SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓAPHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NHƯ THANH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHAÁT LƯỢNG GIÁO DỤC DINH DƯỠNG VÀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM CHO TRẺ 5
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NHƯ THANH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHAÁT LƯỢNG GIÁO DỤC DINH DƯỠNG VÀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI A1 TẠI TRƯỜNG
MẦM NON XUÂN KHANG
Người thực hiện: Hồ Thị Hoa Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Mầm non Xuân Khang SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên môn
THANH HÓA
Trang 2MỤC LỤC
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 2
2.3 Thực trạng về giáo dục dinh dưỡng và VSATTP tại lớp 4
3.1 Một số biện pháp để thực hiện tốt các vấn đề dinh dưỡng
3.2 Phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục dinh dưỡng và
3.3 Biện pháp tuyên truyền về vấn đề dinh dưỡng và
4 Tài liệu tham khảo
Trang 31 Mở đầu 1.1 Lý do chọn đề tài:
Ngành học Mầm non giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người mới Trẻ ở bậc học mầm non là những nấc thang đầu tiên làm nền móng cho những nấc thang tiếp theo của cuộc đời con người Trường mầm non là chiếc nôi đầu tiên nuôi dưỡng và tạo điều kiện cho những tiềm năng còn
ấp ủ trong lòng mỗi đứa trẻ Vì vậy việc chăm sóc và giáo dục trẻ nhất là giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ trong độ tuổi mầm non phải được coi trọng hàng đầu và dựa trên cơ sở đáp ứng những nhu cầu cơ bản
về phát triển thể lực và trí tuệ
Để có được những người công dân sau này thật thông minh khỏe mạnh thì vấn đề đầu tiên chúng ta nghĩ đến là vấn đề dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm(VSATTP) Bởi vì dinh dưỡng là nhu cầu sống hàng ngày đặc biệt là đối với trẻ mầm non Trẻ ở lứa tuổi này đặc điểm tâm sinh lí của trẻ chưa hoàn thiện Các cơ quan trong cơ thể còn hết sức non yếu, nó phát triển nhanh mạnh nhưng chưa hoàn thiện
Ví dụ: Răng của trẻ là răng sữa, men răng còn yếu, da mềm và mỏng , cơ quan phát âm, cơ quan vận động … chưa hoàn chỉnh
Tính bền vững về tâm lí chưa cao, ý thức tập trung chưa lâu như : chú ý chưa có chủ định, chưa bền, chú ý không có chủ định, đang bị chi phối mạnh, mặt khác tình cảm của trẻ lứa tuổi này còn phụ thuộc người lớn chính vì vậy đòi hỏi mỗi chúng ta phải thường xuyên chăm sóc giữ gìn và bảo vệ các cơ quan cho trẻ, đặc biệt là phải nuôi dưỡng trẻ theo phương pháp khoa học , phải đảm bảo được chế độ dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm thì các chỉ số về tâm sinh lí của trẻ sớm được hoàn thiện theo yêu cầu của từng độ tuổi Ngược lại nếu chúng ta không biết cách chăm sóc nuôi dưỡng trẻ theo phương pháp khoa học, tùy tiện theo ý thích thì sẽ dẫn đến cơ thể trẻ chậm phát triển và là nguyên nhân làm cho trẻ dễ mắc các bệnh và suy dinh dưỡng
Theo như quan sát, trong những năm qua hoạt động chăm sóc giáo dục dinh dưỡng và bảo vệ sức khỏe cho trẻ trong các trường mầm non đã thu được một số kết quả đáng kể Tuy nhiên vấn đề đảm bảo sức khỏe và VSATTP đang
là mối quan tâm đặc biệt của toàn xà hội
Do thời tiết khắc nghiệt, nóng lạnh kéo dài, vệ sinh môi trường không đảm bảo, việc sử dụng hóa chất trong chăn nuôi , trồng trọt và do việc ăn uống
vệ sinh không đúng cách cũng ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề dinh dưỡng và VSATTP, trên thực tế địa phương tôi đã xảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm , làm ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của nhiều người
Là một giáo viên mầm non đã và đang trực tiếp làm công tác chăm sóc và giáo dục tôi nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề dinh dưỡng và VSATTP đối với con người nói chung và trẻ mầm non nói riêng là rất cần thiết chính vì
