Trong những năm gần đây, trước yêu cầu của công cuộc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp quyền ở Việt Nam, án lệ ngày càng được quan tâm và đã trở thành một trong những nguồn luật quan trọng được công nhận. Thực tế cho thấy, trong 03 năm thực hiện Nghị quyết số 032015NQHĐTP, án lệ đã từng bước đi vào đời sống pháp lý của đất nước, phát huy hiệu quả và được đón nhận tích cực. Các án lệ được công bố đã phần nào đáp ứng mong đợi của người dân đặc biệt là những người làm công tác pháp luật. Án lệ khi được áp dụng trên thực tế sẽ khắc phục những hạn chế của hệ thống pháp luật, giải thích và làm rõ hơn các quy định của pháp luật thành văn; đặc biệt giúp các Toà án áp dụng trong xét xử đã khắc phục được phần nào những khó khăn, vướng mắc trong công tác xét xử, giúp cho việc xét xử được thống nhất, tạo sự minh bạch, ổn định trong các quyết định. Tuy nhiên, việc phát triển và áp dụng cụ thể các án lệ ở Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn dẫn đến sự lúng túng và thiếu sót của các Tòa án trong thực tế.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP HỌC KỲ
MÔN: Luật Dân sự
ĐỀ BÀI: Đ ề số 16:
Bình luận án lệ số 23/2018/AL về hiệu lực của hợp đồng
Hà Nội – Năm 2020
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
I KHÁI QUÁT VỀ ÁN LỆ SỐ 23/2018/AL 2
1 Nguồn án lệ 2
2 Khái quát nội dung của án lệ 2
3 Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ 3
4 Nội dung vụ án 3
5 Nội dung án lệ 4
II BÌNH LUẬN 5
1 Sự cần thiết ban hành án lệ 5
2 Vấn đề được giải quyết thông qua án lệ 6
3 Tính ứng dụng của án lệ 8
4 Một số vấn đề án lệ chưa đề cập đến 8
KẾT LUẬN 10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TP HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
BLDS: Bộ luật Dân sự
Trang 4MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, trước yêu cầu của công cuộc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp quyền ở Việt Nam, án lệ ngày càng được quan tâm
và đã trở thành một trong những nguồn luật quan trọng được công nhận Thực
tế cho thấy, trong 03 năm thực hiện Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP, án lệ
đã từng bước đi vào đời sống pháp lý của đất nước, phát huy hiệu quả và được đón nhận tích cực Các án lệ được công bố đã phần nào đáp ứng mong đợi của người dân đặc biệt là những người làm công tác pháp luật Án lệ khi được áp dụng trên thực tế sẽ khắc phục những hạn chế của hệ thống pháp luật, giải thích và làm rõ hơn các quy định của pháp luật thành văn; đặc biệt giúp các Toà án áp dụng trong xét xử đã khắc phục được phần nào những khó khăn, vướng mắc trong công tác xét xử, giúp cho việc xét xử được thống nhất, tạo sự minh bạch, ổn định trong các quyết định Tuy nhiên, việc phát triển và
áp dụng cụ thể các án lệ ở Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn dẫn đến sự lúng túng và thiếu sót của các Tòa án trong thực tế
Nhận thấy tầm quan trọng của án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay, bài luận xin được nghiên cứu đề bài số 16: “Bình luận án lệ số 23/2018/AL về hiệu lực của hợp đồng”
Trang 52
NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT VỀ ÁN LỆ SỐ 23/2018/AL
