không chỉ là sự thỏa thuận để một bên chuyển giao tài sản, thực hiện một công việc cho bên kia mà có thể còn là sự thỏa thuận để thay đổi hay chấm dứt các nghĩa vụ đó đã quy định hợp đồng ở dạng khái quát hơn Như vậy, hợp đồng dân sự (nghĩa chủ quan) và pháp luật về hợp đồng dân sự (nghĩa khách quan)
là hai khái quan niệm không đồng nhất với nhau Hợp đồng dân sự theo nghĩa
Trang 16chủ quan là các bên giao kết, thỏa thuận dân sự với nhau thông qua một văn bản để thỏa mãn nhu cầu trao đổi trong giao lưu dân sự Còn pháp luật về hợp đồng dân sự là sự thừa nhận, bắt buộc của nhà nước đối với các bên thực hiện nghĩa vụ của mình đối với giao kết dân sự đó Quy định về hợp đồng ở các bộ cổ luật đã từng tồn tại ở Việt Nam không nhiều Ngoài ra, các nguyên tắc chung về giao kết thực hiện hợp đồng được quy định xen kẽ trong các quy định hình sự những quy định chung mặc dù trong thực tế hình thành rất nhiều quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể với nhau
Ngoài ra, cần phải nói thêm rằng xét về nội dung kinh tế sẽ khó phân biệt giữa một hợp đồng dân sự với một hợp đồng kinh tế nếu nội dung của chúng đều là sự mua bán và trao đổi các lợi ích vật chất
Hợp đồng thương mại trở thành phương tiện phục vụ cho mục đích kinh doanh trên nguyên tắc các chủ thể tự nguyện, bình đẳng với nhau càng làm mờ nhạt ranh giới giữa nó với hợp đồng dân sự được thể hiện rõ tình hình nước ta hiện nay do các thành phần kinh tế ngày một đa dạng và phong phú làm cho các quan hệ kinh tế cũng thay đổi kéo theo đó là sự phát triển chung của xã hội Có những quy định của pháp luật là cơ sở pháp lí để áp dụng chung cho cả hai loại hợp đồng này mặc dù chúng thuộc đối tượng điều chỉnh của hai nghành luật khác nhau
Tuy nhiên, yêu cầu của quá trình tiến hành tố tụng trong việc giải quyết các tranh chấp từ hợp đồng, đòi hỏi cần phải có sự phân biệt rạch ròi giữa một hợp đồng thương mại với một hợp đồng dân sự Có thể nói rằng hợp đồng thương mại và hợp đồng dân sự như một cặp song sinh Vì vậy, trong thực tế
có rất nhiều hợp đồng không thể phân biệt được là hợp đồng thương mại hay hợp đồng dân sự Để có thể phân biệt được hai loại hợp đồng này phải xác định được cụ thể mục đích của từng loại hợp đồng Nếu các bên chủ thể (hoặc
ít nhất có một bên) tham gia hợp đồng với mục đích thỏa mãn nhu cầu sinh
Trang 17hoạt tiêu dùng thì hợp đồng đó được xác định là hợp đồng dân sự Vì vậy, chỉ được coi là hợp đồng thương mại khi các bên chủ thể tham gia đều nhằm mục đích kinh doanh Tuy nhiên, mục đích tham gia cũng chỉ là một cơ sở mang tính tương đối trong việc phân biệt giữa hai loại hợp đồng vì rằng có những hợp đồng cả hai bên đều mang mục đích kinh doanh nhưng không thể coi đó
là hợp đồng thương mại được nếu có một bên chủ thể là cá nhân không có đăng kí kinh doanh
1.1.2 Đặc điểm hợp đồng tín dụng
Hợp đồng tín dụng có những dấu hiệu, đặc trưng như:
Về chủ thể: Bên cho vay là tổ chức tín dụng, ngân hàng tham gia hợp đồng có đủ điều kiện luật định Bên vay thì chủ thể có thể là tổ chức, cá nhân
đủ điều kiện vay vốn do pháp luật quy định
Về đối tượng: đối tượng của hợp đồng tín dụng là tiền tệ, động sản hoặc bất động sản theo sự thỏa thuận, ghi rõ trong văn bản hợp đồng mà các bên đã giao kết theo đúng quy định pháp luật
Về tính rủi ro: Nếu kéo dài thời gian việc bên vay trả tiền bên cho vay thì nguy cơ rủi ro càng lớn với không chỉ bên cho vay và cả bên vay vì theo cam kết trong hợp đồng tín dụng, bên cho vay chỉ có thể đòi tiền của bên vay khi hết thời hạn vay Vì thế nguy cơ rủi ro rất lớn cho quyền lợi của bên cho vay và bên vay nên việc phát sinh tranh chấp từ hợp đồng tín dụng so với đa
số các loại hợp đồng khác
Về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ: trong hợp đồng tín dụng, nghĩa
vụ bên cho vay khi chuyển giao tiền vay khi ký hai bên ký xong hợp đồng và hoàn tất giấy tờ cho vay theo luật quy định để từ đó làm cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên vay Hợp đồng tín dụng khi có hiệu lực pháp luật thì bên cho vay mới có quyền yêu cầu bên vay phải thực hiện
Trang 18các nghĩa vụ đối với mình theo như thỏa thuận đã ghi rõ trong nội dung hợp đồng về quyền và nghĩa vụ của các bên
