1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ xã hội học việc tham gia nhóm phi chính thức và hành vi sai lệch của học sinh thpt tại thành phố hà nội

170 5 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Việc Tham Gia Nhóm Phi Chính Thức Và Hành Vi Sai Lệch Của Học Sinh THPT Tại Thành Phố Hà Nội
Tác giả Phạm Trần Thăng Long
Người hướng dẫn GS. TS. Đặng Cảnh Khanh
Trường học Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Chuyên ngành Xã hội học
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 2,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính trong tình hình thực tế đó và dựa trên cơ sở nhận thức như vậy, tác giả đã thực hiện luận án ngành Xã hội học với tiêu đề “Việc tham gia nhóm phi chính thức và hành vi sai lệch của

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án với tiêu đề “Việc tham gia nhóm phi chính thức và

hành vi sai lệch của học sinh THPT tại thành phố Hà Nội” hoàn toàn là kết quả

nghiên cứu của riêng cá nhân tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình

nghiên cứu nào của người khác Các kết quả trình bày trong luận án là trung thực

Trong quá trình thực hiện luận án, tôi đã thực hiện nghiêm túc các quy tắc đạo đức

nghiên cứu; tất cả các tham khảo sử dụng trong luận án đều được trích dẫn tường

minh, theo đúng quy định

Tác giả luận án PHẠM TRẦN THĂNG LONG

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa

học xã hội Việt Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa đào tạo

tiến sĩ ngành Xã hội học

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể các giảng viên, các nhà khoa học

công tác tại Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã

nhiệt tình chia sẻ và giúp đỡ tôi hoàn thành các nội dung trong chương trình đào tạo

tiến sĩ của Học viện

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn là GS TS Đặng Cảnh

Khanh đã luôn động viên, nhiệt tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận án này

Tôi cũng xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới các thầy cô, các bạn đồng nghiệp,

gia đình, bạn bè và các cán bộ, giáo viên đang công tác tại các nhà trường THPT tại

Hà Nội, gồm trường THPT Phan Đình Phùng (quận Ba Đình), trường THPT Nhân

Chính (quận Thanh Xuân), trường THPT Trần Hưng Đạo (quận Thanh Xuân),

trường THPT Phan Huy Chú (quận Đống Đa), trường THPT Quang Trung (quận

Đống Đa) đã hỗ trợ, hợp tác, chia sẻ, giúp đỡ tôi trong quá trình tổ chức hoạt động

nghiên cứu của luận án

Và trên hết, xin chân thành cảm ơn gia đình thân yêu, những người bạn thân

tín và đồng nghiệp chân tình đã luôn bền bỉ là chỗ dựa chắc chắc cho tôi để có thể

vững tin vượt qua mọi thách thức, khó khăn trong hành trình này

Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng chắc chắn luận án này không tránh khỏi những

thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp của các nhà khoa học, các nhà quản lý, các

bạn đồng nghiệp và những người quan tâm để tác giả có thể hoàn thiện nghiên cứu của

mình

Chân thành cảm ơn!

Tác giả luận án PHẠM TRẦN THĂNG LONG

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 3

3 Đối tượng nghiên cứu và Phạm vi nghiên cứu của luận án 4

4 Phương pháp luận của luận án 8

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 9

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 9

7 Cấu trúc của luận án 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 14

1.1 Nhận diện nhóm phi chính thức trong thanh thiếu niên 14

1.2 Ảnh hưởng của nhóm phi chính thức đối với thanh thiếu niên 21

1.3 Hành vi sai lệch của thanh thiếu niên 26

1.3.1 Các biểu hiện hành vi sai lệch của thanh thiếu niên 27

1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng hành vi sai lệch của thanh thiếu niên 30

1.4 Nhận định chung 37

Tiểu kết chương 1 41

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43

2.1 Khái niệm cơ bản sử dụng trong luận án 43

2.1.2 Khái niệm Nhóm phi chính thức 44

2.1.3 Khái niệm Việc tham gia nhóm phi chính thức trong học sinh trung học phổ thông 48

2.1.4 Khái niệm Hành vi sai lệch 49

2.2 Các lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu 53

2.2.1 Lý thuyết sinh thái xã hội 53

2.2.2 Lý thuyết kết giao khác biệt 56

2.2.3 Lý thuyết tương tác xã hội 59

Trang 4

2.3 Đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về giáo dục

đạo đức – pháp luật cho học sinh trung học phổ thông 62

2.4 Phương pháp nghiên cứu của luận án 65

2.4.1 Phương pháp chọn mẫu và mô tả không gian mẫu 65

2.4.2 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin 67

Tiểu kết chương 2 73

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG THAM GIA NHÓM PHI CHÍNH THỨC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 74

3.1 Một số đặc điểm của học sinh trung học phổ thông tham gia nghiên cứu 74

3.2 Việc tham gia nhóm phi chính thức của học sinh trung học phổ thông 76

3.2.1 Kiểu nhóm phi chính thức, Mục đích tham gia nhóm của học sinh trung học phổ thông 77

3.2.2 Vai trò tham gia, Cách thức tham gia và Quy định trong nhóm phi chính thức 83

3.2.3 Tương tác trong và ngoài nhóm phi chính thức 87

3.3 Mối quan tâm được chia sẻ và những hoạt động thông thường của nhóm phi chính thức 89

3.3.1 Mối quan tâm được chia sẻ giữa các thành viên nhóm phi chính thức 89

3.3.2 Hoạt động thông thường của nhóm phi chính thức 96

Tiểu kết chương 3 99

CHƯƠNG 4 THỰC TRẠNG HÀNH VI SAI LỆCH CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THAM GIA CÙNG NHÓM PHI CHÍNH THỨC 100

4.1 Mô tả chung về hành vi sai lệch cùng nhóm phi chính thức của học sinh trung học phổ thông 100

4.2 Một số dạng hành vi sai lệch của nhóm phi chính thức trong học sinh trung học phổ thông 106

4.2.1 Hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông đường bộ cùng nhóm phi chính thức của học sinh trung học phổ thông 107

4.2.2 Hành vi nguy cơ đối với trật tự xã hội cùng nhóm phi chính thức của học sinh trung học phổ thông 110

Trang 5

4.2.3 Hành vi bạo lực học đường cùng nhóm phi chính thức của học sinh

trung học phổ thông 114

4.3 Ứng xử của nhóm phi chính thức với thành viên có hành vi sai lệch 119

4.4 Mô hình hồi quy logistic về hành vi sai lệch cùng nhóm phi chính thức của học sinh trung học phổ thông 122

Tiểu kết chương 4 131

KẾT LUẬN 132

1 Một số nhận định chính của đề tài 132

2 Một số quan điểm định hướng rút ra từ kết quả nghiên cứu 134

3 Một số khuyến nghị nhằm phát huy vai trò của nhóm phi chính thức đối với phòng ngừa nguy cơ có hành vi sai lệch trong học sinh trung học phổ thông 137

4 Kết luận 139

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 142

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 143

PHỤ LỤC 1 152

PHỤ LỤC 2 157

PHỤ LỤC 3 158

PHỤ LỤC 4 160

Trang 6

PH : Phụ huynh PVS : Phỏng vấn sâu TGGT : Tham gia giao thông đường bộ THPT : Trung học phổ thông

TTXH : Trật tự xã hội

Trang 8

Bảng 4.5 Hành vi nguy cơ với trật tự xã hội cùng nhóm PCT xét theo đặc điểm nhân khẩu học của học sinh THPT 111 Bảng 4.6 Hành vi nguy cơ với trật tự xã hội cùng nhóm PCT xét theo các thuộc tính của nhóm 113 Bảng 4.7 Hành vi bạo lực học đường cùng nhóm PCT xét theo đặc điểm nhân khẩu học của học sinh THPT 115 Bảng 4.8 Hành vi bạo lực học đường cùng nhóm PCT xét theo các thuộc tính của nhóm 117 Bảng 4.9 Danh sách biến chính trong hồi quy binary logisitc 123 Bảng 4.10 Kết quả phân tích hồi quy binary logistic về Hành vi sai lệch theo nhóm PCT của học sinh THPT 125

Trang 9

DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Hình 1 Khung ph n tích của luận án 8

Biểu đồ 2.1 Cơ cấu mẫu khảo sát (%, n=448) 67

Biểu đồ 3.1 Mức sống hiện tại của gia đình học sinh (%, n=448) 74

Biểu đồ 3.2 Kiểu nhóm PCT của học sinh THPT (%, n=448) 77

Biểu đồ 3.3 Mục đích tham gia nhóm PCT của học sinh THPT (%, n=448) 80

Biểu đồ 3.4 Cách thức tham gia, Vai trò tham gia trong nhóm PCT của học sinh THPT (%, n=448) 83

Biểu đồ 3.5 Quy định trong nhóm PCT của học sinh THPT (%, n=448) 86

Biểu đồ 3.6 Hình thức tương tác trong nhóm PCT của học sinh THPT (%, n=448) 88

Biểu đồ 3.7 Mức độ giao lưu, liên kết của nhóm PCT với các nhóm khác (%, n=448) 88

Biểu đồ 3.8 Những chủ đề được trao đổi trong nhóm PCT (%, n=448) 90

Biểu đồ 3.9 Kiến thức và kỹ năng được thành viên trao đổi trong nhóm PCT (%, n=448) 91

Biểu đồ 3.10 Xu hướng và phong cách sống được trao đổi trong nhóm PCT (%, n=448) 92

Biểu đồ 3.11 Nội quy nhà trường được thành viên trao đổi trong nhóm PCT (%, n=448) 93

Biểu đồ 3.12 Hành vi không hợp chuẩn được thành viên trao đổi trong nhóm PCT (%, n=448) 94

Biểu đồ 3.13 Mối quan hệ liên cá nhân của thành viên trao đổi trong nhóm PCT (%, n=448) 94

Biểu đồ 3.14 Hành động thông thường của nhóm PCT (%, n=448) 96

Trang 10

Biểu đồ 4.1 Hành vi sai lệch của nhóm PCT trong học sinh THPT (%, n=448)

101

Biểu đồ 4.2 Tình trạng và Lý do bị đình chỉ học của học sinh THPT (%,

n=448) 103 Biểu đồ 4.3 Các dạng hành vi sai lệch của nhóm PCT trong học sinh THPT (%, n=448) 107 Biểu đồ 4.4 Ứng xử của nhóm PCT với thành viên có hành vi sai lệch (%, n=448) 120

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Học sinh trung học phổ thông (THPT) là một nhóm xã hội gắn với một giai đoạn đặc biệt quan trọng trong cuộc đời của mỗi người – giai đoạn vị thành niên hoặc cũng còn được gọi là giai đoạn tiền trưởng thành Ở độ tuổi này các em học sinh lĩnh hội đặc biệt nhiều và nhanh nhạy cùng với việc trở nên vô cùng nhạy cảm đối với các thông tin và các mối quan hệ tương tác xã hội xung quanh

Một mặt cuộc sống hiện đại và môi trường xã hội cởi mở trong kỷ nguyên công nghệ và thế giới phẳng hiện nay đem đến ngày càng nhiều những điều kiện thuận lợi cho học sinh trung học phổ thông tiếp cận với thông tin phong phú và các khả năng kết nối xã hội đa dạng Trong những năm qua, một bộ phận không nhỏ các

em học sinh trung học phổ thông đã khai thác hiệu quả cơ hội đó, không ngừng cố gắng phấn đấu, tự giác trong học tập, mở rộng tri thức, bồi dưỡng kinh nghiệm sống

và bước đầu đạt được những thành tích đáng khen ngợi Những kết quả rực rỡ ở các

kỳ thi Olympic hay kỳ thi nghề quốc tế là những minh chứng rõ ràng Những điều

đó khẳng định tín hiệu tích cực cho niềm tin vào vai trò chủ nhân tương lai của đất nước được gửi gắm ở các em

