1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo thực tập tốt nghiệp tìm hiểu hiện trạng quản lý và xử lý nước thải nuôi trồng thủy sản tại xã vĩnh chánh huyện thoại sơn

35 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo thực tập tốt nghiệp tìm hiểu hiện trạng quản lý và xử lý nước thải nuôi trồng thủy sản tại xã Vĩnh Chánh, huyện Thoại Sơn
Người hướng dẫn Võ Đan Thanh, Võ Thị Lệ Hòa
Trường học Trường Đại Học An Giang
Chuyên ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Thể loại Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố An Giang
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 671 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1 Lí do chọn đề tài (14)
  • 1.2 Mục tiêu (14)
  • 1.5 Phạm vi nghiên cứu (15)
  • 1.1 Tóm tắt về quá trình hình thành (0)
  • 1.2 Chức năng v lĩnh vực hoạt động (0)
  • 1.3 Cơ cấu tổ chức (16)
  • 1.4 Tình hình hoạt động của đơn vị trong 3-5 năm (16)
  • 1.5 Tổng quan về huyện Thoại Sơn (18)
  • CHƯƠN 2: BÁO CÁO NỘI DUNG THỰC TẬP TẠI ĐƠN VỊ (0)
    • 2.1 Báo cáo nội dung công việc thực tập tại đơn vị (22)
    • 2.2 Báo cáo nội dung thực hiện chu ên đề thực tập tại cơ quan (0)
      • 2.2.1 Nội dung nghiên cứu (22)
      • 2.2.2 Thực trạng ô nhiễm môi trường do nuôi trồng thủy sản (22)
      • 2.2.3 Ảnh hưởng từ chất thải của ao nuôi trồng thủy sản (24)
        • 2.2.3.3 Ảnh hưởng tới sức khỏe con người (25)
  • CHƯƠN 3: BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC TẬP TẠI ĐƠN VỊ (0)
    • 3.1 Báo cáo kết quả công việc thực tâp tại đơn vị (0)
    • 3.2 Báo cáo kết quả chu ên đề thực tập tại đơn vị (0)
      • 3.2.1 Tổng quan về tình hình nuôi trồng thủy sản tại Thoại Sơn (0)
        • 3.2.1.1 Về thực hiện t i cơ cấu lĩnh vực nuôi trồng thủy sản (0)
        • 3.2.1.2 Về ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất thủy sản (28)
        • 3.2.1.3 Thuận lợi v khó khăn (0)
      • 3.2.2 Kế hoạch phát triển thủy sản ứng dụng công nghệ cao đến năm 2 2 v định hướng đến năm 2 3 (29)
      • 3.2.3 Tình hình quản lý và xử lý nước thải nuôi trồng thủy sản tại xã Vĩnh Ch nh huyện Thoại Sơn (31)
        • 3.2.3.1 Ảnh hưởng của nước thải từ các ao hồ nuôi trồng thủy sản tới nguồn nước mặt tại xã Vĩnh Ch nh (31)
        • 3.2.3.3 Các biện pháp xử lý nước thải của các hộ nuôi trồng thủy sản (32)
  • CHƯƠN 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (0)
    • 4.1 Kết luận (33)
    • 4.2 Kiến nghị (34)

Nội dung

TR ƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANGKHOA KỸ THUẬT_CÔNG NGHỆ_ MÔI TRƯỜNG THỰC TẬP CUỐI KHÓA TÌM HIỂU HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ NƯỚC THẢI NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TẠI XÃ VĨNH CHÁNH, HUYỆN THOẠI SƠN Chuyê

Mục tiêu

- Tìm hiểu hiện trạng quản lý và xử lý nước thải từ nuôi trồng thủy sản.

-Đề xuất các biện pháp nhằm cải thiện và bảo vệ môi trường nước trong nuôi trồng thủy sản ở xã Vĩnh Ch nh hu ện Thoại Sơn

1.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Thu thập c c văn bản qu định liên quan đến quản lý và xử lý nước thải từ hoạt động nuôi trồng thủy sản.