1.1.3 Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Khi các bên không thực hiện theo đúng quyền và nghĩa vụ thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa bên cho vay (tổ chức tín dụng) và bên vay (khách hàng) về lãi suất, nợ gốc, nợ lãi, việc giải ngân, xử lý tài sản bảo đảm… thì phát sinh mâu thuẫn dẫn đến tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tranh chấp hợp đồng tín dụng là tranh chấp về hợp đồng dân sự khi bên vay là đối tượng theo luật định không thuộc vào các đối tượng cấm trong giao dịch dân sự mà luật quy định Các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh khi không đạt được thỏa thuận , thì sẽ tranh chấp hợp đồng tín dụng trong việc kinh doanh, thương mại
Để mở rộng thị trường và sinh lời nhiều hơn thì việc dùng lợi nhuận và vốn kinh doanh đối với tổ chức hoặc vay để phát triển kinh tế đối với cá nhân,
hộ gia đình không đủ dẫn đến việc bên đi vay có nhu cầu về vốn mà không tự mình xoay xở được khi không có khả năng trả nợ sẽ làm giá trị của tranh chấp hợp đồng tín dụng thường có giá trị lớn hoặc thậm chí là rất lớn
Về phía bên cho vay là ngân hàng, bên cạnh vai trò là chủ thể cung ứng vốn cho nền kinh tế thì tổ chức tín dụng (TCTD) đóng vai trò là người đi vay của các chủ thể khác để cho vay lại Để đạt được lợi nhuận cao thì các TCTD thường kí kết các hợp đồng tín dụng có giá trị lớn dựa trên định giá tài sản đảm bảo tại thời điểm cho vay Do bên vay vốn dùng khoản vay này phần lớn đựa trên định giá tài sản đảm bảo tại thời điểm cho vay Do bên vay vốn dùng khoản vay này phần lớn để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh nên nếu bên vay không tuân thủ các cam kết trong hợp đồng, không trả nợ cho các TCTD sẽ làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động của TCTD đó Thực tế không hiếm các trường hợp các TCTD lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả do
Trang 19“nợ xấu” Một khi khách hàng vay không thể thanh toánd được nợ, tranh chấp xảy ra thì TCTD sẽ là chủ thể bị thiệt hại lớn vì nguồn vốn bị ứ đọng, phải thực hiện các biện pháp khắc phục, mục đích lợi nhuận ban đầu không còn hoặc bị gián đoạn Đặc biệt, nếu tranh chấp hợp đồng tín dụng phải khởi kiện tại Tòa án thì càng gây khó khăn cho TCTD khi muốn thu hồi vốn Bởi khi đã
bị khởi kiện tại Tòa án thì càng gây khó khan cho TCTD khi muốn thu hồi vốn Bởi khi đã bị khởi kiện tại Tòa án thì thường là người đi vay không còn khả năng trả nợ cho TCTD Mặt khác, khi tranh chấp hợp đồng tín dụng xảy
ra thì TCTD sẽ mất lòng tin với khả năng vay vốn, các hợp đồng tín dụng tiếp theo sẽ khó mà thực hiện, kể cả khi bên đi vay chứng minh lại được khả năng tài chính của mình
Đặc biệt, đối với các TCTD là ngân hàng nước ngoài, ngân hàng nước ngoài vấn đề thỏa thuận về phương thức giải quyết tranh chấp có vai trò quan trọng hơn bao giờ hết Bởi sự điều chỉnh của cả pháp luật nước ngoài lẫn pháp luật Việt Nam với các chủ thể này khác với các TCTD trong nước, sự khác nhau trong quy định của pháp luật giữa Việt Nam và nước khác là điều không thể tránh khỏi Vì vậy, việc cho phép, tôn trọng quyền tự thỏa thuận của các bên nhưng phải phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam khi có tranh chấp xảy ra sẽ giảm thiểu tối đa những xung đột pháp luật trong quá trình giải quyết các tranh chấp
Nói rõ hơn về tranh chấp hợp đồng tín dụng được giải quyết dựa trên nguyên tắc tự do thỏa thuận theo quy định pháp luật ta cần hiểu bản chất hợp đồng tín dụng là hợp đồng dân sự lúc đó thỏa thuận giữa các bên mang tính thỏa thuận, tự định đoạt kể cả đối với việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng thì các bên cũng có quyền thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của các bên để đạt được lợi ích chung của hai bên, không ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp các bên trong trường hợp có tranh chấp xảy ra Việc tôn
Trang 20trọng quyền định đoạt này có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì quan hệ dân sự giữa các bên mang tính bình đẳng, không phải là mối quan hệ mệnh lệnh – phục tùng như các quan hệ hành chính nhà nước khác Khi các bên tham gia tranh chấp có thể thỏa thuận được với nhau thì việc giải quyết tranh chấp sẽ diễn ra nhanh chóng, thuận lợi hơn, đồng thời giảm thiểu được thiệt hại về thời gian, tiền bạc, công sức của các bên Về phía các cơ quan tài phán, thi hành ám thì việc thỏa thuận này cũng có ý nghĩa trong việc giảm nhẹ khối lượng, áp lưc công việc trong điều kiện các tranh chấp ngày càng xảy ra nhiều
và phức tập như hiện nay
Để phân biệt giữa tranh chấp hợp đồng tín dụng và tranh chấp hợp đồng vay tài sản thông thường thì TCTD tham gia mối quan hệ các bên nhằm phân biệt giữa các tổ chức, cá nhân khác mà không phải là TCTD trong giao dịch dân sự là một dấu hiệu đặc trưng
