DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ Bảng 4.1: Ảnh hưởng phân bón hữu cơ vi sinh đến động thái tăng trưởng chiều cao cây Hà thủ ô đỏ cm ..... Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón hữu cơ vi si
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -o0o -
HOÀNG THỊ KIỀU TRINH
Tên khóa luận:
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH CÔNG THỨC PHÂN BÓN HỮU CƠ THÍCH HỢP CHO CÂY HÀ THỦ Ô ĐỎ (Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson) TẠI
XÃ THƯỢNG BẰNG LA, HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Trồng trọt Khoa: Nông học Khóa học: 2018 - 2022
Thái Nguyên, 2022
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -o0o -
HOÀNG THỊ KIỀU TRINH
Tên khóa luận:
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH CÔNG THỨC PHÂN BÓN HỮU CƠ THÍCH HỢP CHO CÂY HÀ THỦ Ô ĐỎ (Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson) TẠI XÃ
THƯỢNG BẰNG LA, HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Trồng trọt Khoa: Nông học Khóa học: 2018 - 2022 Giáo viên hướng dẫn: TS Trần Trung Kiên
Thái Nguyên, 2022
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin trân trọng cám ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, các Thầy Cô giáo Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập tại Trường
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Khoa Nông học – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng các Thầy Cô trong khoa đã giảng dạy và giúp đỡ em tiến hành thực hiện đề tài Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Thầy TS Trần Trung Kiên người Thầy tâm huyết đã tận tình hướng dẫn, động viên khích lệ, dành nhiều thời gian định hướng và chỉ bảo em trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài và hoàn thành khóa luận
Qua đây em cũng xin gửi lời cảm ơn tới Bác Sầm Văn Nưa ( Phó chủ tịch HTX) và Chị Bàn Thị Dào ( Tổ trưởng) , cùng toàn thể các công nhân viên tại Hợp Tác Xã Đèo Lũng Lô đã nhiệt tình tạo điều kiện giúp đỡ em trong thời gian thực tập tốt nghiệp
Xin gửi tấm lòng tri ân tới Gia đình Những người thân yêu trong Gia đình
đã thực sự là nguồn động viên lớn lao, là những người truyền nhiệt huyết, luôn dành cho chúng con sự quan tâm, sự trợ giúp trên mọi phương diện để chúng con yên tâm và hoàn thành tốt đề tài
Cuối cùng em xin kính chúc Thầy Cô sức khỏe, thành công trong cuộc sống
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 06 năm 2022
Sinh viên
Hoàng Thị Kiều Trinh
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
WHO Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization – WHO)
cáo của Tổ chức y tế thế giới
LSD (Least
significant difference)
Giá trị sai khác có ý nghĩa thống kê ở mức sác xuất 0,05%
IUCN Sách đỏ ( tiếng Anh : IUCN Red List of Threatened
Species hay IUCN Red List)
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 4.1: Ảnh hưởng phân bón hữu cơ vi sinh đến động thái tăng trưởng chiều cao cây Hà thủ ô đỏ (cm) 30 Bảng 4 2: Ảnh hưởng phân bón hữu cơ vi sinh đến tốc độ tăng trưởng số lá trên cây Hà thủ ô đỏ (lá) 32 Bảng 4.3: Ảnh hưởng phân bón hữu cơ vi sinh đến động thái tăng trưởng số nhánh cấp 1 trên cây Hà thủ ô đỏ (nhánh) 34 Biều đồ 4.1: Ảnh hưởng phân bón hữu cơ vi sinh đến tốc độ tăng trưởng chiều dài thân chính cây Hà thủ ô đỏ (cm)………31 Biều đồ 4 2: Ảnh hưởng phân bón hữu cơ vi sinh đến tốc độ tăng trưởng số lá trên cây Hà thủ ô đỏ (lá) 33 Biều đồ 4.3: Ảnh hưởng phân bón hữu cơ vi sinh đến tốc độ tăng trưởng số nhánh cấp 1 trên cây Hà thủ ô đỏ (nhánh) 35
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2 1 Cây Hà thủ ô đỏ – Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson Error!
Bookmark not defined
Hình 2 2 Công thức cấu tạo 2,3,5,4′-tetrahydroxystilbene-2-o-β-d-glucosi
Error! Bookmark not defined
Hình 2 3 Cao Hà Thủ TW3 Error! Bookmark not defined
defined
Hình 3 2 Làm luống Error! Bookmark not defined Hình 3 3 Luống đã được che phủ nilong Error! Bookmark not defined Hình 3 4 Trồng thử nghiệm cây Hà thủ ô Error! Bookmark not defined Hình 3 5 Bón lót phân hữu cơ vi sinh và phân NPKError! Bookmark not
defined
Hình 3 6 Làm giàn leo cho cây Hà thủ ô Error! Bookmark not defined
Hình 4 1 Cây Hà thủ ô sau 30 ngày trồng 30
Hình 4 2 Cây Hà thủ ô sau 120 ngày trồng Error! Bookmark not defined Hình 4 3 Cây Hà thủ ô sau 210 ngày trồng Error! Bookmark not defined
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 2
DANH MỤC CÁC BẢNG,BIỂU ĐỒ 3
DANH MỤC CÁC HÌNH Error! Bookmark not defined PHẦN I MỞ ĐẦU 7
1.1 Lý do chọn đề tài 7
1.2 Mục tiêu của đề tài: 8
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 8
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 8
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 8
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 9
2.1 Tình hình nghiên cứu về cây Hà thủ ô đỏ trên thế giới và Việt nam 9
2.1.1 Tình hình nghiên cứu cây Hà thủ ô đỏ trên thế giới 9
Nhu cầu sử dụng dược liệu, thuốc từ dược liệu trên thế giới: 10
2.1.2 Tình hình nghiên cứu về Cây Hà thủ ô đỏ tại Việt Nam 10
2.2 Tình hình sản xuất cây Hà thủ ô đỏ tại Việt Nam 12
2.3 Tình hình phát triển cây dược liệu tại tỉnh Yên Bái 14
2.4 Sơ lược về cây Hà thủ ô đỏ Error! Bookmark not defined Tên khoa học Error! Bookmark not defined Họ thực vật Error! Bookmark not defined Phân bố Error! Bookmark not defined Đặc điểm thực vật học: Error! Bookmark not defined Yêu cầu sinh thái: Error! Bookmark not defined Thành phần hóa học: Error! Bookmark not defined Công dụng: Error! Bookmark not defined PHẦN III VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
Trang 83.1 Vật liệu nghiên cứu 21
Cây giống Error! Bookmark not defined Phân Bón: 22
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu: 23
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 23
3.3 Nội dung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 23
3.3.1 Nội dung nghiên cứu 23
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu: 23
* Phương pháp bố trí thí nghiệm: 24
Sơ đồ thí nghiệm: 24
* Biện pháp kỹ thuật: 24
* Theo dõi các chỉ tiêu khoa học 28
PHẦN IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29
4 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón hữu cơ vi sinh đến khả năng sinh trưởng cây Hà thủ ô đỏ tại Văn Chấn, Yên Bái Error! Bookmark not defined 4.1 Ảnh hưởng phân bón hữu cơ vi sinh đến động thái, tốc độ tăng trưởng chiều dài thân chính cây Hà thủ ô đỏ tại Văn Chấn, Yên Bái 30
4.2 Ảnh hưởng phân bón hữu cơ vi sinh đến động thái, tốc độ tăng trưởng số lá trên cây Hà thủ ô đỏ tại Văn Chấn, Yên Bái 32
4.3 Ảnh hưởng phân bón hữu cơ vi sinh đến động thái, tốc độ tăng trưởng số nhánh cấp 1 trên cây Hà thủ ô đỏ 34
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 36
5.1 Kết luận ảnh hưởng của phân bón hữu cơ vi sinh đến khả năng sinh trưởng cây Hà thủ ô đỏ tại Yên Bái 36
5.2 Đề nghị Error! Bookmark not defined TÀI LIỆU THAM KHẢO 36
Tài liệu trong nước: 36
Tài liệu nước ngoài và tài liệu internet 38
Trang 9Phần I
MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
Hà thủ ô đỏ là một loài thực vật thuộc họ rau răm (Polygonaceae) có tên
