Ảnh hưởng của Cách mạng Trung Quốc do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đối với cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời 3.1.. sản Trung Quốc và n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
- -
VŨ TRUNG HIẾU
TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI CUỘC KHÁNG CHIẾN
CHỐNG PHÁP CỦA VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành: Lịch sử
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS.TS Phạm Quốc Sử
Hà Nội, tháng 5 năm 2021
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và làm khóa luận tốt nghiệp, với lòng biết ơn
và kính trọng sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến:
Khoa Sư phạm, và đặc biệt là các thầy cô giáo bộ môn Lịch sử đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi làm khóa luận
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Phó giáo sư Tiến sĩ Phạm Quốc Sử người đã tận tình hướng dẫn, động viên và đưa ra những ý kiến rất quý báu để giúp tôi hoàn thành khóa luận
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp “Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam” là khóa luận nghiên cứu của riêng tôi và không sao chép bất kì nguồn nào khác Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này
Hiếu
Vũ Trung Hiếu
Trang 4KÍ HIỆU NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
Trang 5Mục lục
Nội dung Trang
Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Đối tượng nghiên cứu 8
3 Mục đích nghiên cứu 8
4 Phạm vị nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Kết cấu khóa luận 10
Nội dung chính
Chương 1 Khái quát cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam (1945-1954) 1.1 Bối cảnh và nguyên nhân của cuộc kháng chiến chống Pháp 11
1.2 Đường lối kháng chiến chống Pháp của quân và dân Việt Nam 16
1.3 Những thắng lợi quân sự tiêu biểu trong cuộc kháng chiến chống Pháp 20
1.4 Kết quả của cuộc kháng chiến chống Pháp và Hiệp định Geneve 25
Chương 2 Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1949 2.1.Sự can thiệp của Trung hoa Dân quốc đối với tình hình Việt Nam những năm 1945-1946 28
2.2.Sự giúp đỡ của Trung hoa Dân quốc đối với các đảng phái 31
Trang 6thân Trung Hoa dân Quốc
2.3 Ảnh hưởng của Cách mạng Trung Quốc do Đảng Cộng sản
Trung Quốc lãnh đối với cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt
Nam khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời
3.1 Khái quát sự hỗ trợ của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối
với Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp (1949-1954)
45
3.2 Vai trò của Cố vấn Trung Quốc và sự hỗ trợ, tác động của Trung
Quốc đối với Việt Nam từ chiến dịch Biên giới (1950) đến Đông Xuân
3.4 Tác động của Trung Quốc tại Hội nghị Geneve về kết thúc chiến
tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (1954)
66
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trung Quốc, một đất nước ở phía Bắc Việt Nam và có mối quan hệ với Việt Nam trải qua hàng ngàn năm, với những biến cố lịch sử lúc bạn, lúc thù Với sự phát triển của chủ nghĩa Cộng sản và được hưởng ứng nhiệt tình của hai dân tộc Việt Nam và Trung Quốc thì tình hữu nghị, giao bang của hai quốc gia ngày càng phát triển Sau khi cuộc Cách mạng tháng Tám thành công, tưởng như đất nước Việt Nam đã thoát khỏi chế độ nô lệ và bước vào một thời kì mới nhưng thực dân Pháp với sự ủng hộ của quân đội Anh theo danh nghĩa là vào giải giáp quân đội Nhật tiến vào nước ta Nhưng thực chất Pháp muốn chiếm và biến đất nước ta thành thuộc địa một lần nữa Với sự quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, nhân dân Việt Nam đã đứng lên quyết tâm đánh đuổi thực dân Pháp ra khỏi bờ cõi một lần nữa Nhưng lúc đó đất nước ta vừa mới độc lập Chính quyền Cách mạng còn non trẻ và rất cần sự giúp đỡ của các bạn
bè quốc tế Cùng lúc đó cuộc nội chiến Quốc Cộng nổ ra ở Trung Quốc và sau
đó là chiến thắng của Đảng Cộng Sản Trung Quốc dẫn tới ngày 1-10-1949, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và đồng thời không ngừng giúp đỡ Việt Nam đánh Pháp Không chỉ Đảng Cộng Sản Trung Quốc và sau này là nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa muốn gây ảnh hưởng đến Việt Nam mà trước đó cả Quốc Dân Đảng cũng muốn can thiệp vào Việt Nam Xuất phát từ hiện thực lịch sử quan trọng và mang tính cấp thiết trên đây, tôi quyết định chọn đề tài “Trung Quốc đối với cuộc Kháng chiến chống Pháp của Việt Nam” làm khóa luận tốt nghiệp của mình
