1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vận dụng lý thuyết “địa –văn hóa” để lý giải về sự đồng nhất và khác biệt văn hóa giữa các vùng miền ở việt nam

27 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng lý thuyết “địa –văn hóa” để lý giải về sự đồng nhất và khác biệt văn hóa giữa các vùng miền ở Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Xã hội học, Văn hóa học
Thể loại Bài tập nhóm
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo định nghĩa về văn hóa của UNESCO: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình.” Văn hóa là một hiện tượng khách quan, là tổng hòa các khía cạnh của đời sống.Sự hình thành và phát triển của một nền văn hóa chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố,trong đó có điều kiện tự nhiên.Và nền văn hóa Việt Nam cũng không phải ngoại lệ.Việc tìm hiểu văn hóa giữa các vùng miền ở Việt Nam từ góc độ Địa – Văn hóa sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về nền văn hóa của dân tộc mình.Vì vậy, nhóm 02 xin lựa chọn đề tài : “Vận dụng lý thuyết “Địa –Văn hóa” để lý giải về sự đồng nhất và khác biệt văn hóa giữa các vùng miền ở Việt Nam” để làm bài tập nghiên cứu, đánh giá quá trình học tập của cả nhóm.

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 2

BIÊN BẢN XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ THAM GIA VÀ KẾT QUẢ THAM GIA LÀM BÀI TẬP NHÓM

Ngày: ……… Địa điểm: ………

Nhóm số: ……… Lớp: ……… Khóa: ………

Tổng số thành viên của nhóm: ………

Có mặt: ………

Vắng mặt: ……… Có lý do: ……… Không lý do: ………

Nội dung: ………

……… ………

Tên bài tập: ………

Môn học: ………

Xác định mức độ tham gia và kết quả tham gia của từng sinh viên trong việc thực hiện bài tập nhóm số: ……… Kết quả như sau: ………

STT MSSV Họ và Tên Đánh giá của SV Kí tên Đánh giá của giáo viên A B C Điểm số Điểm chữ 1 440343 Phạm Thị Thúy An 2 440349 Nguyễn Trà My 3 440406 Nguyễn Minh Đức 4 440909 Lê Trung Đức Anh 5 440912 Trần Thị Mỹ Lệ 6 440913 Phạm Xuân Quỳnh 7 440914 Nguyễn Hoàng Bảo Ngọc 8 440915 Tao Thị Thu Hà 9 440916 Nguyễn Thị Như 10 440917 Phạm Thị Lan Anh Hà Nội, ngày…… tháng…… năm ………

Kết quả điểm bài viết: NHÓM TRƯỞNG - Giáo viên chấm thứ nhất:.………

- Giáo viên chấm thứ hai:.………

Kết quả điểm thuyết trình:………

- Giáo viên cho thuyết trình:………

Trang 4

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 3

1 Khái quát về công cụ định vị văn hóa: Địa-văn hóa 3

a Khái niệm 3

b Cơ sở khoa học 3

2 Đặc điểm của công cụ định vị văn hóa Địa –Văn hóa 3

3 Công cụ địa - văn hóa ở Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng. 4

4 Việt Nam từ công cụ địa văn hóa còn có những đặc điểm riêng 7

a Lối ứng xử linh hoạt, mềm dẻo, khả năng thích nghi và chịu đựng cao 7

b Mang tính dung chấp cao 8

c Không có các công trình kiến trúc đồ sộ (ngoại trừ hệ thống đê điều và thủy lợi) 8

d Tồn tại nhiều loại hình nghệ thuật gắn với sông nước: điển hình là múa rối nước 10

5 Lý giải về sự đồng nhất và khác biệt văn hóa giữa các vùng miền ở Việt Nam 12

a Sự đồng nhất giữa các vùng – miền văn hóa VN dựa trên địa – văn hóa: 12

b Sự khác biệt văn hóa giữa các vùng - miền việt nam 13

KẾT LUẬN 23

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 24

Trang 5

MỞ ĐẦU

Theo định nghĩa về văn hóa của UNESCO: “Văn hóa phản ánh và thể hiện

một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ

và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình.”