- Thu thập số liệu thứ cấp từ về hiện trạng nuôi trồng thủy sản (loại hình, quy mô

…) công t c quản lý và xử lý nước thải từ hoạt động này tại xã Vĩnh Ch nh huyện Thoại Sơn

1.3.2 Phương pháp khảo sát thực tế

- Khảo sát thực địa vùng nuôi trồng thủy sản tại xã Vĩnh Ch nh

- Quan sát thực tế để đ nh gi tình hình xử lí nước thải nuôi trồng thủy sản tại địa phương

- Các hộ dân nuôi trồng thủy sản.

Cơ cấu tổ chức

Hiện Phòng T i ngu ên v Môi trường gồm có 9 đ/c trong đó biên chế 9 đ/c (nữ giới có 5 đ/c nam giới có 4 đ/c) Lãnh đạo: gồm 3 đ/c trưởng phòng và

2 phó trưởng phòng Trình độ: gồm đ/c có trình độ thạc sĩ 7 đ/c có trình độ đại học đ/c có trình độ trung cấp

Tình hình hoạt động của đơn vị trong 3-5 năm

Ủy ban nhân dân huyện ban hành quyết định về quy hoạch và kế hoạch dài hạn 5 năm trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường Tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch sau khi được phê duyệt, đồng thời thông tin, tuyên truyền và giáo dục pháp luật liên quan đến tài nguyên và môi trường Ngoài ra, cần theo dõi việc thi hành pháp luật trong lĩnh vực này.

Lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại huyện là nhiệm vụ quan trọng, nhằm tổ chức thực hiện hiệu quả sau khi được phê duyệt.

Ủy ban nhân dân huyện có thẩm quyền thẩm định hồ sơ liên quan đến giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất, chuyển quyền sử dụng đất, và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở cùng tài sản khác gắn liền với đất cho các đối tượng.

Theo dõi biến động đất đai là rất quan trọng; cần thực hiện lập, quản lý, cập nhật và chỉnh lý hồ sơ địa chính Đồng thời, xây dựng hệ thống thông tin đất đai hiện đại cũng là một nhiệm vụ cần thiết.

Tham gia xác định giá đất và mức thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất của địa phương; tổ chức thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định của pháp luật; tư vấn cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện trong việc quyết định trưng dụng đất và gia hạn trưng dụng đất.

Tổ chức thực hiện đăng ký và kiểm tra cam kết bảo vệ môi trường, bao gồm đề án và kế hoạch bảo vệ môi trường, cũng như các biện pháp phòng ngừa và ứng phó với sự cố môi trường Công tác bảo vệ môi trường tại các làng nghề được chú trọng, với việc lập báo cáo hiện trạng môi trường định kỳ Ngoài ra, tổ chức cũng đề xuất giải pháp xử lý ô nhiễm tại các làng nghề, cụm công nghiệp và khu du lịch, đồng thời thu thập và quản lý dữ liệu về tài nguyên nước và đa dạng sinh học trong khu vực.

Tổ chức đăng ký hoạt động khai thác, sử dụng t i ngu ên nước, xả nước thải vào nguồn nước theo thẩm quyền.

Giúp Ủy ban nhân dân huyện thực hiện các biện pháp bảo vệ khoáng sản chƣa khai th c t i ngu ên thiên nhiên kh c theo qu định của pháp luật.

Tổ chức thực hiện c c qu định của pháp luật về bảo vệ môi trường, tài ngu ên đất t i ngu ên nước, tài nguyên khoáng sản.

Thực hiện các nhiệm vụ khác do Ủy ban nhân dân huyện giao hoặc theo quy định của pháp luật.

Quản lý và chịu trách nhiệm về tài chính, tài sản của Phòng theo qu định của pháp luật.