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Khóa luận tốt nghiệp tập trung nghiên cứu những tác động, ảnh hưởng của Trung Quốc (bao gồm cả các đối tượng Trung Hoa Quốc dân Đảng, Đảng Cộng
Trang 8sản Trung Quốc và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) đối với cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam
Cụ thể hơn, khóa luận đề cập đến sự tác động của thế lực Trung Hoa Quốc dân Đảng đối với việc Pháp điều quân xâm lược Việt Nam lần thứ hai Tiếp đó, khóa luận đề cập đến mối quan hệ giữa Cách mạng Việt Nam và Cách mạng Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của hai Đảng cộng Sản, đồng thời đánh giá vai trò, tầm quan trọng, những tác động và quyết định của Trung Hoa và thực chất ý đồ của nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa thông qua sự giúp đỡ của họ đối với cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu trong khóa luận này đó chính là làm chúng ta hiểu hơn về vai trò của Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Việt Nam Và qua đó chúng ta có một sự đánh giá nhất định về vai trò của Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam
Mục đích nghiên cứu của khóa luận này là nhắm đánh giá tác động, ảnh hưởng của nhân tố Trung Quốc đối với cuộc Kháng chiến chống Pháp của Việt Nam Qua đó khách quan nhìn nhận vai trò của Trung Quốc từ góc độ chính trị- quân sự, nhằm rút ra bài học kinh nghiệm, bài học nhận thức về những yếu tố bên ngoài chi phối đối với lịch sử Việt Nam hiện đại
PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Về nội dung: Phạm vi nghiên cứu của Khóa luận tốt nghiệp là ảnh hưởng, tác động từ sự can thiệp của Trung Hoa Quốc dân Đảng đối với Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám, có liên quan tới việc Pháp thay Trung Hoa dân Quốc ra Bắc giải giáp quân đội Nhật
- Khóa luận cũng quan tâm những ảnh hưởng của Cách mạng Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc và sự tác động và sự giúp đỡ
Trang 9của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam
- Về thời gian: Khóa luận tập trung chủ yếu vào các diễn biến lịch sử diễn
ra từ sau Cách mạng tháng Tám đến hết năm 1954
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp tôi dùng để nghiên cứu trong đề tài này là những phương pháp sau:
- Phương pháp lịch sử: Đó chính là những sự kiện lịch sử nối tiếp nhau theo hệ quả và có mối quan hệ với nhau như những sự kiện quân Pháp thay thế quân Trung Hoa dân Quốc ra giải giáp quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc, rồi Tạm ước ta kí với Pháp để hòa hoãn nhằm củng cố lực lượng và tiếp sau đó là Toàn quốc kháng chiến Đó là những sự kiện nối tiếp nhau có tính hệ thống
- Phương pháp logic: Đó là cùng tìm hiểu lịch sử qua những sự kiện mang tính quyết định như chiến dịch Biên giới (1950) đã mở cánh cửa giao tiếp với bên ngoài đặc biệt là Trung Quốc, đưa cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn mới Hay như chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi kết thúc sự hiện diện của người Pháp tại Đông Dương
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tư liệu: Tổng hợp, phân tích và lựa chọn những tài liệu, hình ảnh làm sao cho đúng, chính xác nhất đối với đề tài làm khóa luận Phải quan sát, chọn lựa thật tinh tế và phù hợp với dòng thời gian của
sự kiện mà chúng ta cần thêm tư liệu hoặc chú thích nguồn
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Các nghiên cứu trước đây chưa thật sự nhìn nhận một cách công bằng về những đóng góp của Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam Nhiều vấn đề đã bị che lấp và phủ nhận, nhiều người vẫn cho rằng vai trò của Trung Quốc đối với Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp là chưa
Trang 10thực sự quan trọng Trong đề tài nghiên cứu này, tôi sẽ làm rõ tầm quan trọng của Trung Quốc trong cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam
KẾT CẤU KHÓA LUẬN
Chương 1: Khái quát cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam
(1945-1954)