Ở một phương diện khác, trong bối cảnh đó vẫn đang cho thấy có một thực trạng khác cùng song hành Đó là việc xảy ra những hành vi sai lệch, thậm chí là vi phạm pháp luật trong người chưa thành niên và nhất là lứa tuổi trung học phổ thông không những tiếp tục tồn tại mà có chiều hướng gia tăng cả về số lượng và mức độ nghiêm trọng Theo một báo cáo của Bộ Tư pháp và UNICEF năm 2019, những hành vi sai lệch đến mức vi phạm pháp luật do người chưa thành niên từ đủ 16 - 18 tuổi thực hiện có chiều hướng gia tăng và chiếm tỷ lệ cao nhất, khoảng 71,8%; từ đủ

14 đến dưới 16 tuổi chiếm 22,5% và dưới 14 tuổi chiếm khoảng 5,7% trong tổng số các vụ gây ra bởi người chưa thành niên và trẻ em tính đến năm 2013 [2]

Trang 12

Như vậy, trong quá trình vận động của xã hội theo xu thế phát triển, của mục tiêu giáo dục, của điều kiện sống, cũng như xu thế phát triển của thời đại, các giá trị mới đang được hình thành và định hình trong lực lượng xã hội này Như Karl Marx từng nói, con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội nên có thể hiểu rằng, hành vi của học sinh trung học phổ thông có thể bị ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh, bao gồm xã hội, nhà trường, gia đình và cả bạn bè đồng trang lứa Gắn với môi trường đó, các em đã hình thành nên nhiều nhu cầu và mối quan tâm mới mẻ,

có những hành vi mang tính tích cực cũng như tiêu cực, và tham gia vào những mối quan hệ xã hội có tính chính thức cũng như phi chính thức

Vì vậy, khi xem xét về những hoạt động gắn với học sinh trung học phổ thông và thanh thiếu niên nói chung, khái niệm “văn hóa nhóm” đã được nhiều nhà nghiên cứu nói đến, với tính cách là một “nền văn hóa phụ” tồn tại song hành trong mối quan hệ biện chứng với dòng văn hóa chủ đạo trong xã hội [15] Tuy nhiên, một bộ phận xã hội và các cơ quan quản lý – giáo dục vẫn có nhiều phê phán hoặc không công nhận sự tồn tại khách quan của các nhóm và văn hóa nhóm gắn với các hình thái đó trong học sinh trung học phổ thông Hạn chế này dẫn đến sự xem nhẹ, thậm chí bỏ qua hoặc phủ nhận, sự tồn tại khách quan của các nhóm phi chính thức Điều này đã phần nào dẫn đến sự buông lỏng công tác quản lý, chăm sóc, giáo dục thanh thiếu niên, đứng trước những nguy cơ duy ý chí, lúng túng trong xử lý những vấn đề các hành vi sai lệch, tệ nạn xã hội và tội phạm vị thành niên có gắn với yếu

tố nhóm, đồng thời đánh mất những cơ hội khai thác các khía cạnh tích cực của loại hình nhóm xã hội quan trọng này

Bên cạnh đó, nhìn nhận từ thực tế và trong lĩnh vực nghiên cứu xã hội học cho thấy các khía cạnh phi chính thức (PCT) thường ít được để tâm tới từ quan điểm chính thức, và tính phi chính thức gắn với hoạt động nhóm của học sinh chưa nhận được nhiều sự chú ý Có một điểm tương đồng dễ nhận ra trong các nghiên cứu xã hội học về học sinh trong nhà trường là việc dựa trên những giá trị chuẩn mực chính thức để nhận diện và đánh giá các tương tác xã hội của các em, cho nên những giá trị phi chính thức ít khi được đề cập tới hoặc được đặt trong bối cảnh

Trang 13

phân tích chuyên biệt nếu được xem xét, ví dụ với các học sinh cá biệt hoặc học sinh trong các trường giáo dưỡng Đồng thời học sinh trung học phổ thông cũng là một nhóm xã hội ít được nghiên cứu trong xã hội học mà tập trung nhiều hơn trong lĩnh vực tâm lý học

Trước tình hình đó, luận án tập trung vào tính phi chính thức của các nhóm

xã hội có sự tham gia của học sinh trung học phổ thông và chú trọng vào đặc tính phi chính thức đó chi phối tới hành vi sai lệch của học sinh trung học phổ thông Có một sự gần gũi giữa tính phi chính thức của nhóm xã hội và tính sai lệch trong hành

vi của cá nhân tham gia nhóm xã hội khi xem xét tới điểm chung về việc chấp nhận thử thách về một điều không chính quy, không chính thống, ít sức ép từ chuẩn mực chung của xã hội Cho nên, một mặt việc tham gia nhóm phi chính thức có bản chất

là hàm chứa việc không chấp thuận quy chuẩn, gần với sự sai lệch khi gắn với tính không chính thức, không chịu giới hạn của các quy chuẩn nên thường được xem là mang mầm mống của sự sai lệch Mặt khác tính phi chính thức của nhóm xã hội cũng phản ánh năng lực sáng tạo, năng động, tạo cơ hội giúp vượt qua được sự sai lệch

Chính trong tình hình thực tế đó và dựa trên cơ sở nhận thức như vậy, tác giả

đã thực hiện luận án ngành Xã hội học với tiêu đề “Việc tham gia nhóm phi chính thức và hành vi sai lệch của học sinh trung học phổ thông tại thành phố Hà Nội”, nhằm tìm hiểu, làm rõ thực trạng của việc tham gia các nhóm phi chính thức

của học sinh trung học phổ thông và mối quan hệ của việc tham gia đó với hành vi sai lệch của học sinh trung học phổ thông Qua đó luận án khẳng định sự tiếp nối trong nghiên cứu xã hội học về tính phi chinh thức gắn với nhóm xã hội của thanh thiếu niên trong mối quan tâm sâu sắc về công tác giáo dục thế hệ trẻ vì mục tiêu phát triển con người và xã hội bền vững

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trang 14

Mục đích của nghiên cứu này là góp phần tìm hiểu thực trạng tham gia nhóm phi chính thức và hành vi sai lệch của học sinh trung học phổ thông tại thành phố

Hà Nội trong thời gian gần đây, trên cơ sở đó nêu ra một số khuyến nghị nhằm khai thác mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực từ việc tham gia nhóm phi chính thức của học sinh trung học phổ thông trong phòng ngừa hành vi sai lệch ở lứa tuổi này

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan tình hình nghiên cứu của các tác giả trước để kế thừa thành tựu

và các bài học kinh nghiệm trong tiếp cận và nhận diện, phân tích thực tiễn về việc tham gia nhóm phi chính thức và hành vi sai lệch trong thanh thiếu niên và học sinh trung học phổ thông nói riêng

- Xác định cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu, bao gồm việc định nghĩa các khái niệm liên quan, thao tác hóa các khái niệm chính trong luận án và lựa chọn những lý thuyết, quan điểm lý luận giúp giải thích và phân tích các vấn đề nghiên cứu

- Tìm hiểu thực tế mối quan hệ giữa việc tham gia nhóm phi chính thức của học sinh trung học phổ thông và tình trạng biểu hiện của các hành vi sai lệch của trẻ Cụ thể bao gồm việc tham gia nhóm phi chính thức của học sinh trung học phổ thông có những đặc điểm như thế nào về các nhóm phi chính thức và về tình trạng tham gia, tình hình học sinh trung học phổ thông có hành vi sai lệch cùng nhóm phi chính thức, mối quan hệ tồn tại giữa việc tham gia nhóm phi chính thức của học sinh trung học phổ thông và hành vi sai lệch ở lứa tuổi này

- Qua tìm hiểu thực trạng đó luận án sẽ đưa ra những đề xuất định hướng và giải pháp nhằm khai thác, phát huy vai trò phù hợp của nhóm phi chính thức đối với việc phòng ngừa hành vi sai lệch trong học sinh trung học phổ thông

3 Đối tƣợng nghiên cứu và Phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 15

Việc tham gia nhóm phi chính thức và hành vi sai lệch của học sinh trung học phổ thông

Theo quan điểm xã hội học, đối tượng nghiên cứu của luận án này là mối liên

hệ giữa việc học sinh trung học phổ thông tham gia và có tương tác xã hội trong nhóm phi chính thức với hành vi sai lệch của học sinh

3.2 Khách thể nghiên cứu

Nghiên cứu này có khách thể là học sinh của 05 trường trung học phổ thông tại Hà Nội Tiêu chí để lựa chọn khách thể là cá nhân đang tham gia học tập chính khóa tại một trong các khối lớp 10-11-12 ở mỗi trường trung học phổ thông được nghiên cứu tại thời điểm khảo sát Mỗi cá nhân được đề nghị cung cấp thông tin về hoạt động tham gia nhóm phi chính thức và các hành vi sai lệch cùng nhóm phi chính thức nếu có của bản thân theo một mẫu bảng hỏi được thiết kế sẵn

Ngoài ra đề tài cũng khảo sát ý kiến thông qua phỏng vấn sâu với phụ huynh, học sinh, giáo viên ở các trường được khảo sát

3.3 Phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Về không gian

Nghiên cứu được thực hiện tại 05 trường trung học phổ thông ở các quận Đống Đa, Ba Đình, và Thanh Xuân, thành phố Hà Nội Cụ thể bao gồm: trường THPT Phan Đình Phùng (quận Ba Đình), trường THPT Phan Huy Chú (quận Đống Đa), trường THPT Quang Trung (quận Đống Đa), trường THPT Trần Hưng Đạo (quận Thanh Xuân), và trường THPT Nhân Chính (quận Thanh Xuân)

3.2.2 Về thời gian

Nội dung của luận án bắt đầu thực hiện từ tháng 6 năm 2014, trong đó nghiên cứu sinh trực tiếp khảo sát tại thực địa trong khoảng thời gian từ tháng 03/2017 đến tháng 4/2017 và tháng 9/2017 đến tháng 10/2017

Trang 16

3.2.3 Về vấn đề nghiên cứu

Trên thực tế các vấn đề nghiên cứu thuộc chủ đề của luận án khá rộng về nhóm xã hội có tính phi chính thức và về hành vi sai lệch gắn với chủ thể là học sinh trung học phổ thông Tuy nhiên luận án chỉ tập trung vào nhấn mạnh về đặc tính phi chính thức của nhóm xã hội của học sinh trung học phổ thông mà không đi vào lý giải phân loại nhóm, đồng thời xem xét những sự chi phối của những đặc tính đó tới một số hành vi sai lệch thực hiện cùng nhóm có xảy ra trong học sinh trung học phổ thông thường được đề cập tới theo quan điểm hiện hành của luật pháp

và xã hội Việt Nam (xem mục 2.1.4 thuộc Chương 2) Vì vậy các phát hiện và nhận định trong luận án này không thể áp dụng suy rộng hay bao quát cho tất cả học sinh trung học phổ thông và với mọi dạng hành vi sai lệch

3.4 Câu hỏi nghiên cứu

Dựa trên mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra của đề tài này, trong luận

án đưa ra ba câu hỏi nghiên cứu như sau:

Câu hỏi nghiên cứu 1: Thực trạng của việc tham gia nhóm phi chính thức

trong học sinh trung học phổ thông hiện nay là gì?

