Hợp đồng dân sự là một trong những phương thức hữu hiệu để các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Việc xác định thời điểm có hiệu lực của một hợp đồng là rất quan trọng. Bởi kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực thì quyền và nghĩa vụ của các bên mới phát sinh, và được pháp luật bảo vệ. Hơn nữa, đó hơn một năm qua Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới, đang trên đà hội nhập nền kinh tế toàn cầu, quá trình hội nhập mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng có nhiều thách thức. Các tranh chấp về hợp đồng dân sự cũng ngày một gia tăng và mức độ phức tạp ngày càng cao đòi hỏi pháp luật về hợp đồng dân sự phải hoàn thiện hơn để giải quyết một cách triệt để. Để giải quyết vấn đề này em xin chọn đề tài số 09: “Phân tích quy định của pháp luật hiện hành và cho ví dụ mimh họa về các thời điểm hợp đồng có hiệu lực. Nêu kiến nghị hoàn thiện pháp luật”.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… 2
NỘI DUNG………3
I Một số vấn chung về hợp đồng………3
1 Khái niệm về hợp đồng……… 3
II Phân tích các thời điểm hợp đồng có hiệu lực pháp luật Lấy VD………4
1.Cơ sở pháp lý……… 4
2 Các trường hợp có hiệu lực của hợp đồng……… 4
3.Ý nghĩa của việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng……… 8
III (Thực trạng và) Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thời điểm hợp đồng có hiệu lực pháp luật……… 8
KẾT LUẬN……….10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………11
PHỤ LỤC………12
Trang 2MỞ ĐẦU
Hợp đồng dân sự là một trong những phương thức hữu hiệu để các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Việc xác định thời điểm có hiệu lực của một hợp đồng là rất quan trọng Bởi kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực thì quyền và nghĩa vụ của các bên mới phát sinh, và được pháp luật bảo vệ
Hơn nữa, đó hơn một năm qua Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới, đang trên đà hội nhập nền kinh tế toàn cầu, quá trình hội nhập mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng có nhiều thách thức Các tranh chấp về hợp đồng dân sự cũng ngày một gia tăng và mức độ phức tạp ngày càng cao đòi hỏi pháp luật về hợp đồng dân
sự phải hoàn thiện hơn để giải quyết một cách triệt để
Để giải quyết vấn đề này em xin chọn đề tài số 09: “Phân tích quy định của pháp luật hiện hành và cho ví dụ mimh họa về các thời điểm hợp đồng có hiệu lực Nêu kiến nghị hoàn thiện pháp luật”
Trang 3NỘI DUNG
I.Khái quát chung về hợp đồng
1 Khái niệm hợp đồng
Theo Điều 385 BLDS năm 2015
“ Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.”
Có thể nói, hợp đồng là giao dịch phổ biến nhất trong đời sống xã hội và là căn cứ
cơ bản làm phát sinh nghĩa vụ Trên thực tế, hợp đồng tồn tại vô cùng phong phú
đa dạng như hợp đồng mua bán, trao đổi, tặng cho, vay, cho thuê, dịch vụ, bảo hiểm, gửi giữ, ủy quyền… Hợp đồng có thể được giao kết bằng lời nói, hành vi, cụ thể hoặc bằng văn bản Tùy theo từng trường hợp, hợp đồng dân sự có thể phải được công chứng, chứng thực, đăng ký Đối với hợp đồng mà pháp luật quy dđịnh phải đăng ký thì hợp đồng đó chỉ có hiệu lực khi đăng ký và có hiệu lực từ thời điểm đăng ký Hợp đồng theo định nghĩa tại điều luật được hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Theo
đó, muốn được công nhận là hợp đồng thì thỏa thuận phải thỏa mãn các điều kiện
cơ bản sau:
Thứ nhất, Phải có ít nhất hai bên chủ thể
Khác với giao dịch là hành vi pháp lý đơn phương thể hiện ý chí của một bên chủ thể như di chúc, hứa thưởng; hợp đồng phải là sự thể hiện ý chí của ít nhất hai bên chủ thể Cần lưu ý rằng ở đây có sự tham gia của hai bên chủ thể trong quan hệ hợp đồng chứ không phải là hai người vì mỗi bên có thể bao gồm một hoặc nhiều người Thông thường, một hợp đồng bao gồm hai bên nhưng cũng có những hợp đồng có thể bao gồm ba, bốn bên… được gọi chung là hợp đồng đa phương
Trang 4Thứ hai, Phải có sự thống nhất ý chí giữa các bên
Không phải cứ có hai bên chủ thể bày tỏ ý chí thì có thể hình thành nên hợp đồng Hợp đồng chỉ có thể được hình thành nếu sự thỏa thuận của các bên đạt đến sự thống nhất tức là ý chí của hai bên đã đồng thuận và cùng chấp nhận một hậu quả pháp lý sẽ hình thành khi hợp đồng được giao kết
