Việt Nam ta có 54 dân tộc. Trong đó, đông dân nhất là người Kinh sống chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng với nền văn minh sông Hồng nổi tiếng. Còn lại các dân tộc khác nằm rải rác trên các khu vực núi. Mỗi nhóm có niềm tin, ẩm thực và đặc biệt riêng. Các dân tộc luôn sống yên bình, không có sự phân biệt và cùng đoàn kết, phát triển. Sự đa dạng trong khu vực cũng tạo nên sự đa dạng trong văn hóa của Việt Nam. Dải đất hình chữ S được chia thành ba vùng miền: miền Bắc, miền Trung và miền Nam. Miền Bắc Việt Nam, được gọi là Bắc Bộ trong tiếng Việt là cái nôi của nền văn minh Việt Nam. Miền Trung chủ yếu là núi và bờ biển. Văn hóa ở miền Trung bị ảnh hưởng bởi dãy núi Trường Sơn và bờ biển. Miền Nam có đồng bằng sông Cửu Long. Đây là khu vực sản xuất nông nghiệp lớn nhất của Việt Nam. Việt Nam có một nền văn hoá đặc sắc, lâu đời gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc. Vùng văn hóa để chỉ một không gian có những tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống..., Ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ về nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế xã hội, giữa các cộng đồng cùng địa vực đã diễn ra những mối giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác. Tuy nhiên, bên cạnh sự khác biệt thì giữa các vùng văn hóa cũng có những sự đồng nhất hòa hợp đến bất ngờ sẽ được lý giải bằng một trong các công cụ định vị văn hóa mà cụ thể ở đây là “Địa văn hóa”. Để làm rõ hơn vấn đề này, nhóm chúng em xin chọn đề tài: “Vận dụng lý thuyết “Địa – văn hóa” để lý giải về sự đồng nhất và khác biệt văn hóa giữa các vùng – miền ở Việt Nam
Trang 1BỘ TƯ PHÁP ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI - -
BỘ MÔN ĐẠI CƯƠNG VĂN HÓA VIỆT NAM
Đề bài 2: Vận dụng lý thuyết “Địa – văn hóa” để lý giải về sự đồng nhất và khác biệt văn hóa giữa các vùng - miền ở Việt Nam
Lớp: N02 Lớp thảo luận: TL1 Nhóm: 01
HÀ NỘI - 2021
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3MỞ ĐẦU
Việt Nam ta có 54 dân tộc Trong đó, đông dân nhất là người Kinh sống chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng với nền văn minh sông Hồng nổi tiếng Còn lại các dân tộc khác nằm rải rác trên các khu vực núi Mỗi nhóm có niềm tin, ẩm thực và đặc biệt riêng Các dân tộc luôn sống yên bình, không có sự phân biệt và cùng đoàn kết, phát triển Sự đa dạng trong khu vực cũng tạo nên
sự đa dạng trong văn hóa của Việt Nam Dải đất hình chữ S được chia thành
ba vùng miền: miền Bắc, miền Trung và miền Nam Miền Bắc Việt Nam, được gọi là Bắc Bộ trong tiếng Việt là cái nôi của nền văn minh Việt Nam Miền Trung chủ yếu là núi và bờ biển Văn hóa ở miền Trung bị ảnh hưởng bởi dãy núi Trường Sơn và bờ biển Miền Nam có đồng bằng sông Cửu Long Đây là khu vực sản xuất nông nghiệp lớn nhất của Việt Nam Việt Nam có một nền văn hoá đặc sắc, lâu đời gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc Vùng văn hóa để chỉ một không gian có những tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống , Ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ
về nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế -
xã hội, giữa các cộng đồng cùng địa vực đã diễn ra những mối giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác Tuy nhiên, bên cạnh sự khác biệt thì giữa các vùng văn hóa cũng có những sự đồng nhất hòa hợp đến bất ngờ sẽ được lý giải bằng một trong các công cụ định vị văn hóa mà cụ thể ở đây là
“Địa- văn hóa” Để làm rõ hơn vấn đề này, nhóm chúng em xin chọn đề tài:
“Vận dụng lý thuyết “Địa – văn hóa” để lý giải về sự đồng nhất và khác biệt văn hóa giữa các vùng – miền ở Việt Nam”
Trang 4NỘI DUNG
I LÝ THUYẾT “ĐỊA – VĂN HÓA”
1 Khái quát “Địa – văn hóa”
a Khái niệm
Địa – văn hóa vừa là một phương pháp dùng để định vị văn hoá theo vùng địa lý, đồng thời cũng là phương pháp kiến giải các đặc điểm văn hoá dựa vào điều kiện địa lý và hoàn cảnh tự nhiên
Phương pháp này góp phần lý giải tính tương đồng văn hoá của các cộng đồng người sống trong cùng một vùng lãnh thổ - nơi có điều kiện tự nhiên tương đối gióng nhau
b Cơ sở khoa học của phương pháp
Từ phương pháp định vị văn hóa “Địa – văn hóa” cho thấy:
- Bản thân con người cũng là một bộ phận tự nhiên nên để tồn tại và phát triển, con người phải tiến hành trao đổi chất với môi trường tự nhiên
- Quá trình này diễn ra theo hai hướng: thích nghi và cải tạo tự nhiên Cả hai hướng này đều tạo ra các yếu tố văn hóa Cụ thể là: thích nghi – in dấu trong văn hóa nhân cách, trong lối sống cộng đồng (văn hóa phi vật thể); còn biến đổi – được lưu giữ trong các đồ vật xã hội (giới tự nhiên thứ hai,
theo cách nói của Marx, hay trong văn hóa vật thể)
Như vậy, có thể khẳng định rằng môi trường tự nhiên chi phối quá trình
hình thành và phát triển của văn hóa
2 Đặc điểm của văn hóa Việt Nam từ công cụ định vị văn hóa “Địa – văn hóa”
Về vị trí địa lí: Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á, phía Đông của bán đảo Đông Dương và có ba mặt giáp biển Đặc biệt, nơi đây là “ngã tư đường” – nơi giao nhau của các nền văn hóa, văn minh
Về địa hình: Việt Nam là một quốc gia nhiệt đới với địa hình phần lớn
là đồi núi (chiếm 3/4 diện tích lãnh thổ), chủ yếu là đồi núi thấp, đồng bằng
Trang 5chỉ chiếm 1/4 diện tích Tính trên phạm vi cả nước, địa hình đồng bằng và đồi núi thấp (dưới 1.000 m) chiếm tới 85% diện tích
Về khí hậu: Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nóng
ẩm, mưa nhiều Nhìn chung, Việt Nam có một mùa nóng mưa nhiều và một mùa tương đối lạnh, ít mưa Trên nền nhiệt độ chung đó, khí hậu của các tỉnh phía Bắc (từ đèo Hải Vân trở ra Bắc) thay đổi theo bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông
Tóm lại, điều kiện địa lí tự nhiên của Việt Nam phù hợp với nông
nghiệp trồng trọt Việt Nam mang loại hình văn hóa nông nghiệp
a Đặc điểm chung của văn hóa Việt Nam từ công cụ định vị Địa – văn hóa
Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á nên điều kiện tự nhiên quy định cho khu vực này loại hình văn hóa gốc nông nghiệp, với những đặc điểm
cơ bản sau:
- Trồng lúa nước (khác với văn hóa khô mạch của Trung Hoa – vùng phía bắc sông Dương Tử)
- Sống định cư và hòa hợp với thiên nhiên (khác với văn hóa gốc du mục)
- Đề cao vai trò của người phụ nữ
Một đặc trưng của văn hóa thực vật, nơi chế độ mẫu hệ dựa trên kinh tế hái lượm, trồng trọt là hình thái thống trị
- Sùng bái mùa màng, sinh nở (tín ngưỡng phồn thực – nông nghiệp)
b Đặc điểm riêng của văn hóa Việt Nam từ công cụ định vị Địa – văn hóa
Bên cạnh đó, điều kiện địa lí riêng có của Việt Nam cũng tạo ra những phẩm chất văn hóa độc đáo (các yếu tố riêng thuộc về bản sắc), đó là:
- Ứng xử mềm dẻo, khả năng thích nghi và chịu đựng cao (ảnh hưởng của môi trường nước)
Trang 6Nền văn hóa được thể hiện giữa các lĩnh vực phong tục tập quán, kinh
tế - xã hội của mỗi cộng đồng dân tộc, đây là nhân tố để giữ gìn bản sắc dân tộc, là điểm phân biệt vùng này với vùng khác, mỗi vùng có những nét riêng biệt tùy thuộc vào điều kiên tự nhiên, vị trí địa lí, sự tiếp thu của ảnh hưởng văn hóa bên ngoài, tạo nên sự đa dạng phong phú của từng vùng
Vì nghề nông nhất là nông nghiệp trồng lúa nước, cùng một lúc phụ
thuộc tất cả mọi hiện tượng tự nhiên “trông trời, trông đất, trông mây, trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm” cho nên về mặt hình thức, hình
thành lối tư duy tổng hợp, kéo theo biện chứng - cái mà người nông nghiệp quan tâm không phải là yếu tố riêng rẽ mà là mối quan hệ qua lại giữa chúng Người Việt tích lũy được một kho kinh nghiệp hết sức phong phú về mối
quan hệ này: “quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa” Lối tư duy tổng hợp và biện
chứng, luôn đắn đo và cân nhắc của người làm nông nghiệp cộng với nguyên tắc trọng tình dẫn đến lối sống linh hoạt, luôn biển báo để phù hợp với hoàn cảnh cụ thể Do ảnh hưởng của môi trường nước nên người Việt có khả năng thích nghi và chịu đựng cao Trong cuộc sống họ thường xuyên phải đối mặt với những thách thức của thiên nhiên Những đăc trưng của sông nước như: bão, lũ, hạn hán … Nên họ tự đúc kết kinh nghiệm cho mình thích nghi dần với hoàn cảnh vượt qua thách thức
- Tính dung chấp cao
Do là đầu mối giao thông đường thủy và đường bộ - cửa ngõ của Đông Nam Á nên người dân Việt thường xuyên giao lưu với khu vực bên ngoài và tiếp thu nhiều kiến thức từ hoat động giao lưu đó
Tính dung chấp không đồng nghĩa với tính hỗn tạp và lai căng văn hóa Trái lại nó có tác dụng điều tiết quá trình lựa chọn và kết hợp một cách sáng tạo giữa các yếu tố văn hóa ngoại sinh và văn hóa bản đia Sao cho bản sắc văn hóa dân tộc vẫn được duy trì và bảo tồn Nhờ có tính dung chấp mà quá trình tiếp xúc giao lưu văn hóa không những không làm tổn hại đến văn hóa bản địa mà trái lại còn làm cho nền văn hóa ấy trở nên giàu có và phong phú
Trang 7hơn Tuy nhiên cần biết cách loại bỏ yếu tố văn hóa lạc hậu, kìm hãm sự phát triển và biết chấp nhận những giá trị tiến bộ bên ngoài để đưa dân tộc tiến lên
Một mặt, tính dung chấp văn hóa của người Việt bắt nguồn từ quá trình hình thành dân tộc Việt Đây là dân tộc được hình thành từ sự hòa huyết về chủng, từ sự tổng hợn về mặt ngôn ngữ và sự giao thoa của văn hóa của nhiều nền văn hóa trong khu vực Chính quá trình hình thành như vậy đã quy định rằng: Nền văn hóa của người Việt Nam phải là một hệ thống tổng hợp và phải
là một hệ thống mở và do đó phải có tính dung chấp
Mặt khác, kinh nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã góp phần định hình tính dung chấp văn hóa của dân tộc này Đứng trước một cường quốc hùng mạnh tại khu vực lại luôn có dã tâm xâm chiếm và đồng hóa, việc phải mở cửa nền văn hóa và chấp nhận những giá trị văn hóa bên ngoài tràn vào là một tất yếu Bởi vậy dân tộc Việt Nam không đứng trước những vấn đề mà nhiều dân tộc khác gặp phải là sự lựa chọn giữa đóng hay
mở nền văn hóa dân tộc