Chương 2: Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến chống Pháp của
Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1949
Chương 3: Sự hỗ trợ và tác động của Nhà nước Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa đối với cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam từ năm 1949 đến năm 1954
Trang 111.1.1 Bối cảnh của cuộc kháng chiến chống Pháp
2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh
ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại quảng trường Ba Đình Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định xóa chế độ phong kiến và đánh đổ chế độ thực dân đô hộ gần một trăm năm trên đất nước ta
“Việc giành chính quyền dễ bao nhiều thì việc giữ chính quyền lại khó bấy
nhiêu”.1 Nạn đói năm 1945 tàn phá nặng nề miền Bắc Việt Nam vì thế, sau khi giành được độc lập thì tại Nhà hát lớn Hà Nội, Chính phủ lâm thời mới thành lập
đã tổ chức chương trình cứu đói, ngoài ra còn phái một ủy ban vào Nam để tuyên truyền vận động mang gạo ra miền Bắc cứu trợ và vận động người tham gia vận chuyển gạo từ Nam ra Bắc Nạn đói đã được đẩy lùi và nhân dân đã có
đời sống ổn định hơn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói “đây thực là một kì
công của chế độ dân chủ." 2
Trước Cách mạng tháng 8, hơn 90% dân số Việt Nam mù chữ, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã nói “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” Nha Bình dân học vụ
được thành lập ngày 18 tháng 9 năm 1945 để nhanh chóng xóa nạn mù chữ Ngày 4 tháng 10 năm 1945, lời kêu gọi chống nạn thất học được Hồ Chủ tịch
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng – Toàn tập, tập 8, NXB Chính trị quốc gia, H., 2000, tr 27
2 Võ Nguyên Giáp Báo Cứu quốc, ngày 5-9-1946
Trang 12gửi tới toàn dân Với tinh thần chỉ đạo đó, rất nhiều lớp bình dân học vụ được
mở ra với rất tầng lớp tham gia học tập Những cố gắng đó đã được đến đáp bằng những thành quả đáng kể khi nạn mù chữ đã được xóa bỏ ở Việt Nam
Một chính quyền mà không có tài chính thì sẽ không thể làm được việc
Võ Nguyên Giáp lúc đó là Bộ trưởng Bộ Nội vụ thay mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh
ký ban hành Sắc lệnh số 4 thành lập "Quỹ độc lập" với mục đích "để thu nhận các món tiền và đồ vật của nhân dân sẵn lòng quyên góp giúp Chính phủ để ủng
hộ nền độc lập của Quốc gia" Tiếp sau đó, "Tuần lễ Vàng" được tổ chức từ ngày 17 đến 24 tháng 9 năm 1945 Hồ Chủ tịch trong một bức thư gửi đồng bào
cả nước đã nêu rõ mục đích là dùng cho việc chống ngoại xâm và quốc phòng
“Nhân dân ra đã tự nguyện quyên góp được 370kg vàng, 20 triệu đồng vào quỹ
độc lập và 40 triệu đồng vào quỹ đảm phụ quốc phòng.” 3
Những số tiền và vàng quyên góp được dùng để mua lại những vũ khí mà quân Trung Hoa dân Quốc tịch thu được của quân Nhật và một phần cũng để hối
lộ và đút lót cho các tướng lĩnh của Trung hoa Dân quốc, nhằm làm giảm những tác động tiêu cực của chúng đối với Cách mạng Việt Nam
Theo Hội nghị Potsdam, việc giải giáp quân đội Nhật được giao cho quân đội Mĩ và quân đội Anh Quân đội Tưởng Giới Thạch được Mĩ nhường lại vai trò giải giáp quân đội Nhật ở miền Bắc Còn miền Nam do Pháp được hưởng quyền lợi ở Trung Đông nên tuy không thích những vẫn buộc phải cho Anh vào giải giáp quân đội Nhật
200.000 quân Trung hoa Dân Quốc dưới quyền chỉ huy của tướng Lư Hán và phó tư lệnh Tiêu Văn tiến xuống nước ta vào cuối tháng Tám năm 1945 Các tổ chức đảng, phái thân Trung Hoa dân Quốc cũng theo sau kéo về nước với
âm mưu lật đổ Chính phủ mới thành lập
3 Lê Mậu Hãn, Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư Đại cương lịch sử Việt Nam tập III, Nxb GDVN, tr.31
Trang 13“Ngày 14 tháng 9 năm 1945, Lư Hán đến Hà Nội Lư Hán gặp Hồ Chí Minh, đòi Hồ Chí Minh phải “báo cáo quân số thực tế và tổ chức quân đội Việt Nam”, đòi mỗi bộ của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải có một người "liên lạc viên của Trung Quốc, thậm chí đòi Việt Nam lùi giờ lại một tiếng theo giờ Trung Quốc”.4
Để giảm bớt sự chống đối và phá hoại của quân Trung Hoa dân Quốc, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chấp nhận một số yêu sách của quân đội Trung Hoa dân Quốc như chấp nhận cho quân Trung Hoa dân Quốc tiêu tiền