Thứ ba, Sự thỏa thuận phải có hậu quả pháp lý làm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự
Không phải mọi sự thỏa thuận và có sự thống nhất ý chí của hai hay nhiều bên thì đều hình thành nên hợp đồng Chỉ những thỏa thuận có hậu quả pháp lý nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự mới hình thành nên hợp đồng
Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là cơ sở phát sinh quyền và nghĩa vụ các chủ thể đã cam kết trong hợp đồng dân sự. Bên có quyền được phép yêu cầu bên có nghĩa
vụ thi hành nghĩa vụ trong hợp đồng, và được hưởng mọi quyền lợi hợp pháp phát sinh từ hợp đồng Bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng, và phải chịu trách nhiệm dân sự trước bên có quyền về việc vi phạm hợp đồng
So sánh với định nghĩa về hợp đồng trong BLDS năm 2005 có thể nhận thấy định nghĩa về hợp đồngtrong BLDS năm 2015 có một sự tiến bộ đáng kể Nếu điều 394 BLDS năm 2005 sử dụng thuật ngữ “khái niệm hợp đồng dân sự” thì Điều 385 BLDS năm 2015 đã bỏ đi cụm từ “dân sự” chỉ để “khái niệm hợp đồng” Định nghĩa này thể hiện sự tiến bộ và hợp lý bởi lẽ khái niệm hợp đồng vừa thể hiện sự ngắn gọn, súc tích vừa mang tính khái quát cao được hiểu là bao gồm tất cả các loại hợp đồng theo nghĩa rộng (hợp đồng dân sự, hợp dồng lao động, hợp đồng kinh tế, hợp đồng chuyển giao công nghê…) chứ không chỉ là các hợp đồng dân sự theo nghĩa hẹp đơn thuần Quy định này cũng tạo nên sự thống nhất, tránh sự
chồng chéo của nội dung các văn bản và cũng thể hiện được sự bao quát của BLDS
là đạo luật gốc của hệ thống luật tư
II Phân tích các thời điểm hợp đồng có hiệu lực pháp luật Lấy VD
1.Cơ sở pháp lý
Bàn về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thì hiện nay được quy định tại Điều 401
Bộ luật dân sự năm 2015, theo đó:
Trang 5“1.Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác
2 thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật.”
2 Các trường hợp có hiệu lực của hợp đồng
Theo quy định tại khoản 1 của điều luật, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được xác định vào một trong ba thời điểm sau:
Trường hợp 1: Hợp đồng có hiệu lực tại thời điểm giao kết
Thời điểm giao kết hợp đồng được xác định vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết Khi các bên không có thỏa thuận và pháp luật không có quy định khác, thì hợp đồng có hiệu lực vào thời điểm giao kết Thời điểm giao kết hợp đồng thường là thời điểm các bên thỏa thuận xong nội dung của hợp đồng
Ví dụ: Ngày 2/2/2018, A gửi đề nghị giao kết hợp đồng với B Ngày 10/2/2018, A nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng của B Vậy thời điểm có hiệu lực của hợp đồng phát sinh tính từ ngày 10/2/2018, sau khi A nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng từ B
Như đã phân tích, pháp luật Việt Nam xác điịnh thời điểm giao kết hợp đồng là các thời điểm sau:
Thứ nhất, nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định im lặng là đồng ý gioa kết hợp đồng, thì hợp đồng được xem là đã giao kết tại thời điểm hết thời hạn trả lời mà bên được đề nghị vẫn im lặng Nếu BLDS năm 2005 chưa xác định được chính xác thời điểm giao kết hợp đồng trong trường hợp các bên thỏa thuận im lặng
là đồng ý thì BLDS năm 2015 đã khắc phục được hạn chế này Tuy nhiên, quy định này là mới chỉ giới hạn được việc xác định im lặng là giao kết hợp đồng trong trường hợp các bên thỏa thuận mà chưa quy định đối với trường hợp theo thói quen hoặc theo tập quán Chính vì vậy, pháp luật dân sự cần quy định cụ thể, rõ ràng hơn đối với các trường hợp này
Ví dụ: Công ty A gửi đề nghị giao kết hợp đồng với công ty B, trong đó có nội dung: Nếu đến ngày 3/3/2018 bên B vẫn im lặng, không có sự trả lời đối với hợp đồng thì mặc nhiên hợp đồng có hiệu lực từ ngày kế tiếp ( tức ngày 4/3/2018) Đến thời hạn, bên B vẫn im lặng, không có sự phản đối Như vậy, chúng ta có thể xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được xác định trong trường hợp này là từ ngày 4/3/2018
