1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích và cho ví dụ minh họa về các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo blds năm 2015

13 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích và cho ví dụ minh họa về các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo BLDS năm 2015
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Bài tập học kỳ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 297,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày 24112015, Quốc hội Khóa 13 kỳ họp thứ 10 đã thông qua toàn văn Bộ luật Dân sự, với tổng số 689 điều được chia thành 6 phần và 27 chương, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 012017. Trên cơ sở kế thừa nội dung của Bộ luật Dân sự năm 2005 và cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung nhiều chế định nhằm bắt kịp thực tiễn đời sống dân sự luôn biến động, tăng cường tính thích hợp và hiệu quả của pháp luật, góp phần ổn định kinh tế xã hội. Việc chỉnh sửa, bổ sung các quy định không đơn thuần chỉ là sự thay đổi giản đơn về câu chữ, về quy định hay hành văn; đó là sự thay đổi cả về tư duy, cách nhìn nhận, đánh giá sự việc của các nhà làm luật dựa trên các sự kiện khách quan của cuộc sống. Trong các chế định của Bộ luật Dân sự năm 2015, vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng đã được chỉnh sửa và bổ sung, không chỉ thể hiện sự thay đổi trong cách nhìn nhận, đánh giá về các vấn đề liên quan, mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường tính hiệu quả, phù hợp của luật pháp với thực tiễn. Nếu bồi thường thiệt hại trong hợp đồng yêu cầu giữa các bên phải có quan hệ hợp đồng và hành vi gây thiệt hại phải thuộc phạm vi điều chỉnh của hợp đồng, thì khác với đó, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là loại trách nhiệm dân sự phát sinh giữa các chủ thể mà trước đó không có quan hệ hợp đồng (hoặc có quan hệ hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không thuộc nghĩa vụ thi hành hợp đồng đã ký kết).

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Môn: LUẬT DÂN SỰ 2

-* -

Đề bài 03 :

Phân tích và cho ví dụ minh họa về các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo BLDS

2015 so với quy định trong BLDS năm 2005

Lớp:

Họ và tên : MSSV : Nhóm:

Hà Nội - 2018

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày 24/11/2015, Quốc hội Khóa 13 kỳ họp thứ 10 đã thông qua toàn văn Bộ luật Dân sự, với tổng số 689 điều được chia thành 6 phần và 27 chương, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017

Trên cơ sở kế thừa nội dung của Bộ luật Dân sự năm 2005 và cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung nhiều chế định nhằm bắt kịp thực tiễn đời sống dân sự luôn biến động, tăng cường tính thích hợp và hiệu quả của pháp luật, góp phần ổn định kinh tế - xã hội Việc chỉnh sửa, bổ sung các quy định không đơn thuần chỉ là sự thay đổi giản đơn về câu chữ,

về quy định hay hành văn; đó là sự thay đổi cả về tư duy, cách nhìn nhận, đánh giá

sự việc của các nhà làm luật dựa trên các sự kiện khách quan của cuộc sống

Trong các chế định của Bộ luật Dân sự năm 2015, vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng đã được chỉnh sửa và bổ sung, không chỉ thể hiện sự thay đổi trong cách nhìn nhận, đánh giá về các vấn đề liên quan, mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường tính hiệu quả, phù hợp của luật pháp với thực tiễn Nếu bồi thường thiệt hại trong hợp đồng yêu cầu giữa các bên phải có quan hệ hợp đồng và hành vi gây thiệt hại phải thuộc phạm vi điều chỉnh của hợp đồng, thì khác với đó, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là loại trách nhiệm dân sự phát sinh giữa các chủ thể mà trước đó không có quan hệ hợp đồng (hoặc có quan hệ hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không thuộc nghĩa vụ thi hành hợp đồng đã

ký kết)

Ở nước ta, trên thực tế, số vụ án về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chiếm

số lượng lớn hơn bồi thường thiệt hại trong hợp đồng Do đó, để có thể áp dụng một cách tốt nhất quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì việc tiên quyết là làm rõ quy định về điều kiện phát sinh trách nhiệm này