Mặt khác, TCTD rất hiếm bị bên đi vay khởi kiện chủ yếu bên vay vi phạm nghĩa vụ của mình dẫn đến tranh chấp còn các nghĩa vụ khác của bên cho vay như bảo đảm thông tin, lưu trữ hồ sơ tín dụng, nghĩa vụ thông báo, bảo quản tài sản bảo đảm, giải chấp tài sản đảm bảo… là nghĩa vụ phát sinh
từ quyền của bên vay trong mối quan hệ hợp đồng tín dụng, các nghĩa vụ chính của bên đi vay thường phát sinh sau thời điểm giải ngân
Thực tế cho thấy, khi tham gia kí kết hợp đồng thì hợp đồng thường do bên cho vay là các TCTD soạn thảo với đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn về mặt pháp lý nhất định còn bên chủ thể đi vay là khách hàng thường là các tổ chức, cá nhân, trình độ, chuyên môn về mặt pháp lý còn thấp chưa am hiểu về pháp luật nên khi tham gia ký kết hợp đồng tín dụng luôn ưu thế với các điều khoản được ghi nhận một cách chặt chẽ rõ ràng trong hợp đồng được
sự đồng thuận của cả hai bên mặc dù các TCTD và khách hàng có địa vị ngang bằng nhau tham gia thỏa thuận
Trang 21Song song, có rất nhều loại tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng như: Tranh chấp về chủ thể xác lập, thực hiện HĐTD, tranh chấp liên quan đến bảo lãnh vay vốn, tranh chấp liên quan đến mục đích sử dụng vốn vay…
Đa phần tranh chấp xảy ra nhiều nhất là tranh chấp liên quan đến nghĩa vũ hoàn trả vốn và lãi, về mức lãi suất vay, về vấn đề bảo Sở dĩ như vậy bởi vì, những nghĩa vụ này đóng vai trò nòng cốt trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng của các bên và việc thực hiện này có tác động trực tiếp đến quyền lợi của TCTD Các tranh chấp khác cũng có tác động đến các TCTD nhưng không phải là cơ bản nên ít xảy ra hơn so với tranh chấp về nghĩa vụ hoàn trả vốn và lãi hay tranh chấp về lãi suất, về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Thêm vào đó, còn có việc phát sinh xung đột về lợi ích giữa các bên tham gia tranh chấp hợp đồng tín dụng
Khi đó, Có thể là hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp hay là dưới hình thức chứng thư bảo lãnh của bên thứ ba tùy từng trường hợp để đảm bảo cho nghĩa vụ được đảm bảo trong hợp đồng tín dụng thì các bên kí kết hợp đồng bảo đảm cho khoản vay Hơn nữa, tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng thường là tiền đề làm phát sinh và gắn liền với một quan hệ hợp đồng khác: Hợp đồng bảo đảm tiền vay thông qua hình thức cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ ba Tuy nhiên, đối với tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng thì chỉ có chính các bên hay người đại diện hợp pháp của họ mới có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên đi vay hay TCTD Không có trường hợp nào mà tranh chấp hợp đồng tín dụng phát sinh
do tổ chức, cá nhân khác khởi kiện để bảo vệ quyền lợi cho các bên tham gia hợp đồng tín dụng
1.1.4 Các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng
Ở nước ta hiện nay, diễn biến tranh chấp hợp đồng tín dụng ngày càng phức tạp để giải quyết triệt để vô cùng khó khăn, gian nan đối với cơ quan
Trang 22nhà nước Nhà nước ta không ngừng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật với nhiều phương thức nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp cho các bên tham gia hợp đồng tín dụng Khi các thỏa thuận của các bên không đạt được và xảy
ra xung đột thì có các phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng
Thông qua phương thức này, các bên tranh chấp hợp đồng tín dụng áp dụng phương thức tự thương lượng để giải quyết tranh chấp trên tinh thần hoàn toàn tôn trọng quyền thỏa thuận của các bên, các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, tự tháo gỡ những bất đồng phát sinh để loại bỏ tranh chấp mà không cần có sự trợ giúp hay phán quyết của bất kỳ bên thứ ba nào Hiện nay, phương thức giải quyết này pháp luật chưa có bất cứ quy định nào Thương lượng là phương thức được các bên tiến hành vì thương lượng thành công thì ít gây phương hại đến quan hệ hợp tác vốn có của các bên thậm chí còn được tăng cường về sự hiểu biết và hợp tác lẫn nhau khi kết thúc cuộc thương lượng và còn có các yếu tố như: Thuận tiện, đơn giản, nhanh chóng, linh hoạt, đỡ mất thời gian, ít tốn về tiền bạc, không ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý phức tạp, đảm bảo bí mật, uy tín của các bên
Phương thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải là các bên có sự hòa giải là hòa giải viên khi các bên cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận để giải quyết các vấn đề tranh chấp Hòa giải viên chỉ chứng kiến và ghi nhận lại thỏa thuận giữa các bên không can thiệp sự thỏa thuận giữa các bên Sau khi hòa giải các bên đạt thỏa thuận có thể giữ lại mối quan hệ để phát triển mối quan hệ làm