Câu hỏi nghiên cứu 2: Thực trạng có hành vi sai lệch cùng với nhóm phi

chính thức của học sinh trung học phổ thông hiện nay như thế nào?

Câu hỏi nghiên cứu 3: Việc tham gia nhóm phi chính thức có mối liên hệ ra

sao với hành vi sai lệch của học sinh trung học phổ thông?

3.5 Giả thuyết nghiên cứu

Tương ứng với các câu hỏi nghiên cứu nêu trên, luận án đưa ra ba giả thuyết nghiên cứu như sau:

- Giả thuyết nghiên cứu 1: Học sinh trung học phổ thông tham gia các nhóm

phi chính thức đa dạng, với các thuộc tính phản ánh xu hướng tương tác của cá nhân với các yếu tố bao quanh (gia đình, nhà trường, cộng đồng – xã hội) Các thuộc tính chính bao gồm kiểu dạng nhóm, mục đích tham gia nhóm, cách thức

Trang 17

tham gia nhóm, các tương tác trong và ngoài nhóm, quy định trong nhóm, mức độ giao lưu với nhóm khác, thái độ và hành động chung của nhóm

- Giả thuyết nghiên cứu 2: Các hành vi sai lệch được học sinh trung học phổ

thông thực hiện cùng với nhóm có biểu hiện đa dạng theo loại hình và các khía cạnh đặc trưng cá nhân (như giới tính, khối lớp) và mức sống gia đình của học sinh

- Giả thuyết nghiên cứu 3: Các thuộc tính của việc tham gia nhóm phi chính

thức có mối liên hệ với những hành vi sai lệch cùng nhóm của học sinh trung học phổ thông theo cả hai chiều thúc đẩy hoặc kiềm chế

3.6 Khung phân tích

Dựa trên mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu đã nêu, nội dung nghiên cứu của luận án được trình bày và phân tích trên cơ sở một khung phân tích về việc tham gia nhóm phi chính thức và mối quan hệ với hành vi sai lệch ở học sinh trung học phổ thông như tại hình 1

Bối cảnh nghiên cứu đặt ra cho luận án là các mối quan hệ trong học tập và sinh hoạt của học sinh trung học phổ thông với sự chú ý tập trung vào các hoạt động gắn với nhóm phi chính thức Vận dụng điều đó, nghiên cứu này triển khai mô hình phân tích mối quan hệ giữa việc tham gia nhóm phi chính thức với hành vi sai lệch của học sinh trung học phổ thông là một hệ thống các yếu tố môi trường bao quanh một học sinh trung học phổ thông mà có thể tác động tới hành vi sai lệch được học sinh đó thực hiện cùng nhóm phi chính thức (Hình 1)

Trong đó, hành vi sai lệch của học sinh trung học phổ thông được tiếp cận trong nghiên cứu này là hành vi vi phạm các chuẩn mực, nguyên tắc hành động hay những kỳ vọng của một nhóm, hoặc của xã hội, bao gồm những biểu hiện trong lĩnh vực văn hóa và trong pháp luật ([16], [29]) Những biểu hiện cụ thể của hành vi sai lệch được tìm hiểu phân tích trong luận án này được khu trú vào 09 trường hợp tương ứng ba nhóm dạng thức hành vi nguy cơ là: dạng thức hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông đường bộ gồm các hành vi (1) đi xe đèo ba, (2) vượt đèn đỏ, (3) lạng lách đánh võng, (4) cổ vũ đua xe, (5) không đội mũ bảo hiểm; dạng thức hành

Trang 18

vi bạo lực học đường gồm (6) hành vi đánh nhau ở trường; và dạng thức hành vi nguy cơ đối với trật tự xã hội gồm các hành vi (7) chơi bài ăn tiền, (8) hái hoa bẻ

cành nơi công cộng, (9) chiếm giữ trái phép tài sản của người khác

Hình 1 Khung phân tích của luận án

Tất cả những hành vi sai lệch nói trên được xem xét như là hệ quả của mối quan hệ tác động từ các yếu tố gắn với và bao quanh học sinh trung học phổ thông, bao gồm các thuộc tính của việc tham gia nhóm phi chính thức của học sinh, cùng đặc trưng cá nhân của bản thân học sinh và đặc điểm gia đình của học sinh

4 Phương pháp luận của luận án

Luận án sử dụng phương pháp luận tiếp cận đối tượng từ những quan điểm đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục người chưa thành niên làm nền tảng cho quá trình phân tích các yếu tố tác động tới

Đặc điểm cá nhân học sinh

- Học sinh hỏi ý kiến

Việc tham gia nhóm phi chính

thức

Đặc điểm nhóm

- Kiểu nhóm

- Quy định trong nhóm

- Tương tác trong và ngoài nhóm

Đặc điểm tham gia

Dạng thức hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông đường bộ

Dạng thức hành vi nguy cơ đối với trật

tự xã hộiDạng thức hành vi bạo lực học đường

Trang 19

hành vi sai lệch trong học sinh trung học phổ thông gắn với thực tiễn vận hành của nhà trường, đời sống cộng đồng dân cư, truyền thông xã hội Đồng thời luận án vận dụng lý thuyết tương tác xã hội, lý thuyết kết giao khác biệt, và lý thuyết sinh thái

xã hội cùng quan điểm tiếp cận về các yếu tố nguy cơ – bảo vệ đối với người chưa thành niên trong quá trình phân tích mối quan hệ giữa việc tham gia nhóm phi chính thức và hành vi sai lệch của học sinh trung học phổ thông

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Về khách thể nghiên cứu: luận án tập trung vào nhóm học sinh trường trung

học phổ thông tại thành phố Hà Nội để làm rõ việc tham gia nhóm phi chính thức,

và mối liên hệ giữa thực trạng này với tình trạng có hành vi sai lệch cùng nhóm ở học sinh trung học phổ thông

- Về việc vận dụng lý thuyết và phương pháp tiếp cận vấn đề: người nghiên

cứu tập trung chính ở lý thuyết sinh thái xã hội, lý thuyết kết giao khác biệt và lý thuyết tương tác xã hội nhằm viện dẫn cho những luận điểm được phân tích ở chương 3, chương 4 Đây đều là những lý thuyết xã hội học tương đối quen thuộc ở Việt Nam trong lý giải, biện luận cho nhóm xã hội dễ bị tổn thương hoặc nhóm xã hội bên lề như trong các nghiên cứu về trẻ em vô gia cư/lang thang, trẻ em trong trại giáo dưỡng … Tuy nhiên trong luận án này, cùng những lý thuyết đó được vận dụng để tiếp cận, phân tích về tính phi chính thức gắn với nhóm xã hội của học sinh trung học phổ thông vốn ít khi được xem xét tương tự Điều này ít nhiều góp phần làm phong phú thêm cách thức tiếp cận nghiên cứu về xã hội học giáo dục, xã hội học lứa tuổi, xã hội học văn hóa trong bối cảnh hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Việc nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự tham gia nhóm phi chính thức và hành vi sai lệch của học sinh trung học phổ thông hiện nay có ý nghĩa cả về lý luận

và thực tiễn

Trang 20

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận án góp phần làm phong phú thêm cơ sở phương pháp luận trong nghiên cứu về nhóm phi chính thức gắn với học sinh trong nhà trường, và về hành vi sai lệch của học sinh trung học phổ thông Việc nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần chỉ

ra những đặc tính gắn với nhóm phi chính thức trong học sinh, các mặt biểu hiện của hành vi sai lệch của học sinh, và mối quan hệ tác động giữa việc tham gia nhóm phi chính thức với tình trạng có hành vi sai lệch của học sinh Quá trình vận dụng lý thuyết trong nghiên cứu giúp luận án có thể giải thích và kiểm chứng tính phù hợp, hợp lý của lý thuyết tương tác xã hội, lý thuyết kết giao khác biệt trong bối cảnh nhà trường trung học phổ thông tại thành phố Hà Nội

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận án đã cho thấy các kết quả mới của nghiên cứu khi xem xét và phân tích được thực trạng tham gia nhóm phi chính thức của học sinh trung học phổ thông Nghiên cứu góp phần chỉ ra những đặc tính chủ đạo của nhóm phi chính thức trong học sinh trung học phổ thông và mối liên hệ với các hành vi sai lệch Qua đó, luận án đã cung cấp thêm thông tin khoa học về thực trạng tham gia nhóm phi chính thức và mối liên hệ của việc tham gia đó tới hành vi sai lệch của học sinh trung học phổ thông ở thành phố Hà Nội

Những kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa gợi mở về phương pháp tiếp cận với các nhóm nhỏ năng động thường mang tính phi chính thức trong công tác giáo dục, đào tạo và công tác phòng ngừa hành vi sai lệch trong thanh thiếu niên; đồng thời có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các cá nhân, tổ chức quan tâm đặc biệt là cho các nhà giáo dục, và nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu về xã hội học trường học, xã hội học lứa tuổi, xã hội học văn hóa

Trang 21

6.3 Một số hạn chế của luận án và hướng nghiên cứu tiếp theo

Trước hết hạn chế của luận án đến từ việc lấy mẫu, khi áp dụng kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên có chủ đích do giới hạn về khả năng tiếp cận các khách thể nghiên cứu Điều đó dẫn đến các trường trung học phổ thông được nghiên cứu mới chỉ tập trung trong nội thành Hà Nội, chưa tiếp cận được đa dạng với trường trung học phổ thông theo các mô hình quản lý vận hành khác nhau

Thứ hai, luận án có hạn chế gắn liền với thiết kế nghiên cứu cắt ngang như được nhận thấy ở việc chủ đích xây dựng danh sách các hành vi sai lệch, các thuộc tính của nhóm phi chính thức, cũng như việc dựa trên lý thuyết và nghiên cứu trước

đó Hệ quả là một số thông tin sâu giúp phản ánh bản chất phát triển của các mối quan hệ trong nhóm phi chính thức của học sinh cùng điều chỉnh theo thời gian có thể bị bỏ lỡ và chưa được làm rõ

Thứ ba, thông tin thu thập cho phân tích của luận án chủ yếu đến từ việc tự xác nhận của bản thân học sinh trung học phổ thông và giáo viên trong trường, trong khi những người cung cấp khác còn chưa được tiếp cận đầy đủ Cùng với đó

là sự hạn chế trong khả năng tiếp cận các báo cáo của giáo viên hoặc phụ huynh về chủ đề quan hệ nhóm phi chính thức và hành vi sai lệch của học sinh Vì vậy, các phát hiện trong luận án có thể thuyết phục và tường minh hơn nữa nếu có thể được

bổ sung những dòng thông tin đó

Xuất phát từ quá trình thực hiện nghiên cứu này và gắn với những phát hiện

đã được chỉ ra, người nghiên cứu thấy rằng có một số khía cạnh sau có thể tiếp tục được nghiên cứu:

- Nghiên cứu kiểu, đặc điểm và chất lượng của nhóm phi chính thức trong học sinh;

- Nghiên cứu lặp về ảnh hưởng của mối quan hệ phi chính thức tới sự phát triển hành vi của thanh thiếu niên;

- Nghiên cứu so sánh dạng thức hành vi sai lệch ở học sinh giữa các trường công lập – ngoài công lập, hoặc trường theo mô hình đào tạo của Việt Nam – trường

Trang 22

theo mô hình đào tạo quốc tế - trường áp dụng mô hình đào tạo tích hợp (mô hình đào tạo của Việt Nam với một số hợp phần từ mô hình quốc tế);