Trang 3

NỘI DUNG I) Các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật Dân sự 2015

Theo quy định tại Điều 275 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015, một trong những căn

cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là sự kiện “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” và tương ứng với căn cứ này là các quy định tại Chương XX, Phần thứ ba BLDS 2015 về “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”

Thực tiễn trong cuộc sống hằng ngày, có rất nhiều tình huống ta không thể

lường trước mà gây ra thiệt hại cho người khác Khi hành vi đó gây ra thiệt hại cho người khác thì phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại, đó còn gọi là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH) được quy định tại Điều 584, BLDS 2015 Theo đó:

1 Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác

2 Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác

3 Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này

1) Khoản 1, Điều 584, Bộ luật Dân sự 2015

Phân tích Khoản 1, Điều 584 ta thấy, căn cứ xác định trách nhiệm BTTH là

“hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại” Trách nhiệm BTTH phát sinh khi có các điều kiện:

+ Có thiệt hại xảy ra: Thiệt hại là một yếu tố cấu thành trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng Trách nhiệm BTTH chỉ phát sinh khi có sự thiệt hại về tài sản

Trang 4

hoặc sự thiệt hại về tinh thần Sự thiệt hại về tài sản là sự mất mát hoặc giảm sút về một lợi ích vật chất được pháp luật bảo vệ; thiệt hại về tài sản có thể tính toán được thành một số tiền nhất định Thiệt hại về tinh thần được hiểu là do tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, giảm sút hoặc mất uy tín, tín nhiệm, lòng tin…, và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu

+ Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật: Hành vi trái pháp luật trong trách nhiệm dân sự là những xử sự cụ thể của chủ thể được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, bao gồm: Làm những việc mà pháp luật cấm, không làm những việc mà pháp luật buộc phải làm, thực hiện vượt quá giới hạn pháp luật cho phép hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ mà pháp luật quy định + Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra: Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành

vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại Hành vi trái pháp luật sẽ là nguyên nhân của thiệt hại nếu giữa hành vi đó và thiệt hại có mối quan hệ tất yếu có tính quy luật chứ không phải ngẫu nhiên Thiệt hại sẽ là kết quả tất yếu của hành vi nếu trong bản thân hành vi cùng với những điều kiện cụ thể khi xảy ra chứa đựng một khả năng thực tế làm phát sinh thiệt hại

+ Có một điều đặc biệt là căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng không tính đến yếu tố lỗi Không phân biệt hành vi là có lỗi hay không có lỗi, lỗi

cố ý hay lỗi vô ý, chỉ cần có hành vi và dẫn đến thiệt hại thì phải có trách nhiệm bồi thường (đây là điểm mới so với quy định trong BLDS 2005 cũ) Vấn đề về xác định yếu tố lỗi không có ý nghĩa trong việc làm căn cứ phát sinh trách nhiệm

BTTH ngoài hợp đồng, nó chỉ có ý nghĩa trong việc xác định chủ thể sẽ phải

BTTH và mức độ BTTH

Trang 5

Các ví dụ về vấn đề BTTH ngoài hợp đồng trên thực tế rất nhiều, đa dạng và phong phú Ở Việt Nam có thể kể đến điển hình là trong lĩnh vực tham gia giao thông bởi ý thức chấp hành pháp luật khi tham gia giao thông của nhiều người dân còn kém, và khi xảy ra va chạm thì thái độ và cách hành xử còn thiếu văn minh Điển hình là các trường hợp chuyển hướng không bật đèn báo hiệu trước, hay tham gia giao thông không làm chủ tốc độ, không giữ khoảng cách với người đi trước nên khi có sự cố bất ngờ dễ dẫn đến va chạm