“Quan kim” hay cung cấp lương thực cho 200.000 quân Tưởng
“Ngày 1-1-1946, Chính phủ lâm thời tự cải tổ thành Chính phủ liên hiệp
lâm thời, mở rộng thêm một số thành viên của Việt Quốc, Việt Cách, Chính phủ liên hiệp lâm thời do Hồ Chí Minh giữ chức Chủ tịch kiêm ngoại giao.”5
Đảng Cộng sản Việt Nam phải tuyên bố tự giải tán vào ngày 11-11-1945, nhưng thực tế là hoạt động bí mật
Với chính phủ của Tưởng Giới Thạch, chính phủ ta giữ mối quan hệ ngoại giao thân thiện
Pháp với Trung Hoa dân Quốc sau nhiều lần đàm phán đã thống nhất những điều khoản để quân Pháp thay thế quân Trung Hoa dân Quốc giải giáp quân Nhật ở miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở ra Đổi lại Pháp cho Trung Hoa dân Quốc những lợi ích về mặt chiến lược tại Trung Quốc Đúng như dự
đoán của Ban chấp hành Trung ương Đảng rằng “Trước sau Trùng Khánh sẽ
bằng lòng cho Đông Dương trở về tay Pháp miễn là Pháp nhượng cho Tưởng nhiều quyền lợi quan trọng”.6
4 Patti L.A Tại sao Việt Nam? NXB Đà Nẵng, 1995
5 Lê Mậu Hãn, Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư Đại cương lịch sử Việt Nam tập III, Nxb GDVN, tr.17
6 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đảng – toàn tập, tập 8, Sđd, tr 25
Trang 14Với Hiệp định này, Việt Nam đã có thêm thời gian để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến mà chắc chắn nó sẽ nổ ra Đồng thời cũng đẩy được quân Trung Hoa dân Quốc về nước và làm cho Pháp chưa có cơ hội hành động
Ngày 23 tháng 9, với sự giúp đỡ của quân Anh, quân Pháp nổ súng chiếm quyền kiểm soát Sài Gòn (ngày này sau được Việt Nam gọi là ngày Nam Bộ Kháng chiến) Nước Việt Nam vừa giành được độc lập đã phải đối đầu với quân đội nước ngoài
Từ cuối tháng 9 năm 1945, các đoàn quân "Nam tiến" của Vệ quốc đoàn (quân đội của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) bắt đầu lên đường vào Nam tiếp viện Các tướng lĩnh quan trọng như Nguyễn Bình, Nguyễn Sơn được cấp
tốc cử vào Nam “Sự đóng góp sức người và sức của và mọi chi viện của nhân
dân Bắc Trung Bộ và Bắc Bộ là hình ảnh của dân tộc thống nhất, cả đất nước chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc”.7
Ngày 6 tháng 3 năm 1946 tại Hà Nội, Hiệp định sơ bộ Pháp - Việt được
ký kết, giúp Việt Nam có thêm thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Pháp
1.1.2 Nguyên nhân của cuộc kháng chiến chống Pháp.
Nguyên nhân sâu xa
Do thực dân Pháp muốn quay trở lại xâm lược và biến ba nước Đông Dương trở thành thuộc địa như trước thế chiến thứ hai Giành lại uy thế của Pháp trên chiến trường thế giới sau khi đã thất bại trước quân Đức tại mặt trận châu Âu
Pháp cũng muốn vơ vét thêm tài nguyên của những nước thuộc địa để có thể bù đắp những thiệt hại do thế chiến thứ hai gây ra
Nguyên nhân trực tiếp
7 Lê Mậu Hãn, Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư Đại cương lịch sử Việt Nam tập III, Nxb GDVN, tr 134
Trang 15Sau Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946 và Tạm ước 14-9-1946, Việt Nam đã cố gắng nhân nhượng với Pháp để có thời gian kiến thiết đất nước và chuẩn bị, củng cố lực lương Những chúng ta càng nhân nhượng thì thực dân Pháp càng lần tới Chúng gây ra những vụ xô xát nhỏ lẻ để kích động quân ta rồi lấy cớ gây hấn tạo tiền đề đề xâm lược nước ta một lần nữa
Xung đột quân sự đầu tiên nổ ra tại Hải Phòng Đầu tháng 11 năm 1946, quân Pháp chiếm trụ sở hải quan tại cảng Hải Phòng
Sau sự kiện Hải Phòng, kế hoạch phòng thủ Hà Nội bắt đầu được chuẩn bị
để chính phủ Việt Nam có thời gian sơ tán về các vùng núi lân cận Một số ít lực lượng chính phủ đóng tại Bắc Bộ phủ và một doanh trại gần đó Còn phần lớn lực lượng quân sự của Việt Nam trong vùng đóng tại ngoại ô của thủ đô
Các cơ quan của chính phủ Việt Nam bí mật chuyển dần ra các địa điểm
đã được chuẩn bị trước ở bên ngoài thành phố Trong thành phố, quân dân Hà Nội bắt đầu xây dựng các chiến lũy phòng thủ trên đường phố, quân Pháp cũng củng cố các vị trí phòng thủ của mình Ngày 6 tháng 12, Hồ Chí Minh kêu gọi Pháp rút về các vị trí họ đã giữ từ trước ngày 20 tháng 11, nhưng ông không nhận được phản hồi
Đáp lại, tối hôm đó, các lực lượng Việt Minh bắt đầu chặn mọi ngả đường