khoa học là Polygonum multiflorum (Thunb.) Haraldson Ở Việt Nam, loài thảo
dược này có tên gọi khác: Dạ giao đằng, Khua lình (Thái), Mần đăng tua lình Sầm Nưa), Mằn năng ón (Tày), Má ỏn, Xạ ú sí (Dao)…Hà thủ ô đỏ là một loại thảo dược quý được biết đến như một loại thuốc bổ trong ứng dụng y học cổ truyền Việt Nam (Đỗ Tất Lợi (2014)[8]
(Lào-Để phát triển cây dược liệu, tỉnh Yên Bái đã ban hành một số chủ trương, chính sách như quy hoạch phát triển cây dược liệu trên địa bàn gắn với thực hiện
Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Yên Bái; ưu tiên phát triển 14 chủng loại cây dược liệu quý hiểm, phù hợp với khí hậu thổ nhưỡng vùng núi cao; phát triển cây dược liệu gắn liền với phát triển và bảo vệ rừng để nâng cao thu nhập cho người dân Tại kế hoạch số 206/KH-UBND phát triển cây dược liệu tỉnh Yên Bái đến năm 2020 định hướng đến năm 2025, cây Hà thủ ô đỏ là một trong 29 loại cây dược liệu được định hướng phát triển và quy hoạch Hiện tại tỉnh Yên Bái chưa có một nghiên cứu nào về đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển Hà thủ ô đỏ, để xây dựng vùng nguyên liệu Hà thủ ô lớn và tập trung thì cần có một nguồn giống
Hà thủ ô ổn định và chất lượng Phân bón cũng là yếu tố rất cần thiết giúp cây sinh trưởng phát triển các giai đoạn của cây Hà thủ ô Phân bón hữu cơ giúp cây hấp thu nhanh và sử hiệu quả.Phân bón hữu cơ vi sinh được sử dụng phổ biến và tỏ ra phù hợp với điều kiện canh tác tại Yên Bái Tuy nhiên phân bón hữu cơ vi sinh sử dụng với liều lượng như thế nào phù hợp cho cây Hà thủ ô đỏ thì chưa có nghiên cứu Vì vậy, xác định công thức phân bón hữu cơ thích hợp cho cây Hà thủ ô đỏ ở các giai đoạn cũng cần phải được nghiên cứu
Vì vậy, nghiên cứu ‘‘Ảnh hưởng của phân bón hữu cơ vi sinh đến khả
năng sinh trưởng của cây Hà thủ ô đỏ tại xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái” được thực hiện nhằm xác định công thức phân bón hữu cơ
thích hợp cho sinh trưởng của cây Hà thủ ô đỏ
Trang 101.2 Mục tiêu của đề tài:
- Xác định được ảnh hưởng của phân bón hữu cơ vi sinh đến động thái/tốc
độ tăng trưởng tỷ lệ sống của cây, chiều cao cây, số lá trên cây và số nhánh cấp 1 trên cây Hà thủ ô đỏ
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
- Xác định được công thức phân bón hữu cơ vi sinh thịch hợp cho cây Hà thủ
ô sinh trưởng mạnh nhất;
- Kết quả nghiên cứu là cơ sở tác động biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây Hà thủ ô đỏ tại Yên Bái từ đó khuyến cáo cho HTX và nông dân sản xuất nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất
Trang 11Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Tình hình nghiên cứu về cây Hà thủ ô đỏ trên thế giới và Việt Nam
2.1.1 Tình hình nghiên cứu cây Hà thủ ô đỏ trên thế giới
Hà thủ ô đỏ thuộc họ rau răm (Polygonaceae) có tên khoa học là Polygonum
multiflorum (Thunb.) Haraldson Loài thảo dược quý này được biết đến như một
loại thuốc bổ trong ứng dụng y học cổ truyền ở nhiều nước trên thế giới cũng như
ở Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 2014) [8] Các nghiên cứu hiện đại đã chứng minh rằng
Hà thủ ô đỏ chứa nhiều các hợp chất flavonoid và axit phenolic thể hiện hoạt động chống oxy hóa Tác dụng dược lý của stilbene có trong Hà thủ ô đỏ cũng đã được báo cáo, đặc biệt khả năng chống oxy hóa (Lv và cs, 2007) [24] và các hoạt động bảo vệ gan đã được chứng minh (Huang và cs, 2007) [22]
Ngoài ra, Hà thủ ô đỏ còn được sử dụng điều trị bệnh thiếu máu, suy dinh dưỡng, mất ngủ, chứng hay quên và hỗ trợ điều chỉnh chức năng miễn dịch (Yan
và cs, 2008)[30] Trong một nghiên cứu khác, Hà thủ ô được sử dụng để điều trị chóng mặt, bị ù tai, tóc bạc sớm, đau nhức và yếu ở đầu gối, thắt lưng và tê bì chân tay (Yan và cs, 2010)[31] Dịch chiết từ rễ thô của củ Hà thủ ô được sử dụng nhiều trong lâm sàng để chữa các bệnh về tim mạch (Yang và cs, 2005)[32] Các hợp chất có hoạt tính sinh học có giá trị củ Hà thủ ô là các chất chuyển hóa thứ cấp của
nó Việc sản sinh các thành phần này có mối liên hệ chặt chẽ với các điều kiện môi trường Các yếu tố môi trường có ảnh hưởng tiềm tàng đến thành phần định tính, định lượng các chất chuyển hóa thứ cấp của thực vật bao gồm khí hậu, loại đất mùa vụ và thời gian thu hoạch, cũng như điều kiện sấy khô và bảo quản (Wang và
cs, 2005)[35] Hơn nữa, chất lượng cũng ảnh hưởng bởi điều kiện sinh trưởng và thu hoạch (Chang và cs, 2006)[17]
Một nghiên cứu về mối quan hệ giữa thành phần các hoạt chất và các nhân
tố môi trường cho thấy rằng một vài nhân tố môi trường ảnh hưởng có ý nghĩa đến hàm lượng các chất riêng biệt trong nhóm anthraquinon, trong khi một số nhân tố không ảnh hưởng đến hàm lượng anthraquinon phức hợp Các mẫu được thu thập ở
Trang 1210 vùng địa lý khác nhau và kết quả đã chỉ ra rằng, mẫu Hà thủ ô thu ở huyện Hồ Châu, tỉnh Triết Giang có hàm lượng các hoạt chất anthraquinon cao nhất Vùng
đối là 82% Tổng lượng nhiệt cả năm là 7.865,5 Thời gian nắng là 1826,9 giờ; pH đất 3,85; Chất hữu cơ 2,73%, Đạm tổng số 1,51 mg/kg, Lân hữu hiệu 99,13 mg/kg, Kali hữu hiệu 122,27 mg/kg, Cu 11,5 µg/g, Fe 1,062 %, Mg 0,19%, Mn 119,43 µg/g, Zn 64,93 µg/g (Yan và cs, 2010)[31] Đây là một nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở để lựa chọn vùng sinh thái thích hợp để trồng cây Hà thủ ô đạt năng suất, chất lượng cao
Việc sử dụng lượng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật liên tục đã gây
ra nhiều tác động tiêu cực khác nhau đối với hệ sinh thái nông nghiệp bao gồm suy thoái đất, giảm đa dạng vi sinh vật đất, ô nhiễm nguồn nước ngầm và ô nhiễm khí quyển, đặc biệt còn ảnh hưởng đến giá trị của sản phẩm (Savci, 2012; Sharma và Paliyal, 2014; Yang và Paliyal, 2014)[26, 27]
Nhu cầu sử dụng dược liệu, thuốc từ dược liệu trên thế giới:
Theo thống kê hiện nay tỷ lệ số người sử dụng YHCT trong chăm sóc sức khỏe và điều trị bệnh ngày càng tăng như Trung Quốc, Hàn Quốc, Các nước châu Phi, Ở Trung Quốc chi phí cho sử dụng YHCT khoảng 10 tỷ USD, chiếm 40% tổng chi phí cho y tế, Nhật Bản khoảng 1,5 tỷ USD, Hàn Quốc khoảng trên 500 triệu USD
Theo thống kê của WHO, những năm gần đây, nhiều nhà sản xuất đã có hướng đi mới là sản xuất các thuốc bổ trợ, các thực phẩm chức năng, mỹ phẩm, hương liệu
2.1.2 Tình hình nghiên cứu về Cây Hà thủ ô đỏ tại Việt Nam
Qua nghiên cứu trên 37 mẫu Hà thủ ô đỏ - Fallopia multiflora (Thunb.)
Haraldson thu tại 10 địa điểm thuộc 8 tỉnh thành gồm: Hà Giang, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu, Thái Nguyên, Hà Nội, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, chúng tôi thu được những
kết quả như sau: đã xác định được ở Việt Nam hiện có 3 thứ của loài Fallopia
Trang 13Haraldson; F mutiflora var angulata (S.Y Liu) H J Yan, Z J Fang & S X Yu
và F multiflora var ciliinervis (Nakai) Yonek & H.Ohashi Kết quả thu được là những dẫn liệu bổ sung cho các tài liệu trong nước về loài Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson, đồng thời đây cũng là dẫn liệu khoa học phục vụ công tác bảo tồn, khai thác và phát triển loài Hà thủ ô đỏ - Fallopia multiflora (Thunb.)