Ủy ban nhân dân huyện có trách nhiệm quản lý các nguồn tài chính và dịch vụ công trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật.

Tổng quan về huyện Thoại Sơn

1.5.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên

Thoại Sơn là huyện có trung tâm hành chính tại thị trấn Núi Sập, nằm ở phía Tây - Nam của tỉnh An Giang, thuộc vùng Tứ giác Long Xuyên Huyện cách thành phố Long Xuyên khoảng 25 km theo trục tỉnh lộ 943 Về tọa độ địa lý, Thoại Sơn nằm trong khoảng từ 6°9' đến 22°22' vĩ độ Bắc và từ 55°5' đến 55°26' kinh độ Đông Địa giới hành chính của huyện được xác định rõ ràng.

- Phía Đông gi p th nh phố Long Xuyên.

- Phía Tây giáp huyện Tri Tôn.

- Phía Nam giáp tỉnh Kiên Giang và thành phố Cần Thơ

- Phía Bắc giáp huyện Châu Thành.

Diện tích tự nhiên của huyện Thoại Sơn là 46.885,52 ha, chiếm 13,26% tổng diện tích tỉnh Dân số huyện đạt 8.895 người, với mật độ dân số trung bình là 386 người/km² Huyện bao gồm 3 thị trấn: Núi Sập, Phú Hòa và Óc Eo, cùng với 14 xã.

Phú n Bình Vĩnh Phú Vĩnh Trạch, Phú Thuận Vĩnh Ch nh Định Mỹ Định Thành,

Mỹ Phú Đông Vĩnh Kh nh Thoại Giang, Bình Thành, Vọng Đông v Vọng Thê.

Thoại Sơn là một trong những địa phương có truyền thống cách mạng nổi bật của tỉnh An Giang Từ khi Thoại Ngọc Hầu thành lập làng Thoại Sơn, người dân nơi đây đã trải qua nhiều cuộc đấu tranh gian khổ để đẩy lùi giặc ngoại xâm, hy sinh nhiều xương máu để bảo vệ quê hương và giữ gìn độc lập, tự do cho dân tộc Ngoài truyền thống vẻ vang, Thoại Sơn còn có vị trí địa lý thuận lợi với hệ thống giao thông phát triển, tạo điều kiện cho huyện kết nối với các địa phương khác trong và ngoài tỉnh.

Huyện có trục tỉnh lộ 943 bắt đầu từ thành phố Long Xuyên, trung tâm tỉnh An Giang, và đi qua 6 xã, bao gồm Vĩnh Trạch và Định.

Th nh Vĩnh Kh nh Thoại Giang, Vọng Đông Vọng Thê) và 3 thị trấn

Huyện Tri Tôn có vị trí chiến lược khi kết nối với tỉnh lộ 948 để đi Tịnh Biên và Quốc lộ 9 đến thị xã Châu Đốc, một khu vực phát triển mạnh mẽ của tỉnh Đặc biệt, khi tuyến giao thông từ thành phố Rạch Giá đến thị trấn Núi Sập qua đường Hồ Chí Minh (quốc lộ N2) hoàn thành, khả năng kết nối của huyện với các trung tâm đô thị lớn sẽ trở nên thuận lợi hơn, tạo điều kiện cho huyện phát triển kinh tế địa phương.

Kênh trục Thoại Hà, bắt nguồn từ Sông Hậu tại Long Xuyên, kéo dài qua các địa bàn như Phú Hòa, Vĩnh Trạch, Định Mỹ, Định Thành, Thoại Giang, Bình Thành và Núi Sập, kết nối với sông Kiên Giang đổ ra biển Tây tại cửa biển Rạch Giá Cùng với kênh Vĩnh Tế, kênh Thoại Hà là một trong hai kênh quan trọng của đồng bằng sông Cửu Long, mang đậm dấu ấn của Thoại Ngọc Hầu Kênh này có giá trị về giao thông, thủy lợi, thương mại và nông nghiệp, góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn trong vùng Ngoài ra, đây còn là công trình thoát lũ đầu tiên từ thời nhà Nguyễn ở đồng bằng sông Cửu Long.