Theo Từ điển Luật học, án lệ được hiểu là: “Bản án đã tuyên hoặc một sự giải thích, áp dụng pháp luật được coi như một tiền lệ làm cơ sở để các Thẩm phán sau đó có thể áp dụng trong các trường hợp tương tự” Ngoài ra, Quyết định số 74/QĐ-TANDTC triển khai thực hiện chiến lược phát triển án lệ ngày 31/12/2012 nêu ra khái niệm: “Án lệ là bản án, quyết định của Tòa án chứa đựng sự giải thích, áp dụng pháp luật được tòa án vận dụng giải quyết vụ án
có nội dung tương tự” Khái niệm này khẳng định nguồn gốc của án lệ trong chiến lược phát triển án lệ là sự giải thích pháp luật, áp dụng pháp luật trong các bản án, quyết định của Tòa án
Án lệ số 23/2018/AL về hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ khi bên mua bảo hiểm không đóng phí bảo hiểm do lỗi của doanh nghiệp bảo hiểm Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng
10 năm 2018 và được công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06 tháng
11 năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
1 Nguồn án lệ
Bản án dân sự phúc thẩm số 538/2009/DS-PT ngày 31/3/2009 của Tòa án nhân dân TP HCM về vụ án “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm” giữa nguyên đơn là bà Phạm Thị T với bị đơn là Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ P; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Vũ Thị Minh N
2 Khái quát nội dung của án lệ
- Tình huống án lệ: Hồ sơ yêu cầu bảo hiểm nhân thọ thể hiện người mua
bảo hiểm lựa chọn hình thức thu phí bảo hiểm là tại địa chỉ nhà của bên mua bảo hiểm Đến thời hạn đóng phí bảo hiểm và trong thời gian gia hạn đóng phí, nhân viên doanh nghiệp bảo hiểm không đến thu phí của người mua bảo
Trang 6hiểm
- Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, phải xác định người mua bảo hiểm
không có lỗi trong việc chưa đóng phí Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ không bị mất hiệu lực vì lý do bên mua bảo hiểm không đóng phí bảo hiểm trong thời hạn theo thỏa thuận
3 Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ
Điều 23 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi, bổ sung năm 2010
Điều 23 Chấm dứt hợp đồng bảo hiểm
Ngoài các trường hợp chấm dứt hợp đồng theo quy định của BLDS, hợp đồng bảo hiểm còn chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
1 Bên mua bảo hiểm không còn quyền lợi có thể được bảo hiểm;
2 Bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm hoặc không đóng phí bảo hiểm theo thời hạn thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác;
3 Bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm trong thời gian gia hạn đóng phí bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm
4 Nội dung vụ án
Chồng của bà Phạm Thị T (nguyên đơn) có ký 3 hợp đồng bảo hiểm nhân thọ với Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ P (bị đơn) Theo hợp đồng, ngày phải nộp tiền đợt 2 là ngày 24/6/2005 và được gia hạn 2 tháng, tức ngày cuối cùng phải nộp phí là ngày 24/8/2005 Tuy nhiên, đến ngày 27/8/2005, chồng
bà T đột tử Do đó, bà T yêu cầu công ty bảo hiểm phải bồi thường 426 triệu đồng theo hợp động đã ký, bao gồm số tiền bảo hiểm và tiền lãi chậm trả Công ty bảo hiểm từ chối nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm vì cho rằng chồng bà
Trang 74
T đã không đóng phí đúng hạn, nên theo quy định, hợp đồng sẽ tự động hết hiệu lực Còn bà T cho rằng, việc không đóng phí là do lỗi của công ty bảo hiểm không đến thu tiền, chứ không phải bà không đóng
Bà Vũ Thị Minh N - người bán bảo hiểm cho chồng bà T và là đại lý của công ty bảo hiểm thừa nhận, theo thỏa thuận, đến kỳ thu phí bảo hiểm, bà N