ăn sau này
Phương thức trọng tài thương mại sự thỏa thuận các bên trên cơ sở tự nguyện , theo quy định của Luật Trọng tài thương mại được quyền thỏa thuận lựa chọn một Trọng tài phù hợp, để thành lập Hội đồng (hoặc Ủy ban) Trọng
Trang 23tài giải quyết tranh chấp nhằm giải quyết mâu thuẫn tranh chấp bằng đưa ra phán quyết có giá trị
Giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con đường Tòa án dựa trên nguyên tắc tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự, nguyên tắc tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự, nguyên tắc các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh; bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự, bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự, nguyên tắc hòa giải, nguyên tắc xét xử vụ án dân sự phải có Hội thẩm nhân dân tham gia, nguyên tắc Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai và nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử
Hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng Tòa án được tiến hành khi các bên tranh chấp cũng không tự thỏa thuận Việc các bên giải quyết tranh chấp thường gặp nhiều khó khăn cần sự cần thiết phải
có sự can thiệp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là Tòa án Vì khi giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, quyết định trọng tài không có tính cưỡng chế cao như quyết định của Tòa án, việc thi hành quyết định trọng tài không thuận lơi như thi hành bản án của Tòa mà phụ thuộc chủ yếu vào thiện chí và hợp tác giải quyết của các bên Việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng thông qua Tòa án là hình thức cuối cùng mà các bên lựa chọn
Việc giải quyết tại Tòa án qua nhiều cấp xét xử, vì thế nguyên tắc nhiều cấp xét xử bảo đảm cho quyết định của Tòa án được chính xác, công bằng, khách quan
Tòa án xét xử công khai Từ bản chất của hoạt động xét xử là bảo vệ pháp chế và duy trì công lý được pháp luật quy định hoạt động xét xử công khai của Tòa án còn có tác dụng răn đe những hành vi vi phạm pháp luật để giữ bí mật Nhà nước theo yêu cầu của đương sự mà luật quy định Tòa án có thể xử kín nhưng phải tuyên án công khai
Trang 24Nguyên tắc xét xử nhiều cấp đảm bảo Khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án, các bên phải nắm rõ được bản chất, vì việc giải quyết tranh chấp của Tòa án phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định mang tính hình thức của pháp luật tố tụng và đặc điểm này đôi khi có thể gây trở ngại cho các bên tranh chấp vì tính chấp của hoạt động tín dụng đòi hỏi mọi thủ tục phải rất linh hoạt và nhanh gọn.cho quyết định của Tòa án là chính xác, công bằng
1.2 Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa
Tòa án nhân danh quyền lực Nhà nước để đưa ra phán quyết buộc bên
có nghĩa vụ phải thi hành, kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước dựa trên cơ sở Pháp luật đã quy định về lĩnh vực tranh chấp hợp đồng tín dụng như: BLDS, luật các TCTD, luật thương mại, luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam… Do đó, các đương sụ thường tìm đến sự trợ giúp của Tòa án như một giải pháp cuối cùng để bảo vệ có hiệu quả các quyền, lợi ích của mình khi họ thất bại trong việc sử dụng cơ chế thương lượng hoặc hòa giải và cũng không muốn đưa vụ việc tranh chấp của họ để giải quyết bằng trọng tài thương mại
1.2.2 Nội dung điều chỉnh chủ yếu củapháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án
Một là, quy định các nguyên tắc giải quyết tranhh chấp phát sinh từ hợp
đồng tín dụng bằng con đường Tòa án Thông thường khi giải quyết tranhh
Trang 25chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con đường Tòa án phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
Tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự, xét xử
vụ án dân sự phải có Hội thẩm nhân dân tham gia
-Nguyên tắc hòa giải Nguyên tắc các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh Nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự
-Nguyên tắc Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự
Thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với tranh chấp hợp đồng tín dụng được quy định tại BLTTDS là:
Tranh chấp hợp động tín dụng là tranh chấp khi bên vay vốn là cá nhân,
tổ chức có đăng ký kinh doanh tranh chấp kinh doanh, thương mại này thuộc thẩm quyền giải quyết Tòa án theo khoản 1 điều 30 của BLTTDS năm 2015:
“Tranh chấp phát sinh trong hợp đồng kinh doanh, thương mại giữa cá nhân,
tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận”.Tranh chấp hơp đồng tín dụng về hợp đồng dân sự khi bên vay vốn là hộ gia đình, cá nhân tổ chức không có đăng ký kinh doanh và không có mục đích lợi nhuận tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 3 điều
26 BLTTDS 2015 có hiệu lực từ ngày 01/7/2016: “ Tranh chấp giao dịch dân
sự, hợp đồng dân sự”
- Giai đoạn khởi kiện và thụ lý vụ án
- Giai đoạn hòa giải và chuẩn bị xét xử
- Giai đoạn xét xử sơ thẩm
- Giai đoạn xét xử phúc thẩm
Trang 261.2.3 Vai trò của pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án
Quy định pháp luật đã đưa ra các căn cứ để xác định quyền ưu tiên trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng Pháp luật còn là phương diện thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, giải quyết một cách kịp thời, chính xác, đúng pháp luật, để hạn chế mức thấp nhấp những rủi ro, đảm bảo tính dân chủ và quyền tự định đoạt của các bên với chi phí giải quyết thấp các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng được giải quyết tại Tòa án đóng vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giữ gìn an toàn xã hội và đặc biệt là góp phần đưa đất nước phát triển đáp ứng mục tiêu của Đảng và Nhà nước Quyền tự do hợp đồng là quyền cơ bản trong giao kết hợp đồng giữa các chủ thể bộ luật dân sự đã ghi nhận nhiều cơ chế để đản bảo việc thực hiện và xây dựng một khung pháp lý khá hoàn chỉnh để điều chỉnh quan hệ hợp đồng ở việt nam việc thực hiện hợp đồng khá phổ biến , rộng rãi các bên giao kết hợp dồng đều nhận thức đầy đủ và thực hiện tốt về quyền năng này trong phạm vi cụ thể, mặc dù luật có một hệ thống pháp luật khá hoàn thiện về điều chỉnh quan hệ hợp đồng và đảm bảo sự tự do của các bên trong thỏa thuận hợp đồng tín dụng nhưng vẫn tồn tại những mẫu thuẫn
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án
Thứ nhất, sự hoàn thiện của các quy định pháp luật
Để đảm bảo quyền lợi của các bên tham gia quan hệ và bảo vệ lợi ích
mà pháp luật đặt ra khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng cần có sự hoàn thiện của các quy định pháp luật Các quy định của pháp luật còn chưa thống nhất, chồng chéo lẫn nhau trong việc giải quyết tranh chấp hợp đong tín dụng tại Tòa án
Thứ hai, Năng lực, trình độ và kỹ năng xét xử của Thẩm phán
Năng lực của Thẩm phán là khả năng mà Thẩm phán cần phải có để thực hiện hiệu quả công tác tư pháp, trong đó, bao gồm năng lực hiểu biết (kiến thức) và năng lực thực hành (kỹ năng)
Trang 27Những yêu cầu đối với Thẩm phán về mặt kiến thức là rất cao Bao gồm kiến thức chuyên ngành pháp lý và kiến thức xã hội Trong đó, kiến thức pháp lý toàn diện và chuyên sâu là điều cần thiết Lý do nó được nêu ra bởi vì kiến thức chuyên môn đã được xem như là yếu tố căn bản nhất Bằng kiến thức đó, Thẩm phán có thể giải thích các sự kiện pháp lý, những mâu thuẫn, tranh chấp và các yếu tố khách quan, chủ quan để áp dụng pháp luật một cách chính xác
Bên cạnh đó, Thẩm phán còn phải trang bị và trau dồi kỹ năng Trong
đó, kỹ năng xét xử là kỹ năng xét xử là kỹ năng cốt lõi của Thẩm phán, bao gồm kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, đánh giá chứng cứ, kỹ năng điều hành phiên tòa Những kỹ năng này tuy đã được trang bị cơ bản từ khóa đào tạo nghiệp
vụ xét xử, nhưng các Thẩm phán cần tiếp tục tích lũy và mài dũa nhiều hơn
Trong những kỹ năng trên, kỹ năng diễn đạt, (bằng lời nói và viết) là rất quan trọng, bởi nó gắn với hầu hết các hoạt động nghiệp vụ của Thẩm phán Giao tiếp tinh tế là quan trọng với cả đương sự và đồng nghiệp trong quá trình làm việc và cuộc sống Thẩm phán phải diễn đạt một cách rõ ràng, chính xác
và đúng ngữ pháp, dù bằng lời nói hay bằng văn bản Kỹ năng giao tiếp tốt cũng bao gồm khả năng lắng nghe, hiểu; điều này giúp chia sẻ các phương pháp hay nhất và thông tin tư pháp hữu ích từ đồng nghiệp
Cần tăng cường tuyên truyền nâng cao ý thức người dân về vấn đề pháp luật và vấn đề trách nhiệm của các bên tham gia quan hệ hợp đồng tín dụng
Thứ ba, ứng dụng công nghệ thông tin
Người khởi kiện, người tham gia tố tụng thực hiện thủ tục gửi, nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ và việc Tòa án cấp, tống đạt thông báo văn bản tố tụng bằng phương tiện điện tử theo quy định của BLTTDS, thủ tục này gọi là Giao dịch điện tử trong tố tụng dân sự