Trang 4thế song hành cùng các môn học , các hoạt động trong trường mầm non mà các
cô giáo cung cấp cho trẻ, thì kiến thức về dinh dưỡng và VSATTP cũng là kiến thức hết sức quan trọng và không thể bỏ qua Bởi khi nhận thức và hiểu được về dinh dưỡng và VSATTP sẽ giúp cho trẻ biết tự chăm sóc mình từ đó phần nào nâng cao tính tự lập ở trẻ góp phần giúp cho trẻ phát triển toàn diên hơn
Song thực trạng của lớp tôi đang chủ nhiệm hiện nay do có nhiều phụ huynh chưa hiểu biết về chế độ dinh dưỡng nên các cháu có chế độ dinh dưỡng không hợp lý từ đó dẫn đến có nhiều trẻ bị còi xương, có trẻ thì bị suy dinh dưỡng và bệnh tật,có trẻ thì bị béo phì dẫn đến bệnh tim mạch.Trong khi trường mầm non là ngôi nhà tập trung đông đảo trẻ thơ , bản thân trẻ còn non nớt, chưa chủ động ý thức về dinh dưỡng và VSATTP Vì vậy nếu không tổ chức tốt bữa
ăn cho trẻ tại trường - lớp hoặc để xảy ra ngộ độc thực phẩm thì hậu quả thật khôn lường
Từ thực thực trạng đó, tôi đã tìm ra đề tài “ Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩn cho trẻ 5-6 tuổi A1 trường mầm non Xuân Khang ” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu:
Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và VSATTP cho trẻ mầu giáo 5 – 6 tuổi A1 Trường Mầm non Xuân Khang
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
a Đối tượng nghiên cứu:
Trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi lớp lớn A1 Trường mầm non Xuân Khang
b Phạm vi nghiên cứu :
Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và VSATTP cho trẻ mẫu giáo 5 -6 tuổi ở trường mầm non Xuân Khang
4 Phương pháp nghiên cứu:
a.Phương pháp quan sát
b Phương pháp đàm thoại làm mẫu, giảng giãi
c Phương pháp thực hành trải nghiệm
d Phương pháp nêu gương đánh giá
2 Nội dung.
1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Dựa vào đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi mầm non, do hệ xương khớp còn yếu, hệ hô hấp, hệ tiêu hóa cơ thể trẻ còn non yếu
Sự phát triển của trẻ là một quá trình từ thấp đến cao Vì vậy việc hình thành cho trẻ ý thức về dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm từ nhỏ là việc làm cần thiết, nên bắt đầu từ việc làm đơn giản nhất
Giúp trẻ hiểu giá trị dinh dưỡng của lương thực, thực phẩm, giá trị dinh dưỡng, không chỉ phụ thuộc vào thành phần hóa học của các loại lương thực thực phẩm mà còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác như cách bảo quản chế
Trang 5biến
Thực tế mỗi loại lương thực, thực phẩm đều có chất dinh dưỡng khác nhau vì vậy làm thế nào để giúp trẻ hiểu nên phối hợp các loại lương thực, thực phẩm để có đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng phù hợp với trẻ
Căn cứ vào chương trình giáo dục mầm non,trẻ nhận biết một số món ănthực phẩm thông thường và lợi ích của chúng đối với sức khỏe, như nhận biết, phân loại một số thực phẩm thông thường theo 4 nhóm thực phẩm Làm quen với một số thao tác đơn giản trong chế biến một số món ăn, thức uống
Trẻ biết ăn nhiều loại thức ăn, ăn chín, uống nước đun sôi để khỏe mạnh,nếu uống nhiều nước ngọt nước có ga, ăn nhiều đồ ngọt dễ béo phì không
có lợi cho sức khỏe
Trẻ thực hiện được một số việc đơn giản như tự rửa tay bằng xà phòng, tự lau mặt,đánh răng… Biết sử dụng đồ dùng phục vụ ăn uống thành thạo
Có một số hành vi và thói quen tốt trong ăn uống: như mời cô, mời bạn khi ăn
và ăn từ tốn,ăn nhiều loại thức ăn khác nhau…
Theo quan điểm xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm hướng dẫn cho trẻ về giáo dục dinh dưỡng và vẹ sinh an toàn thực phẩm cần giáo dục cho trẻ những hiểu biết về giá trị dinh dưỡng của các loại lương thực, thực phẩm thông qua trò chơi, bữa ăn hàng ngày, dạo chơi tham quan… Từ đó trẻ có kiến thức, kỹ năng sơ đẵng về vấn đề dinh dưỡng, sức khỏe biết lựa chọn một cách thông minh, tự giác ăn uống để đảm bảo sức khỏe của mình