sẽ trực tiếp thu phí tại nhà vợ chồng bà T Nhưng đến kỳ hạn cuối thu tiền, bà
N phải đi học chính trị ở tỉnh nên không thu phí được Việc không nộp tiền được là do khách quan
Tòa cấp sơ thẩm đã bác yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T, nhưng ở cấp phúc thẩm, tòa án cho rằng, việc chồng bà T chưa đóng phí đợt 2 không phải lỗi của khách hàng
Lý do khách hàng không đóng phí bảo hiểm là do nhân viên công ty không đến thu phí Điều này cũng thể hiện tại trang 5, quyển “Những thông tin khách hàng cần biết”, trong đó nêu rõ việc thu phí tại nhà gồm có thu phí hàng quý, hàng 6 tháng, hàng năm, hoặc cùng một địa chỉ có từ 2 hợp đồng trở lên, phù hợp với trường hợp của chồng bà T đã mua 3 hợp đồng của Công
ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ P
Do đó, tòa án phúc thẩm cho rằng, yêu cầu của bà T buộc Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ P phải chi trả tiền bảo hiểm khi chồng bà T tử vong do tai nạn là có cơ sở để chấp nhận
5 Nội dung án lệ
Nội dung của án lệ 23/2018/AL có vị trí ở đoạn 4, 7, 8 phần “Nhận định của Tòa án”
“[4] Căn cứ hồ sơ yêu cầu bảo hiểm nhân thọ (bút lục 15-17) thể hiện địa chỉ để Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ P thu phí là tại nhà số 231 ấp 3, xã
B, huyện G, tỉnh Bến Tre là nhà của ông L Điều này cũng phù hợp với lời
Trang 8khai của bà N là đại lý bán bảo hiểm và thu phí của Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ P
[7] Xét ông L đã ký hợp đồng bảo hiểm thông qua hình thức hồ sơ yêu cầu bảo hiểm nhân thọ với mức bảo hiểm là 300.000.000 đồng, việc ông L chưa đóng phí đợt 2 như đã phân tích ở trên là không phải lỗi của ông L do đó yêu cầu kháng cáo của bà T buộc Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ P phải chi trả tiền bảo hiểm khi ông L tử vong do tai nạn là có cơ sở để chấp nhận
[8] Xét yêu cầu của đại diện Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ P cho rằng ông L không đóng phí bảo hiểm đợt 2 hạn chót là ngày 24/8/2005 và ông L đã chết ngày 27/8/2005, như vậy hợp đồng bảo hiểm của ông L đã hết hiệu lực là không có cơ sở Bởi lẽ như đã phân tích ở trên, lý do ông L không đóng phí bảo hiểm là do nhân viên công ty không đến thu phí Điều này cũng thể hiện
rõ tại trang 5 quyển những thông tin khách hàng cần biết nêu rõ việc thu phí tại nhà gồm có thu phí hàng quý, hàng 6 tháng, hàng năm, hoặc cùng một địa chỉ có từ 2 hợp đồng trở lên, phù hợp với trường hợp của ông L đã mua 03 hợp đồng của Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ P là của ông L, bà T, bà H
Do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của đại diện Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ P, cũng như lời đề nghị của luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ P.”
II BÌNH LUẬN
1 Sự cần thiết ban hành án lệ
Về hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm, khoản 2 Điều 23 - Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định, hợp đồng bảo hiểm sẽ chấm dứt nếu bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm, hoặc không đóng phí bảo hiểm theo thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác Như vậy, hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm sẽ chấm dứt nếu khách hàng không đóng đủ, đóng đúng theo thỏa thuận
Trang 96