- Nghiên cứu can thiệp áp dụng phương pháp liên ngành (xã hội học – công tác xã hội – tâm lý học) về một số chủ đề như bạo lực học đường, bắt nạt nhóm (trong trường và/hoặc trên mạng), hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông, quan hệ tình dục sớm, sử dụng chất kích thích, sử dụng thức uống có cồn…

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục các công trình đã công bố của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo, và phần phụ lục, luận án gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trong chương này, người nghiên cứu đã thực hiện tổng quan nghiên cứu với các công trình nghiên cứu của các tác giả ở trong và ngoài nước về các nhóm phi chính thức và hành vi sai lệch trong thanh thiếu niên và học sinh THPT nói riêng Trên cơ sở đó, người nghiên cứu chỉ ra các khoảng trống để triển khai nghiên cứu

đề tài của luận án

Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Chương này cung cấp các khái niệm công cụ phục vụ nội dung nghiên cứu

về việc tham gia nhóm phi chính thức và hành vi sai lệch ở học sinh THPT cũng như trình bày các lý thuyết và cách tiếp cận xã hội học đóng vai trò định hướng tiếp cận và vận dụng của đề tài trong tìm hiểu và phân tích thực tiễn của đề tài luận án Những đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm tạo cơ sở pháp lý của nghiên cứu cũng được tìm hiểu làm rõ trong chương này

Chương 3: Thực trạng tham gia nhóm phi chính thức của học sinh trung học phổ thông

Đây là chương đầu tiên trong hai chương mô tả và phân tích, diễn giải dữ liệu nghiên cứu của luận án Ở chương này, thực trạng tham gia nhóm phi chính thức của học sinh THPT ở Hà Nội hiện nay được tập trung mô tả và đánh giá Qua

Trang 23

đó những nội dung sau đã được làm rõ: chân dung học sinh THPT trong nghiên cứu, các khía cạnh nội hàm của việc tham gia nhóm phi chính thức của học sinh THPT

Chương 4: Thực trạng hành vi sai lệch của học sinh trung học phổ thông

và mối liên hệ với việc tham gia nhóm phi chính thức

Tiếp nối nội dung của chương 3, chương này tập trung chỉ rõ tình hình tham gia hành vi sai lệch cùng nhóm phi chính thức của học sinh THPT tại Hà Nội, đánh giá mối quan hệ ảnh hưởng của việc tham gia nhóm phi chính thức đến hành vi sai lệch đó một cách tổng thể thông qua phân tích hồi quy logistic, cũng như xem xét riêng với ba nhóm hành vi sai lệch gồm các hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông đường bộ, các hành vi nguy cơ với trật tự xã hội, và hành vi bạo lực học

đường

Trang 24

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Nhằm có một cái nhìn tương đối bao quát về tổng thể những gì các tác giả đi trước đã làm được, những khoảng trống, khuyết thiếu nào cần được bổ sung trong mối quan tâm gắn với đề tài của luận án, người nghiên cứu đã tiến hành tổng quan tài liệu trong đó tập trung vào các tài liệu liên quan tới lý thuyết xã hội học, xã hội học lứa tuổi, xã hội học văn hóa, xã hội học giáo dục và xã hội học pháp luật

Tài liệu liên quan đến chủ đề của luận án khá đa dạng, phong phú bao gồm các báo cáo khoa học, các bài báo khoa học, sách, sách chuyên khảo, bài viết hội thảo, hội nghị, luận văn, luận án của các tác giả trong và ngoài nước dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, tài liệu về mảng nội dung này cho thấy một tỷ lệ lớn các nghiên cứu thuộc chuyên ngành tâm lý học, tội phạm học, giáo dục học Những tài liệu theo tiếp cận xã hội học chủ yếu nghiên cứu về nhóm phi chính thức tiêu cực, hành vi lệch chuẩn, các yếu tố tác động tới người chưa thành niên từ gia đình và nhà trường nói chung trong bối cảnh đô thị hóa, hội nhập và hiện đại hoá Những nghiên cứu về nhóm phi chính thức của học sinh THPT hầu như vắng bóng Mặc dù vậy, những thông tin có được từ quá trình tổng quan tình hình nghiên cứu cung cấp những tiền đề cả về lý luận và thực tiễn quan trọng giúp người nghiên cứu nhận thức sâu sắc hơn về chủ đề nghiên cứu trên cơ sở đó xác định đúng hướng đi trong quá trình triển khai thực hiện đề tài

1.1 Nhận diện nhóm phi chính thức trong thanh thiếu niên

Độ tuổi vị thành niên của học sinh THPT được nhận diện là một giai đoạn quan trọng trong quá trình phát triển, được đánh dấu bởi sự mở rộng của mạng lưới đồng đẳng, tầm quan trọng của tình bạn thân thiết ngày càng tăng và sự xuất hiện của các mối quan hệ lãng mạn Khi học sinh chuyển từ trung học cơ sở lên cấp trung học phổ thông, quy mô và sự đa dạng của mạng lưới đồng đẳng của họ tăng

Trang 25

lên và sự liên kết trong các tập thể ngang hàng trở nên quan trọng hơn (La Greca & Prinstein, 1999 dẫn theo [63]) Annette M La Greca và cộng sự cũng có lưu ý rằng những người bạn thân thiết nhất của thanh thiếu niên thường được xếp vào nhóm rất đông trong cùng một đám đông đồng trang lứa [65] Theo đó, nhóm phi chính thức trong thanh thiếu niên được nhận diện trong các nghiên cứu nước ngoài và trong nước là các nhóm có mối quan hệ đồng đẳng [83] và mối quan hệ thành viên [30] Lisa Crockett và cộng sự cũng cho rằng tính bè phái, hay nhóm tình bạn được coi là một đặc điểm quan trọng của nhóm đồng đẳng [51] Con trai và con gái coi những phẩm chất giống nhau là quan trọng để thành công trong nhóm đồng trang lứa, mặc

dù tầm quan trọng tương đối do những phẩm chất này khác nhau tùy theo giới tính

Thành viên trong nhóm phi chính thức có thể giống nhau về độ tuổi, giới tính

và các đặc điểm khác (loại hình thể thao, trình độ năng lực, tính cách) và do đó thu hút sự chú ý có chọn lọc của người quan sát đối với thái độ và hành vi đã được thể hiện Các nhóm phi chính thức có hiệu quả trong việc thông báo và thúc đẩy thành viên học các kỹ năng, thể hiện sự tự tin, rèn tính kiên trì và hoạt động tốt hơn Do

đó, bạn bè đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích, định hướng các hành vi thích ứng thông qua nhiều trải nghiệm [82]

Mối quan hệ trong nhóm phi chính thức được xác định là mối quan hệ tự nguyện, tương tác và bình đẳng, là khi hai người đối xử ngang hàng với nhau, quan tâm nhau và đồng hành cùng nhau trong hầu hết các tình huống Thông thường nhóm phi chính thức được xây dựng trên cơ sở có cùng các điểm tương đồng như là giới tính, tuổi tác, sở thích, mục tiêu Chất lượng mối quan hệ phi chính thức bao gồm khía cạnh tích cực và tiêu cực Những khía cạnh tích cực được đặc trưng bởi sự gần gũi, thân thiết và bình đẳng, trong khi đó, những khía cạnh tiêu cực được biểu hiện bởi sự xung đột, cạnh tranh và gây hấn Nhóm phi chính thức như nhóm bạn hữu có thể thúc đẩy sự phát triển tích cực, làm giảm những cảm xúc tiêu cực như lo

âu, trầm cảm ở trẻ em và thanh thiếu niên [79]

Annette M La Greca &Hannah Moore Harrison đã có nghiên cứu hoạt động giữa các cá nhân của thanh thiếu niên, bao gồm các mối quan hệ đồng đẳng nói

Trang 26

chung (liên kết đám đông ngang hàng, nạn nhân của bạn bè đồng trang lứa) và phẩm chất của tình bạn tốt nhất cũng như các mối quan hệ lãng mạn như là những yếu tố dự báo các triệu chứng trầm cảm và lo âu xã hội Một mẫu đa dạng về sắc tộc gồm 421 thanh thiếu niên đã được khảo sát và cho ra kết quả mối liên kết đám đông ngang hàng (địa vị cao và thấp), phẩm chất tích cực trong tình bạn tốt nhất và sự hiện diện của mối quan hệ hẹn hò là yếu tố bảo vệ thanh thiếu niên chống lại cảm giác lo lắng xã hội, trong khi nạn nhân của mối quan hệ và tương tác tiêu cực trong tình bạn tốt nhất dự báo mức độ lo lắng xã hội cao Ngược lại, liên kết với một nhóm đồng đẳng cấp có địa vị cao có khả năng bảo vệ chống lại ảnh hưởng trầm cảm [64]

Xét về mặt tâm sinh lý lứa tuổi, mối quan hệ trong các nhóm phi chính thức của thanh thiếu niên thường có tính gắn bó bền chặt hơn Điều đó có thể vì sự củng

cố về nhận diện bản thân cũng như việc thanh thiếu niên có tuổi lớn hơn có thể chấp nhận sự khác biệt lớn hơn ở nhau Chính từ những thay đổi đó mà thanh thiếu niên kết bạn với nhau dựa trên sự thỏa hiệp và cộng tác nhiều hơn thay vì chỉ là sự phù hợp, và những ưu tiên gắn với mối quan hệ lãng mạn trong bạn bè cũng hình thành Nói cách khác, thanh thiếu niên có xu hướng tương tác với bạn bè là nhiều nhất khi xem xét trong các mối quan hệ lãng mạn Thanh thiếu niên cũng có xu hướng phát triển năng lực xã hội và duy trì các mối quan hệ đồng đẳng thân thiết hơn Giai đoạn này có thể bao gồm cả sự xuất hiện của các kỹ năng mới cũng như những phát triển tiếp theo của quá trình nhận thức- xã hội hiện có, chẳng hạn như quan điểm, xử lý cảm xúc và khả năng ngôn ngữ Trong khi những thành tựu về năng lực xã hội giúp các cá nhân có thể cạnh tranh tốt hơn với các nhiệm vụ phát triển xã hội, thì việc đàm phán thành công các nhiệm vụ này lại tạo ra nhiều cơ hội hơn nữa để tiếp tục học hỏi và phát triển xã hội [57]

Tali Klima và cộng sự cũng đã chỉ ra rằng cả tình bạn thân thiết và sự chấp nhận của nhóm đồng đẳng đều có mức độ ảnh hưởng nhất định tới sự bất ổn tâm lý

và khó khăn trong thiết lập mối quan hệ xã hội của thiếu niên [61] Việc phân biệt các loại liên kết xã hội khác nhau mà trẻ em hình thành với bạn bè cùng trang lứa là

Trang 27

rất quan trọng Cụ thể hơn, những thanh thiếu niên ưu tiên hình thành tình bạn thân thiết sẽ có vị trí tốt hơn để quản lý các nhiệm vụ phát triển xã hội quan trọng trong tương lai so với thanh thiếu niên ưu tiên đạt được sự ưa thích với nhiều người khác trong phạm vi bạn bè cùng trang lứa [70]