từ ngoại ô vào thành phố Sáng hôm sau (ngày 19 tháng 12), Pháp ra tối hậu thư thứ ba, đòi chính phủ Việt Nam phải đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị chiến tranh, tước vũ khí của quân Tự vệ tại Hà Nội, và trao cho quân đội Pháp việc duy trì an ninh trong thành phố
“Ban Thường vụ Trung ương đã điện cho các chiến khu, các tỉnh ủy chỉ
Trang 1620/12, lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh được phát
Ngày 19-12-1946, Hồ chủ tịch ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”
Tháng 9-1947, những bài báo của Trường Chinh được in thành sách với tiêu đề “Kháng chiến nhất định thắng lợi” lý giải về đường lối kháng chiến của
ta
Đại hội đại biển lần II họp ở Tuyên Hóa năm 1951 đã xác định nhiệm vụ
của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện tại là: tiêu diệt thực dân Pháp và
đánh bại bọn can thiệp Mỹ, giành độc lập, thống nhất hoàn toàn dân tộc Xóa bỏ những tàn dư phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Đảng ta đã xác định tính chất của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
đó là: “Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam mang
tính chất dân tộc dân chủ nhân dân”
Kế thừa sự nghiệp của cách mạng tháng Tám: Cách mạng tháng Tám là
một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Nhiệm vụ hàng đầu là chống đế quốc giành độc lập dân tộc, nhiệm vụ chống phong kiến có mức độ nhất định nhằm phục vụ cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc Lực lượng tham gia là cuộc vùng dậy của toàn dân tộc, được đoàn kết trong hình thức mặt trận Việt Minh
Trang 17Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời ngày 2-9-1945 là nhà nước dân chủ nhân dân
Đảng cho rằng, nhiệm vụ của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là:
Đánh đuổi thực dân Pháp để giành độc lập dân tộc, lật đổ hoàn toàn tàn dư của chế độ phong kiến và giành quyền làm chủ cho người dân
Chính quyền ta mới thành lập còn non trẻ, nhưng đã phải đối đầu với rất nhiều khó khăn Thực dân Pháp muốn quay trở lại cướp nước ta một lần nữa Giành được độc lập đã khó, giữ được độc lập càng khó hơn, vì vậy Đảng đã cho
rằng nhiệm vụ hàng đầu đó chính là đánh đuổi được thực dân Pháp xâm lược,
giành được lập dân tộc Sau khi giành được độc lập dân tộc rồi sẽ xóa bỏ những tàn dư của chế độ phong kiến Kẻ thù lớn nhất lúc bấy giờ chính là thực dân Pháp
Sau Cách mạng tháng Tám, với danh nghĩa là quân đội Đồng Minh tiến vào giải giáp quân đội Nhật, các nước đế quốc đã đưa quân tràn vào nước ta Vĩ tuyến 16 trở ra Bắc đó là sự hiện diện của hơn 20 vạn quân Trung Hoa dân Quốc theo sau là bè lũ tay sai Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam, hơn 1 vạn quân Anh theo sau là quân Pháp tiến vào nước ta mục đích là giải giáp quân đội Nhật ở miền Nam nhưng thực chất là muốn cướp nước ta một lần nữa Tình hình nước ta lúc bấy giờ ở trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc Ngày 23-9-1945, Pháp tiến công Sài Gòn, mở đầu cho cuộc xâm lược trở lại nước ta với sự ủng hộ của quân đội Anh Thực dân Pháp đã bộc lộ rõ âm mưu xâm chiếm nước ta từ tư tưởng đến hành động Sau khi phân tích về âm mưu của các đế quốc đối với Đông Dương,
Trung ương Đảng nêu rõ “kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm
lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng”
Lực lượng của cuộc kháng chiến: Đảng xác định lực lượng của cách mạng
là địa chủ vừa và nhỏ, công, nông, các tiểu tư sản và tư sản dân tộc Lực lượng
Trang 18này đoàn kết dưới mặt trận Liên Việt và dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân
Phương hướng của cuộc kháng chiến: Đất nước sẽ quá độ lên Chủ nghĩa
Xã hội sau khi đã hoàn thành cách mạng dân tộc
Phương pháp của cuộc kháng chiến: Đấu tranh trên nhiều mặt trận như
quân sự, chính trị, ngoại giao
Đoàn kết quốc tế: Tranh thủ sự ủng hộ của các phong trào giải phóng dân
tộc và yêu hòa bình trên thế giới Việt Nam cũng phải giúp đỡ hai nước Đông Dương để Pháp phân tán lực lượng vừa giúp bạn lại vừa giúp mình
Phương châm của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp: “Toàn dân,
toàn diện, trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế”
Tính chất toàn dân: “Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là cuộc
kháng chiến của toàn dân, với mục tiêu đánh đuổi thực dân Pháp.”