Văn hóa là một hiện tượng khách quan, là tổng hòa các khía cạnh của đời sống.Sự hình thành và phát triển của một nền văn hóa chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố,trong đó có điều kiện tự nhiên.Và nền văn hóa Việt Nam cũng không phải ngoại lệ.Việc tìm hiểu văn hóa giữa các vùng- miền ở Việt Nam từ góc độ Địa – Văn hóa sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về nền văn hóa của dân tộc mình.Vì vậy, nhóm

02 xin lựa chọn đề tài : “Vận dụng lý thuyết “Địa –Văn hóa” để lý giải về sự

đồng nhất và khác biệt văn hóa giữa các vùng miền ở Việt Nam” để làm bài tập

nghiên cứu, đánh giá quá trình học tập của cả nhóm

Trang 6

b Cơ sở khoa học

Từ phương pháp định vị văn hóa Địa – Văn hóa cho thấy:

- Bản thân con người cũng là một bộ phận tự nhiên

- Để tồn tại và phát triển con người phải tiến hành trao đổi chất với môi trường

tự nhiên theo 2 hướng: thích nghi với tự nhiên và cải tạo tự nhiên Cụ thể: thích nghi- in dấu trong văn hóa nhân cách, trong lối sống cộng đồng (văn hóa phi vật thể); còn biến đổi được lưu giữ trong các đồ vật xã hội (giới tự nhiên thứ 2, theo cách nói của Marx, hay trong văn hóa vật thể)

Như vậy, có thể khẳng định rằng môi trường tự nhiên chi phối quá trình hình thành

và phát triển Văn hóa

2 Đặc điểm của công cụ định vị văn hóa Địa –Văn hóa

- Nói đến Địa – Văn hóa là nói đến con người và thiên nhiên, văn hóa và địa lý tương tác qua lại với nhau, tạo nên những tính cách, ứng xử văn hóa khác nhau

- Địa-Văn hóa phản ánh đến những điểm đại đồng và tiểu dị được bị chi phối bởi những yếu tố địa lý, làm nên tính nhất quán và phong phú của văn hóa

- Công cụ Địa-Văn hóa khá đa dạng, từ đó có thể xác định được vai trò của nền văn hóa cũng như vị trí địa lý trong phát triển đát nước

Trang 7

- Qua nghiên cứu Địa –Văn hóa, chúng ta sẽ dễ dàng tiếp cận được nên văn hóa giữa các miền, khu vực, các dân tộc…từ đó có thể giải thích được sự tương đồng trong văn hóa của các cộng đồng người cùng sinh sông trong vùng miền, khu vực ấy.

- Địa-Văn hóa chịu sự chi phối của điều kiện tự nhiên, sự phát triển văn hóa của từng vùng, miền Vì thế quá trình xử dụng công cụ Địa-Vă hóa để nghiên cứu

ở mỗi vùng, miền có thể là khác nhau

- Khi một nhà nước không hiểu biết về Địa – Văn hóa, không thể vận dụng và tận dụng được sức dân, hướng dẫn sức dân vào những việc ích nước lợi nhà, thì tác hại là khôn lường, di họa rất lâu dài

3 Công cụ địa - văn hóa ở Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng

Về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiê Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á nên Việt Nam cũng có những điều kiện tự nhiên tương đồng với khu vực này

Về vị trí: Việt Nam là một quốc gia nằm ở rìa phía đông bán đảo Đông Dương,

nằm ở trung tâm Đông Nam Á

Về địa hình: Việt Nam là một quốc gia nhiệt đới với diện tích là địa hình đồi núi,

đa dạng về diện mạo sinh thái, đồng bằng phù sa tập chung ven biển và song hạ lưu