Haraldson để tạo nguồn nguyên liệu sản xuất thuốc ở Việt Nam (Phạm Thanh Huyền và cs, 2015)[5]
Phạm Thanh Huyền và Nguyễn Thị Hà Ly (2017)[4], qua nghiên cứu tài liệu
và kết hợp với điều tra phỏng vấn thì Hà thủ ô đỏ còn ghi nhận được có phân bố ở Cao Bằng, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Nam Đã tiến hành đánh giá chất lượng của 52 mẫu dược liệu của nguồn gen Hà thủ ô đỏ Trong đó có 17 mẫu thu từ tự nhiên, 17 mẫu trồng và 18 mẫu trên thị trường Kết quả dánh giá cho thấy,
có 7/52 mẫu không đạt chất lượng theo qui định trong Dược điển Trung Quốc
2010( qui định hàm lượng hoạt chất này không được thấp hơn 1,0%) Mẫu đạt cao
nhất thu được tại Quyết Tiến, Quản Bạ, Hà Giang, đạt 4,6% Tiếp theo là mẫu thu thập ở Hưng Yên, đạt 3,76% Với các mẫu có trọng lượng củ càng lớn và thu hoạch vào tháng 11 năm trước đến tháng 1 năm sau cho chất lượng tốt Các dẫn liệu thu được là cơ sở để lựa chọn các nguồn gen có chất lượng tốt phục vụ bảo tồn
và phát triển Hà thủ ô đỏ ở Việt Nam
Qua nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể và phân bón lá đến sinh trưởng hom
giâm Hà thủ ô đỏ Fallopia multiflora (Thunb.) tại Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk cho kết
quả: giâm hom Hà thủ ô đỏ trên giá thể khác nhau thì cho các giá trị về tỉ lệ nảy chồi, chiều dài chồi, chiều dài rễ, trọng lượng rễ khô khác nhau Trên giá thể 1 đất mặt; 2 trấu hun; 1 than bùn cho các giá trị đều cao, tỷ lệ này chồi đạt 75%, chiều dài chồi đạt 38,9 cm, chiều dài rễ 16,1 cm, và trọng lượng rễ khô 227.3 mg Sử dụng phân bón lá Nitex 16 – 16 – 8 + TE cho giâm hom Hà thủ ô đỏ với các công thức giá thể trong thí nghiệm thì ít tác động đến các chỉ tiêu theo dõi, chỉ tác động đến chỉ tiêu trọng lượng rễ khô Sử dụng phân bón lá Nitex 16 – 16 – 8 + TE nồng
độ 0,3% cho trọng lượng rễ khô cao nhất 215,7 mg Giá thể đất mặt: 2 trấu hun, 1 : than bùn kết hợp với sử dụng phân bón la Nitex 16 – 16 – 8 + TE nồng độ 0,3%
Trang 14cho các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển rễ của Hà thủ ô đỏ cao, tỉ lệ xuất vườn đạt 73% (Lê Thị Thùy Ninh, Nguyễn Duy Năng, 2018)[9]
Nghiên cứu nhân giống in vitro Hà thủ ô đỏ Fallopia multiflora (Thunb.)
tuyển chọn tại tỉnh Hà Giang cho kết quả đã xây dựng thành công quy trình nhân giống in vitro cho giống Hà thủ ô đỏ vùng cao được tuyển chọn tại tỉnh Hà Giang, đạt hiệu suất cao: nhân nhanh chồi trên môi trường MS thêm 1,0 mg/l BAP, 0,3 Mg/l Kinetin và 0,2 mg/l NAA, cho hệ số nhân chồi và tỷ lệ chồi hữu hiệu đạt cao nhất (9,1 chồi/mẫu cấy và 94,4% chồi hữu hiệu) chỉ sau 4 tuần nuôi cấy; chồi nuôi cấy trên môi trường MS bổ sung 0,2 mg/l IBA, 0,1 mg/l NAA, cho tỷ lệ chồi ra rễ đạt 100%, số rễ trung bình đạt 5,58 rễ/cây và chiều dài rễ trung bình 4,68 cm sau 4 tuần nuôi cấy Cây hoàn chỉnh được huấn luyện 5 – 7 ngày cho thích nghi dần với điều kiện tự nhiên, cây được trồng trên giá thể gồm 30% trấu toán tính, 20% bột xơ dừa và 50% đất, cho tỷ lệ sống 100% Sau 4 tuần ra ngôi, cây con đủ tiêu chuẩn đem sản xuất (Bùi Văn Thắng, 2017)[13]
Kết quả nghiên cứu của Phạm Thanh Huyền và Phan Văn Trưởng (2017)[6]
cho thấy thời vụ trồng Hà thủ ô đỏ tốt nhất là vào tháng 3 hoặc tháng 10 hàng năm; khoảng cách trồng 40 cm x 30 cm với mật độ là 58.333 cây/ha và công thức phân bón tối ưu cho 1 ha trong 2 năm là 4 tấn phân hữu cơ vi sinh: 200 kg N : 400 kg P2O5 : 200 kg K2O Với những điều kiện và thời vụ trồng này, cây Hà thủ ô đỏ trồng tại xã Sơn Đông, thị xã Sơn tây, thành phố Hà Nội cho năng suất đạt 2.600 – 2.800 kg/ha, hàm lượng hoạt chất 2,3,5,4'-Tetrahydroxystilbene 2-O-β-D-glucoside đều đạt trên 2% trở lên
2.2 Tình hình sản xuất cây Hà thủ ô đỏ tại Việt Nam
Tại Việt Nam, củ của Hà thủ ô đỏ được dùng để chữa các bệnh như thận suy, gan yếu, thần kinh suy nhược, sốt rét kinh niên, giúp làm đen râu tóc, bổ máu Do
có giá trị sử dụng và giá trị kinh tế cao nên Hà thủ ô đỏ đã bị khai thác liên tục trong nhiều năm dẫn đến nguồn Hà thủ ô đỏ sẵn có trong tự nhiên đang trở nên khan hiếm Để đáp ứng được nhu cầu sử dụng, diện tích trồng cây Hà thủ ô đỏ gần đây được người dân trồng mới ngày càng tăng.
Trang 15Hà thủ ô đỏ được đánh giá là một trong những loại thảo dược có nhiều công dụng tốt, được người dân sử dụng để bồi bổ sức khỏe, đồng thời cũng là một thành phần trong các phương thuốc y học cổ truyền Việt Nam, vì vậy thị trường tiêu thụ sản phẩm này ổn định và có nhiều tiềm năng Với đặc điểm tự nhiên của huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng là vùng đất có nhiều Hà thủ ô đỏ mọc hoang trong tự nhiên, có chất lượng tốt nên khi có dự án trồng hà thủ ô, người dân tích cực tham gia Đến nay, toàn huyện trồng được hơn 15 ha, tập trung chủ yếu tại các xã Cô Ba, Xuân Trường, Phan Thanh, Khánh Xuân, Thượng Hà và Thị trấn Bảo Lạc Theo kết quả nghiên cứu cho thấy, năng suất Hà thủ ô đỏ trung bình sau 3 năm trồng cho thu hoạch đạt 80 - 100 tấn/ha Tuy nhiên, để cây đạt năng suất cao, còn phải áp dụng đúng kỹ thuật theo từng giai đoạn Do đó, chỉ cần năng suất đạt từ 50 - 60 tấn/ha, trừ chi phí ban đầu khoảng 300 triệu đồng, với giá bán 50 nghìn đồng/kg, người dân thu nhập từ 2,5 - 3 tỷ đồng/ha, cao gấp nhiều lần so với trồng các loại
Tổng diện tích trồng mới các loại cây dược liệu đến năm 2020 là 26.470 ha trên địa bàn các huyện, thành phố; xây dựng 1 – 2 vườn nhân giống cây dược liệu trên địa bàn tỉnh; quy mô đáp ứng khoảng 20% nhu cầu giống tại chỗ; xây dựng, phát triển và quản lý hệ thống thu mua, chế biến và tiêu thụ Từ đó, Yên Bái đã trồng, khai thác có hiệu quả và bền vững trên 29.692 ha cây dược liệu (bao gồm: quế 21.674,4 ha; sơn tra 5.089,9 ha; thảo quả 2.619,6 ha; đinh lăng 35 ha; sả 87,1 ha; ba kích 10,5 ha; giảo cổ lam 25ha; cà gai leo 23,4 ha, hà thủ ô 2 ha; ý dĩ 5 ha;
lá khôi tía 17,5 ha…) dưới tán rừng tự nhiên, góp phần xóa đói giảm nghèo ở vùng
Đắk Nông xây dựng mô hình trồng thử nghiệm Cây Hà thủ ô đỏ, sau hai năm trồng cho năng suất tươi đạt 4,0 - 4,8 tấn/ha, năng suất khô đạt 1,16 - 1,40 tấn/ha ( http://skhcn.daknong.gov.vn , 2015) [40]
01 mô hình nhân giống quy mô 260.000 cây/năm, kết hợp các kết quả nghiên cứu
về canh tác, nước tưới, bảo vệ thực vật đề tài đã hoàn thiện quy trình trồng trọt và
Trang 16sơ chế Hà thủ ô đỏ tại Đắk Lắk Từ các kết quả nghiên cứu đề tài đã xây dựng được 02 mô hình có phương thức khác nhau tại 02 vùng khác nhau, đó là mô hình xen canh tại huyện Krông Năng với diện tích 2 ha, mô hình trồng thuần tại huyện Buôn Đôn với 2 ha Hiệu quả kinh tế của 02 mô hình khá cao so với các cây khác