2 Thực trạng giáo dục dinh dưỡng và VSATTP cho trẻ 5 – 6 tuổi A1.
-Trường đã đạt chuẩn, có 100% cán bộ giáo viên có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn
- Lớp có diện tích rộng rãi, thoáng mát
- Trẻ được phân chia theo đúng độ tuổi và đi học rất đều
- 100% số trẻ có đủ đồ dùng đồ vệ sinh cá nhân như ca,cốc , khăn mặt, bàn chải răng…
- 100% số trẻ có đủ lô tô dinh dưỡng và được thực hành “ bé tập làm nội trợ ”
- Để cung cấp những kiến thức về dinh dưỡng và VSATTP
- 100% số trẻ được cân đo, khám sức khỏe định kì,được theo dõi chặt chẽ trên sổ sức khỏe và biểu đồ tăng trưởng
Bản thân là một giáo viên được đào tạo theo trình độ Đại học, có tâm huyết với nghề Thực sự yêu trẻ, quan tâm chăm sóc trẻ như con mình Có ý thức cố gắng vươn lên, không ngừng tìm tòi, học hỏi, tự bồi dưỡng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, thường xuyên tìm tòi nghiên cứu tài liệu có liên quan đến việc chăm sóc giáo dục trẻ hàng ngày nhất là việc nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và VSATTP cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong chương trình giáo
Trang 6dục mầm non lấy trẻ làm trung tâm.
Bên cạnh đó ban giám hiệu nhà trường đều có năng lực quản lý, có nghiệp
vụ chuyên môn, luôn quan tâm đến việc bồi dưỡng nâng cao trình độ cho giáo viên, tạo cơ sở vật chất đầy đủ
Mặc dù có những thuận lợi cơ bản tuy nhiên trong quá trình thực hiện đề tài của lớp tôi vẫn có những khó khăn sau:
b Khó khăn:
Đa số phụ huynh làm nghề nông nghiệp, kinh tế còn khó khăn nên kinh phí hỗ trợ cho việc mua sắm đồ dùng học tập của trẻ còn hạn chế Sự nhận thức của các bậc phụ huynh về ngành học chưa đồng đều
Việc phối kết hợp giữa gia đình và nhà trường trong công tác giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm còn nhiều hạn chế bởi vì đa số trẻ được nuôi dưỡng tại nhà
Mặt khác phần lớn các hộ gia đình chăn nuôi đều cho gia súc, gia cầm ăn bột tăng trọng, cây trồng bón bằng phân tươi, thuốc kích thích , thuốc bảo vệ thực vật… chưa đủ thời gian cho phép đã đem bán, làm cho bộ phận dinh dưỡng rất khó khăn trong việc lựa chọn thực phẩm tươi sạch, đảm bảo vệ sinh
Bàn ghế học và ăn chưa được tách riêng Chính vì thế sau mỗi bữa ăn giáo viên phải vệ sinh bàn ghế , sau đó mới cho trẻ học, việc này củng gây mất thời gian và không đảm bảo vệ sinh cho trẻ
Mặt khác phụ huynh chưa tạo cho trẻ thói quen sạch sẽ, khi chơi còn ngồi bệt xuống đất, quần áo ,đầu tóc không gọn gàng, khi tay bẩn vẫn ngồi vào bàn
ăn cơm…
Tình hình coovit-19 diễn biến phức tạp, nhiều cháu mắc covit nên không
đi học, làm ảnh hưởng tới công tác chăm sóc trẻ tại trường Nhiều phụ huynh còn xem nhẹ việc học sinh mắc covit dẫn đến cháu gầy yếu sau covit
2.1.Thực trạng về giáo dục dinh dưỡng và VSATTP tại lớp.