Biết vận dụng tính dung chấp văn hóa thì nó sẽ là một lợi thế lớn của dân tộc trong công cuộc hội nhập vào đời sống quốc tế hiện nay
- Không có các công trình kiến trúc đồ sộ
Do là vùng đất trẻ lấn dần ra biển nên không có kết cấu bền vững, họ không thể xây dụng những kiến trúc đồ sộ Do dân cư Việt phải sống chung với nước nên hằng năm cứ đến mùa mưa, người dân Việt đặc biệt là người dân ở các tỉnh miền Trung lại phải nỗ lực chống chọi với bão lũ Dân miền Trung vốn sống chung với mưa bão lũ lụt nhiều đời nay nên người dân phải phải sống trên thuyền, trên ghe; nước ngập chia cắt tất cả các thôn trong xã chỉ môt số hộ gia đình sống ở gò cao, từ người già đến trẻ nhỏ chỉ biết ngồi lên các vật dụng được kê lên cao như bàn, ghế trong nhà nhìn ra biển nước
Chính cuộc sống bấp bênh khốn khổ ấy là lí do họ không thể xây những những công trình kiến trúc đồ sộ như: Kim Tự Tháp Ai Cập, Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc),… Ngoài những lí do ấy thì còn có lí do nữa là thời
Trang 8phong kiến, Việt Nam không có công nhân để xây dựng những công trình đồ
sộ như vậy
- Tồn tại nhiều loại hình nghệ thuật gắn với sông nước (chèo, rối nước, đua thuyền…)
Cuộc sống của người dân Việt gắn liền với sông nước bởi vậy họ sáng tạo ra rất nhiều loại hình nghệ thuật đặc trưng của khu vực mình – rối nước Rối nước là đặc sắc văn hóa, là một loại hình nghệ thuật chỉ có duy nhất ở Việt Nam (xuất hiện từ thời Lý) Rối nước hình thành với hai thành tố cơ bản Nếu rối là công trình của nghệ thuật tạc tượng gỗ dân gian thì nước là một yếu tố quan trọng hàng đầu của nghề trồng lúa nước Một minh chứng rõ rệt của cái nôi sinh thành nghệ thuật là sự tập trung hầu hết cơ sở rối nước cổ truyền quanh kinh đô Thăng Long xưa – trung tâm của vùng đồng bằng Bắc
Bộ phì nhiêu chiếc nôi của nền văn minh cổ của dân tộc Việt Nam, được đan xen bằng một mạng lưới sông ngòi chằng chịt Rối nước có thể là manh nha
từ cái tại họa đe dọa cuộc sống của vùng này đó là thủy (nước), hỏa (lửa), đạo (cướp), tặc ( giặc) - bắt nó phục vụ việc sản xuất lúa gạo nuôi mình Người Việt Nam trị thủy sông Hồng đã xây đắp lên một dải đê đồ sộ và để lai thuyết Sơn Tinh - một thiên anh hùng ca bất hủ
Nghệ thuật múa rối nước là loại hình dân gian sử dụng con rối biểu diễn trên mặt nước, và đặc biệt ở đây là lấy mặt nước để làm sân khấu, giữa
ao hồ, sử dụng những quân rối để diễn trò, diễn kịch cho người xem Những tiết mục thường đươc biểu diễn có những hình ảnh rất thôn quê, có thể là tái hiện lại những hình ảnh sinh hoạt của người dân hàng ngày được các nghệ dân múa rối biến tấu làm cho tiết mục sinh động hơn Để tạo nên một tiết mục lôi cuốn người xem ta không thể không kể đến những đạo cụ làm cho tiết mục them sinh động đó là: trống, mõ, não bạt, đàn,… Rối nước vừa thưc vừa hư, vừa sân khấu vừa cuộc đời gắn bó với nhân dân Việt Nam như cây đa, giếng nước, lời du, cánh cò Sân khấu rối nước là sân khấu hội hè lưu giữ nhiều sang tạo nghệ thuật dân gian kĩ thuật nhân dân cổ xưa và nhiều sinh hoạt tinh
Trang 9thần tập tục, lao động của cư dân trồng lúa nước Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước nghìn năm xưa Chính những đặc sắc văn hóa này đã tạo ra những nét riêng cho văn hóa Việt Nam và phong phú hơn bản sắc dân tộc được lưu giữ đến tận ngày nay