Qua phần tổng quan về tình hình sản xuất cây dược liệu Hà thủ ô cho thấy nhiều địa phương và doanh nghiệp quan tâm trồng và phát triển cây dược liệu này bởi lẽ nhu cầu thị trường về nguyên liệu Hà thủ ô là tiềm năng Trong những năm gần đây, một số địa phương sản xuất Hà thủ ô đỏ đã thành công, góp phần phát triển kinh tế xã hội địa phương Tuy nhiên, phát triển cây Hà thủ ô đỏ vẫn ở quy
mô nhỏ, nhiều địa phương có điều kiện sinh thái phù hợp để phát triển dược liệu này nhưng chưa mạnh dạn phát triển bởi lẽ lo lắng rủi ro về đầu ra Thực tế hiện nay, nguyên liệu Hà thủ ô đỏ đang phải nhập khẩu từ bên Lào và Trung Quốc
2.3 Tình hình phát triển cây dược liệu tại tỉnh Yên Bái
Tỉnh Yên Bái đã xây dựng thành công nhiều khu vực trồng dược liệu tập trung liên kết giữa nông dân và các doanh nghiệp chế biến dược phẩm, ứng dụng các công nghệ mới trong sản xuất giống, chăm sóc, thu hái và bảo quản theo tiêu chuẩn GACP - WHO Điển hình như cà gai leo tại huyện Văn Yên và huyện Yên Bình; đương quy, hoài sơn, sâm bố chính tại huyện Văn Chấn; thảo quả, sơn tra tại huyện Trạm Tấu và Mù Cang Chải Bên cạnh đó, cấp phép và quản lý các cơ sở thu gom, sơ chế và kinh doanh sản phẩm cây dược liệu trên địa bàn tỉnh từng bước
đi vào nề nếp, quản lý chặt chẽ, gắn bảo tồn với khai thác hợp lý nguồn dược liệu
tự nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học và môi trường sinh thái
Huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái với trên 64.000 ha đất lâm nghiệp, có điều kiện thuận lợi về đất đai, thổ nhưỡng và khí hậu để phát triển cây dược liệu, nhất là
ở các xã vùng cao, khu vực núi đá Đi đầu trong phát triển cây dược liệu trên quy
mô lớn là Hợp tác xã Lũng Lô, xã Thượng Bằng La Tận dụng điều kiện thuận lợi
về đất đai, khí hậu khu vực đèo Lũng Lô, Hợp tác xã đã trồng 5 ha cây dược liệu các loại Nghiên cứu, phát triển các loại cây dược liệu mới đồng thời mở rộng các
Trang 17Hợp tác xã Hợp tác xã sẽ trở thành đơn vị lưu giữ tập đoàn nguồn gen, trồng các
mô hình điểm về dược liệu góp phần phát triển ngành dược liệu của Yên Bái Đây
là cơ sở để các nhà khoa học lựa chọn hợp tác xã là đơn vị phối kết hợp thực hiện nhiệm vụ khoa học về các dược liệu có tiềm năng
Năm 2017, Hợp tác xã (HTX) Lũng Lô, xã Thượng Bằng La đã đi đầu phát triển cây dược liệu với quy mô lớn Tận dụng điều kiện thuận lợi về đất đai, khí hậu ở khu vực đèo Lũng Lô, HTX đã triển khai trồng 5 ha cây dược liệu các loại như: đương quy, hoài sơn, sâm bố chính, hy thiêm và một số loại cây dược liệu khác Dù mới trong giai đoạn thử nghiệm nhưng hầu hết các loại dược liệu đều sinh trưởng và phát triển tốt Theo đánh giá, các loại cây dược liệu như đương quy, hoài sơn có thể cho thu hoạch sau từ 2 - 3 năm; các loại sâm có thể cho thu hoạch sau 10 - 15 năm Hiện nay, HTX Lũng Lô đang tiếp tục phối hợp với các nhà khoa học nghiên cứu phát triển các loại cây dược liệu mới, đồng thời mở rộng diện tích cây dược liệu đang có triển vọng Ông Đỗ Bảo Long - Giám đốc HTX Lũng Lô chia sẻ: "Bản thân làm trong ngành dược nên thấu hiểu tầm quan trọng của cây dược liệu cũng như nguy cơ thiếu hụt nguồn nguyên liệu cho chế biến thuốc Sau khi cùng các thành viên nghiên cứu đất đai, thổ nhưỡng ở Văn Chấn, chúng tôi quyết định chọn hướng đi chủ đạo của HTX là phát triển cây dược liệu Chúng tôi đang phối hợp với các nhà khoa học nghiên cứu, đưa các loại cây dược liệu mới có giá trị vào trồng thử nghiệm và nhân rộng những cây trồng phù hợp” Theo khảo sát, đánh giá của dược sỹ Nguyễn Văn Toanh - Giám đốc Trung tâm Bảo tồn, nghiên cứu, chế biến dược liệu - Viện Nghiên cứu phát triển cây lâm nghiệp, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên: "Văn Chấn có điều kiện thuận lợi để phát triển cây dược liệu ở quy mô lớn, nhất là ở những khu vực núi cao, có môi trường trong lành Việc phát triển cây dược liệu ở khu vực vùng cao vừa góp phần nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số, bảo vệ môi trường sinh thái vừa góp phần bảo tồn nguồn cây dược liệu quý Phát triển cây dược liệu gắn với bảo vệ và phát triển rừng sẽ là hướng đi quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng ở vùng cao” Thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu cây trồng, những năm gần đây, khu vực các xã vùng thấp của huyện Văn Chấn đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ các loại cây
Trang 18trồng theo hướng hàng hóa, đa dạng về chủng loại Đối với khu vực vùng cao, do địa hình đồi núi dốc, trình độ canh tác của nhân dân còn hạn chế nên cơ cấu cây trồng chưa có chuyển biến rõ rệt Việc trồng thảo dược sẽ là lời giải cho bài toán
Mặc dù những ưu điểm vượt trội của cây Hà thủ ô đỏ đối với sức khỏe con người đã được thừa nhận, đồng thời việc phát triển sản xuất thảo dược này có những thuận lợi và thế mạnh rất cơ bản, nhưng vẫn còn rất nhiều vấn đề tồn tại cần được nghiên cứu để có cơ sở khoa học chắn chắn cho việc phát triển sản xuất trong tương lai Tình trạng tìm kiếm và thu hái dược liệu của người dân đã khiến cho cây
Hà thủ ô đỏ ngoài tự nhiên trở nên khan hiếm và đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng, là loài khó tái sinh ngoài tự nhiên Điều này sẽ gây khó khăn cho công tác xác định vùng phân bố tự nhiên và bảo tồn nguồn gen phục vụ cho công tác nhân giống trở nên khó khăn Mặt khác, nạn phá rừng khiến cho môi trường sống bị thu hẹp đã khiến Hà thủ ô đỏ được đưa vào Sách Đỏ năm 1996 và 2007 để hạn chế khai thác và có biện pháp bảo tồn thích hợp Hà thủ ô đỏ đã được nhân trồng và phát triển nhưng qui mô nhỏ lẻ, manh mún Hơn nữa, hiện tại tỉnh Yên Bái chưa có một nghiên cứu nào về đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển Hà thủ ô đỏ, đặc biệt xây dựng mô hình trồng theo hướng chuỗi giá trị hàng hóa liên kết với các doanh nghiệp dược liệu bao tiêu sản phẩm Đây là cơ sở khoa học để khẳng định việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật phát triển cây Hà thủ ô đỏ tại huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái là hoàn toàn cần thiết; đồng thời cũng là cơ sở khoa học vững chắc để xác định các nội dung nghiên cứu cho việc phát triển mở rộng diện tích cây Hà thủ ô tại các địa phương khác trên toàn tỉnh Yên Bái
2.4 Giới thiệu tổng quan về cây Hà thủ ô đỏ
Tên khoa học: Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson
Họ Rau răm: Polygonaceae
Tên gọi khác: Thủ ô, Giao đằng, Dạ hợp, Địa tinh, Khua lình (Thái), Măn đăng tua lình (Lào – Sầm Nưa), Mằn năng ón (Tày)
2.4.1 Nguồn gốc và phân bố