Về khí hậu: Tuy lãnh thổ Việt Nam nằm trọn trong vùng nhiệt đối nhưng khí hậu

Việt Nam phân bố thành 3 vùng khí hậu riêng biệt với miền Bắc và Bắc Trung Bộ

là khí hậu cận nhiệt đới ẩm, Miền Trung và Nam Trung bộ là khí hậu nhiệt đới gió mùa, miền cực Nam Trung Bộ và Nam Bộ mang đặc điểm nhiệt đới xavan Tuy nhiên, nhìn nhung có thể nhận xét rằng khí hậu Việt Nam là khí hậu Nhiệt đới gió mùa, mưa nhiều

Trang 8

Với điều kiện tự nhiên của khu vực Đông Nam Á thì rất thuận lợi phát trỉên ngành nông nghiệp trồng trọt bởi vậy nó quy định cho khu vực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng loại hình văn hóa gốc nông nghiệp Với những đặc điểm cơ bản như sau:

- Đầu tiên là nên nông nghiệp trồng lúa nước: Với điều kiện tự nhiên đa dạng về địa hình cũng như khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa thì Đông Nam Á rất thuận lợi cho ngành trồng trọt và đặc biệt là trồng lúa nước

- Thứ hai, sống định cư, hòa hợp với thiên nhiên: Chính những điều kiên tự nhiên

và vị trí địa lý như vậy, Việt Nam và các nước Đông Nam Á thuận lợi phát triển nông nghiệp trồng trọt, nên họ rất phụ thuộc vào thiên nhiên nên coi trọng thiên nhiên và mong muốn được cải tạo thiên nhiên Khi gieo hạt, trồng cây đòi hỏi quá trình thời gian để cho cây nảy mầm, sinh trưởng, phát triển sau đó mới có thể thu hoạch Đối với cây ngắn ngày thì tính tháng, tính năm, chửa kể giống cây lâu năm thì hàng chục năm mới thu hoạch được mà không phải chỉ thu hoạch một lần, một vụ xong bỏ đi nên đòi hỏi con người sống định cư Muốn cây cối phát triển tốt thì cần điều kiện tự nhiên thuận lợi, mong cho mưa thuận, gió hòa Ngành nông nghiệp rất phụ thuộc vào thiên nhiên, cha ông ta có câu

“Trông trời, trông đất, trông mây…” hay “Ơn giời mưa nắng phải thì, nơi thì

bừa cạn nơi thì cày sâu…” Và thậm chí, câu cửa miệng của người Việt cũng

luôn là “Ơn giời, lạy giời” chính vì phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên như vậy

nên hình thành nên tính coi trọng tự nhiên và mong được sinh sống hòa hợp với thiên nhiên Có thể thấy rằng với cư dân nông nghiệp do đời sống đặc thù canh tác nên ý thức coi trọng tự nhiên

- Thứ ba là đề cao vai trò của phụ nữ: Việt Nam là xứ sở mẫu hệ điển hình, người phụ nữ có vai trò lớn trong gia đình, có nhiệm vụ chăm lo giáo dục con cái Trong canh tác nông nghiệp cũng có một phần công sức của người phụ nữ Như vậy người phụ nữ có vai trò rất quan trọng, được xem như tay hòm chìa khóa

Trang 9

trong nhà Ở VN thì phụ nữ đặc trưng cho sự to lớn, quan trọng nên cứ cái gì lớn sẽ gọi là “cái” ví dụ ngón tay lớn nhất là ngón tay cái Ngoài ra, để tôn vinh người phụ nữ, Việt Nam còn có những câu ca dao tục ngữ tôn vinh phụ nữ như

“Lệnh ông không bằng cồng bà”, “Phúc đức tại mẫu” nhưng cũng là “Con hư

tại mẹ” Chính vì vậy, trong thực tế, tư tưởng Việt Nam ở thời phong kiến là

trọng nam khinh nữ

- Ngay từ đầu, duy trì và phát triển sự sống đã là một nhu cầu thiết yếu nhất của con người Đối với văn hóa nông nghiệp, hai việc này lại càng bội phần quan trọng Để duy trì cuộc sống, cần cho mùa màng tươi tốt Để phát triển sự sống, cần cho con người sinh sôi: Hai hình thức sản xuất lúa gạo (để duy trì cuộc sống) và sản xuất con người (để kế tục dòng giống) này có bản chất giống nhau,