Trang 6Thứ hai, hợp đồng được thỏa thuận trực tiếp bằng lời nói thì thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận của bên được
đề nghị Trong trường hợp này, hiệu lực của hợp đồng phát sinh khi các bên thỏa thuận xong hết nội dung trong hợp đồng
VD: Bà Loan đến cửa hàng ông Hùng để đặt may một chiếc áo Hai bên thỏa thuận
về quyền và nghĩa vụ các bên Theo đó, hiệu lực của hợp đồng này phát sinh sau khi
2 bên thỏa thuận xong về các nội dung hợp đồng
Thứ ba, thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản Như vậy, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng phát sinh trong khi bên sau cùng ký vào văn bản hay các hình thức khác
Minh họa cho trường hợp này là ngày 5/7/2018 Công ty Cổ phần Hòa phát ký kết hợp đồng dịch vụ với công ty cổ phần An Phúc Giám đốc của 2 công ty đại diện ký kết hợp đồng Như vậy, thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng này là kể từ khi bên sau cùng ký vào hợp đồng dịch vụ đó
Thứ tư, nếu hợp đồng giao kết bằng thư tín, qua bưu điện thì hợp đồng được giao kết vào ngày bên đề nghị nhận được thư trả lời chấp nhận hợp lệ
Thứ năm, nếu hợp đồng giao kết bằng phương tiện điện tử thì ngoài việc tuân thủ quy định của BLDS, việc xác định thời điểm giao kết hợp đồng còn phải tuân theo các qui định của Luật giao dịch điện tử năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành
Ví dụ: Theo quy định tại Điều 18, 19, 20 của Luật giao dịch điện tử năm 2005, và khoản 2 Điều 11 Nghị định số 57/2006/NĐ-CP ngày 09/6/2006 thì thời điểm nhận thông điệp dữ liệu là “thời điểm người nhận có thể truy cập được chứng từ điện tử
đó tại một địa chỉ điện tử do người nhận chỉ ra Thời điểm nhận một chứng từ điện
tử ở địa chỉ điện tử khác của người nhận là thời điểm người nhận có thể truy cập được chứng từ điện tử tại địa chỉ này và người nhận biết rõ chứng từ điện tử đã được gửi tới địa chỉ này” Hoặc theo khoản 2 Điều 10 Nghị định số
52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 thì “trong trường hợp các bên không có thỏa thuận khác, thời điểm nhận một chứng từ điện tử là thời điểm chứng từ điện tử đó tới được địa chỉ điện tử do người nhận chỉ ra và có thể truy cập được”
Thứ sáu, trường hợp hợp đồng giao kết bằng lời nói và sau đó xác lập bằng văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác định dựa theo thời điểm giao kết xác định bằng lời nói
Trang 7Trường hợp 2: Thời điểm do các bên thỏa thuận
Về nguyên tắc, hợp đồng có hiệu lực tại thời điểm giao kết, nhưng các bên có thể thỏa thuận hợp đồng phát sinh hiệu lực tại một thời điểm khác với thời điểm giao kết thì hợp đồng sẽ có hiệu lực tại thời điểm đó Qui định này dựa trên cơ sở
nguyên tắc tự do hợp đồng Vì các bên có quyền tự do thỏa thuận nội dung hợp đồng, nên cũng có quyền tự do lựa chọn thời điểm có hiệu lực của hợp đồng Tất nhiên, các bên có thể thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của hợp đồng khác với qui định của pháp luật, nhưng không được trái pháp luật hoặc trái với bản chất của hợp đồng
Ví dụ: A và B ký kết hợp đồng mua bán vật liệu Hai bên thỏa thuận thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng là khi B giao hàng đến cửa hàng của A Theo đó, trường hợp này thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng được xác định từ thời điểm B giao hàng cho A
Trường hợp 3: Theo quy định pháp luật
Trong những trường hợp đặc thù thể hiện bản chất của hợp đồng hoặc cần có sự kiểm soát chặt chẽ về hiệu lực của hợp đồng và để bảo vệ các bên, nhà làm luật quy định riêng về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng có hiệu lực vào thời điểm pháp luật quy định
Ví dụ:
Điều 458 quy định “Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận được tài sản, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác Đối với động sản mà luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực từ thời điểm đăng ký”
Khoản 2 Điều 459 quy định: “Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực từ thời điểm chuyển giao tài sản”
Điều 503 quy định: “Việc chuyển quyền sử hữu đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng
ký theo quy định của Luật đất đai.”