Trang 19Hà thủ ô phân bố rộng rãi ở nhiều nước cận nhiệt đới và nhiệt đới Ở Việt Nam, có một loài là cây Hà thủ ô đỏ Trên thế giới, Hà thủ ô đỏ có ở Trung Quốc, Bắc Lào, Nhật Bản và Ấn Độ Ở Việt Nam, Hà thủ ô đỏ chỉ có ở một số tỉnh vùng núi cao phía Bắc Cây mọc nhiều ở Hà Giang, Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Thái Nguyên v.v
Căn cứ theo bản mô tả và khóa phân loại các thứ của loài Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson, tại Việt Nam hiện có ba thứ gồm: F multiflora var Multiflora
(Thunb.) Haraldson được tìm thấy ở Đồng Văn – Hà Giang, Sa Pa – Lào Cai, Sìn
Hồ – Lai Châu, Phú Lương – Thái Nguyên, Thanh Trì – Hà Nội, Văn Lâm – Hưng
Yên; F multiflora var angulata (S Y Liu) H J Yan, S J Fang & S X Yu được tìm thấy ở Tam Đảo – Vĩnh Phúc; F Multiflora var ciliinervis (Nakai) Yonek &
H Ohashi được tìm thấy ở Mộc Châu – Sơn La, Xín Mần – Hà Giang (Lê Quang Ưng và cs, 2021)[14]
2.4.2 Giá trị kinh tế
Hà thủ ô là cây dược liệu dễ trồng và chăm sóc Năng suất Hà thủ ô sau khi trồng trên 3 năm vào khoảng 8 – 10 tấn tươi/ha Giá bán khoảng 50.000 – 60.000 đồng/kg tươi Cây có giá trị kinh tế cao gấp nhiều lần so với các cây trồng nông nghiệp khác (Lê Quang Ưng và cs, 2021)[14]
2.4.3 Thành phần hóa học và công dụng
a Thành phần hóa học:
Hà thủ ô giàu hoạt chất hóa học Trong Hà thủ ô chứa nhóm chất stilben, quinon, flavonol Các hoạt chất chính có trong củ: anthraquinon, emodin physcion, rhein, chrysophanol; 2,3,5,4′-tetrahydroxystilben-2-O-β-D-glucosid (Lê Quang Ưng và cs, 2021)[14]
b Công dụng:
Hà thủ ô được dùng trong phạm vi người dân làm thuốc bổ, trị thần kinh suy nhược, các bệnh về thần kinh, ích khí, giúp khỏe gân cốt, sống lâu, làm đen râu tóc Đối với phụ nữ, Hà thủ ô được dùng chữa các bệnh sau khi sinh, cách bệnh xích bạch đới Liều dùng hằng ngày 12 – 20 g dưới dạng thuốc sắc, thuốc rượu hoặc thuốc bột (Lê Quang Ưng và cs, 2021)[14]
Trang 202.4.4 Đặc điểm thực vật học
Cây thuộc loại dây leo bằng thân quấn, sống lâu năm Thân mềm, nhẵn, mọc xoắn vào nhau Rễ phình thành củ, màu nâu đỏ, củ nguyên có hình giống củ khoai lang Lá mọc so le, hình mũi tên, gốc lá hình tim, đầu thuôn nhọn, dài 5 – 8 cm, rộng 3 – 4 cm, 3 – 5 gân xuất phát từ gốc lá; hai mặt nhẵn, mặt trên sẫm bóng, mặt dưới có màu phớt đỏ; cuống dài khoảng 2 cm, phủ lông tơ, bẹ chìa mỏng, ngắn, có lông dài
Cụm hoa mọc ở kẽ lá hoặc đầu cành thành chùy phân nhánh, dài hơn lá; lá bắc ngắn; hoa nhỏ nhiều, màu trắng; nhị 8, thường dính vào gốc của bao hoa
Quả hình ba cạnh, nhẵn bóng, nằm trong đài hoa còn giữ lại Mùa hoa từ tháng
9 – tháng 11; mùa quả từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau Rễ củ hình tròn, dài, không đều Mặt ngoài có những chỗ lồi lõm do các nếp nhăn ăn sâu tạo thành Vỏ củ màu
đỏ hồng, thịt củ màu trắng, có nhiều bột, ở giữa có lõi gỗ (Lê Quang Ưng và cs, 2021)[14]
Trang 21Hình 2.1 Cây Hà thủ ô đỏ – Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson 2.4.5 Điều kiện sinh thái
Cây Hà thủ ô đỏ thích nghi với nhiều vùng sinh thái khác nhau Tuy cây mọc hoang ở vùng rừng, nhưng khi trồng ở vùng đồng bằng, cây vẫn sinh trưởng rất tốt
Hà thủ ô đỏ là loài cây ưa khí hậu ẩm mát của vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới núi cao Cây ưa sáng và có thể hơi chịu bóng, ưa bóng khi còn nhỏ Nơi mọc tự nhiên thích hợp nhất là các quần hệ rừng núi đá vôi; độ cao tới 1.700 m Nhiệt độ
ẩm tương đối 82% (Yan và cs, 2010)[31] Hà thủ ô đỏ thường mọc ở nơi đất ẩm, tơi xốp, nhiều mùn, có tầng canh tác dày hơn 50 cm, thoát nước tốt, pH 3,85 – 6,5, nhất là loại đất ở chân núi đá Tuy nhiên, khi cây được trồng ở đất đồi vùng trung
du hay trên đất đỏ bazan cũng đều phát triển tốt (Lê Quang Ưng và cs, 2021)[14]
* Những đơn thuốc có Hà thủ ô phổ cập trong nhân dân được trích trong Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 2014)[8]:
Đơn thuốc bổ dùng cho người già yếu, thần kinh suy nhược ăn uống kém tiêu: Hà thủ ô 10 g, đại táo (táo đen Trung Quốc) 5 g, thanh bì 2 g, trần bì 3 g, sinh
khương 3 g, cam thảo 2 g, nước 600 ml Sắc còn 200 ml, chia 3-4 lần uống trong
ngày
Bài thuốc Thất bảo mỹ nhiệm đơn: làm cho râu tóc trắng hóa đen, khỏe gân
xương, bền tinh khí, sống lâu: Hà thủ ô đỏ và hà thủ ô trắng mỗi thứ 600 g ngâm nước vo gạo 4 đêm ngày, cạo bỏ vỏ, dùng đậu đen đãi sạch rồi cho Hà thủ ô vào chõ: Một lượt hà thủ ô, một lượt đậu đen bắc lên bếp đồ chín đậu đen, đem bỏ đậu lấy Hà thủ ô phơi khô, rồi lại đồ, làm như vậy 9 lần Cuối cùng lấy Hà thủ ô sấy
khô và tán bột
Xích và bạch phục linh mỗi vị 600 mg, cạo bỏ vỏ tán bột, đãi với nước
trong, lọc lấy bột trắng ở dưới, nắm lại, tẩm với sữa người phơi khô
Trang 22Ngưu tất 320 g tẩm rượu mỗi ngày, thái mỏng trộn với Hà thủ ô, đồ với đậu
đen vào lần thứ 7,8 và 9 đem ra phơi khô
Đương quy 320 g tẩm rượu phơi khô Câu kỷ tử 320 g tẩm rượu phơi khô Thỏ ty tử 320 g tẩm rượu cho nứt ra, giã nát phơi khô Bổ cốt chỉ 100 g, trộn với vừng đen (hắc chi ma) sao cho bốc mùi thơm Tất cả giã nát trộn đều thêm mật vào làm thành viên 0,5 g (bằng hạt ngô) Ngày 3 lần, mỗi lần 50 viên Sáng dùng rượu
chiêu thuốc, trưa dùng nước gừng và tối dùng nước muối
Hà thủ ô hoàn: Hà thủ ô 1.800 g thái mỏng, ngưu tất 600 g thái mỏng Hai vị
trộn đều, dùng một đấu to đậu đen đãi sạch Cho thuốc vào chõ, cứ một lượt thuốc, một lượt đậu Đồ chín đậu, lấy thuốc ra phơi khô Làm như vậy 3 lần rồi tán bột Lấy thịt táo đen Trung Quốc trộn với bột làm thành viên 0,5 g Ngày uống 3 lần,
mỗi lần 30 viên Dùng rượu hâm nóng để chiêu thuốc
Hà thủ ô tán: Hà thủ ô cạo vỏ, thái mỏng phơi cho khô, tán bột Ngày uống 4
g vào sáng sớm Chiêu thuốc bằng rượu
Trên thị trường hiện nay có nhiều sản phẩm thực phẩm chức năng có tác dụng hỗ trợ và chăm sóc sức khỏe được chế biến từ dược liệu Hà thủ ô đỏ ví dụ: Viên Hà thủ ô Xuân Nguyên, Hà thủ ô Traphaco, Hà thủ ô TW3, Viên Hà thủ ô mật ong rừng Thanh Nga, Viên uống Hà thủ ô Lady, Viên Hà thủ ô Phạm Gia, Hà thủ ô cô viên D Vi Beauty, Hà thủ ô cô viên Rose và Viên Hà thủ ô Extracap Hầu hết các sản phẩm đều có thành phần chính là Hà thủ ô đỏ Các sản phẩm đều có tác dụng chung để bồi bổ sức khỏe, làm đen râu tóc, kích thích mọc tóc, điều trị hói đầu, chống xơ cứng động mạch, kéo dài tuổi thọ; hỗ trợ tốt cho thận, gan, mật, dưỡng huyết, khỏe gân cốt, xuy nhược thần kinh Điều này cho thấy nhu cầu nguồn nguyên liệu tạo sản phẩm từ Hà thủ ô là rất lớn Việc phát triển mô hình Hà thủ ô năng suất, chất lượng đáp ứng nhu cầu của ngành dược phẩm là định hướng đúng
Hà thủ ô đỏ được đánh giá là cây dược liệu có giá trị kinh tế cao, và được xem là một trong những loại cây dược liệu tiềm năng trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế cho người dân vùng cao và cung cấp nguồn dược liệu quý cho người tiêu dùng