“Với tương quan lực lượng giữa ta và địch quá chênh lệch nên phương
châm chiến lược của toàn bộ cuộc kháng chiến là đánh lâu dài, không phải đánh mau, giải quyết chóng Đánh lâu dài là bí quyết của sự thắng lợi”.9
Tính toàn diện: Ta không chỉ phải đối phó với địch trên chiến trường quân
sự mà cả văn hóa, xã hội, truyền thông, tư tưởng cũng là một chiến trường Vì vậy chúng ta phải chiến đấu và đấu tranh trên tất cả những lĩnh vực đó
9 Lê Mậu Hãn, Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư Đại cương lịch sử Việt Nam tập III, Nxb GDVN, tr 134
Trang 19Tính chất trường kỳ kháng chiến: Với truyền thống của dân tộc ta, lấy ít
địch nhiều, lấy đoản binh để đánh trường trận Với kháng chiến chống Pháp cũng như vậy, lối đánh chủ yếu của ta là du kích để hạn chế thương vong và khiến cho quân địch hoang mang Trường kỳ kháng chiến cũng chính là phá hoại kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của Pháp, bắt chúng phải đánh theo cách đánh của ta đó là kháng chiến lâu dài
Kháng chiến tự lực cánh sinh và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế: Chúng
ta không thể chiến đấu và đánh thắng Pháp một mình, chúng ta cần sự sát cánh, ủng hộ và giúp đỡ của các bạn bè quốc tế, các quốc gia yêu chuộng hòa bình Tiếng nói ở ngoài đất nước sẽ làm cho cuộc chiến tranh phi nghĩa của Thực dân Pháp được nhiều người biết đến và cổ vũ tinh thần đấu tranh chống giặc của quân và dân ta Và không thể không nhắc tới sự ảnh hưởng của Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam
1.3 Những thắng lợi quân sự tiêu biểu trong cuộc kháng chiến chống Pháp.
1.3.1 60 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Hà Nội
Đêm 19/12/1946, quân Pháp huy động nhiều quân và trang thiết bị hiện đại tiến công Bắc Bộ phủ và nhiều cơ quan đầu não của chính phủ ta Quân và
dân ta đã cố thủ với tinh thần “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh với một thái độ
chính trị dứt khoát và kiên định thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”10, các chiến sĩ cảm tử quân đã anh dũng ôm bom ba càng cảm tử lao vào xe tăng địch
Trong suốt 60 ngày đêm bảo vệ Hà Nội thì trận đánh ác liệt nhất có lẽ là ở chợ Đồng Xuân, ngày 11-13/2/1947, quân Pháp cho máy bay ném bom bắn phá
10 Lê Mậu Hãn, Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư Đại cương lịch sử Việt Nam tập III, Nxb GDVN, tr 51
Trang 20liên tiếp vào chợ Đồng Xuân và các phố Mã Mây, Hàng Lược, Hàng Bạc và nhiều tuyến phố lân cận Sau nhiều ngày giằng co, những cảm tử quân đã đẩy lùi địch khỏi các tuyến phố
Ngày 17/2/1947, sau 60 ngày đêm cầm chân quân Pháp, quân ta bắt đầu rút quân ra khỏi trung tâm thành phố, đến 3 giờ sáng hôm sau quân ta đã tập kết
an toàn ở Phúc Yên Sau 60 ngày đêm chiến đấu bảo vệ thủ đô, quân ta đã hoàn thành mục tiêu cầm chân quân Pháp đảm bảo đầu não ta rút lên Việt Bắc an toàn
để chuẩn bị cho một cuộc chiến dài với Pháp
1.3.2 Chiến dịch Việt Bắc thu- đông 1947
Sau khi bị quân ta cầm chân ở nhiều thành phố lớn và biết đầu não của ta đang ở Việt Bắc, quân Pháp quyết định mở chiến dịch tiến công lên Việt Bắc Nhằm thực hiện kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh, quân Pháp đã huy động khoảng 12.000 quân với nhiều trang thiết bị hiện đại