Tuy nhiên, trên thực tế, các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thường có thời gian thực hiện kéo dài, việc đóng phí được chia thành nhiều đợt nên tình trạng khách hàng không đóng phí bảo hiểm đúng hạn xảy ra khá phổ biến.Nguyên nhân có thể xuất phát từ phía khách hàng nhưng cũng có nhiều trường hợp khách hàng không đóng phí lại do lỗi của công ty bảo hiểm Đó có thể là do đại lý bảo hiểm thu phí không đúng hạn hoặc do đại lý bảo hiểm nghỉ việc; người tiếp nhận công việc chưa đến thu phí
Có thể thấy, trước khi án lệ số 23/2018/AL được ban hành thì các văn bản luật chưa thể hiện rõ về hướng xem xét nguyên nhân dẫn đến chuyện không đóng hay chưa đóng phí bảo hiểm Dẫn đến các quyết định chấm dứt hiệu lực hợp đồng sẽ không có được cách lập luận, cách giải quyết thống nhất và chặt chẽ với nhau Khi công bố án lệ, việc giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo hiểm trong trường hợp khách hàng không đóng phí do lỗi của của công ty bảo hiểm sẽ được thống nhất Nếu như trước đây nhận định của các cấp tòa án còn
có cách hiểu và cách vận dụng khác nhau về hiệu lực hợp đồng, thì với án lệ này, các cấp tòa án sẽ thống nhất xét xử, tránh việc giải quyết vụ kiện bị kéo dài, khiến đương sự tốn thời gian, chi phí
2 Vấn đề được giải quyết thông qua án lệ
- Xác định địa điểm đóng phí bảo hiểm: từ hợp đồng bảo hiểm người mua
bảo hiểm có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm, nghĩa là người có nghĩa vụ phải thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm đúng phương thức mà các bên
đã thỏa thuận Điều 277 BLDS 2015 quy định địa điểm thực hiện nghĩa vụ được xác định là nơi cư trú hoặc trụ sở của bên có quyền khi đối tượng không
là bất động sản Người có quyền nhận phí bảo hiểm là doanh nghiệp bảo hiểm, do đó theo quy định của BLDS thực hiện đóng phí bảo hiểm tại nơi là trụ sở của doanh nghiệp bảo hiểm Thực tế, trong trường hợp này các bên có quyền thỏa thuận về địa điểm khác, án lệ số 23 dựa vào ba yếu tố để khẳng định địa điểm đóng phí bảo hiểm là nhà của bên mua bảo hiểm Cụ thể, án lệ
Trang 10đã dựa theo căn cứ vào hồ sơ yêu cầu bảo hiểm, lời khai của đại lý bán bảo hiểm, quyền biết thông tin khách hàng cần thiết trong đó có bàn về nội dung thu phí tại nhà của khách hàng Án lệ theo hướng các bên có thỏa thuận khác được xem là hướng giải quyết phù hợp với thực tế
- Xác định nguyên nhân dẫn tới việc không đóng phí bảo hiểm: Án lệ số 23
không chỉ làm rõ địa điểm đóng phí bảo hiểm mà còn bàn thêm về nguyên nhân không đóng phí bảo hiểm, nội dung án lệ khẳng định là chưa đóng phí bảo hiểm, không đóng phí bảo hiểm, vậy có cần quan tâm đến nguyên nhân không? Đây là điểm rất quan trọng vì doanh nghiệp bảo hiểm theo hướng từ chối với lý do là bên mua bảo hiểm không đóng tiền bảo hiểm, án lệ có nội dung nhận diện việc chưa đóng phí bảo hiểm, cụ thể trong nội dung án lệ, không đóng phí bảo hiểm là do nhân viên của công ty không đến thu phí không phải do lỗi của người mua bảo hiểm, không chỉ khẳng định phí chưa được đóng mà án lệ còn quan tâm đến nguyên nhân dẫn đến việc chưa đóng
Án lệ đưa ra hướng giải quyết là phải quan tâm đến nguyên nhân dẫn đến việc không đóng phí bảo hiểm
- Án lệ số 23/2018/AL giải quyết theo hướng bàn về hệ quả dựa vào nguyên nhân: ở đây không có lỗi của người mua bảo hiểm nên bên doanh nghiệp bảo