đó là sự kết hợp của hai yếu tố khác nhau (đất và trời, mẹ và cha) Từ một thực tiễn đó, tư duy cư dân nông nghiệp Nam – Á đã phát triển theo hai hướng: Những trí tuệ sắc sảo đi tìm quy luật khách quan để lí giải hiện thực, kết quả là tìm được triết lí âm dương Còn những người có trình độ hạn chế thì nhìn thấy

ở hện thực một sức mạnh siêu nhiên, bởi vậy mà sùng bái nó như thần thánh, kết quả là xuất hiện tín ngưỡng phồn thực

Việc thờ cơ quan sinh dục nam nữ được gọi là thờ sinh thực khí, sinh nghĩa

là đẻ, thực là nảy nở, khí là công cụ Đây là hình thái đơn giản của tín ngưỡng phồn thực, nó phổ biến từ các nền văn hóa nông nghiệp Tượng đá, hình nam nữ với bộ phận sinh dục phóng to có niên đại hàng nghìn năm trước Công nguyên được tìm thấy ở Văn Điển (Hà Nội), ở thung lũng Sa Pa (Lào Cai) Ở nhà mồ Tây Nguyên xưa nay tượng người với bộ phận sinh dục phóng to thường xuyên có mặt Ở Phú Thọ, Hà Tĩnh và nhiều nơi khác có tục thờ cúng mõ (nõn) nường (nõ nghĩ là cái nêm, tượng trưng cho sinh thực khí nam; nường nghĩa là nang, mo nang, tượng trưng cho sinh thực khí nữ) Ở hội làng Đồng Kị (Bắc Ninh) có tục rước sinh thực khí (bằng gỗ), tan hội chúng được đem đốt và tro chia cho mọi

Trang 10

người mang rắc ra ngoài ruộng – hành động này như một ma thuật truyền sinh cho mùa màng

Bên cạnh thờ sinh thực khí thì cũng có nhiều cư dân với lối tư duy coi trọng quan hệ còn có tục thờ hành vi giao phối

4 Việt Nam từ công cụ địa văn hóa còn có những đặc điểm riêng

a Lối ứng xử linh hoạt, mềm dẻo, khả năng thích nghi và chịu đựng cao

Nền văn hóa Việt nam được thể hiện giữa các lĩnh vực phong tục, tập quán, kinh tế - xã hội của mỗi cộng đồng dân tộc Đây là nhân tố để giữ gìn bản sắc dân tộc, là điểm phân biệt vùng này với vùng khác, mỗi vùng có những nét riêng biệt tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, sự tiếp thu ảnh hưởng của văn hóa bên ngoài, tạo nên sự đa dạng, phong phú của từng vùng

Vì nghề nông, nhất là nghề nông nghiệp lúa nước, cùng một lúc phụ thuộc

tất cả mọi hiện tượng tự nhiên “trông trời, trông đất, trông mây; trông mưa,

trông nắng, trông ngày, trông đêm” cho nên, về mặt nhận thức, hình thành lối tư

duy tổng hợp Tổng hợp kéo theo biện chứng- cái mà người nông nghiệp quan tâm không phải là các yếu tố riêng rẽ, mà là mối quan hệ qua lại giữa chúng Tổng hợp là bao quát được mọi yếu tố, còn biện chứng là chú trọng đến các mối quan hệ giữa chúng Người Việt tích lũy được một kho kinh nghiệm hết sức

phong phú về mối quan hệ này: “Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa” Lối tư duy

tổng hợp và biện chứng, luôn đắn đo cân nhắc của người làm nông nghiệp cộng với nguyên tắc trọng tình đã dẫn đến lối sống linh hoạt, luôn biến báo cho thích

hợp với từng hoàn cảnh cụ thể, dẫn đến triết lý sống: “Ở bầu thì tròn, ở ống thì

dài”, “Đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy” Do ảnh hưởng của môi

trường nước nên người việt có khả năng thích nghi và chịu đựng cao Trong cuộc sống họ thường xuyên phải đối mặt với những thử thách của thiên nhiên, những đặc trưng của vùng sông nước: bão, lũ lụt, hạn hán… nên họ tự đúc kết