Quân Pháp nhảy dù xuống Bắc Kạn mở đầu cuộc tiến công Việt Bắc ngày 7/10/1947 Một ngày sau, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân kháng chiến
và cố gắng đánh giặc Ngày 15/10/1947, chỉ thị của Ban thường vụ Trung ương
Đảng đưa ra đó là “Phải phá tan cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp"
Khi địch vừa đổ bộ lên bến Bình Ca ở mặt trận sông Lô – Chiêm Hóa thì bị quân đội ta chặn đánh bắn chìm một pháo thuyền địch, và diệt hơn một tiểu đội giặc Những trận đánh, phục kích, bắn tỉa vào địa lôi của quân đội ta làm cho quân đội Pháp hoang mang buộc chúng phải điều không quân nhảy dù xuống Chiêm Hóa Đường tiếp viện của quân Pháp từ Hà Nội lên bị cắt đứt
Ở mặt trận đường số 4, dân quân du kích ở Lạng Sơn và Cao Bằng đã phục kích và tiêu diệt quân Pháp trên đường hành quân tại Thất Khê, Đông Khê
Đường tiếp viện của quân Pháp từ Cao Bằng xuống Bắc Kạn cũng bị cắt đứt khi quân ta chủ động tấn công và tập kích
Trang 21Ngày 22/12/1947, chiến dịch Việt Bắc toàn thắng và được gọi với cái tên
“Mồ chôn giặc Pháp” Chiến dịch này cũng đánh dấu bước trưởng thành của quân đội ta và buộc Pháp phải chuyển từ đánh nhanh thắng nhanh sang đánh lâu dài
1.3.3 Chiến dịch Biên giới 1950
Tầm ảnh hưởng của Liên bang Xô Viết cùng với các nước Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu ngày càng được củng cố trên trường quốc tế
Tháng 10 – 1949 sau khi giành thắng lợi trong nội chiến Quốc – Cộng thì Mao Trạch Đông đã tuyến bố thành lập nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và đi theo chủ nghĩa xã hội
Chính vì những lý do đó Đảng quyết định mở chiến dịch Biên giới để có đường giao thương và quan hệ với các nước Xã hội chủ nghĩa và đặc biệt là Trung Quốc Khi chia tay với Đại tướng Võ Nguyên Giáp lên đường đi chiến
dịch, chủ tịch Hồ Chí Minh dặn: "Chiến dịch này hết sức quan trọng, chỉ được
thắng không được thua!"11
“Bộ chỉ huy chiến dịch, do Võ Nguyên Giáp làm Chỉ huy trưởng kiêm
Chính ủy và Bí thư đảng ủy mặt trận, đã quyết định tập trung một lực lượng mạnh để tiến công giải phóng từ Cao Bằng đến Thất Khê”.12
Ngày 16 tháng 9 năm 1950, chiến dịch Biên giới bắt đầu bằng sự kiện Trung đoàn 209 và Trung đoàn 174 đánh chiếm căn cứ điểm Đông Khê với mục đích cô lập Cao Bằng và uy hiếp Thất Khê Đến ngày 18, căn cứ điểm Đông Khê
đã bị thất thủ hoàn toàn khi tuyến phòng thủ của Pháp trên đường số 4 bị tan vỡ
“Những quân lính còn lại của Le Page cùng với chỉ huy của mình mất liên
lạc với Charton đã tìm cách rút theo đường rừng để về Thất Khê nhưng sang
11 Võ Nguyên Giáp (2006) Hữu Mai biên tập Tổng tập hồi kí Nhà xuất bản quân đội nhân dân
12 Lê Mậu Hãn, Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư Đại cương lịch sử Việt Nam tập III, Nxb GDVN, tr 83
Trang 22ngày 8 tháng 10, Le Page cũng đã bị các binh sĩ của trung đoàn 88 đại đoàn
308 bắt làm tù binh cùng với các sĩ quan tham mưu của mình”.13
Trước nguy cơ Thất Khê cũng sẽ bị tiêu diệt như Đông Khê, quân Pháp quyết định rút khỏi Thất Khê trong rối loạn và phải chịu những tổn thất nặng nề khi bị 4 tiểu đoàn của Đại đoàn 308 cùng toàn bộ Trung đoàn 174 (Cao Bắc Lạng) truy kích Đến ngày 17 tháng 10, quân và dân ta chủ động kết thúc chiến dịch
Dưới sự uy hiếp của bộ đội ta và sự sợ hãi của bộ chỉ huy Pháp, đến ngày