Bên cạnh đó, tình bạn ở tuổi vị thành niên và tình trạng đồng đẳng được nhận thấy có tác động về điều chỉnh tuổi trưởng thành sớm Điều này được Christoforos Mamas khẳng định và cho rằng cần phải phân tích và xem xét mối quan hệ tương

hỗ năng động giữa tình bạn/ mối quan hệ đồng đẳng và động lực làm việc nhóm [69] Cả việc được nhận biết phổ biến (hoặc tránh bị từ chối) trong nhóm đồng trang lứa có quy mô lớn hơn và việc thiết lập tình bạn thân thiết là nhiệm vụ phát triển quan trọng cho trẻ em và thanh thiếu niên Mặc dù nhiều kỹ năng và năng lực dẫn đến sự điều chỉnh tích cực trong nhóm ngang hàng lớn hơn cũng là những điều dự báo thành công trong quan hệ bạn bè, hai dạng quan hệ đồng đẳng này của nhóm phi chính thức không giống nhau về các tính năng đặc trưng của chúng hoặc về tác động của chúng đối với hạnh phúc xã hội và tình cảm Với tiếp cận như vậy, tầm quan trọng của việc phân biệt giữa tình bạn thân thiết và mối quan hệ đồng trang lứa khi nghiên cứu sự phát triển của trẻ em cũng được cho là rất quan trọng [78]

Berndt và Perry cho biết thanh thiếu niên có thể có bốn đến sáu người bạn thân nhất mà họ yêu thích-thể hiện là đáng tin cậy, hiểu biết và trung thành, thanh niên ở độ tuổi 20 thường chỉ có một hoặc hai người bạn thân nhất [46] Những tình bạn thân thiết này cho phép thanh thiếu niên hiểu rõ hơn bản thân, và họ cung cấp một hệ thống hỗ trợ để giúp thanh thiếu niên vượt qua những căng thẳng hàng ngày Trong quá trình xây dựng mối quan hệ này, liên kết với đồng nghiệp và bạn bè trải qua một số thay đổi, đáng chú ý nhất là về quy mô và thành phần xã hội mạng lưới Nhưng họ có thể có tăng cường sự tham gia với các cá nhân là bạn đời tiềm năng Các yếu tố chính của tình bạn giúp phân biệt nó với các mối quan hệ ngang hàng khác và điều đó giải thích cho ý nghĩa phát triển của nó bao gồm sự tương hỗ, sự tin tưởng, lòng trung thành và tình cảm lẫn nhau

Trang 28

Theo Rachel K Narr và cộng sự, sức mạnh tình bạn thân thiết của thanh thiếu niên và mức độ mà nhiều bạn đồng trang lứa bày tỏ mong muốn được kết giao với họ được xem là những yếu tố dự báo sự thay đổi tương đối trong các triệu chứng trầm cảm, giá trị bản thân và các triệu chứng lo âu xã hội từ 15 đến 25 tuổi [70] Tình bạn thân thiết ở tuổi vị thành niên được dự đoán tương đối tăng giá trị bản thân và giảm lo âu và các triệu chứng trầm cảm ở tuổi trưởng thành sớm Ngược lại, sự ưa thích liên kết của nhóm đồng đẳng rộng rãi hơn dự đoán chứng lo

âu xã hội cao hơn ở tuổi trưởng thành sớm

Theo cách như vậy, các quy trình hoặc cơ chế tiềm năng giải thích tại sao các vấn đề trong quan hệ đồng lứa trước tuổi vị thành niên (nghĩa là bạn bè bị từ chối hoặc không có bạn bè) có thể liên quan đến điều chỉnh không phù hợp ở tuổi vị thành niên và tuổi trưởng thành sau này

Kết quả của một nghiên cứu ở Ấn Độ [77] cũng đã chỉ ra rằng cá nhân mong muốn tham gia các nhóm phi chính thức để phát triển bản thân (phát triển cá nhân, phát triển kỹ năng lãnh đạo, cơ hội việc làm, v.v.), vì dịch vụ xã hội (social service),

vì hướng ngoại (vì tình bạn, niềm vui hay giải trí), vì tôn vinh xã hội (để trở nên nổi tiếng, được ngưỡng mộ, v.v.), thỏa mãn bản thân và xã hội (có cơ hội tương tác, được tự thỏa mãn), và để hỗ trợ tinh thần (tránh cảm giác cô đơn)

Có thể thấy rằng, trong thời niên thiếu, bạn bè thân thiết vượt qua cha mẹ như là nguồn hỗ trợ xã hội chính và góp phần vào quan niệm và hạnh phúc của thanh thiếu niên [54]; [55] Những mối quan hệ như vậy có thể có những lợi ích về sức khỏe tâm thần, bao gồm việc cung cấp hỗ trợ xã hội, nâng cao lòng tự trọng, chuẩn bị cho các mối quan hệ trưởng thành và phát triển sự thân mật (Collins, 2003; Connolly & Goldberg, 1999 dẫn theo [63]) Mặc dù các mối quan hệ đồng đẳng, tình bạn và các mối quan hệ lãng mạn có thể có lợi cho hoạt động xã hội và tình cảm của thanh thiếu niên, chúng cũng có thể đại diện cho những tác nhân gây căng thẳng đáng kể

Kiuru và cộng sự nhận thấy những đứa trẻ có nhiều bạn thân thiết cho thấy

sự yêu thích đến trường và năng lực học tập cao hơn Tuy nhiên, nhóm tác giả này

Trang 29

cũng lưu ý rằng các mối tương quan tích cực của tình bạn chỉ rõ ràng nếu tình bạn

có những đặc điểm tích cực - cho thấy rằng chất lượng tình bạn tích cực có thể quan trọng trong việc điều chỉnh mối liên hệ giữa tình bạn và cảm xúc về trường học [60] Xung đột trong quan hệ nhóm bạn có liên quan đến sự căng thẳng ở trường học trong thời thơ ấu, trong khi những thanh thiếu niên có tình bạn thân thiết với những đặc điểm tích cực cho biết họ tham gia nhiều hơn vào các hoạt động ở trường [46], có thái độ tích cực hơn đối với trường học và năng lực học tập và tình yêu thích trường cao hơn [67]

Bên cạnh đó, quan hệ đồng đẳng cũng gắn liền với sự thích ứng của học sinh trong trường học Việc thích ứng của học sinh được cho là rất quan trọng vì có liên quan đến thành công trong học tập trong tương lai và giảm khả năng bỏ học [70]

Sự chấp nhận của bạn đồng trang lứa có thể dẫn tới sự yêu thích và gắn bó với trường học, trong khi sự từ chối của nhóm đồng đẳng có mối quan hệ với việc rời xa trường học, sự suy giảm trong kết quả học tập ở trường, lòng khao khát và sự tham gia xã hội [44]; [45]

Tương tự như vậy, Chen Bin-Bin và cộng sự đã nghiên cứu trên trẻ em Trung Quốc để kiểm chứng xem nhóm đồng trang lứa đã đóng góp như thế nào vào hoạt động xã hội và thành tích học tập cũng như sự tham gia các nhóm khác của trẻ [49] Dữ liệu về các nhóm đồng đẳng không chính thức, hoạt động xã hội và thành tích học tập được thu thập từ nhiều nguồn Mô hình phương trình cấu trúc đa cấp cho thấy kết quả học tập của nhóm đóng góp trực tiếp vào sự phát triển xã hội của trẻ em Nhóm thành tích học tập cũng kiểm soát cá nhân - mối quan hệ giữa mức độ thành tích học tập và hoạt động xã hội Nhóm đạt được củng cố các mối quan hệ tích cực giữa thành tích học tập và khả năng xã hội, mặt khác nhóm lại tạo điều kiện cho mối quan hệ tiêu cực giữa thành tích học tập và các vấn đề xã hội Thêm vào

đó, mức độ tương đồng của một số học sinh trong việc bỏ học ở trường cũng được chỉ ra là do ảnh hưởng của nhóm đồng đẳng [60] Như vậy, nhóm phi chính thức có mối quan hệ đồng đẳng có vai trò quan trọng của đối với hoạt động học tập cũng như xã hội của trẻ em

Trang 30

Tại Việt Nam, nghiên cứu của tác giả Ông Thị Mai Thương đã chỉ ra những phương thức ảnh hưởng của nhóm không chính thức đến hành vi bạo lực thể chất của học sinh THPT – cụ thể là nhóm bạn bè mà các học sinh tham gia [36] Tác giả

đã sử dụng khái niệm nhóm không chính thức để quy thuộc các nhóm được hình thành trên cơ sở các quan hệ không chính thức (các quan hệ tình cảm - tâm lý) nhằm thỏa mãn các nhu cầu nào đó của các thành viên, chẳng hạn: nhóm bạn bè, nhóm yêu thể thao, du lịch ; tuy nhiên tập trung vào nhóm bạn bè của học sinh THPT trong phạm vi nghiên cứu của đề tài Kết quả nghiên cứu này đã khẳng định hoàn cảnh gia đình với bố mẹ dành ít thời gian quan tâm đến tâm lí, tình cảm của các em là một trong những yếu tố quan trọng làm xuất hiện các hành vi lệch chuẩn của các học sinh, trong đó có hành vi đánh nhau Các giá trị trong nhóm cũng có sự ảnh hưởng tới hành vi đánh nhau của học sinh Giá trị nhóm được biểu hiện ở tinh thần đoàn kết, điều đó tạo ra một khuôn khổ cho các thành viên trong nhóm thực hiện hoạt động của mình và đảm bảo ý thức chung về cái gọi là “chúng tôi” Mức

độ cố kết trong nhóm có ảnh hưởng đến hành vi đánh nhau của các học sinh cá biệt Các thành viên có đặc điểm tính cách, hoàn cảnh gia đình giống nhau là cơ sở để tạo nên sự gắn kết trong nhóm Ở các nhóm học sinh cá biệt không có thủ lĩnh chính thức và không có sự phân chia cấp bậc các vị trí trong nhóm Mối quan hệ liên nhóm giữa các nhóm học sinh cá biệt với những nhóm xã hội khác có ảnh hưởng đến hành vi đánh nhau của các em, thể hiện ở hai dạng: một mặt mang “tính thù hằn” với các nhóm học sinh khác – đây là một trong những yếu tố làm tăng tính cố kết giữa các thành viên và làm tăng tính hiếu chiến của các nhóm này; và mặt khác

là mối quan hệ tương trợ, giúp đỡ của các băng đảng trong xã hội có mối quan hệ khá thân thiết với một trong những thành viên của các nhóm học sinh cá biệt này

Theo một nghiên cứu của Bộ Tư pháp và Unicef năm 2019, học sinh trung học phổ thông phải đối mặt với không ít áp lực xã hội khi trải qua giai đoạn có nhiều biến chuyển về tâm lý và sắp phải tham gia kỳ thi đại học vô cùng quan trọng [2] Ngoài những áp lực từ gia đình hay xã hội, nhiều em học sinh phải đối mặt với căng thẳng do học tập, thiếu sự hỗ trợ và/hoặc môi trường học đường bất ổn, và gặp

Trang 31

trở ngại trong các mối quan hệ tình cảm Bên cạnh sự hỗ trợ từ gia đình hay nhà trường, một yếu tố bảo vệ cho học sinh trung học phổ thông đó là việc tham gia vào một mạng lưới xã hội Nghiên cứu này cũng đã thực hiện phỏng vấn sâu với nhiều

em học sinh và nhận thấy bất kể với giới tính nào, mọi học sinh được phỏng vấn đều coi trọng việc có bạn Cụ thể hơn, các em học sinh tìm đến bạn bè để chia sẻ

“vui buồn”, để “quên đi” cảm giác buồn bã từ những xung đột trong quan hệ gia đình hoặc quan hệ thầy trò và để tâm sự những băn khoăn lo lắng tuổi dậy thì và chuyện tình cảm Trong thực tế, hầu hết các em tin rằng “có bạn bè” là điều khiến các em hạnh phúc Một số em lựa chọn chia sẻ với các bạn về những rắc rối trong cuộc sống, tin rằng bạn “hiểu” các em Đối với các em trong giai đoạn giữa của lứa tuổi vị thành niên, bất kể ở địa bàn nào, bạn bè được xem là yếu tố then chốt đối với sức khỏe tâm lý xã hội Một số em cũng ý thức được việc thiếu bạn có ý nghĩa như thế nào khi đối mặt với căng thẳng tâm lý xã hội