a Đối với cô:
- Nắm được phương pháp hướng dẫn về giáo dục dinh dưỡng và VSATTP cho trẻ như
Lồng ghép tích hợp giáo dục dinh dưỡng và VSATTP cho trẻ thông qua các giờ hoạt động học, giờ hoạt động góc, bé tập làm nội trợ
Lồng ghép tích hợp giáo dục dinh dưỡng và VSATTP cho trẻ thông qua các buổi lễ, các buổi tổ chức sinh nhật
- Dựa vào kết quả mong đợi
Ví dụ: Hướng dẫn trẻ biết một số món ăn,thực phẩm thông thường và lợi ích của chúng đối với sức khỏe: Như trẻ chưa biết lựa chọn một số thực phẩm khi gọi tên nhóm như,thực phẩm giàu chất đạm có thịt cá …thực phẩm giàu vitamin và muối khoáng như rau,quả…một số trẻ chưa nói lên đượ tên một số món ăn hằng ngày và dạng chế biến đơn giản, rau có thể luộc, nấu canh, thịt có
Trang 7thể luộc, rán kho, gạo nấu cơm, nấu cháo…
- Xây dựng kế hoạch giáo dục dinh dưỡng và VSATTP trong năm học vào các chủ đề
Ví dụ: Ở chủ đề trường mầm non, cho trẻ làm quen với các món ăn tại trường, tập ăn hết suất, rèn luyện hành vi văn minh trong ăn uống: Biết mời cô
và các bạn trước khi ăn, ngồi ăn ngay ngắn, không co chân lên ghế, cầm thìa bằng tay phải xúc ăn gọn gàng, tránh đổ vải, ăn từ tốn, nhai kỹ, không nói chuyện và đùa nghịch trong khi ăn
- Hình thức giáo dục dinh dưỡng và VSATTP cho trẻ
Ví dụ 1: Trong bữa ăn cô giớ thiệu các món ăn và hỏi trẻ món ăn hôm nay cung cấp chất gì Hôm nay các con ăn thịt bò cung cấp chất gì? Rau ngót cung cấp chất gì cho cơ thể chúng ta?
Ví dụ 2: Thông qua giờ hoạt động vui chơi như “ Bé tập làm nội trợ” trẻ
đã biết chế biến và trình bày các món ăn đơn giản như biêt pha nước chanh, phết bơ vào bánh mì, trộn xa lát…hoạt động này nội dung giáo dục dinh dưỡngđược thể hiện một cách nhẹ nhàng nhưng đạt hiệu quả
- Tạo ra các tình huống để giáo dục dinh dưỡng và VSATTP cho trẻ
Ví dụ: Các con muốn ăn quả cam phải làm gì?(Bóc vỏ)
Ăn cam cung cấp chất gì? ( vi ta min)
Trước khi ăn cam phải làm gì?( rửa tay)
- Xây dựng môi trường giáo dục dinh dưỡng và VSATTP trong nhóm lớp.Trang trí các góc hoạt động trong lớp bằng những hình ảnh gần gũi, sinh động, hấp dẫn phù hợp như tranh về tháp dinh dưỡng, tranh về các món ăn chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng cho trẻ, cách phòng một số tai nạn cho trẻ, biểu đồ tăng trưởng của nhóm lớp để phụ huynh tham khảo và nâng cao chất lượng dinh dưỡng của con em mình
- Tổ chức cân đo khám sức khỏe cho trẻ để có phương pháp điều chỉnh chế độ dinh dưỡng vào các bữa ăn hàng ngày
- Công tác tham mưu về giáo dục dinh dưỡng và VSATTP
Bản thân đã tham mưu với ban giám hiệu từ thực tế ở lớp nhiều hôm trẻ không ăn rau, vì rau đầu mùa nhìn rất xanh và tốt nhưng người dân lại phun nhiều thuốc để bán, hay thịt lợn cho ăn rất nhiều bột…để tìm ra nguồn cung cấp thực phẩm đảm bảo cho bữa ăn của trẻ
b Đối với nhận thức của trẻ:
Tuy nhiên đã được tách theo độ tuổi từng nhóm - lớp nhưng phần lớn sự tiếp thu của trẻ không đồng đều, còn nhiều hạn chế
- Khảo sát số trẻ có ý thức về vệ sinh và nhận biết VSATTP
Ví dụ: Một số trẻ chưa biết rửa tay trước khi ăn cô còn phải nhắc nhỡ, một số trẻ chưa nhận biết và gọi tên được 4 nhóm thực phẩm thông thường như: Thực phẩm cung cấp “Chất đạm, chất béo, chất bột đường, vi ta min và khoáng chất”
Trang 8- Một số trẻ chưa có kỹ năng về thao tác chế biến một số món ăn đơn giản.Ví dụ: Trong khi ăn còn nói chuyện, đùa nghịch, dùng tay bốc thức ăn… mặc dù cô đã thường xuyên nhắc nhỡ trẻ Mặt khác một số trẻ chưa biết ăn nhiều loại thức ăn, chưa hiểu được tác dụng của các nhóm thực phẩm đối với sức khỏe con người
- Một số trẻ chưa có hành vi và thói quen tốt trong ăn uống như chưa biết mời cô mời bạn trong khi ăn, chưa biết ăn nhiều loại thức ăn khác nhau…