Huyện Thoại Sơn, với truyền thống cách mạng vẻ vang và vị trí giao thông thủy bộ thuận lợi, có tiềm năng lớn để phát triển thương mại - du lịch và công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Người dân nơi đây cần cù, chịu khó, cùng với lực lượng lao động dồi dào, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển Đặc biệt, huyện đang kêu gọi đầu tư vào du lịch cảnh quan, đặc biệt là khu di tích văn hóa Óc Eo, di sản của vương quốc Phù Nam, nằm trong tuyến du lịch An Giang Huyện cũng khai thác thế mạnh về cây lúa để thúc đẩy phát triển công nghiệp chế biến.

Ngoài những ngọn núi cuối cùng đƣợc thiên nhiên đặt ở đồng bằng Tây Nam

Huyện Thoại Sơn có địa hình chủ yếu bằng phẳng, với các núi Ba Thê, núi Sập và núi Chọi Hệ thống kênh rạch phong phú, chịu ảnh hưởng của lũ từ sông Hậu, tạo điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp Giao thông tại huyện rất phát triển, với kênh Thoại Hà là tuyến đường quan trọng cho vận chuyển hàng hóa đường thủy Đường bộ cũng được đầu tư mạnh mẽ, kết nối với các huyện, thị, thành phố trong tỉnh và các tỉnh lân cận như Cần Thơ, Hậu Giang, Kiên Giang, thúc đẩy giao thương hàng hóa hiệu quả.

Khí hậu nhiệt đới, có gió mùa với hai mùa nắng mƣa rõ rệt; nhiệt độ trung bình h ng năm 28 C – 300C.

Huyện Thoại Sơn nổi bật với nhiều di tích lịch sử quan trọng, bao gồm khu di tích khảo cổ nền văn minh Óc Eo của Vương quốc Phù Nam, bia đền Tượng Phật 4 tay tại thị trấn Óc Eo, và Bia Thoại Sơn tại Đình thần Thoại.

Ngọc Hầu được công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia, nổi bật với ruộng đất phù sa màu mỡ, lý tưởng cho canh tác lúa và nuôi trồng thủy sản Huyện Thoại Sơn là một trong những địa phương có sản lượng lúa lớn nhất tỉnh An Giang Ngoài sản xuất lúa, huyện còn phát triển du lịch tâm linh kết hợp với du lịch sinh thái, tạo nên tiềm năng du lịch đa dạng.

− Khu du lịch hồ Ông Thoại l nơi tập trung nhiều thắng cảnh thiên nhiên và nhân tạo.

− Thiền viện Trúc Lâm n iang l địa điểm hứa hẹn đem lại nhiều ấn tƣợng cho du khách.

Khu du lịch Óc Eo – Ba Thê là điểm đến hấp dẫn, nơi du khách có thể chiêm ngưỡng các di tích được khai quật và bảo tồn của Vương quốc Phù Nam Tại đây, du khách còn có cơ hội khám phá những cổ vật độc đáo của nền văn hóa Óc Eo, phát triển rực rỡ từ những thế kỷ đầu Công Nguyên.

1.5.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn

- Tổng diện tích trồng lúa 4 784/ 4 5 ha đạt 100,2% kế hoạch năm gần ha so năm trước do chuyển sang trồng rau m u v câ ăn tr i đó lúa Đông xuân

38 93 ha; lúa Hè thu 38 787ha lúa Thu đông 37 67ha giảm Trong

Nhờ vào công tác khuyến nông hiệu quả và kiểm soát sâu bệnh, năng suất lúa bình quân đạt 6,5 tấn/ha, không giảm so với năm trước Tổng sản lượng lúa trong năm đạt 75.460 tấn, giảm 2.531 tấn so với năm trước, trong đó có lúa Đông Xuân.