Ví dụ: A và B đi trên 2 xe máy và đang cùng lưu thông trên đường, A đi phía trước B Đến một ngã ba, A muốn rẽ trái nhưng không bật đèn tín hiệu xin báo rẽ, không chú ý quan sát xung quanh nên không thấy B đang đi tới từ đằng sau, và rẽ trái đột ngột B đang đi từ sau với tốc độ vừa phải, có giữ khoảng cách tuy nhiên

do A rẽ trái quá đột ngột nên B không thể xử lý kịp và hai bên đã va chạm với nhau Hậu quả là xe của B bị cong vành, vỡ yếm, tổng thiệt hại hết khoảng 2 triệu đồng, B may mắn không làm sao, A cũng chỉ bị xây xát nhẹ, xe của A cũng không

bị hư hại gì nghiêm trọng

Phân tích ví dụ trên theo 3 tiêu chí chính là: thiệt hại thực tế xảy ra, hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại (như

đã phân tích ở trên, trong việc xác định căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, không cần quan tâm đến yếu tố lỗi), ta thấy:

1 Đã có thiệt hại thực tế xảy ra cho bên bị xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp Đó là xe của B đã bị hư hỏng (cong vành, vỡ yếm), giá trị thiệt hại khoảng 2 triệu đồng

2 Hành vi gây thiệt hại của A là trái pháp luật Theo quy định của Luật giao thông đường bộ, khi chuyển làn đường hay hướng di chuyển, các phương tiện phải chú ý quan sát, bật đèn tín hiệu xin chuyển hướng và việc chuyển hướng phải từ từ, đảm bảo an toàn Ở đây, A đã không bật đèn tín hiệu khi muốn rẽ trái, cũng không quan sát xung quanh (đặc biệt là quan sát đằng sau), và chuyển hướng đột ngột, va chạm với B đang lưu thông ở sau Như vậy A đã không tuân thủ quy định pháp luật

Trang 6

về tham gia giao thông đường bộ, hành vi chuyển hướng đột ngột của A là hành vi trái pháp luật

3 Có quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra A đang

di chuyển và sau đó đột ngột chuyển hướng mà không báo hiệu cũng như không quan sát trước khi rẽ trái B đang đi sau, tốc độ vừa phải, giữ khoảng cách phù hợp (B không vi phạm các quy định của pháp luật về tham gia giao thông) Thiệt hại của B là hậu quả tất yếu và chỉ xuất phát từ hành vi trái pháp luật của A

Từ phân tích trên có thể khẳng định: A đã gây ra thiệt hại cho B, xuất phát từ hành vi trái pháp luật của mình nên theo Khoản 1, Điều 584, BLDS 2015, A có trách nhiệm phải BTTH cho B

2) Khoản 2, Điều 584, Bộ luật Dân sự 2015

Tuy nhiên, không phải bất cứ hành vi gây thiệt hại nào cũng phải bồi thường Khoản 2, Điều 584, BLDS 2015 có bổ sung thêm: “Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”

Tức nếu như ở ví dụ trên, việc A phải đột ngột chuyển hướng là do yếu tố khách quan, bất khả kháng (ví dụ A chuyển hướng đột ngột là do tránh một đứa bé bất ngờ lao ra ngoài đường hoặc cành cây bên đường bất ngờ rơi xuống, để tránh nên

A buộc phải chuyển hướng đột ngột), thì lúc này A sẽ không phải chịu trách nhiệm BTTH Đây là trường hợp không phải BTTH do sự kiện bất khả kháng

Trường hợp khi A và B có va chạm với nhau, B bị thiệt hại nhưng B lại thấy A

là người nghèo khó, không có khả năng BTTH và sau khi va chạm cũng đã xin lỗi

và hỏi thăm B, có thái độ hối lỗi; nên hai bên có thoải thuận với nhau rằng B sẽ không bắt A phải BTTH cho mình nữa Đây là trường hợp không phải BTTH do có thỏa thuận khác “Việc dân sự cốt ở đương sự” vốn là nguyên tắc cơ bản của luật

Trang 7

dân sự; nhằm tôn trọng quyền tự do, thỏa thuận giữa các chủ thể nên luật mới quy định thêm trường hợp không phải BTTH do thỏa thuận này