c Cơ sở vật chất trang thiết bị:
– 100% trẻ ăn bán trú tại trường
– Ban giám hiệu có 3 đồng chí trong đó có một đồng chí Phó hiệu trưởng phụ trách riêng về mảng chăm sóc nuôi dưỡng Có một đồng chí nhân viên y tế phụ trách y tế học đường có hiểu biết về dinh dưỡng của trẻ mầm non
– Nhà trường có hợp đồng các loại lương thực thực phẩm của các nhà hàng tin cậy và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, có giấy chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm
– Khu bếp chính giao nhận thực phẩm rộng rãi thoáng mát
– Được sự quan tâm của BGH nhà trường được đầu tư trang thiết bị, đồ dùng dụng cụ đầy đủ, hiện đại: 01 tủ lạnh, 01 nồi cơm ga, 02 bếp ga công nghiệp, 01 tủ sấy bát, 01 bình lọc nước Ro…
– Bếp được xây dựng theo quy trình bếp 1 chiều và có đủ đồ dùng phục
vụ công tác nuôi dưỡng trẻ
Nhìn chung cơ sở vật chất trang thiết bị dạy và học đã được trang bị hàng năm theo kế hoạch song còn ít và chưa đồng bộ
Như tranh ảnh treo tường cho trẻ quan sát còn ít, vòi nước còn ít chưa đủ
số lượng cho các cháu rửa
Chưa có nhà ăn riêng dành cho trẻ
d Công tác phối kết hợp với phụ huynh.
Bản thân đã phối kết hợp tuyên truyền với phụ huynh thông qua góc trao đổi với phụ huynh,vào những giờ đón trả trẻ Nhưng do nhận thức của mỗi người khác nhau đa số phụ huynh đã thấu hiểu song một số phụ huynh chưa hiểu
rõ được công tác chăm sóc giáo dục trẻ nhất là vấn đề dinh dưỡng và VSATTP ở lớp, chưa tin tưởng vào bữa ăn dinh dưỡng của nhà trường mà chỉ sợ trẻ ăn không no, ăn thiếu chất hoặc không hợp vệ sinh
Thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt hàng ngày phù hợp với từng độ tuổi của trẻ tại lớp,chú trọng công tác chăm sóc nuôi dưỡng và các thời điểm vệ sinh cho trẻ, trước khi ăn cho trẻ rửa tay bằng xà phòng dưới vòi nước chẩy, rửa xong lau tay khô, dạy trẻ biết rửa tay trước khi đi vệ sinh và sau khi tay bẩn, nhắc cha
mẹ trẻ cắt móng tay, móng chân mỗi tuần một lần Dạy trẻ có thói quen vệ sinh khi ăn uống, ăn chín, uống sôi, ăn chậm, nhai kỹ, ăn uống từ tốn, biết nhặt cơm rơi vãi vào nơi quy định, ăn xong uống nước, súc miệng bằng nước muối, chải răng sạch sẽ
Từ những thực trạng trên tôi đã tiến hành khảo sát ban đầu và thu được kết quả như sau:
Trang 9* Bảng khảo sát trước khi áp dụng sáng kiến
Số
TT Nội dung khảo sát
Số trẻ
Kết quả thực trạng
1 Đối với giáo viên
Phương pháp hướng dẫn
giáo dục dinh dưỡng và
VSATTP
23
15 65,2 5 21,7 3 13,1
Xây dựng kế hoạch về
giáo dục dinh dưỡng và
VSATTP
16 69,5 5 21,7 2 8,8
Hình thức giáo dục dinh
dưỡng và VSATTP
14 60,8 8 34,7 1 4,5
Tạo ra các tình huống 13 28 12 34 15 43
Xây dựng môi trường
giáo dục trong nhóm lớp
15 65,2 5 21,7 3 13,1
Cân đo khám sức khỏe
cho trẻ
23 100
2 Đối với trẻ
Khảo sát số trẻ có ý
thức vệ sinh và nhận
biết về ATTP
14 60,8 8 34,7 1 4,5
Kỹ năng thao tác và chế
biến một số món ăn đơn
giản
15 65,2 5 21,7 3 13,1
Hành vi và thói quen tốt
trong ăn uống
16 69,5 5 21,7 2 8,8
3 Cơ sở vật chất
- Cơ sở vật chất, trang
thiết bị phục vụ chuyên
đề GDDD và VSATTP
mới đạt
23 100
4 Công tác tham mưa 23 100
Qua bảng khảo sát đầu năm cho thấy chất lượng giáo dục dinh dưỡng và
vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi A1ở trường mầm non Xuân Khang còn nhiều hạn chế, để khắc phục những hạn chế và nâng cao nhận thức, hiểu biết về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ giúp trẻ phát triển toàn diện về thể lực và trí tuệ, tôi đã đưa ra một số biện pháp giúp cho việc giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm đối với trẻ 5 – 6 tuổi đạt hiệu
Trang 10quả cao hơn.