Trang 11

kinh nghiệm cho mình, thích nghi dần dần với hoàn cảnh, kiên cường, bền bỉ vượt qua thử thách

Đối phó với các cuộc chiến tranh xâm lược, người việt luôn hết sức mềm dẻo, hiếu hòa Ngày xưa, trong kháng chiến chống ngoại xâm, mỗi khi thế thắng

đã thuộc về ta một cách rõ rang, cha ông ta thường dừng lại chủ động cầu hòa,

“trải chiếu hoa” cho giặc về, mở đường cho chúng rút lui trong danh dự

Từ những điều trên ta thấy được lối ứng xử linh hoạt và mềm dẻo của con người Việt nam đồng thời thấy được tính thích nghi cao dù ở bất cứ hoàn cảnh nào thì con người Việt Nam ta đều chịu đựng được

b Mang tính dung chấp cao

Do là đầu mối giao thông đường thủy và đường bộ - cửa ngõ của Đông Nam Á nên người dân Việt thường xuyên giao lưu với khu vực bên ngoài và tiếp thu nhiều kiến thức từ hoạt động giao lưu đó Tính dung chấp không đồng nghĩa với tính hỗn tạp và lai căng văn hóa Trái lại, nó có tác dụng điều tiết quá trình lựa chọn và kết hợp một cách sáng tạo giữa các yếu tố văn hóa ngoại sinh với văn hóa bản địa, sao cho bản sắc văn hóa dân tộc vẫn được bảo tồn và duy trì

Nhờ có tính dung chấp mà quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hóa không những không làm tổn hại đến nền văn hóa bản địa mà trái lại còn làm nền văn hóa ấy càng trở nên giàu có và phong phú hơn Tuy nhiên cân biết cách loại bỏ những yếu tố văn học lạc hậu, kìm hãm sự phát triển của dân tộc và biết chấp nhận những giá trị tiến bộ bên ngoài để đưa dân tộc ta đi lên Một mặt, tính dung chấp văn hóa của người Việt bắt nguồn từ quá trình hình thành dân tộc việt: đây

là dân tộc được hình thành từ sự hòa huyết về chủng, từ sự tổng hợp về mặt ngôn ngữ và từ sự giao thoa của nhiều nên văn hóa trong khu vực Chính quá trình hình thành như vậy đã quy định rằng: nền văn hóa của người Việt phải là một hệ thống tổng hợp và phải là một hệ thống mở, và do đó phải có tính dung

Trang 12

chấp Mặt khác, kinh nghiệm dựng nước và giữ nước của dân tộc việt nam đã

góp phần định hình tính dung chấp văn hóa của dân tộc này: đứng trước một

cường quốc hùng mạnh tại khu vực lại luôn xó dã tâm xâm chiếm và đồng hóa, việc phải mở cửa nền văn hóa và chấp nhận những giá trị văn hóa bên ngoài tràn vào là một tất yếu bởi vậy, dân tộc Việt nam không đứng trước những vấn đề

mà nhiều dân tộc khác gặp phải là sự lựa chọn giữa “đóng” hay “ mở cửa” nền văn hóa dân tộc vấn đề đặt ra đối với người Việt luôn là nền hấp thụ những yếu

tố văn hóa nào và cải biến chúng ra sao cho phù hợp với nhu cầu phát triển của dân tộc Nếu biết vận dụng tính dung chấp văn hóa, thì đó sẽ là nột lợi thế lớn của dân tộc trong công cuộc hội nhập vào đời sống quốc tế hiện nay

c Không có các công trình kiến trúc đồ sộ (ngoại trừ hệ thống đê điều và thủy lợi)