291.975 tấn, lúa Hè thu 224.964 tấn lúa Thu đông 233 522 tấn.

Hưởng ứng chủ trương của huyện, các hộ nông dân đã chuyển đổi 53ha đất trồng lúa kém hiệu quả sang chuyên canh màu và trồng cây ăn trái nhằm tăng giá trị sản xuất Trong đó, diện tích trồng cây ăn trái đạt 643ha, với 4ha đang được quy hoạch cho Dự án trồng cây ăn trái phục vụ du lịch tại thị trấn Núi Sập, tổng diện tích quy hoạch là 211ha.

Eo và Vọng Thê 150ha.

Đã triển khai 6 kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng và vật nuôi, trong đó 5 kế hoạch đã được thực hiện và đạt được kết quả bước đầu Riêng kế hoạch ứng dụng khẩu phần thức ăn nuôi bò vỗ béo vẫn chưa được thực hiện Hiện có 14 xã và thị trấn đăng ký tham gia thực hiện các kế hoạch này.

Trong bài viết này, chúng tôi giới thiệu 27 mô hình nông nghiệp công nghệ cao đang được triển khai Hiện tại, có 7 tiểu vùng tưới – tiêu kết hợp đang được xây dựng tại 6 xã, với tổng diện tích áp dụng lên tới 1.379ha.

BÁO CÁO NỘI DUNG THỰC TẬP TẠI ĐƠN VỊ

Báo cáo nội dung thực hiện chu ên đề thực tập tại cơ quan

2.1 Báo cáo nội dung công việc thực tập tại đơn vị

Trong quá trình thực tập thực tế tại đơn vị đã đƣợc giao thực hiện một số công việc:

- Tham quan các mô hình thu gom vỏ chai lọ bao bì thuốc bảo vệ thực vật.

- Tổng hợp các kết quả điều tra môi trường t i ngu ên nước ở huyện Thoại Sơn

- Tham quan các mô hình trồng nấm rơm trên địa bàn.

- Nghiên cứu luật bảo vệ môi trường, nghị định thông tư về quản lý tài nguyên và môi trường.

2.2 Báo cáo nội dung thực hiện chuyên đề thực tập tại cơ quan

- Hiện trạng quản lý và xử lý nước thải nuôi trồng thủy sản tại xã Vĩnh Ch nh huyện Thoại Sơn

- Tìm hiểu phương ph p xử lý nước thải nuôi trồng thủy sản của người dân tại địa phương

2.2.2 Thực trạng ô nhiễm môi trường do nuôi trồng thủy sản

Tại các vùng nuôi trồng thủy sản tập trung, đặc biệt là khu vực nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh, chất lượng môi trường đất và nước đang bị ô nhiễm nghiêm trọng Nước tại đây có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ với các chỉ số BOD, COD và ni-tơ Phốt - Pho vượt quá tiêu chuẩn cho phép, đồng thời xuất hiện khí độc hại và độ đục cao, dẫn đến dịch bệnh thủy sản và thiệt hại lớn cho nông dân Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long, ô nhiễm môi trường trong ngành thủy sản đang ở mức báo động, đặc biệt do sự mở rộng ồ ạt diện tích nuôi tôm và cá tra Với khoảng 5.000 ha mặt nước nuôi cá tra, mỗi năm có gần 1 triệu tấn chất thải từ thức ăn nuôi cá thải ra môi trường.

Nguyên nhân gây ra tình trạng này là do các hộ dân trong quá trình cải tạo ao nuôi đã sử dụng quá nhiều hóa chất, bao gồm vôi, iodin, chlorin, saponin, và đặc biệt là một số trường hợp sử dụng thuốc trừ sâu để diệt giáp xác.