Tác giả Nguyễn Quý Thanh đã đưa ra khái niệm “nhóm thành viên”, chẳng hạn nhóm bạn, nhóm đồng nghiệp, nhóm cùng sở thích, v.v đóng vai trò là một môi trường rất quan trọng trong việc cá nhân thu nhận các kinh nghiệm xã hội một cách

cả chính thống và phi chính thống Đây là một trong bốn môi trường xã hội hóa nổi bật nhất cho phép các cá nhân có thể thực hiện thuận lợi các tương tác xã hội của mình nhằm mục đích thu nhận và tái tạo kinh nghiệm xã hội [30] Các môi trường

xã hội hóa còn lại là gia đình, trường học và truyền thông đại chúng (như báo, đài,

vô tuyến truyền hình và hiện nay là mạng Internet, là mạng xã hội như Facebook

1.2 Ảnh hưởng của nhóm phi chính thức đối với thanh thiếu niên

Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã có cùng nhận định rằng bạn cùng trang lứa (peers) và bạn chơi cùng (friends) đóng vai trò là những nhân tố chủ đạo ảnh hưởng tới các quan hệ xã hội và hành vi sai lệch nói riêng của thanh thiếu niên, đặc biệt trong độ tuối vị thành niên và tuổi mới lớn Thanh thiếu niên luôn muốn cảm thấy được chấp nhận như một phần của một nhóm nào đó và coi trọng tình bạn thân thiết của cá nhân, đây là những cấu trúc xã hội có liên quan mật thiết đến các định hướng

Trang 32

và hành vi tạo động lực của nhóm này [82] Cho đến nay hầu hết các nhà nghiên cứu về phát triển trẻ em đều khẳng định sự tồn tại có ý nghĩa của các mối quan hệ của trẻ với nhóm phi chính thức bao gồm bạn bè và bạn đồng trang lứa của trẻ [47]; [73] Các mức độ khác nhau của trải nghiệm với các mối quan hệ đó được phân biệt, sự ổn định của mối quan hệ đó qua các giai đoạn phát triển, các quá trình năng động mà mối quan hệ đó thay đổi theo thời gian đều ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý xã hội của trẻ em và thanh thiếu niên [76]

Chất lượng tình bạn có liên quan chặt chẽ đến các định hướng và động lực thực hiện hành vi của thanh thiếu niên Một số yếu tố trong mối quan hệ đồng đẳng

đã được xác định là những yếu tố có ảnh hưởng quan trọng tới cảm giác cô đơn ở tuổi trẻ Thứ nhất, mức độ trẻ được bạn bè chấp nhận hay từ chối, thường được đánh giá bằng các thước đo xã hội học theo thang phân loại và xếp hạng về mức

độ chấp nhận của bạn bè [47]; [72] hoặc các thước đo đề cử xã hội học “giống nhất”

và “ít thích nhất” [81] Những đứa trẻ được bạn bè chấp nhận ít hơn có mức độ cô đơn cao hơn so với những đứa trẻ được nhiều bạn bè chấp nhận hơn [43]; [58]; [59]

Chen Bin-Bin cho rằng trải nghiệm tương tác nhóm đồng đẳng là một bối cảnh duy nhất để phát triển [49] Nhóm xã hội đồng đẳng là một trong những hình thức quan trọng của tương tác giữa các cá nhân ở cấp độ nhóm Với tư cách là một bối cảnh xã hội và văn hóa, nhóm đồng đẳng đóng một vai trò quan trọng và đặc biệt trong sự phát triển xã hội của trẻ em Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra những đứa trẻ thất bại trong các lĩnh vực năng lực xã hội với bạn bè đồng trang lứa, do không thiết lập được tình bạn thân thiết hoặc bị từ chối trong nhóm bạn đồng trang lứa lớn hơn, sẽ phải trải qua vô số kết quả không tốt [44]

Jonathan D Lane và Ju-Hyun Song đã nhận định mối quan hệ bạn bè đồng trang lứa là một trong những cơ sở xã hội hóa chính đối với trẻ em, và hành vi của trẻ em giữa các bạn cùng tuổi chính là một chỉ số có ý nghĩa về năng lực xã hội quan trọng [66] Lý do sâu xa cho hệ quả này là các bạn đồng trang lứa xem những đứa trẻ bị bỏ rơi đã không tuân thủ các chuẩn mực hành vi dành riêng cho lứa tuổi Các tương tác đồng đẳng đáng được quan tâm đặc biệt vì chúng không chỉ bị ảnh

Trang 33

hưởng bởi hành vi khó gần của trẻ em mà còn có thể ảnh hưởng đến sự xa lánh xã hội (social withdrawal) của trẻ Sự xa lánh xã hội gia tăng được dự đoán là do sự bất

ổn trong tình bạn, sự vắng mặt của một người bạn thân là người có tính xã hội cao Có một nhóm đồng đẳng tích cực và có những người bạn làm mẫu cho hành vi hướng ngoại hơn có thể khuyến khích những đứa trẻ thu mình có thể tham gia và tương tác xã hội tốt hơn

Vai trò của bối cảnh nhóm có cùng vấn đề trầm cảm trong việc điều chỉnh ứng xử xã hội và trường học của cá nhân cũng được xem xét trong thanh thiếu niên Trung Quốc [49] Các nhóm đồng đẳng được xác định bằng cách sử dụng kỹ thuật bản đồ nhận thức xã hội Các phân tích nhiều chiều cho thấy rằng trầm cảm của nhóm làm gia tăng về chứng trầm cảm của cá nhân sau này Hơn nữa, trầm cảm của nhóm ảnh hưởng tiêu cực tới năng lực xã hội, năng lực ở trường học và thành tích học tập, khả năng trở thành nạn nhân của bắt nạt cũng như các vấn đề học tập sau này Kết quả cho thấy việc kết giao với nhiều nhóm bạn cùng trang lứa có dấu hiệu trầm cảm sẽ gây ra nhiều vấn đề về tâm lý, xã hội và ứng xử học đường hơn ở thanh thiếu niên Trung Quốc

Nghiên cứu của Bowker và cộng sự với năm nhóm thiếu niên được xác định theo tình trạng của mối quan hệ bạn bè trong một đánh giá về các đặc điểm hành vi gắn với sự ổn định và linh hoạt trong các dạng quan hệ bạn bè thân thiết ở lứa tuổi thiếu niên cũng cung cấp những nhận xét có liên quan [47] Năm nhóm trẻ được đánh giá trong nghiên cứu này bao gồm (1) trẻ có quan hệ bạn bè thân thiết nhất mang tính ổn định với cùng một trẻ khác; (2) trẻ có quan hệ bạn bè thân thiết nhất với hai trẻ khác nhau ở hai thời điểm; (3) trẻ có quan hệ bạn bè thân thiết nhất ở thời điểm thứ nhất nhưng không có quan hệ đó nữa ở thời điểm thứ hai; (4) trẻ không có quan hệ bạn bè thân thiết nhất ở thời điểm thứ nhất nhưng lại có ở thời điểm thứ hai; và (5) trẻ không có bạn bè thường xuyên Theo đó các tác giả đã nhận xét nhóm thiếu niên ở trong mối quan hệ bạn bè thân thiết ít bị gây hấn hơn và nhóm mất đi tình bạn bị kéo vào hành vi sai lệch nhiều hơn vào thời điểm thứ hai Hai nhóm trẻ có mối quan hệ bạn bè ổn định cho thấy các hành vi hợp chuẩn và

Trang 34

cũng phổ biến, với mức độ gây hấn và nguy cơ bị đưa vào hành vi sai lệch thấp hơn Kết quả của nghiên cứu này cho thấy rằng sự nhất quán trong việc có được bất kỳ tình bạn tốt đẹp nào theo thời gian có thể đóng vai trò quan trọng đối với sự điều chỉnh hành vi của trẻ cũng như đã nêu bật tầm quan trọng của việc "củng cố" tình bạn tốt đẹp nhất

Trẻ em và thanh thiếu niên cho biết có sự đồng hành nhiều hơn, sự ủng hộ quý trọng, lòng trung thành, sự thân thiết, sự tương đồng về sở thích và hỗ trợ về mặt tinh thần từ những người bạn chơi thể thao cùng; giúp các em có trải nghiệm tích cực, năng lực nhận thức, động cơ tự quyết định và cam kết tham gia hoạt động cao hơn so với việc không có nhóm bạn thân thiết [83] Các nghiên cứu đã chứng minh một cách nhất quán ý nghĩa động lực của các mối quan hệ đồng đẳng giữa những thanh thiếu niên tham gia hoạt động thể dục thể thao Thực hiện các biện pháp can thiệp tập trung vào các nhóm đồng đẳng và tình bạn với tư cách là tác nhân thay đổi hành vi là một hướng đi đầy hứa hẹn cho các nghiên cứu trong tương lai về động lực hoạt động thể chất của thanh niên (dẫn theo [82])

T.A Wills cũng nhận thấy nhiều thanh thiếu niên sẽ rơi vào tình huống liên quan tới một số chất kích thích như hút thuốc và uống rượu, [84] Khi một người

có được sự ủng hộ cao từ các bạn và sự ủng hộ ít hơn từ cha mẹ thì việc sử dụng chất kích thích đặc biệt tăng cao Wayne Osgood và cộng sự đã xem xét vị trí của vị thành niên trong các nhóm tình bạn trong mạng xã hội toàn trường có liên quan đến việc sử dụng rượu, thuốc lá và cần sa như thế nào [71] Với cỡ mẫu khoảng 9.500 thanh thiếu niên mỗi năm, các tác giả nhận thấy rằng các thành viên cốt lõi của các nhóm tình bạn có xu hướng uống rượu nhiều hơn so với những người cô lập, đặc biệt là khi họ hòa nhập xã hội tích cực trong bối cảnh trường học, gia đình và tôn giáo Các thành viên biệt lập có xu hướng sử dụng thuốc lá nhiều hơn các thành viên cốt cán, thậm chí kiểm soát tất cả các yếu tố khác

Tình trạng nhóm cũng được xem xét như một khía cạnh có thể điều tiết các thành viên trong nhóm đồng đẳng về hành vi lệch lạc, hung hăng và sự ủng hộ xã hội Tính trung tâm của nhóm cao (khả năng hiển thị) làm tăng khả năng lây lan

Trang 35

trong thành viên của nhóm các hành vi gây hấn quan hệ, hành vi lệch lạc

và hành vi ủng hộ xã hội và sự chấp nhận của nhóm đã tăng cường hành vi lệch lạc Kết quả cho thấy ảnh hưởng của nhóm lên hành vi không đồng nhất mà phụ thuộc vào trạng thái của nhóm [52]

Mối quan tâm về tội phạm nhóm đồng đẳng có liên quan đến Lý thuyết liên kết khác biệt (DAT- Liên kết khác biệt, tăng cường) DAT kết hợp với lý thuyết Học tập xã hội đề xuất rằng các hành vi phạm tội, các kỹ thuật cụ thể của tội phạm, động cơ tội phạm và các lý do hợp lý tương ứng để vi phạm pháp luật không phải là

di truyền; mà họ được học thông qua tương tác xã hội trực tiếp với những người khác; và các tội phạm khác nhau, tùy thuộc vào nhận thức của một cá nhân về các thái độ xã hội, văn hóa và bạn bè liên quan [80]