Hoặc theo quy định tại Điều 148 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005: “Đối với các loại quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở đăng ký theo quy định điểm a khoản 3 Điều 6 của Luật này, hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp
Trang 8chỉ có hiệu lực khi đã được đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp Đối với các loại quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở đăng ký theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 6 của Luật này , hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp có hiệu lực theo thỏa thuận giữa các bên, nhưng chỉ
có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba khi đã được đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghệ
Khoản 2 của điều luật này là một quy định mới bổ sung so với BLDS năm 2005 Theo đó, điều luật quy định, từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực , các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật
Có thể nói, hiệu lực hợp đồng là vấn đề mang tính bản chất của hợp đồng, vì suy cho cùng, các bên thiết lập hợp đồng là để ràng buộc quyền và nghĩa vụ đối với nhau Hiệu lực hợp đồng là giá trị pháp lý của hợp đồng làm phát sinh các quyền và nghĩa
vụ của các bên tham gia, và giá trị pháp lý ràng buộc các bên tham gia hợp đồng phải tôn trọng và thi hành nghiêm túc các quyền và nghĩa vụ đó Chỉ kể từ thời điểm hợp đồng phát sinh hiệu lực thì quyền và nghĩa vụ các bên mới phát sinh và bị ràng buộc với nhau đồng thời các bên không thể tự ý rút lại, sửa đổi, hủy cam kết trong hợp đồng Chính vì vậy, xác định được chính xác thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng là vô cùng cần thiết
3.Ý nghĩa của việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng
Việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là một vấn đề có ý nghĩa pháp lý quan trọng Đây là cơ sở để các bên xác định quyền và nghĩa vụ của mình Theo đó, các bên biết và thực hiện theo những gì họ đã cam kết Ngoài ra, đây cũng là cơ sở
để giải quyết tranh chấp giữa các bên nếu có sự vi phạm
Lưu ý: Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật Quy định này là nhẳm đảm bảo việc thực hiện hợp đồng của các bên, đồng thời rõ ràng hơn trong việc thay đổi nội dung hợp đồng (tức là phải có sự thỏa thuận giữa các bên)
III (Thực trạng và) Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thời điểm hợp đồng có hiệu lực pháp luật
Một mặt, hạn chế tối đa các loại hình thức có ý nghĩa là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng Chỉ những trường hợp cần bảo vệ lợi ích công cộng hoặc bảo vệ lợi ích bên ngay tình hay bên yếu thế luật mới cần đặt ra các thủ tục này Lấy ví dụ, các
Trang 9hợp đồng liên quan đến bất động sản trong pháp luật của Pháp về nguyên tắc đều
là các hợp đồng ưng thuận nghĩa là được giao kết và có hiệu lực ngay từ khi các bên thỏa thuận xong nội dung hợp đồng, trừ trường hợp tặng cho bất động sản hay bán bất động sản xây dựng trong tương lai hoặc thế chấp bất động sản luật yêu cầu phải công chứng mới có hiệu lực, và điều này nhằm bảo vệ bên yếu thế là bên tặng cho hay bên mua Thực tình, chúng tôi không hiểu tại sao pháp luật đất đai vẫn coi thủ tục đăng ký là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất, trong khi một thực tế mấy chục năm nay cho thấy hầu hết các tranh chấp đất đai đều dính dáng đến vấn đề hình thức hợp đồng và việc tuyên hợp đồng vô hiệu vì chưa được công chứng chứng thực đã gây thiệt hại rất nhiều cho bên ngay tình
Mặt khác, cũng có thể nghĩ đến việc xây dựng cơ chế trách nhiệm dân sự của các bên trong giai đoạn chuẩn bị hợp đồng Ví dụ, BLDS của Đức có quy định ngay trong giai đoạn chuẩn bị hợp đồng các bên đã có nghĩa vụ nhất định đối với nhau như nghĩa vụ thông tin, hợp tác, nếu có vi phạm đã phát sinh trách nhiệm
Cuối cùng, nên chấp nhận lý thuyết về hợp đồng tiền hợp đồng vì trong nhiều trường hợp đàm phán, dù chưa đi đến ký kết chính thức nhưng các bên đã đạt được một số thỏa thuận mà pháp luật công nhận thỏa thuận đó mang bản chất hợp đồng Những thỏa thuận này được ký kết nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hợp đồng tương lai được ký kết hoặc tổ chức quan hệ của các bên trong quá trình đàm phán Thực tế có rất nhiều tên gọi cho những thỏa thuận tiền hợp đồng nhưng lại mang bản chất hợp đồng này, ví dụ, protocol d’accord, memorandum of understanding, letter d’intention (letter of intention)… Học thuyết các nước theo truyền thống civil law gọi những dạng thỏa thuận này là tiền hợp đồng (avant-contrat; contrat prealable) hoặc hợp đồng chuẩn bị (contrat preparatorie)
Trang 10
KẾT LUẬN
Như vậy, trên đây là những vấn đề cơ bản về các thời điểm hợp đồng có hiệu lực,
ví dụ và giải pháp hoàn thiện pháp luật theo pháp luật hiện hành Do kiến thức còn hạn chế, trong bài còn nhiều thiếu xót, mong các thầy cô đọc bài và giúp em hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!