Trường hợp khi A và B va chạm, B không bị thiệt hại mà A bị thiệt hại, thì trường hợp này, lỗi hoàn toàn là của A nên B không phải chịu trách nhiệm BTTH cho A Đây là trường hợp không phải BTTH hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại Nếu như Khoản 1, Điều 584 không nhắc gì đến yếu tố lỗi và mới đọc thì có thể người đọc sẽ cảm thấy có sự thiếu xót lớn khi không đề cập đến yếu tố lỗi ở đây; thì Khoản 2, Điều 584 chính là sự bổ sung cần thiết và kịp thời cho điều đó

Khoản 1 với ý nghĩa là tổng hợp tất cả các trường hợp phải BTTH (không cần biết có lỗi hay không, cứ gây thiệt hại là phải bồi thường) thì Khoản 2 với ý nghĩa

là loại trừ một số trường hợp dù gây thiệt hại nhưng không phải bồi thường, là bổ sung quan trọng, đầy đủ cho Khoản 1

3) Khoản 3, Điều 584, Bộ luật Dân sự 2015

Ngoài ra, có một điểm mới quan trọng khác so với BLDS 2005 cũ đó là quy định về thiệt hại gây ra bởi tài sản tại Khoản 3, Điều 584, BLDS 2015 Theo đó,

“trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này”

Theo quy định của BLDS 2005 thì một trong những điều kiện để phát sinh trách nhiệm BTTH là yếu tố có lỗi của người gây thiệt hại Tuy nhiên, điều này sẽ là không hợp lý với những trường hợp thiệt hại là do tài sản gây ra Bởi vì, theo lý luận về Nhà nước và pháp luật thì lỗi là yếu tố chủ quan thể hiện thái độ của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra Vậy thì, không thể tìm kiếm được yếu tố lỗi trong trường hợp tài sản - một vật vô tri, vô giác - gây ra thiệt hại BLDS 2015 đã khắc phục được thiếu sót này khi bổ sung thêm căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH là “tài sản gây thiệt hại” Sự bổ sung này

đã sát thực tế hơn và tạo nên sự thống nhất trong quy định về thực tiễn áp dụng pháp luật, góp phần làm ổn định và lành mạnh hóa các quan hệ pháp luật dân sự

Trang 8

Trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tài sản gây ra thiệt hại được phát sinh dựa trên các điều kiện: Có thiệt hại xảy ra; tài sản gây ra thiệt hại xâm phạm đến những lợi ích hợp pháp được pháp luật bảo vệ như tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; có mối quan

hệ nhân quả giữa sự tác động của tài sản và thiệt hại xảy ra

Ví dụ, X nuôi 1 con chó ngao Tây Tạng, không xích và cũng không rọ mõm Y đang đi bộ bình thường ngoài đường thì bị con chó lao ra đuổi cắn khiến Y ngã gãy chân khi bị chó rượt và rách tay do bị chó cắn, tổng thương tật là 10% Trong

trường hợp này, theo Khoản 3, Điều 584, BLDS 2015, X là chủ sở hữu của con chó, có trách nhiệm phải BTTH cho Y

II) Bình luận điểm mới của quy định về các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2015 so với quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005

có hành vi và dẫn đến thiệt hại thì phải có trách nhiệm bồi thường

Trong BLDS 2015, căn cứ xác định trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là “hành

vi xâm phạm của người gây thiệt hại” Theo quy định trước đây tại Điều 604,

BLDS 2005: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”

Theo đó, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng yêu cầu người gây thiệt hại phải có

“lỗi cố ý hoặc vô ý” Với quy định như vậy, ngoài việc chứng minh người gây thiệt hại có hành vi trái pháp luật, người bị thiệt hại cần phải chứng minh người gây thiệt hại có lỗi, trong khi trên thực tế, việc chứng minh này không hề dễ dàng BLDS 2015 đã quy định về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng theo hướng có lợi hơn cho người bị thiệt hại