hiểm vẫn phải chịu trách nhiệm, cụ thể nội dung án lệ quy định: cần phải xác định người mua bảo hiểm không có lỗi trong việc chưa đóng phí, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ không bị mất hiệu lực vì lý do bên mua bảo hiểm không đóng phí bảo hiểm trong thời hạn đã thỏa thuận Rõ ràng, án lệ đã quy định theo hướng khi nguyên nhân không phải do lỗi của bên mua bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải chịu trách nhiệm, đó là ý tưởng lớn và thuyết phục của án lệ
- Án lệ có sự đánh đồng vai trò của đại lý với nhân viên của doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó xuất phát từ việc không thu phí của người làm đại lý án lệ
đã nói rằng đây là việc của nhân viên doanh nghiệp bảo hiểm, vấn đề này là
Trang 118
chấp nhận được vì thực chất đại lý làm việc trên cơ sở yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm và đối với người mua bảo hiểm việc không đến thu phí bảo
hiểm do đại lý hay nhân viên doanh nghiệp là như nhau
3 Tính ứng dụng của án lệ
Rõ ràng án lệ số 23/2018/AL đã gỡ rối được những bất cập trong giải quyết vụ kiện về hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có lỗi do bên bán bảo hiểm Ngoài ra, án lệ còn có thể được áp dụng cho một số trường hợp có tính chất tương tự như sau:
- Trường hợp nhân viên của doanh nghiệp trực tiếp quản lý không đến thu phí thay vì là đại lý
- Trường hợp khi đại lý là một pháp nhân và người của pháp nhân đấy cũng không đến thu phí bảo hiểm
- Trong trường hợp các bên thỏa thuân đóng phí, thu phí bảo hiểm theo phương thức chuyển khoản, án lệ số 23 cũng sẽ được áp dụng tương tự với điều kiện phí bảo hiểm không được đóng mà không do lỗi của người mua bảo hiểm Cụ thể như: bên doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp sai số tài khoản ngân hàng của mình, thay đổi số tài khoản nhưng chưa thông báo cho người mua bảo hiểm, khiến người mua bảo hiểm không đóng được phí đúng thời hạn thỏa thuận
- Bên cạnh hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thì có thể áp dụng án lệ số 23 trong hoàn cảnh tương tự với hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ
4 Một số vấn đề án lệ chưa đề cập đến
- Trong vụ án này, các bên thỏa thuận về thu phí nhiều lần, bên mua bảo hiểm đã đóng phí lần 1 và chưa đóng phí lần 2 thì đã có tranh chấp, án lệ quy định doanh nghiệp phải trả số tiền bảo hiểm theo đúng hợp đồng, tuy nhiên án
lệ chưa nhắc đến việc xử lý khoản tiền bảo hiểm còn lại mà bên mua bảo hiểm
Trang 12còn phải đóng Trong trường hợp này, án lệ giải quyết theo hướng hợp đồng bảo hiểm còn hiệu lực nên đợt phí bảo hiểm đợt 2 vẫn phải tiếp tục đóng Đặc biệt, hoàn toàn có thể xử lý bằng cách hai bên bù trừ số tiền phải trả cho nhau, theo đó tiền phí bảo hiểm bên mua còn phải đóng sẽ được trừ vào khoản tiền bảo hiểm mà doanh nghiệp phải trả theo đúng quy định
- Trong vụ án, người mua bảo hiểm đòi tiền lãi nhưng nội dung này chưa được Tòa án giải quyết, tiền lãi và chậm trả tiền lãi còn bỏ ngỏ Khi giải quyết vấn đề này cần căn cứ vào hợp đồng để xem thời điểm phải trả phí bảo hiểm
và nếu bên bảo hiểm đã đủ điều kiện trả tiền bảo hiểm mà chưa trả thì nên tính lãi từ thời điểm đó
- Có thể mở rộng tình huống của án lệ đó là: nhân viên doanh nghiệp bảo hiểm có đến thu phí nhưng không nộp lại cho công ty Tình huống này đã xảy
ra trên thực tế và có thể được giải quyết theo hướng xác định bên mua bảo hiểm đã đóng phí theo đúng hợp đồng; còn số tiền bị lấy đi sẽ được giải quyết nội bộ theo cơ chế khác giữa nhân viên đó với công ty