Trang 28Dữ liệu điện tử được tạo ra, gửi đi, nhận và lưu trữ bằng phương tiện điện tử từ đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ, văn bản tố tụng đã được ban hành theo quy định của pháp luật được gọi là Thông điệp dữ liệu điện tử trong tố tụng dân sự
Xây dựng Cổng thông tin điện tử Tòa án công bố bản án, quyết định Tòa án Người đọc cũng có thể tương tác bằng cách trực tiếp cho ý kiến về bản án, quyết định được công bố, trong đó có mục “Ý kiến phản hồi đối với bản án, quyết định” Việc công khai bản án góp phần nâng cao trách nhiệm,
kỹ năng viết bản án, kỹ năng công nghệ thông tin của Thẩm phán
Trang 29Tiểu kết chương 1
Tranh chấp hợp đồng tín dụng là một hiện tượng tất yếu khách quan, xảy ra trong quá trình thực hiện các nội dung của hợp đồng tín dụng do nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan Làm thế nào có thể nhận thức đúng đắn, đầy đủ về nó để đưa ra các biện pháp khắc phục đến mức thấp nhất việc phát sinh tranh chấp trong hợp đồng tín dụng
Trong chương 1, luận văn đã tập trung nghiên cứu và làm rõ một số vấn
đề cơ bản như định nghĩa, đặc điểm, đặc trưng và các mối quan hệ về hợp đồng tín dụng, các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng và các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án thấy được sự cần thiết trong việc ban hành các quy phạm pháp luật song song đó là bổ sung, điều chỉnh các quy phạm pháp luật, áp dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng làm cơ sở lý luận đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng
Trang 30Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤPHỢP ĐỒNG TÍN DỤNG CỦA TAND QUẬN 9,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án
2.1.1 Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp hợp đồng tím dụng tại Tòa
án
Thứ nhất: Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự
theo điều điều 5 BLTTDS 2015 Quyền của chủ thể tranh chấp trong việc quyết định chọn phương thức giải quyết khi đương sự có đơn yêu cầu, chỉ giải quyết các vấn đề tranh chấp trong phạm vi yêu cầu khi tranh chấp xảy ra, các bên tranh chấp có quyền tự quyết định việc khởi kiện, chủ động đề xuất các yêu cầu, phạm vi quyền và lợi ích các bên vụ án tranh chấp giải quyết các bên tranh chấp có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình, thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện không trái với pháp luật
Thứ hai: Các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh
theo là điều 6 BLTTDS 2015 Trong giải quyết tranh chấp quyền và nghĩa vụ trình bày những gì mà họ cho là cần thiết, có thể phản đối yêu cầu của người khác đối với mình khi chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ Tòa án không
bị bắt buộc thu nhập, xác minh chứng cứ, tiến hành xác minh, thu thập chứng
cứ trong những trường hợp do BLTTDS quy định.Tạo cơ sở giải quyết nhanh chóng các vụ tranh chấp, nâng cao trách nhiệm chứng minh của đương sự
Thứ ba: Nguyên tắc bình đẳng quyền và nghĩa vụ trong điều 8
BLTTDS 2015 thể hiện quyền con người trong Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Giải quyết tranh chấp tại Tòa án đương sự có quyền
Trang 31và nghĩa vụ ngang nhau, đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự
Thứ tư: bảo đảm quyền bảo vệ và lợi ích hợp pháp đượng sự theo điều
9 BLTTDS 2015 đương sự có quyền nhờ luật sư , cá nhân theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Thứ năm: Hòa giải theo điều 10 BLTTDS 2015 tranh chấp phát sinh từ
HĐTD phản ánh về lợi ích kinh tế của các bên biện pháp các bên tiến hành để giải quyết tranh chấp trước tiên là hòa giải, cần đến sự can thiệp của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi không thể hòa giải Tòa án tiến hành giải quyết tranh chấp theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Các đương sự vẫn có quyền tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật
Thứ sáu: xét xử vụ án dân sự phải có Hội thẩm nhân dân tham gia theo
điều 11 BLTTDS 2015 Thẩm phán được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để xét xử vụ án theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ngang quyền với nhau, độc lập, chỉ tuân theo pháp luật mà không chịu bất kỳ sự chi phối, phải chịu trách nhiệm phán quyết đưa ra trong vụ án
2.1.2 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án
Tuy nhiên, để xác định vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng có thuộc thẩm quyền giải của tòa án hay không, trước hết tòa án phải xem xét thỏa thuận giải quyết tranh chấp của các bên chọn ban đầu hoặc sau khi xảy ra tranh chấp là Tòa án nhân dân hay Trọng tài thương mại Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tài Tòa án thì Tòa án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được Như vậy, nếu các bên đã