Mô hình nuôi thâm canh cao và quy mô công nghiệp lớn dẫn đến lượng chất thải gia tăng, gây nguy hại cho môi trường nước Vùng ĐBSCL đang phải đối mặt với sự suy giảm chất lượng nước và ô nhiễm môi trường do sự bùng nổ trong nuôi trồng thủy sản trong hai thập niên qua, cả về diện tích nuôi và mật độ nuôi thả tôm hoặc cá trên mỗi mét vuông mặt nước.

Các nguồn chất thải từ nuôi trồng thủy sản chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường vẫn được thải ra các sông, kinh, rạch ở khu vực ĐBSCL, với ước tính hàng năm thải ra 456,6 triệu m³ bùn thải và chất thải nuôi trồng Điều này gây ra tác động xấu đến chất lượng nước và gia tăng dịch bệnh Mỗi năm, khoảng 3 triệu tấn bùn hữu cơ gần như chưa được xử lý được thải ra môi trường nước, bao gồm bùn chứa phân của tôm cá, thức ăn thừa thối rữa, và các chất tồn dư từ vật tư nuôi trồng như hóa chất, vôi, và khoáng chất độc hại như Fe²⁺, Fe³⁺, Al³⁺, SO₄²⁻.

Các thành phần như H2S và NH3 là sản phẩm của quá trình phân hủy yếm khí trong môi trường ngập nước Bùn phù sa lắng đọng trong các ao nuôi trồng thủy sản được thải ra hàng năm trong quá trình vệ sinh và nạo vét Đặc biệt, với các mô hình nuôi kỹ thuật cao và mật độ nuôi lớn như nuôi thâm canh và nuôi công nghiệp, lượng chất thải gia tăng, dẫn đến tác động ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng.

Chỉ 17% trọng lượng khô của thức ăn cung cấp cho ao nuôi được chuyển thành sinh khối, trong khi phần còn lại thải ra môi trường dưới dạng phân và chất hữu cơ thối rữa Tại các ao nuôi công nghiệp, chất thải có thể chứa hơn 45% nitrogen và 22% chất hữu cơ, dẫn đến hiện tượng phú dưỡng và phát sinh tảo độc trong môi trường nuôi trồng thủy sản Nguồn chất thải này lan truyền nhanh chóng trong hệ thống nuôi cá trên sông và các đầm trũng, cùng với phù sa có thể gây ô nhiễm môi trường và dịch bệnh thủy sản.

Theo tính toán, để sản xuất 1 kg cá thịt, người nông dân cần sử dụng từ 3-5 kg thức ăn, trung bình khoảng 4 kg Tuy nhiên, thực tế chỉ có khoảng 17% thức ăn được cá hấp thu, trong khi 83% còn lại hòa lẫn vào môi trường nước và trở thành các chất hữu cơ phân hủy.

Mỗi triệu tấn thủy sản sản xuất ra ít nhất 3 triệu tấn chất thải hữu cơ, gây ô nhiễm môi trường nước ở ĐBSCL Trong các ao nuôi công nghiệp, chất thải có thể chứa đến 45% nitrogen và 22% chất hữu cơ, dẫn đến hiện tượng phú dưỡng và phát sinh tảo độc Nguồn chất thải này lan truyền nhanh chóng trong hệ thống nuôi cá trên sông và các đầm trũng, cùng với phù sa, gây ô nhiễm môi trường và làm gia tăng dịch bệnh thủy sản.

Nguồn nước trong mùa khô của ĐBSCL đang bị hạn chế và suy giảm chất lượng, do khu vực này tập trung nhiều loại đất phèn tiềm tàng như pyrite (FeS2) và phèn hoạt động như jarosite (K/Na.Fe3/Al3(SO4)2(OH)6) Việc nuôi thủy sản và vệ sinh ao nuôi sau mùa thu hoạch đã làm cho tầng phèn tiềm ẩn bị tác động bởi quá trình oxy hóa, dẫn đến sự lan truyền phèn mạnh mẽ, làm giảm độ pH của môi trường nước Điều này gây ô nhiễm môi trường và gia tăng dịch bệnh cho tôm, cá trong nuôi trồng Các nguồn thải ra sông rạch cũng đã tác động làm biến đổi môi trường nước.