Do là vùng đất trẻ lấn dần ra biển nên không có kết cấu bền vững, họ không thể xây dựng những công trình kiến trúc đồ sộ Do cư dân Việt thường phải sống chung với nước Hằng năm cứ đến mùa mưa, người dân Việt, đặc biệt là người dân ở các tỉnh miền Trung lại phải nỗ lực chống chọi với bão lũ Dải đất Miền Trung có địa hình đặc biệt Nó như khúc eo thắt đáy lưng ong của hình hài

cô gái mang tên Việt Nam Một bên là dãy Trường Sơn hùng vĩ Một bên là Biển Đông uốn lượn ôm lấy eo lưng của cô gái Những cơn bão, áp thấp nhiệt đới mang theo những đám mây nặng nước tràn nhiều nhất vào Miền Trung Trường Sơn như tấm màn chắn làm nên những trận mưa như trút nước xuống dải đất hẹp này Dân Miền Trung vốn sống chung với mưa bão lụt lội hàng bao đời nay người dân

ở đây phải sống trên thuyền, trên ghe, nước ngập đang chia cắt tất cả các thôn trong xã chỉ một số hộ gia đình sống ở nơi gò cao Từ người già đến trẻ nhỏ, chỉ biết ngồi trên các vật dụng được kê lên cao như bàn, ghế trong nhà nhìn ra biển nước Cơn bão kéo đến làm cho cuộc sống của họ không được yên ổn, lũ lụt cuốn trôi đi tất cả của cải trong nhà, tính mạng con người cũng không được đảm bảo

Trang 13

Chính cuộc sống bấp bênh, khốn khổ ấy là lí do họ không thể xây dựng những công trình kiến trúc đồ sộ như kim tử tháp Ai Cập hay Vạn lý trường thành của Trung Quốc Ngoài lý do đấy thì còn có một lý do nữa là thời phong kiến, Việt Nam không có nhân công để xây dựng những công trình như vậy

d Tồn tại nhiều loại hình nghệ thuật gắn với sông nước: điển hình là múa rối nước

Cuộc sống của người dân Việt gắn liền với sông nước, bởi vậy họ sáng tạo

ra rất nhiều loại hình nghệ thuật đặc trưng của khu vực mình - Rối nước Rối nước là “đặc sản văn hoá” của cư dân trồng lúa nước Việt Nam Rối nước hình thành với hai thành tố cơ bản: rối và nước Nếu rối là công trình của nghệ thuật tạc tượng gỗ dân gian thì nước là một yếu tố quan trọng hàng đầu của nghề trồng lúa nước (nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống) Một minh chứng rõ rệt của cái nôi sinh thành nghệ thuật rối nước là sự tập trung hầu hết cơ sở rối nước cổ truyền quanh Kinh đô Thăng Long xưa (Thủ đô Hà Nội ngày nay), trung tâm của vùng đồng bằng Bắc Bộ phì nhiêu, chiếc nôi của nền văn minh cổ của dân tộc Việt Nam, được đan xen bằng một mạng lưới sông ngòi chằng chịt, gắn liền với nạn lũ lụt chu kỳ hàng năm Rối nước có thể manh nha từ trong công cuộc chế ngự cái tai hoạ thường đe doạ cuộc sống của cư dân vùng này là nước - tai họa số một trong bốn tai họa Thủy (nước), hoả (lửa), đạo (cướp), tặc (giặc) - bắt nó phục vụ việc sản xuất ra lúa gạo nuôi mình Đây là một kết quả của tài năng sáng tạo Việt Nam thể hiện khả năng suy nghĩ, lối sống, tài ứng xử, thái độ đối với vũ trụ, thiên nhiên và con người

Kỹ thuật sử dụng trong nghề trồng lúa nước và các ngành nghề phụ quanh

nó, một phần văn hoá nối liền con người với tự nhiên đã góp phần chủ yếu vào sự hình thành nghệ thuật rối nước Sống với nước từ trong bụng mẹ, người Việt Nam quen sử dụng nước, gắn trồng trọt với chài lưới, biến thuyền bè thành kỹ thuật giao thông chủ yếu, phương tiện chiến đấu có hiệu quả Những hình ảnh đó được

Ngày đăng: 04/06/2023, 21:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w