Mối quan hệ của học sinh với các bạn đồng trang lứa rất quan trọng trong việc dự đoán kết quả học tập và hành vi nguy cơ cao của học sinh Các mối quan hệ

xã hội không đầy đủ đã được phát hiện là nguyên nhân dẫn đến tái diễn hành vi phạm tội đối với cả người lớn và thanh thiếu niên [62] Những học sinh có vấn đề

về mối quan hệ bạn bè có thể khiến họ có hành vi bạo lực, bao gồm những học sinh không có sự hướng dẫn, hỗ trợ hoặc gắn bó của cha mẹ vì sẽ ít được trang bị để thích ứng với các yêu cầu của nhà trường và dẫn đến sự thất vọng vì thất bại ở trường Những học sinh này dễ bị tổn thương hơn trước những cám dỗ và áp lực mà chúng phải trải qua từ các bạn cùng lứa tuổi, và nhiều thanh niên chuyển sang hành

vi gây rối và phạm pháp trong trường học [80]

Rất nhiều nhà nghiên cứu cũng như dư luận xã hội đã chỉ ra tác động xấu đến nhận thức về tình bạn, tình yêu và hành vi ứng xử của các người chưa thành niên của yếu tố môi trường văn hóa – xã hội thiếu lành mạnh như: sự lan tràn và phổ biến của các phim ảnh, băng hình, sách báo có nội dung bạo lực, đồi trụy, phản giáo dục Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng đề cập nhiều về ảnh hưởng không tốt của môi trường gia đình (phương pháp giáo dục chưa đúng đắn, chưa khoa học của cha mẹ, phong cách ứng xử chưa thích hợp, nhân cách sai lệch chuẩn mực xã hội của người thân trong gia đình, …) đối với sự hình thành nhân cách lệch lạc và

Trang 36

những hành vi tiêu cực của trẻ Tuy nhiên, hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất khi cho rằng ảnh hưởng không tốt của gia đình chỉ mang tính chất dẫn dắt chứ không trực tiếp dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật của các em Nhận định đó được khẳng định khi xem xét tới thực tế phần lớn những hành vi vi phạm pháp luật của người chưa thành niên đều có liên quan đến nhóm bạn không chính thức tiêu cực;

đa số các hành vi vi phạm pháp luật của các em đều được thực hiện trong nhóm đó [10]

Cùng với đó, vị thành niên có hành vi xâm hại tình dục được phát hiện có ít mối quan hệ đồng đẳng phù hợp hơn, có nhiều khả năng bị cô lập hoặc có năng lực

xã hội thấp, đồng thời vượt qua mức độ kiểm soát của cộng đồng trong tình trạng cô đơn Nhìn chung, những trường hợp bị cô lập về mặt xã hội hoặc thiếu khả năng hình thành các mối quan hệ đồng đẳng thân mật về mặt tình cảm có nguy cơ tái phạm hành vi xâm hại tình dục cao hơn [62]

Các quan sát có liên quan được Piehler và Dishion mô tả trong nghiên cứu với các cặp nam sinh mười bốn tuổi [75] Các tác giả này đã nhận thấy những người bạn có hành vi sai lệch cung cấp những phản ứng tích cực có lời và không lời cho những nội dung trao đổi lệch lạc, nhưng không có đối với những cuộc nói chuyện bình thường Ngược lại, những người bạn không gắn với hành vi sai lệch và bạn bè nói chung lại tán dương trước những lời nói chuyện chuẩn mực, nhưng không lệch lạc Hơn nữa, những phản ứng tích cực của bạn bè dẫn đến việc gia tăng loại hành

vi trước đó và việc không có phản hồi dẫn đến giảm hành vi trước đó [56]

1.3 Hành vi sai lệch của thanh thiếu niên

Thanh thiếu niên ở độ tuổi chưa thành niên là nhóm xã hội – nhân khẩu đặc thù trong xã hội, ở giai đoạn sung sức về thể chất và phát triển trí tuệ, luôn năng động, sáng tạo, muốn tự khẳng định mình nhưng cũng là lứa tuổi bồng bột, chủ quan, nông nổi, tiếp nhận thông tin ít chọn lọc, kỹ năng sống và vốn hiểu biết xã hội, pháp luật còn nhiều hạn chế, dễ bị ảnh hưởng, lôi kéo bởi những tác động khách quan của cuộc sống xã hội Mặt khác đây là lứa tuổi chưa phát triển đầy đủ

Trang 37

về thể chất cũng như về tâm sinh lý, kinh nghiệm sống và trình độ nhận thức còn hạn chế, khả năng kiềm chế chưa cao, dễ bị kích động, lôi kéo vào những hoạt động phiêu lưu, mạo hiểm, hoạt động vi phạm pháp luật

Trong quá trình tìm kiếm, xây dựng cái tôi – cái tôi độc đáo khác biệt, và cái tôi xã hội, thanh thiếu niên rất dễ có những hành vi lệch chuẩn Điểm quan trọng là

tỷ lệ thanh thiếu niên thực sự trở thành tội phạm chuyên nghiệp thường không quá cao, mà chỉ dừng ở mức độ có hành vi lệch chuẩn, hoặc tội phạm, xuất phát phần lớn từ nhu cầu tìm kiếm và khẳng định cái tôi Điều có có nghĩa là nếu xã hội có thể kịp thời can thiệp, đa số thanh thiếu niên có hành vi lệch chuẩn có thể trưởng thành

là những người công dân đáng tin cậy Ngược lại, nếu không có sự can thiệp kịp thời thì các em rất dễ bị sa vào con đường tội phạm chuyên nghiệp, gia nhập vào nhóm những người sống ngoài vòng pháp luật khi trưởng thành Điều này không chỉ

có hại cho tương lai của các em, mà còn là sự đe dọa tới sự ổn định, an toàn và phát triển của tổng thể xã hội

1.3.1 Các biểu hiện hành vi sai lệch của thanh thiếu niên

Các hành vi sai lệch của thanh thiếu niên rất đa dạng với các biểu hiện khác nhau, như đã được tác giả Đỗ Ngọc Hà chỉ ra, bao gồm 1/ Sai lệch về tư tưởng, ý thức chính trị- xã hội bao gồm quan niệm lý tưởng sống, trong học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị, về ý thức trách nhiệm của công dân đối với đất nước, về mục đích động cơ trở thành đoàn viên, đảng viên, về tính tích cực chính trị xã hội 2/ Các biểu hiện sai lệch trong học tập: mục đích, động cơ học tập; Quan điểm thái

độ đối với trường học, học tập trong trường; Quan niệm các giá trị trong học tập; Quan điểm thái độ đối với sự sai lệch trong học tập; Sai lệch về ý thức, thái độ, hành vi trong học tập 3/ Sai lệch trong nghề nghiệp việc làm 4/ Sai lệch trong hoạt động vui chơi, giải trí.5/ Sai lệch trong giao tiếp ứng xử 6/ Các hành vi vi phạm pháp luật [6]

Tìm hiểu các công trình nghiên cứu về hành vi sai lệch trong thanh thiếu niên trên thế giới có thể nhận thấy phần lớn đều gắn với bối cảnh trường học, trong đó dễ

Trang 38

nhận thấy nhất là hành vi bạo lực học đường [68] Nghiên cứu được tiến hành bởi AshfordR (2009) cùng với Tổ chức Phát triển Quốc tế tại Mỹ năm 2009 cho biết có 11,1% các học sinh tham gia đánh nhau trong đó có 6,7% học sinh nữ và 15,1% học sinh nam Nghiên cứu về thực trạng biểu hiện bạo lực trong trường học tại các nước Châu Á cũng đưa ra những số liệu rất đáng báo động Tại Nhật Bản trong năm học

2012, theo báo cáo của Bộ Giáo dục có đến 23.110 vụ bạo lực tại 10.137 trường học

cả cấp II và cấp III (dẫn theo [9])

Tại Việt Nam, hai cuộc điều tra, nghiên cứu quy mô lớn là “Điều tra quốc

gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam” giai đoạn I, từ 2003 đến 2005 (gọi tắt

là SAVY I) và giai đoạn II, tiến hành từ 2008 đến tháng 2010 (gọi tắt là SAVY II)

có thể được coi là những cuộc điều tra nghiên cứu quy mô và toàn diện nhất về thanh thiếu niên [3]; [39] Các cuộc điều tra do Bộ Y Tế, Tổng cục Thống kê, Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản HCM phối hợp tiến hành, các tổ chức quốc tế UNICEF và WHO hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật Mẫu được sử dụng trong hai cuộc điều tra là khá lớn, SAVY I là 7.584 vị thành niên và thanh niên tại 42 tỉnh thành phố; với SAVY II là 10.044 vị thành niên và thanh niên ở 63 tỉnh thành phố Bằng những phương pháp điều tra nghiên cứu khá hiện đại, các điều tra viên được tập huấn kỹ càng, cả hai cuộc điều tra SAVY I và SAVY II đã mô tả được tương đối đầy đủ và chính xác về những đặc điểm của thanh thiếu niên Việt nam ở lứa tuổi từ

14 đên 24, thực trạng đời sống, tâm lý, tư tưởng, tình cảm, lối sống và các nguy cơ đối với đời sống của họ Không trực tiếp nghiên cứu sâu vào đối tượng người chưa thành niên vi phạm pháp luật, nhưng SAVY I-II đã phân tích khá rõ những nguy cơ lớn có thể dẫn tới các hành vi phạm tội của người chưa thành niên Chẳng hạn như

tỷ lệ thất học, tình trạng thiếu việc làm, những thái độ hành vi có liên quan đến việc

sử dụng chất kích thích, rượu bia, thuốc lá, ma túy, các mối quan hệ xã hội, sự tụ tập kết bạn Hạn chế của SAVY I-II là việc xử lý kết quả nghiên cứu phần nhiều còn mang tính thống kê mô tả, chưa có những phân tích sâu, nhị biến hoặc hồi quy

đa biến nhằm xác định rõ hơn những nguy cơ có thể dẫn tới hành vi sai lệch và vi phạm pháp luật ở thanh thành niên Tuy nhiêu nhiều số liệu điều tra của SAVY I-II

Trang 39

đến nay vẫn còn có giá trị đối với việc nghiên cứu chủ đề hành vi sai lệch của thanh thiếu niên

Cùng tham gia vào những nghiên cứu về người chưa thành niên Việt Nam

trong những năm 2000-2005 còn có nghiên cứu “ Vị thành niên ở Việt nam- từ đặc

điểm đến chính sách” do GS Đặng Nguyên Anh và nhóm nghiên cứu từ Viện Xã

hội học thực hiện [1] Đây là một công trình điều tra khá nổi bật với điều tra khảo sát thực tiễn rộng, xử lý kết quả công phu và đưa ra nhiều số liệu có tính phát hiện rất đáng chú ý Không nghiên cứu chuyên sâu vào người chưa thành niên vi phạm pháp luật nhưng với kết quả thu được, nhóm nghiên cứu đã đưa ra những lời cảnh báo rất đáng lưu tâm về những nguy cơ sẽ có sự gia tăng đột biến về tội phạm vị thành niên nếu không có các giải pháp phòng ngừa kịp thời