Chất lượng nước trong ao nuôi thủy sản, đặc biệt là trong các mô hình nuôi tôm ven biển, đang bị ô nhiễm hữu cơ với chỉ số BOD, COD, nitơ và phốt pho vượt quá tiêu chuẩn cho phép Sự xuất hiện của các thành phần độc hại như H2S, NH₃⁺ và chỉ số vi sinh Coliforms cho thấy rằng nguồn nước thải cần được xử lý triệt để trước khi thải ra sông rạch.

Môi trường nước ở vùng ngọt hóa đang đối mặt với ô nhiễm hữu cơ, với sự hiện diện của vi sinh vật Coliforms, độ đục và amoniac, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nước, đặc biệt là nước phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt Trong khi đó, ở vùng mặn hóa ven biển, nồng độ sắt (phèn hóa) gia tăng do quá trình phèn hóa mạnh mẽ, cùng với N-NH3 và Coliforms, gây tác động tiêu cực đến nuôi trồng thủy sản Đặc biệt, độ đục cao trong môi trường nước do phù sa và quy trình đào đắp ao nuôi tôm không được xử lý đúng cách đã thải ra môi trường, làm trầm trọng thêm tình trạng ô nhiễm.

Sự gia tăng diện tích nuôi trồng không có định hướng và không phù hợp với quy hoạch sử dụng nguồn nước hiện nay đang gây ra nguy cơ ô nhiễm chất lượng nước Các kênh rạch nhỏ bị ô nhiễm nghiêm trọng ảnh hưởng đến khả năng tự làm sạch của nguồn nước, đe dọa tính bền vững của nghề cá tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Quá trình chuyển dịch từ trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản đang diễn ra mạnh mẽ ở các vùng ven biển bị mặn hóa, dẫn đến gia tăng xâm nhập mặn Hệ quả của tình trạng này là sự suy giảm rừng ngập mặn ven biển, ảnh hưởng tiêu cực đến các hệ sinh thái rừng ngập mặn Bên cạnh đó, việc nuôi cá bè trên sông rạch và nuôi thâm canh thủy sản ở các vùng ngọt hóa đã gây ra tác động đáng kể đến chất lượng môi trường nước tại đây.

2.2.3 Ảnh hưởng từ chất thải của ao nuôi trồng thủy sản

Chất thải bao gồm thức ăn thừa, chất thối rữa, hóa chất dư thừa, kháng sinh, vôi, khoáng chất như Diatomit và Dolomit, cũng như lưu huỳnh lắng đọng và các chất độc hại trong đất như Fe²⁺, Fe³⁺, Al³⁺ và SO₄²⁻.

Các thành phần như H2S và NH3 là sản phẩm của quá trình phân hủy yếm khí trong môi trường nước, tạo ra chất độc trong ao nuôi trồng thủy sản Nguồn bùn phù sa lắng đọng và chất thải từ ao nuôi, đặc biệt trong các mô hình nuôi thâm canh và công nghiệp, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Chất thải ao nuôi công nghiệp chứa hơn 45% nitrogen và 22% chất hữu cơ, vượt mức cho phép, dẫn đến mất cân bằng sinh thái và tình trạng cá bệnh, chết Ngoài ra, chất thải này còn gây hiện tượng phú dưỡng, phát sinh tảo độc trong môi trường nuôi trồng thủy sản, và lan truyền nhanh chóng trong hệ thống nuôi c bè trên sông, làm gia tăng ô nhiễm và dịch bệnh thủy sản.

BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC TẬP TẠI ĐƠN VỊ

Ngày đăng: 05/06/2023, 15:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w