Trang 23Phần III VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu nghiên cứu
Hà thủ ô đỏ thuộc họ rau răm (Polygonaceae) có tên khoa học là Polygonum multiflorum (Thunb.) Haraldson.Cây giống Hà thủ ô đỏ - Fallopia multiora, được nhân giống từ cây mẹ Cây giống khỏe, sinh trưởng phát triển tốt, không bị sâu bệnh, đạt tiêu chuẩn xuất vườn.Có nguồn gốc đầy đủ, rõ ràng theo quy định của Nhà nước, được cấp có thẩm quyền công nhận, đảm bảo các tiêu chuẩn Cây giống được nhân bằng phương pháp giâm hom cành Cây được nhân trong bầu Hom giống được lấy từ vườn cây mẹ đúng chủng loại, có độ tuổi từ 3 - 4 năm, sinh
Trang 24trưởng khỏe mạnh, không nhiễm sâu bệnh hại Giống được mua tại đơn vị cung cấp giống đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh giống theo đúng quy định được nêu trong Luật trồng trọt 2018 Cây giống xuất vườn cần đạt những tiêu chuẩn như sau:
khỏe, không mang mầm bệnh; lá xanh và cân đối Tuổi cây giống: 4 - 6 tháng tuổi
(tính từ ươm giống đến khi xuất vườn)
Hình 3.1: Cây giống Hà Thủ ô trồng thí nghiệm
Phân bón:
Phân bón hữu cơ vi sinh Sông Gianh
Thành phần: Độ ẩm: 30%; Hữu cơ: 15%; Acid Humic: 2,5% Trung lượng:
Ca:1,0%; Các chủng vi sinh vật hữu ích Bacillus 1 × 106 CFU/g; Azotobacter: 1×106 CFU/g; Aspergillus sp: 1×106 CFU/g
Phân bón hữu cơ vi sinh Quả Cầu Xanh:
Thành phần: Có màu đen, mùi nồng, dạng bột Tiêu chuẩn công bố áp dụng
Axit Humic: 0,1%; Trichoderma 1 x 106 CFU/g
Phân bón hữu cơ vi sinh BIOCARE:
Thành phần: Chất hữu cơ 45%, Tỷ lệ C/N: 12, pH: 5, Độ ẩm 30%
Trang 253.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu:
Địa chỉ: Hợp tác xã Lũng Lô, đèo Lũng Lô - xã Thượng Bằng La, huyện
Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: thời điểm trồng ngày 27 tháng 10 năm 2021, thời gian theo dõi thí nghiệm từ tháng 10/2021 đến tháng 5/2022
3.3 Nội dung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu ảnh hưởng của công thức phân bón hữu cơ vi sinh đến tỷ lệ sống cây Hà thủ ô đỏ tại xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái;
- Nghiên cứu ảnh hưởng của công thức phân bón hữu cơ vi sinh đến động thái/tốc độ tăng trưởng chiều cao cây Hà thủ ô đỏ tại xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái;
- Nghiên cứu ảnh hưởng của công thức phân bón hữu cơ vi sinh đến động thái/tốc độ tăng trưởng ra lá cây Hà thủ ô đỏ tại xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái;
- Nghiên cứu ảnh hưởng của công thức phân bón hữu cơ vi sinh đến động thái/tốc độ tăng trưởng ra nhánh cấp 1 trên cây Hà thủ ô đỏ tại xã Thượng Bằng
La, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái;
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu:
Trên nền phân bón vô cơ như nhau, thử nghiệm 3 loại phân bón vi sinh hữu
cơ khác nhau, cụ thể:
- Phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh
- Phân hữu cơ vi sinh Quả cầu xanh
- Phân hữu cơ vi sinh BIOCARE 2
* Các công thức thí nghiệm:
+ Công thức 1: Phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh: 5.000 kg/ha/năm
+ Công thức 2: Phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh: 6.000 kg/ha/năm
+ Công thức 3: Phân hữu cơ vi sinh Quả cầu xanh: 5.000 kg/ha/năm
Trang 26+ Công thức 4: Phân hữu cơ vi sinh Quả cầu xanh: 6.000 kg/ha/năm
+ Công thức 5: Phân hữu cơ vi sinh BIOCARE 2: 3.000 kg/ha/năm
+ Công thức 6: Phân hữu cơ vi sinh BIOCARE 2: 4.000 kg/ha/năm
* Phương pháp bố trí thí nghiệm:
Thí nghiệm được bón trên nền như sau: Năm thứ nhất: Bón lót 1.000 kg NPK (17-12-15)/ha/năm; 1.000 kg vôi bột/ha; chế phẩm vi sinh Biocare 1 cải tạo đất với lượng 80 lit/ha; năm thứ hai bón 1.000 kg NPK (15-15-15)/ha; năm thứ ba bón 1.000 kg NPK (15-4-17)/ha; năm thứ tư bón 1.000 kg NPK (15-4-17)/ha
Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, gồm 6 công thức
Thiết kế hàng theo đường đồng mức, hàng cách hàng 70 cm, cây cách cây 50 cm (mật độ 28.000 cây/ha), trồng 1 cây Hà Thủ ô trên một hốc Xung quanh thí nghiệm có băng bảo vệ, chiều rộng băng trồng ít nhất 2 hàng Hà thủ ô Tổng quy
Phương pháp bón phân: Một năm bón hai lần vào tháng 3 - 4 và 9 - 10; mỗi
Trang 27phẩm vi sinh Biocare 1 cải tạo đất trước khi lên luống với lượng 80 lít/ha Lên luống cao 25 - 30 cm, mặt luống rộng 110 cm để trồng được hai hàng, rãnh luống rộng khoảng 30 cm để tiện cho các hoạt động tưới tiêu và chăm sóc sau trồng Rạch hàng sâu 30 cm, rộng 20 cm Trồng Hà thủ ô đỏ trên đất dốc cần làm luống theo đường đồng mức Luống được phủ nilon trắng rộng 1,2 m, có đục lỗ theo kích thước 70 cm x 50 cm
Hình 3 1 Làm luống Hình 3.2 Luống đã được che phủ nilong
- Mật độ khoảng cách: Trồng cây với khoảng cách hàng cách hàng 70 cm, cây cách cây 50 cm; mật độ trồng 28.000 cây/ha
Hình 3 3 Trồng thử nghiệm cây Hà thủ ô
- Phân bón, kỹ thuật bón:
+ Lượng phân bón cho 1,0 ha:
Năm thứ nhất: 4.000 kg phân hữu cơ vi sinh sông Gianh + 1.000 kg phân NPK 17-12-5
Năm thứ hai: 1.000 kg phân hữu cơ vi sinh sông Gianh + 1.000 kg phân NPK 15-15-15
Trang 28Năm thứ ba – thứ tư: 1.000 kg phân hữu cơ vi sinh sông Gianh + 1.000 kg phân NPK 15-4-17
+ Phương pháp bón phân:
Năm thứ nhất:
Bón lót trước khi trồng cây: Bón 4.000 kg phân hữu cơ vi sinh và toàn bộ phân NPK Bón phân vào rãnh trồng, sau đó lấp một lớp đất trên phân
Hình 3 4 Bón lót phân hữu cơ vi sinh và phân NPK
Từ năm thứ hai – năm thứ ba:
Bón thúc lần 1: Bón vào tháng 3 – tháng 4 Bón 50% tổng lượng phân của năm Bón cách gốc 10 – 15 cm lấp kín, kết hợp tưới ẩm, làm cỏ
Bón thúc lần 2: Bón vào tháng 9 – tháng 10 Bón 50% lượng phân còn lại Bón cách gốc 10 – 15 cm lấp kín, kết hợp tưới ẩm, làm cỏ
Kỹ thuật trồng và chăm sóc:
+ Kỹ thuật trồng: Trồng cây theo hốc, mỗi hốc 1 cây, tháo gỡ bầu cẩn thận để
không vỡ bầu, đặt cây giống vào hốc (không trồng trực tiếp lên phân), sau đó lấp
kín gốc cây, dùng tay ấn chặt xung quanh gốc
+ Kỹ thuật chăm sóc:
Tưới tiêu nước: Tưới nước cho cây ngay sau khi trồng Giai đoạn đầu 30 ngày
sau khi trồng cần phải được cung cấp nước đầy đủ, trời nắng tưới 1 lần/ngày vào
Trang 29ra rễ mới Giữ ẩm cho đất trong suốt thời gian sinh trưởng Tưới nước sau mỗi đợt bón phân để hòa tan phân, cây dễ hấp thu phân bón
Sau đó số lần tưới giảm dần, tùy theo độ ẩm của đất để có chế độ tưới nước cho cây thích hợp
Phương pháp tưới nước cho cây: Có thể tưới trực tiếp vào gốc cây hoặc tưới rãnh cho nước ngập mặt luống thì dừng lại, với phương pháp này độ ẩm cho cây được giữ lâu hơn
Nguồn nước sử dụng cho cây là nguồn nước sạch, không bị ô nhiễm