II SỰ ĐỒNG NHẤT VÀ KHÁC BIỆT VĂN HÓA GIỮA CÁC VÙNG - MIỀN Ở VIỆT NAM
1 Sự đồng nhất văn hóa giữa các vùng – miền ở Việt Nam
a Nguyên nhân sự đồng nhất
Thứ nhất, về vị trí địa lí:
- Các vùng miền văn hóa của Việt Nam đều nằm trong lãnh thổ Việt Nam nên chịu ảnh hưởng của văn hóa Việt Nam và văn hóa du nhập từ nước ngoài
- Các vùng văn hóa đều nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa Đông Nam Á nên có một nền văn hóa bản địa khá phát triển với những đặc trưng của khu vực: nền nông nghiệp; nền văn hóa uyển chuyển, thích nghi với những thay đổi; là khu vực văn hóa thống nhất trong đa dạng
- Các vùng văn hóa của Việt Nam đều thuộc vùng văn hóa phương Đông nên mang đậm bản sắc của khu vực này: văn hóa giao tiếp; trang phục truyền thống; văn hóa ẩm thực; coi tôn ti trật tự là hàng đầu
- Các vùng văn hóa của Việt Nam ít nhiều chịu ảnh hưởng từ văn hóa Trung Quốc những năm tháng trong quá khứ: sự thâm nhập của các tôn giáo; ảnh hưởng về giáo dục, văn chương
Thứ hai, do xuất phát từ phong tục thờ cúng tổ tiên, tưởng nhớ những
vị anh hùng có công dựng nước, giữ nước trong lịch sử
Thứ ba, do xuất phát từ nền văn minh lúa nước lâu đời, từ đó hình
thành nên cộng đồng cư dân có lối sống định canh định cư và các giá trị văn hóa phi vật thể kèm theo, đó chính là văn hóa làng xã
Thứ tư, do xuất phát từ lịch sử dựng nước giữ nước: tạo nên văn hóa
giữ nước của người Việt Nam trong mọi hoàn cảnh
Trang 10b Biểu hiện cụ thể sự đồng nhất văn hóa giữa các vùng – miền
- Dân tộc Việt Nam có tinh thần đoàn kết
Việt Nam có 54 dân tộc Các nhóm dân tộc khác nằm rải rác trên các khu vực núi Mỗi nhóm có niềm tin, ẩm thực và đặc biệt riêng Bất chấp sự khác biệt về văn hóa, 54 dân tộc luôn sống yên bình, không có sự phân biệt và cùng đoàn kết, phát triển Trải qua quá trình dựng nước và giữu nước, đắt nước ta đã hình thành nên sức mạnh đoàn kết to lớn
- Tín ngưỡng và tôn giáo trong văn hóa Việt Nam
Tư tưởng của người Việt Nam chịu sự ảnh hưởng chủ yếu bởi Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo Người Việt Nam không có tôn giáo Do đó, khi bạn khám phá văn hóa Việt Nam, bạn sẽ tìm thấy nhiều công trình tôn giáo từ Thiên chúa giáo, Phật giáo, Ấn Độ giáo, v.v … Nhiều trong số đó là những địa điểm du lịch hấp dẫn như Đền thờ Ấn Độ giáo Mariamman, Nhà thờ Đức
Bà ở Thành phố Hồ Chí Minh, Chùa Một Cột, Văn Miếu
Thờ cúng tổ tiên là nét đẹp trong giá trị văn hóa Việt Nam Tất cả người Việt không bao giờ quên nguồn gốc của họ Hầu hết trong số họ có một bàn thờ tổ tiên tại nhà hoặc doanh nghiệp của họ Trong những ngày đặc biệt như Tết, ngày đầu tiên hoặc ngày thứ năm trong tháng (theo Âm lịch), người Việt Nam thường đốt nhang và có một số thứ như hoa quả làm lễ vật Thờ cúng tổ tiên đã tồn tại ở Việt Nam từ lâu Đến nay, người dân Việt Nam vẫn duy trì việc thờ cúng để thể hiện sự tôn trọng với người đã khuất
- Ẩm thực – nét đặc trung của văn hóa Việt Nam
Thức ăn chính trong bữa ăn của người Việt là cơm Bạn có thể tìm thấy cánh đồng lúa ở hầu hết mọi nơi tại Việt Nam Nước mắm cũng là một phần không thể thiếu Người Việt Nam sử dụng rất ít dầu và nhiều rau trong nấu
ăn Trong văn hóa Việt Nam, các món ăn đặc trưng với nhiều hương vị như ngọt, chua, cay và hương vị đặc biệt từ các loại nước sốt
- Trang phục truyền thống