3 Các giải pháp giải quyết vấn đề:
3.1 Một số biện pháp để thực hiện tốt các vấn đề dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm.
Căn cứ vào tình hình thực tế lớp tôi chủ nhiệm, căn cứ vào nhận thức của học sinh và năng lực của bản thân về vấn đề dinh dưỡng và VSATTP Tôi đã phải trăn trở suy nghĩ nhằm đưa ra các biện pháp của riêng mình để không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ
a Đối với cô
- Về nội dung phương phápgiáo dục dinh dưỡng và VSATTP tôiđã nắm
được thông qua các lớp chuyên đề do phòng giáo dục mở hàng năm đặc biệt là qua 44 mô đun:(mô đun 1 Đặc điểm phát triển thể chất – những mục tiêu và kết quả mong đợi ở trẻ mầm non và thể chất Mô đun 6, chăm sóc trẻ mầm non) và
6 mô đun vừa học chuyên đề qua trực tuyến, qua các tài liệu tham khảo có liên quan đến đề tài
- Trẻ biết một số món ăn, thực phẩm thông thường và lợi ích của chúng đối với sức khỏe: Như trẻ biết lựa chọn một số thực phẩm khi gọi tên nhóm
Thực phẩm giàu chất đạm: thịt, cá, tôm, cua …
Thực phẩm giàu vitamin và muối khoáng: rau,quả…
Trẻ nói tên một số món ăn hằng ngày và dạng chế biến đơn giản, rau có thể luộc, nấu canh, thịt có thể luộc, rán kho, gạo nấu cơm, nấu cháo…
- Xây dựng kế hoạch giáo dục dinh dưỡng và VSATTP trong năm học tôi
xá định được mục tiêu cần đạt trong từng chủ đề
- Hình thức tổ chức trên tiết học tôi đã lồng vào trong các tiết học trẻ rất hứng thú
Ví dụ: Giờ khám phá khoa học, một số loại quả, tôi xá định được mục đích yêu cầu , nội dung, đặt ra các câu hỏi phù hợp,khi ăn các con phải rửa sạch,ăn phải bóc vỏ…
-Ví dụ : cháu chưa có thói quen rửa tay trước và sau khi ăn… thì tôi sẽ đưa riêng trẻ đi rửa tay, những hôm đầu rửa tay cho trẻ tôi vừa rửa vừa hướng dẫn cho trẻ, những hôm sau tôi vừa rửa vừa cho trẻ nhắc lại các thao tác và cho trẻ biết tác dụng của việc vệ sinh sạch sẽ
b Đối với trẻ:
Thường xuyên tổ chức cho trẻ nhận biết 4 nhóm thông thường đó là nhóm thực phẩm cung cấp chất đạm , chất béo, chất bột đường, vi ta min và khoáng chất qua tranh lô tô dinh dưỡng qua góc chơi bé tập làm nội trợ và qua các hoạt động trong ngày của trẻ
Ở góc chơi bé tập làm nội trợ trẻ còn được thực hành chế biến một số món
ăn đơn giãn như: làm sa tát , pha nước cam, chanh , đường… ngoài ra trẻ còn được chơi phân nhóm thực phẩm theo yêu cầu của cô
Ví dụ: Chất bột đường gồm có những loại nào? Các con hãy đặt những
quân lô tô có cùng nhóm bột đường cho cô nào
- Chất béo, chất đạm, vitamin… gồm những loại gì? Các con hãy phân