Cây Hà thủ ô đỏ không chịu được ngập úng, do đó phải tiêu nước ngay khi
bị úng, bị đọng nước, nhất là khi cây còn nhỏ
Trồng dặm: Sau 7 - 10 ngày, trồng dặm lại những cây bị chết để đảm
bảo mật độ trồng
Làm giàn leo: Khi cây cao khoảng 40 - 50 cm (sau trồng 15 – 20 ngày) tiến
hành làm giàn cho cây leo Vật liệu làm giàn bằng cây Sật có kích thước đường kính 1,5 – 2,0 cm, dài 2,5 m Cắm chéo, gần gốc cây, tạo giàn có dạng chữ A cao khoảng 2,3 m Tại các điểm giao nhau của chữ A có cây Sật nằm ngang giằng, liên kết chặt các chữ A Dùng dây thít nhựa để buộc cố định giàn leo được chắc chắn
Hình 3.5 Làm giàn leo cho cây Hà thủ ô
Làm cỏ: Làm cỏ (nhổ cỏ) trung bình 3 tháng 1 lần trong giai đoạn đầu khi
cây Hà thủ ô còn nhỏ, sau đó số lần làm cỏ giảm dần Làm cỏ kết hợp với bón phân thúc
Trang 30* Theo dõi các chỉ tiêu khoa học
- Phương pháp theo dõi: theo dõi 5 điểm trên thí nghiệm theo quy tắc đường chéo để đánh giá các chỉ tiêu; mỗi ô thí nghiệm chọn 5 cây Tổng số cây theo dõi mỗi công thức là 15 cây
- Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi, đánh giá:
+ Tỷ lệ cây sống: đánh giá tỷ lệ cây sống 1 lần sau 20 ngày trồng
Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu trong thí nghiệm được xử lý thống kê
trên phần mềm Excel và phần mềm thống kê SAS 9.1 (SAS Institute 1990)
Trang 31Phần IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Ảnh hưởng phân bón hữu cơ vi sinh đến tỷ lệ sống cây Hà thủ ô đỏ tại huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
Phân hữu cơ vi sinh trong thành phần có chứa nhiều hơn 15% chất hữu cơ và tồn tại trong đó từ một hoặc nhiều các loại vi sinh vật vẫn còn sống và sẽ hoạt động
lạc)/mg mỗi loại Việc sử dụng phân hữu cơ vi sinh sẽ cung cấp đầy đủ dưỡng chất cần thiết cho cây trồng (đạm, lân, kali, các nguyên tố trung, vi lượng, các kích thích tố sinh trưởng, các vitamin cho cây, các vi sinh vật hữu ích như: phân giải lân, vi sinh vật đạm, phân giải xenlulo…); giúp giữ ẩm, giữ phân, giữ nước, hạn chế sự rửa trôi và xói mòn đất, giúp nhà nông tiết kiệm nước tưới; giúp cho bộ rễ của cây trồng phát triển rất tốt, bền lâu; giúp cho hệ vi sinh vật trong đất phát triển mạnh mẽ, giúp đẩy lùi được dịch bệnh và các vi sinh vật bất lợi sẽ bị triệt tiêu; tăng hàm lượng dinh dưỡng, cung cấp chất mùn cho đất, cải thiện các tính chất lý, hoá, sinh học của đất ngày một tốt lên
Hà thủ ô đỏ là loài cây ưa khí hậu ẩm mát của vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới núi cao Cây ưa sáng và có thể hơi chịu bóng Nơi mọc tự nhiên thích hợp nhất
là các quần hệ rừng núi đá vôi; độ cao tới 1.700 m, nhiệt độ không khí thích hợp là
ô đỏ thường mọc ở đất ẩm, tơi xốp, nhiều mùn, có tầng canh tác dày hơn 50 cm, thoát nước tốt, pH từ 3,85 – 6,5, nhất là loại đất ở chân núi đá (Lê Quang Ưng và
Trang 32sinh cải tạo đất BIOCARE 1 của Công ty cổ phần SPS Clean Công nghệ Cát tường, bón vôi bột, đặc biệt bón 3 loại phân hữu cơ vi sinh theo 6 công thức thí nghiệm cung cấp đủ dinh dưỡng cho cây con khi trồng, kết hợp che phủ nylon giữ
ẩm đất tốt và trồng đúng kỹ thuật nên cây Hà thủ ô đỏ sau khi trồng đến 20 ngày đã đạt tỷ lệ sống 100% ở tất cả các công thức thí nghiệm Tiếp tục theo dõi sau trồng
30 ngày, 60 ngày… cây Hà thủ ô đỏ trong các thí nghiệm và mô hình 1,2 ha đảm bảo số cây sống 100%
Hình 4.1 Cây Hà thủ ô sau 30 ngày trồng Hình 4.2 Cây Hà thủ ô sau 120 ngày trồng 4.2 Ảnh hưởng phân bón hữu cơ vi sinh đến động thái, tốc độ tăng trưởng chiều dài thân chính cây Hà thủ ô đỏ tại Văn Chấn, Yên Bái
Hà thủ ô đỏ (Polygonum multiflorum (Thunb.) Haraldson) là cây thân thảo,
sống lâu năm, thân leo quấn, gốc hóa gỗ (Lê Quang Ưng và cs, 2021)[14]
Ảnh hưởng của bón phân hữu cơ vi sinh đến động thái tăng trưởng chiều cao được trình bày tại Bảng 1 và Biểu đồ 1
Bảng 4.1: Ảnh hưởng phân bón hữu cơ vi sinh đến động thái tăng trưởng
chiều cao cây Hà thủ ô đỏ
Trang 33Bảng 4.2: Ảnh hưởng phân bón hữu cơ vi sinh đến động thái tăng trưởng
chiều cao cây Hà thủ ô đỏ
Biều đồ 4.1: Ảnh hưởng phân bón hữu cơ vi sinh đến tốc độ tăng trưởng
chiều dài thân chính cây Hà thủ ô đỏ (cm)
Qua xử lý thống kê cho thấy ảnh hưởng của các công thức phân bón hữu cơ
vi sinh đến tăng trưởng chiều cao cây không có sự sai khác (P > 0,05)
Kết quả ở Bảng 4.1 cho thấy: chiều cao cây Hà thủ ô đỏ ở các công thức tăng trưởng qua các ngày sau trồng: tăng trưởng mạnh nhất sau 90 ngày trồng Tại thời điểm 210 ngày sau khi trồng, chiều cao cây ở công thức 6 (BIOCARE 2 - 4.000 kg/ha/năm) đạt giá trị cao nhất (tăng trưởng đạt 375,07 cm), ở công thức 3 đạt giá trị thấp nhất (tăng trưởng đạt 300,2 cm)
Như vậy, tốc độ tăng trưởng chiều cao cây Hà thủ ô đỏ qua các công thức phân bón hữu cơ vi sinh tăng mạnh dần từ khi trồng đến sau trồng 120 ngày, giai đoạn từ 120 ngày sau trồng đến 210 ngày sau trồng, cây Hà thủ ô đỏ qua các công thức phân bón hữu cơ vi sinh tăng chậm hơn, vì đến giai đoạn này cây Hà thủ ô đỏ
0 50 100 150 200 250 300 350 400
Trồng 30 60 90 120 150 180 210
Chiều cao cây sau trồng … (ngày)
CT1 CT2 CT3 CT4 CT5 CT6 (Cm)
(Ngày)
Trang 34đã gần đạt chiều cao tối đa, đồng thời đã ngọn cây vượt cao hơn cây Sật và xu hướng nằm ngang trong không khí
Hình 4.3 Cây Hà thủ ô sau 210 ngày trồng 4.3 Ảnh hưởng phân bón hữu cơ vi sinh đến động thái, tốc độ tăng trưởng số
lá trên cây Hà thủ ô đỏ tại Văn Chấn, Yên Bái
Lá cây Hà thủ ô đỏ mọc so le, hình mũi tên, gốc lá hình tim, đầu lá thuôn nhọn, dài 5 - 8 cm, rộng 3 - 4 cm, 3 – 5 gân xuất phát từ gốc lá; hai mặt lá nhẵn; cuống lá dài khoảng 2 cm, phủ lông tơ; bẹ chìa mỏng, ngắn, có lông dài (Lê Quang Ưng và cs, 2021)[14]
Ảnh hưởng của bón phân hữu cơ vi sinh đến động thái tăng trưởng số lá trên cây Hà thủ ô đỏ được trình bày ở Bảng 4.2 và Biểu đồ 4.2
Bảng 4.3: Ảnh hưởng phân bón hữu cơ vi sinh đến tốc độ tăng trưởng số
Trang 35Kết quả xử lý thống kê cho thấy:
Kết quả ở Bảng 4.2 cho thấy: số lá trên cây Hà thủ ô đỏ ở tất cả các công thức tăng đều từ khi trồng đến sau trồng 120 ngày Ở giai đoạn 120 - 210 ngày sau trồng có sự biến động về số lá Tại thời điểm sau trồng 150 ngày, số lá trên cây giảm mạnh ở tất cả các công thức, bởi vì trong giai đoạn này cây Hà thủ ô bắt đầu
có hiện tượng rụng lá vào giai đoạn nhiệt độ không khí thấp và do mưa Xuân, sương mù nhiều, ẩm độ không khí rất cao khi vào tháng 2 - 3 năm 2022 Sau giai đoạn này, số lá tăng nhẹ đến thời điểm 210 ngày sau trồng (tháng 5 năm 2022 có mưa to, nhiều ngày cũng làm giảm tăng trưởng lá) Kết quả này có thể được giải thích rằng các cành nhánh cấp 1 và 2 trên cây Hà thủ ô bắt đầu sinh trưởng Tổng