Trang 9

2) Sự kiện bất khả kháng được quy định bổ sung là điều cần thiết

BLDS 2005 không hề đề cập gì đến vấn đề “sự kiện bất khả kháng” Điều này thể hiện sự thiếu xót trong trường hợp dù người gây thiệt hại có lỗi nhưng vì hoàn cảnh đặc biệt bắt buộc phải gây thiệt hại nhằm bảo vệ một quan hệ pháp luật khác quan trọng hơn Ngoài ra, BLDS 2005 cũng không nhắc gì đến trường hợp “các bên có thỏa thuận khác” Việc không nhắc đến BTTH trong trường hợp các bên có thỏa thuận khác liệu rằng là do nhà làm luật vô tình quên hay cố ý không nhắc đến

vì cho rằng không cần thiết, bởi khi cả hai đã tự thỏa thuận được thì mặc nhiên sẽ thực hiện theo thỏa thuận các bên; chỉ khi không thỏa thuận được thì mới phải dùng đến các quy định của pháp luật để phân định?

Việc BLDS 2015 đã bổ sung thêm về vấn đề này là cần thiết trong việc đảm bảo tính rõ ràng, minh bạch của các quy định pháp luật, đồng thời cũng tạo sự dễ dàng trong việc áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp phát sinh cho các bên

3) Mở rộng phạm vi áp dụng trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng

BLDS 2005 quy định về các đối tượng bị xâm phạm trong căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH theo hướng liệt kê Cụ thể, Khoản 1, Điều 604 quy định: “Người nào

có lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”

Với quy định như trên, đối với cá nhân, BLDS 2005 có phạm vi điều chỉnh rất rộng Tuy nhiên, đối với pháp nhân, BLDS 2005 chỉ liệt kê ba đối tượng bị xâm phạm là “danh dự, uy tín, tài sản” Quy định mới tại Khoản 1, Điều 584, BLDS

2015 đã khắc phục được nhược điểm trên, phạm vi bồi thường thiệt hại đối với pháp nhân được ứng xử như cá nhân; theo đó, đối tượng bị xâm phạm làm phát sinh trách nhiệm BTTH của cá nhân và pháp nhân bao gồm “tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác”

Trang 10

Tuy nhiên, có một vài quan điểm khác lại cho rằng, việc dùng từ “người khác”

để chỉ chủ thể trong Khoản 1, Điều 584 là chưa thích hợp (“…lợi ích hợp pháp

khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải…”)

Cụ thể, cụm từ “người khác” rõ ràng là biểu thị ý nghĩa mô tả chủ thể là một con

người; mà đã là một người, thì chỉ có thể là cá nhân, sao có thể là pháp nhân, tổ

chức (tức tập hợp 1 nhóm người) được, từ “người khác” rõ nghĩa phù hợp với một người – cá nhân, chứ nó không biểu thị được nghĩa mô tả 1 nhóm người – pháp nhân, tổ chức được Do đó, có thể sẽ dẫn đến cách hiểu khác cho người đọc rằng chủ thể được bảo vệ ở đây chỉ là cá nhân, chứ không hề nhắc đến pháp nhân hay tổ chức, và vô tình như thế là một bước lùi so với BLDS 2005 cũ

Vậy có nên chăng, cần sửa đổi bổ sung từ ngữ chỉ chủ thể ở đoạn này từ “người khác” thành “cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác” để rõ ràng ý nghĩa hơn

Tức ta có “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân

phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt

hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác” thành “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự,

nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, pháp nhân

hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật

này, luật khác có liên quan quy định khác”

Góc nhìn cá nhân của em cũng đồng tình với quan điểm này, bởi mới đầu khi đọc em cũng cho rằng “người khác” là ám chỉ cá nhân, chứ không nhắc đến pháp nhân, do đó cũng cảm tưởng như có sự thiếu xót về chủ thể cần được bảo vệ

4) Quy định hoàn toàn mới về việc tài sản gây thiệt hại thì chủ tài sản phải bồi thường

Đây là một bước tiến quan trọng của BLDS 2015 so với BLDS 2005 BLDS

2015 đã quy định phạm vi điều chỉnh trong trường hợp đối tượng tài sản gây ra thiệt hại Các quy định của BLDS 2015 đã khái quát các trường hợp khi đối tượng

Ngày đăng: 04/06/2023, 15:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w