Bên cạnh đó, các nghiên cứu về hành vi sai lệch của thanh thiếu niên trong trường học cũng được quan tâm đáng kể Nghiên cứu của Ông Thị Mai Thương đã phân tích thực trạng, mức độ xảy ra hiện tượng bạo lực trong nhà trường, phương thức, công cụ, phương tiện tiến hành hành vi bạo lực [35] Tác giả Phan Mai Hương với bài viết “Thực trạng bạo lực học đường hiện nay” đã bước đầu phác thảo bức tranh về tình trạng biểu hiện gây hấn trong trường học hiện nay về số lượng, mức độ biểu hiện gây hấn trong trường học [13] Trong đề tài “Thực trạng về gây hấn của học sinh trong trường trung học phổ thông (THPT)” của tác giả Trần Thị Minh Đức tiến hành nghiên cứu từ tháng 4/2009 đến 3/2010, kết quả nghiên cứu cho thấy về mức độ gây hấn của học sinh chỉ có 0,1% học sinh không bao giờ gây hấn, 95,3% học sinh thỉnh thoảng có gây hấn và 4,5% học sinh gây hấn thường xuyên [54] Các

em dễ bị bạn bè lôi kéo, dụ dỗ tham gia vào các hành động gây tổn thương cho người khác mà không để ý đến hậu quả có thể gây ra

Tác giả Nguyễn Văn Song đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác giáo dục học sinh có hành vi lệch chuẩn tại trường trung học phổ thông và phân tích thực trạng học sinh có hành vi lệch chuẩn và thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục học sinh có hành vi lệch chuẩn [28] Gần đây nghiên cứu của Nguyễn Duy Hiệp nghiên cứu trên nhóm học sinh THPT về thực trạng các biểu hiện hành vi sai lệch

Trang 40

trong nhà trường đề cập đến các hành vi sai lệch trong học tập, trong giao tiếp ứng

xử, trong bạo lực, trong trật tự an toàn của học sinh [9]

Từ góc độ phân tích giới, một nghiên cứu khác được Viện nghiên cứu Y học

- Xã hội học phối hợp với tổ chức từ thiện Plan Việt Nam thực hiện từ tháng 3 đến tháng 9/2014 với 3.000 học sinh của 30 trường trung học cơ sở (THCS), trung học phổ thông (THPT) ở Hà Nội đã đưa ra những số liệu đáng báo động về bạo lực giới (kỳ thị giới tính) trong trường học Theo đó, có khoảng 80% học sinh cho biết từ trước đến nay đã bị bạo lực giới trong trường học ít nhất một lần, 71% bị bạo lực trong vòng 6 tháng qua Trong đó, bạo lực tinh thần (mắng chửi, đe dọa, bắt phạt, đặt điều, sỉ nhục…) chiếm tỷ lệ cao nhất là 73%, bạo lực thể chất (tát, đá, xô đẩy, kéo tóc, bạt tai, đánh đập…) chiếm 41%; và bạo lực tình dục (tin nhắn với nội dung tình dục, sờ, hôn, hiếp dâm, yêu cầu chạm vào bộ phận sinh dục, lan truyền tin đồn tình dục…) chiếm 19% [22]

1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng hành vi sai lệch của thanh thiếu niên

Các nguyên nhân chủ yếu được các tác giả nghiên cứu đề cập đến khi mô tả tình trạng người chưa thành niên chịu các tác động tiêu cực và bị đưa đẩy đến các hành vi sai lệch, bao gồm những yếu tố nội tại từ bản thân thanh thiếu niên [12], môi trường gia đình không thuận lợi, những vướng mắc trong quan hệ ở trường học,

và môi trường văn hóa – xã hội không lành mạnh [10]

Nhìn từ góc độ vĩ mô, sự ảnh hưởng đến hành vi sai lệch của thanh niên còn được nhìn nhận từ yếu tố nền kinh tế thị trường; ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế Nó đã hình thành nhiều hiện tượng mới, xu hướng mới trong lối sống của giới trẻ và nó cũng gây ra những sai lệch về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống của thanh niên [24]

Kết quả của cuộc điều tra SAVY II [39] cho thấy 69% nam thanh niên và 28,1% nữ thanh niên đã từng uống bia, rượu Thanh thiếu niên ở SAVY II sử dụng rượu bia nhiều hơn thanh thiếu niên ở SAVY I [3] Nhóm thanh niên uống nhiều rượu có xu hướng hút thuốc lá nhiều hơn nhóm ít uống rượu (78,6% so với

Ngày đăng: 04/06/2023, 14:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Đặng Nguyên Anh. (2004). Vị thành niên ở Việt nam - từ đặc điểm đến định hướng chính sách. Trong M. Q. Nam (chủ biên), Trẻ em, gia đình, xã hội. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị thành niên ở Việt nam - từ đặc điểm đến định hướng chính sách
Tác giả: Đặng Nguyên Anh
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
[2]. Bộ Tư pháp, & Unicef. (2019). Pháp luật về phòng ngừa, xử lý, phục hồi, tái hòa nhập cộng đồng đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật và tình hình người chưa thành niên vi phạm pháp luật tại Việt Nam. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về phòng ngừa, xử lý, phục hồi, tái hòa nhập cộng đồng đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật và tình hình người chưa thành niên vi phạm pháp luật tại Việt Nam
Tác giả: Bộ Tư pháp, Unicef
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2019
[3]. Bộ Y tế và các cộng sự. (2005). Điều tra Quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt nam (SAVY I). Hà Nội: Bộ Y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra Quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt nam (SAVY I)
Tác giả: Bộ Y tế và các cộng sự
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 2005
[5]. Trần Thị Minh Đức. (2010). Biểu hiện gây hấn của học sinh phổ thông trung học. Trung tâm hỗ trợ nghiên cứu Châu Á và Quỹ cao học Hàn Quốc, ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu hiện gây hấn của học sinh phổ thông trung học
Tác giả: Trần Thị Minh Đức
Nhà XB: Trung tâm hỗ trợ nghiên cứu Châu Á
Năm: 2010
[6]. Đỗ Ngọc Hà. (2018). Những sai lệch xã hội trong thanh niên- Thực trạng và giải pháp Đề tài cấp Nhà nước: Viện Nghiên cứu Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những sai lệch xã hội trong thanh niên- Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Đỗ Ngọc Hà
Nhà XB: Viện Nghiên cứu Thanh niên
Năm: 2018
[7]. Phạm Minh Hạc, & Nguyễn Khoa Điềm. (2003). Về phát triển văn hoá và xây dựng con người trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đề tài Khoa học cấp Nhà nước. KX-04.03 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phát triển văn hoá và xây dựng con người trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tác giả: Phạm Minh Hạc, Nguyễn Khoa Điềm
Nhà XB: Đề tài Khoa học cấp Nhà nước
Năm: 2003
[8]. Nguyễn Thị Hậu. (2013). Mạng xã hội với giới trẻ thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạng xã hội với giới trẻ thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thị Hậu
Năm: 2013
[9]. Nguyễn Duy Hiệp. (2020). Giải pháp phòng chống những biểu hiện sai lệch của học sinh THPT hiện nay. Trong Viện Nghiên cứu Thanh niên. Đề tài cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp phòng chống những biểu hiện sai lệch của học sinh THPT hiện nay
Tác giả: Nguyễn Duy Hiệp
Nhà XB: Viện Nghiên cứu Thanh niên
Năm: 2020
[10]. Nguyễn Thị Hoa. (2004). Ảnh hưởng của nhóm bạn không chính thức tiêu cực đối với hành vi vi phạm pháp luật của trẻ vị thanh niên. Luận án Tiến sĩ Tâm lý học, Viện chiến lược và chương trình giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của nhóm bạn không chính thức tiêu cực đối với hành vi vi phạm pháp luật của trẻ vị thanh niên
Tác giả: Nguyễn Thị Hoa
Nhà XB: Viện chiến lược và chương trình giáo dục
Năm: 2004
[11]. Lê Ngọc Hùng. (2011). Lịch sử & Lý thuyết Xã hội học. Hà Nội: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử & Lý thuyết Xã hội học
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
[12]. Trần Thị Huyền. (2018). Một số yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến hành vi phạm pháp của người chưa thành niên tỉnh An Giang. Trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quốc gia Tâm lý học và sự phát triển bền vững (pp. 166-174) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến hành vi phạm pháp của người chưa thành niên tỉnh An Giang
Tác giả: Trần Thị Huyền
Nhà XB: Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quốc gia Tâm lý học và sự phát triển bền vững
Năm: 2018
[13]. Phan Thị Mai Hương. (2012). Kết quả khảo sát về quan niệm và cách sử dụng đồng tiền của thanh niên. Viện Tâm lý học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả khảo sát về quan niệm và cách sử dụng đồng tiền của thanh niên
Tác giả: Phan Thị Mai Hương
Nhà XB: Viện Tâm lý học
Năm: 2012
[14]. Hương, D. T. T. (2017). Mối quan hệ giữa gắn kết xã hội và hành vi rủi ro của học sinh trung học phổ thông (Luận án tiến sỹ Xã hội học). Hà Nội: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa gắn kết xã hội và hành vi rủi ro của học sinh trung học phổ thông (Luận án tiến sỹ Xã hội học)
Tác giả: Hương, D. T. T
Nhà XB: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2017
[15]. Đặng Cảnh Khanh. (2006). Xã hội học Thanh niên. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học Thanh niên
Tác giả: Đặng Cảnh Khanh
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
[16]. Đặng Cảnh Khanh, & Đặng Thị Lan Anh. (2014). Giáo trình xã hội học chuyên biệt: NXB LĐ-XH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình xã hội học chuyên biệt
Tác giả: Đặng Cảnh Khanh, Đặng Thị Lan Anh
Nhà XB: NXB LĐ-XH
Năm: 2014
[17]. Đặng Cảnh Khanh, & Lê Thị Quý. (2009). Gia đình học. Hà Nội: NXB Chính trị Hành chính Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình học
Tác giả: Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý
Nhà XB: NXB Chính trị Hành chính Quốc gia
Năm: 2009
[18]. Vũ Mạnh Lợi. (1999). Sinh thái học xã hội – Lịch sử và những vấn đề đương đại. Tạp chí Xã hội học, 1(65), 23-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái học xã hội – Lịch sử và những vấn đề đương đại
Tác giả: Vũ Mạnh Lợi
Nhà XB: Tạp chí Xã hội học
Năm: 1999
[19]. Nguyễn Văn Lượt, & Phí Thị Thái Hà. (2015). Hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông đường bộ của thanh thiếu niên. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, 31(5), 26-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông đường bộ của thanh thiếu niên
Tác giả: Nguyễn Văn Lượt, Phí Thị Thái Hà
Nhà XB: Tạp chí Khoa học ĐHQGHN
Năm: 2015
[20]. Phan Đức Nam. (2017). Bạo lực học đường ở Việt Nam từ góc nhìn xã hội học. Trong Phòng Nông thôn - Viện Xã hội học. Đề tài nghiên cứu cấp cơ sở năm 2016. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bạo lực học đường ở Việt Nam từ góc nhìn xã hội học
Tác giả: Phan Đức Nam
Nhà XB: Phòng Nông thôn - Viện Xã hội học
Năm: 2017
[21]. Hoàng Văn Năm. (2019). Vai trò của cộng đồng dân cư trong việc phòng ngừa và ngăn chặn tội phạm vị thành niên (Nghiên cứu trường hợp Quận Cầu Giấy – Hà Nội). Luận án Tiến sỹ Xã hội học, Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của cộng đồng dân cư trong việc phòng ngừa và ngăn chặn tội phạm vị thành niên (Nghiên cứu trường hợp Quận Cầu Giấy – Hà Nội)
Tác giả: Hoàng Văn Năm
Nhà XB: Học viện Khoa học xã hội
Năm: 2019

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w