020406080100120140160180
Số lá trên cây sau trồng … ngày
CT1CT2CT3CT4CT5CT6
(Lá/cây)
(Ngày)
Trang 36số lá trên cây Hà thủ ô được xếp theo thứ tự giảm dần từ CT6 -> CT5 -> CT2 -> CT4 -> CT3 -> CT1 Điều này thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa chiều cao cây và
số lá trên cây Công thức số 6 (BIOCARE 2: 4.000 kg/ha/năm) cũng đạt giá trị cao nhất về số lá trên cây
4.4 Ảnh hưởng phân bón hữu cơ vi sinh đến động thái, tốc độ tăng trưởng số nhánh cấp 1 trên cây Hà thủ ô đỏ
Ảnh hưởng của bón phân hữu cơ vi sinh đến động thái tăng trưởng số nhánh cấp 1 trên cây Hà thủ ô được thể hiện ở Bảng 4.3 và Biểu đồ 4.3
Bảng 4.3: Ảnh hưởng phân bón hữu cơ vi sinh đến động thái tăng
trưởng số nhánh cấp 1 trên cây Hà thủ ô đỏ
Bảng 4.3: Ảnh hưởng phân bón hữu cơ vi sinh đến động thái tăng
trưởng số nhánh cấp 1 trên cây Hà thủ ô đỏ
Trang 37Biều đồ 4.3: Ảnh hưởng phân bón hữu cơ vi sinh đến tốc độ tăng trưởng
số nhánh cấp 1 trên cây Hà thủ ô đỏ
Qua bảng 4.3 và biểu đồ 4.3 cho thấy phân bón hữu cơ vi sinh có ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng số nhánh cấp 1 trên cây Hà thủ ô tuy nhiên nhìn vào biểu đồ
ta thấy tốc độ tăng chậm và không đều
Kết quả ở Bảng 4.3 cho thấy: sau 30 ngày trồng, cây Hà thủ ô đỏ có số nhánh cấp 1 trên cây dao động từ 3,2 - 4,53 nhánh Số nhánh cấp 1 trên cây tăng dần ở tất cả các công thức trong suốt quá trình theo dõi sinh trưởng Số nhánh cấp
1 trên cây được xếp theo thứ tự giảm dần theo nhóm phân hữu cơ vi sinh: BIOCARE 2 > Quả cầu xanh > Sông Gianh Số nhánh cấp 1 trên cây đạt cao nhất
là 8,45 nhánh ở công thức 6 (210 ngày sau trồng)
Kết quả nghiên cứu cho thấy, cây Hà thủ ô đỏ ở giai đoạn từ khi trồng - 30 ngày sau trồng qua tất cả công thức phân bón hữu cơ vi sinh có tốc độ tăng trưởng
số nhánh cấp 1 trên cây đạt cao nhất trong các giai đoạn Giai đoạn sau 30 ngày đến 120 ngày sau trồng, cây Hà thủ ô đỏ tốc độ tăng trưởng số nhánh cấp 1 trên cây tăng nhanh dần đều Nhưng giai đoạn sau 120 ngày đến 210 ngày sau trồng, cây Hà thủ ô đỏ tốc độ tăng trưởng số nhánh cấp 1 trên cây chậm dần
0123456789
Số nhánh cấp 1 trên cây sau trồng … ngày
CT1CT2CT3CT4CT5CT6
( Nhánh c1)
(Ngày)
Trang 38Phần V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 5.1 Kết luận
- Các công thức phân hữu cơ vi sinh khác nhau không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống sau trồng 20 ngày (tỷ lệ sống đạt 100%)
- Phân hữu cơ vi sinh có ảnh hưởng đến động thái tăng trưởng chiều cao cây,
số lá, số nhánh cấp 1 Với công thức 6 sử dụng phân hữu cơ vi sinh BIOCARE 2: 4.000 kg/ha/năm có chiều cao lớn nhất so với các công thức sử dụng phân hữu cơ
vi sinh khác Với chiều cao (375,07 cm sau trồng 210 ngày), số lá (144,67 lá sau
trồng 210 ngày), số nhánh cấp 1 (8,45 nhánh sau trồng 210 ngày)
5.2 Đề nghị
trong thực tế
- Tiếp tục nghiên cứu các vụ khác trong năm để có kết quả chính xác hơn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu trong nước:
1 Nguyễn Tiến Bân và cs (2007) Sách đỏ Việt Nam, phần II - Thực vật NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội
2 Đỗ Huy Bích (2006) Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam Tập 1 NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Tr 884-888
3 Bộ Y tế (2009) Dược điển Việt Nam IV NXB Y học, tr 772-773
4 Phạm Thanh Huyền, Nguyễn Thị Hà Ly (2017) Điều tra phân bố và đánh
giá chất lượng nguồn gen hà thủ ô đỏ (Fallopia multiflora (Thunb.)
Haraldson) phục vụ công tác bảo tồn và phát triển ở Việt Nam Tạp chí Khoa học ĐH Quốc gia Hà Nội 33(1), 24-31
5 Phạm Thanh Huyền, Nguyễn Quỳnh Nga, Phan Trưởng, Hoàng Toán, Nguyễn Xuân Nam, Phạm Thị Ngọc (2015) Nghiên cứu đặc điểm hình thái
Trang 39Nam Hội nghị khoa học toàn quốc về sinh thái và tài nguyên sinh vật lần thứ 6
6 Phạm Thanh Huyền, Phạm Văn Trưởng (2017).“Nghiên cứu các biện pháp
kỹ thuật cho Hà thủ ô đỏ Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson tại xã Sơn Đông, thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội”, Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông
nghiệp Việt Nam, Số 9(82), Tr 60 – 66
7 Nguyễn Minh Khởi, Phạm Th anh Huyền (2013).Hà thủ ô đỏ, NXB Lao
động, Hà Nội.
8 Đỗ Tất Lợi (2014) Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam NXB Y học, Hà Nội
phân bón lá đến sinh trưởng hom giâm Hà thủ ô đỏ Fallopia multiflora
Tây Nguyên, Số 32, tháng 10-2018, Tr 38 – 43
(2008) “Nghiên cứu nhân giống in vitro cây Hà thủ ô đỏ (Polygonum
multiflorum Thunb)”, Tạp chí Công nghệ sinh học, Số 6(4B), Tr 889 – 895.
11 Nguyễn Tập (2005) “Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam”, Tạp chí Dược
liệu, Tập 11, Số 3 (2005) 97
12 Nguyễn Tập (2006) “Cẩm nang cây thuốc cần bảo vệ ở Việt Nam”, Mạng
lưới lâm sản ngoài gỗ Việt Nam (2007), Tr 81- 82
13 Bùi Văn Thắng (2017) “N hân giống in vitro cây Hà thủ ô đỏ (Fallopia
multiflora (Thunb.)) tuyển chọn tại tỉnh Hà Giang”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Lâm nghiệp Việt Nam, Số 4, Tr 23 – 28.
trình Cây dược liệu, NXB Bách Khoa Hà Nội.
15 Viện Dược Liệu (2005) Kỹ thuật trồng, sử dụng và chế biến cây thuốc, NXB Nông nghiệp, Hà Nội
Trang 40Tài liệu nước ngoài và tài liệu internet
16 Ahemad M, Kibret M (2014) Mechanisms and applications of plant growth promoting rhizobacteria: current perspective J King Abdulaziz Univ Ence 26:1–20
17 Chang, W.T., Thissen, U., Ehlert, K.A., Koek, M.M., Jellema, R.H., Hankemeier, T., Greef, J., and Wang, M 2006 Effects of growth conditions
and processing on Rehmannia glutinosa using fingerprint strategy Planta
Med 72: 458–467
18 Cristina Lazcano, Xia Zhu-Barker and Charlotte Decock, (2021) Effects of Organic Fertilizers on the Soil Microorganisms Responsible for N2O Emissions: A Review
19 Ferreira CMH, Soares HMVM, Soares EV (2019) Promising bacterial genera for agricultural practices: an insight on plant growth-promoting properties and microbial safety aspects Sci Total Environ 682:779–799
20 Francis I, Holsters M, Vereecke D (2010) The gram-positive side of plant– microbe interactions Environ Microbiol 12:1–12
21 Heijden MGAVD, Bardgett RD, Straalen NMV (2010) The unseen majority: soil microbes as drivers of plant diversity and productivity in terrestrial ecosystems Ecol Lett 11:296–310
22 Huang, W., Homg, L.Y., Chen, C.F., Wu, R.T (2007), “Chinese herb Radix
Polygoni Multiflori as a therapeutic drug for liver cirrhosis in mice”, Journal
24 Lv, L.S., Gu, X.H., Tang, J., Ho, C.T (2007), Antioxidant activity of
stilbene glycoside from Polygonum multiflorum Thunb in vivo Food
Chemistry 104, 1678-1681