có thỏa thuận trọng tài hợp lệ thì việc giải quyết tranh chấp không thuộc thẩm quyền của tòa án
Trang 322.1.3 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa
án
Giai đoạn khởi kiện và thụ lý vụ án:
Để thực hiện quyền khởi kiện của mình, bên khởi kiện (nguyên đơn) phải chuẩn bị hồ sơ khởi kiện và nộp tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền Hồ
sơ khởi kiện được nộp trực tiếp tại Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hoặc qua bưu điện, Mới đây BLTTDS năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/07/2016 đã quy định them về việc gửi đơn khởi kiện trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án Sau khi xem xét thấy có
đủ các điều kiện thụ lý vụ án như: Người khởi kiện có quyền khởi kiện, sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án, thời hiệu khởi kiện vẫn còn (Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng là 02 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của các bên bị xâm phạm), vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án, sự việc không được các bên thoả thuận giải quyết bằng thủ tục trọng tài thương mại thì Toà án dự tính án phí và phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Toà án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí kể từ ngày nhận được giấy báo của Toà án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí
Giai đoạn hoà giải và chuẩn bị xét xử
Giai đoạn này, hồ sơ sẽ được Thẩm phán thụ lý nghiên cứu để tiến hành xét xử vụ án và Thẩm phán thụ lý có thể yêu cầu các bên thực hiện các công việc sau: yêu cầu các bên xuất trình thêm các giấy tờ, tài liệu cần thiết liên quan đến vụ việc; triệu tập lên Tòa án để lấy lời khai hoặc để đối chất; triệu tập các đương sự đến tiến hành hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau
về việc giải quyết vụ án Việc hoà giải được tiến hành theo các nguyên tắc:
Trang 33Một là, tôn trọng sự tự nguyện thoả thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thoả thuận không phù hợp với ý chí của mình Hai là, nội dung thoả thuận giữa các đương sự không được trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội
Thành phần phiên hoà giải gồm: Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải, thư
ký toà án ghi biên bản hoà giải, các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự, người phiên dịch Trong một vụ án có nhiều đương sự, mà
có đương sự vắng mặt trong phiên hoà giải, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành hoà giải và việc hoà giải đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành hoà giải giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hoà giải để có mặt tất
cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên hoà giải
Trình tự tiến hành hoà giải: Khi tiến hành hoà giải, Thẩm phán phổ biến cho các đương sự biết các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các bên liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hoà giải thành để họ tự nguyện thoả thuận với nhau
về việc giải quyết vụ án Việc hoà giải được thư ký Toà án ghi vào biên bản
và biên bản hoà giải phải có các nội dung chính quy định tại điều 211 BLTTDS 2015 Biên bản hoà giải phải có đầy đủ chữ ký hoặc điểm chỉ của các đương sự có mặt trong phiên hoà giải, chữ ký của thư ký Toà án ghi biên bản và của Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến
về sự thoả thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Toà án phân công ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy hầu hết các quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự do Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải ra quyết định Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự có hiệu lực
Trang 34pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng
sự thoả thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe doạ hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định công nhận
sự thoả thuận của các đương sự, Toà án phải gửi quyết định đó cho các đương
sự và Viện kiểm sát cùng cấp Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án Nếu như các bên hoà giải không thành thì Toà án đem vụ án ra xét xử công khai hoặc xét xử kín để đảm bảo bí mật cho các bên khi các bên yêu cầu và được Toà án chấp thuận
Thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng được quy định như sau: Đối với tranh chấp hợp đồng tín dụng là thì thời hạn là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án Ngoài ra, đối với các loại tranh chấp hợp đồng tín dụng mà có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Toà án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá 01 tháng Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, tuỳ từng trường hợp, ngoài quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự, Toà án ra một trong các quyết định sau đây: Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án; Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án; Quyết định đưa vụ án ra xét xử
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án, Toà án phải gửi quyết định đó cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp
Quyết định đưa vụ án ra xét xử gồm có các nội dung được quy định tại điều 220 BLTTDS 2015 Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được gửi cho các đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp ngay sau khi ra quyết định
Trang 35Giai đoạn xét xử sơ thẩm: Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý do chính đáng theo luật định thì thời hạn này là 02 tháng
Phiên toà sơ thẩm phải được tiến hành đúng thời gian, địa điểm đã được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc trong giấy báo mở lại phiên toà trong trường hợp phải hoãn phiên toà Phiên toà sơ thẩm diễn ra theo trình tự thủ tục: chuẩn bị khai mạc phiên toà, thủ tục hỏi tại phiên toà, tranh luận tại phiên toà, nghị án và tuyên án được quy định từ điều 222 đến điều 269 của BLTTDS 2015 Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử gồm có: một Thẩm phán là Chủ tọa, hai Hội thẩm nhân Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án, Toà án phải giao hoặc gửi bản án cho các đương sự, cơ quan,
tổ chức khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp
Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Toà án cấp sơ thẩm là 15 ngày,
kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết
Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Toà án cấp sơ thẩm và Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày,
kể từ ngày tuyên án Trường hợp kiểm sát viên không tham gia phiên toà thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án
Đơn kháng cáo phải có các nội dung quy định tại điều điều 272 của BLTTDS 2015 đơn kháng cáo có thể gửi cho Toà án cấp sơ thẩm đã ra bản
án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo hoặc gửi cho Toà án cấp phúc thẩm Đơn kháng cáo phải kèm theo tài liệu, chứng cứ bổ sung, nếu có để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp
Sau khi nhận được đơn kháng cáo, Toà án cấp sơ thẩm phải kiểm tra tính hợp lệ của đơn kháng cáo Sau khi chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ, Toà
án cấp sơ thẩm phải thông báo cho người kháng cáo biết để họ nộp tiền tạm
Trang 36ứng án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật, nếu họ không thuộc trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí phúc thẩm
Theo quy định tại Điều 317 khoản 1 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 thì Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn khi có đủ các điều kiện sau đây:
Về thời hạn chuẩn bị xét xử trong trường hợp vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn, theo điều khoản 1 điều 318 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 quy định: "Trong thời hạn không quá 01 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 195 của Bộ luật này, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn và mở phiên tòa xét xử trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định"
Trình tự giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn tại Tòa án cấp phúc thẩm được quy định tại các điều từ 322 đến 324 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Theo đó:
Thời hạn kháng cáo đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm theo thủ tục rút gọn là 07 ngày, kể từ ngày tuyên án Đối với đương sự không
có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án, quyết định được giao cho họ hoặc bản án, quyết định được niêm yết
Thời hạn kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát cùng cấp là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định
Việc áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết vụ án dân sự góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa án, tạo cơ sở pháp lý để Tòa án giải quyết nhanh chóng các tranh chấp phát sinh trong xã hội mà vẫn bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; giảm nhẹ thời gian, chi