22 tháng 10 năm 1950, quân Pháp phải rút bỏ tất cả các căn cứ điểm còn lại trên đường số 4
Chiến dịch Biên giới thắng lợi đã mở toang cánh cửa hướng ra các nước
đoạn mới
1.3.4 Chiến dịch Điện Biên Phủ
Tướng H Navarre đánh giá rằng Điện Biên Phủ nằm ở một địa thế rất quan trọng trong chiến tranh Đông Dương, từ đây quân Pháp có thể đánh chiếm lại các vùng đã mất và tiêu diệt quân chủ lực của ta
Vì thế, quân Pháp đã huy động số quân lên tới 16.200 quân và biến Điện Biên Phủ thành pháo đài bất khả xâm phạm Theo đó, Điện Biên Phủ đã trở thành quyết chiến điểm của Kế hoạch Nava Và thực dân Pháp tin chắc lòng chảo này sẽ “nghiền nát” quân đội Việt Nam
“Lực lượng quân đội ta tham gia chiến dịch gồm có 4 đại đoàn bộ binh
(308, 316, 312, 304), 1 đại đoàn công pháo 351, các tiểu đoàn công binh, các đơn vị thông tin, vận tải, quân y … Tổng số quân khoảng 55.000 người”.14
13 Lê Trọng Tấn (1994) Hồi kỳ Lê Trọng Tấn tr 135
14 Lê Mậu Hãn, Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư Đại cương lịch sử Việt Nam tập III, Nxb GDVN, tr 120
Trang 2317 giờ ngày 13/3/1954, tiếng súng bắt đầu chiến dịch Điện Biên Phủ vang lên quân ta tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ Những giờ phút đầu tiên, quân ta tập trung tấn công và tiêu diệt cứ điểm Him Lam Tại cứ điểm thứ 3 phía Tây Bắc Him Lam, trận đánh diễn ra rất ác liệt, một người lính đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai ở trận này đó chính là anh hùng Phan Đình Giót
Từ 14 đến 17/3 quân ta tiêu diệt 2 căn cứ của địch tại Bản Kéo khiến quân Pháp phải giương cờ trắng đầu hàng, cánh cửa phía Bắc vào Trung tâm tập đoàn
cứ điểm Điện Biên Phủ bị phá toang
Với khí thế quyết thắng, quân ta tấn công đợt 2 vào 5 cao điểm phòng ngự của địch ở phía Đông và khiến quân Pháp phải huy động tất cả máy bay ở Đông Dương để chi viện cho Điện Biên Phủ
Từ ngày 30/3 đến 30/4/1954, quân ta tiến công và làm tê liệt sân bay Mường Thanh Sau đợt tấn công này, các cứ điểm của Pháp ngày càng bị thu hẹp, và vừa vào tầm pháo kích của ta khiến quân Pháp hoang mang tột độ
Quân ta bắt đầu mở cuộc tiến công thứ 3 vào ngày 1/5/1954, bộ đội ta tiến đánh các căn cứ ở phía Đông và gần như đã tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ
Đúng 17 giờ 30 ngày 7/5/1954 Lá cờ “quyết chiến, quyết thắng” của quân đội ta tung bay trên nóc hầm chỉ huy của địch bắt sống tướng Christian de Castries và toàn bộ cộng sự Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng!
Chính tướng De Castries, sau khi thất bại trở về Pháp, đã trả lời trước Uỷ
ban Điều tra của Bộ trưởng Quốc phòng Pháp rằng: “Người ta có thể đánh bại
một quân đội, chứ không thể đánh bại được cả một dân tộc”.”15
1.4 Kết quả của cuộc kháng chiến chống Pháp và Hiệp định Geneve
15 “Điện Biên Phủ: Nhớ lại để suy ngẫm” Báo Điện tử Chính phủ nước CHXNCN Việt Nam 5 tháng 7 năm
2010 Truy cập 14 tháng 2 năm 2021
Trang 241.4.1 Hiệp định Geneve
Tháng 4 năm 1954, Hội nghị Geneve bắt đầu được khai mạc Tham dự hội nghị có đại diện của: Việt Nam, Liên Xô, Trung Quốc, Anh, Pháp, Mỹ, chính quyền Bảo Đại, Campuchia và Lào Vấn đề đầu tiên được đưa ra là về vấn đề trên bán đảo Triều Tiên chứ không phải là vấn đề của Đông Dương.
“Ngày 8 tháng 5 năm 1954, tin về kết quả Chiến dịch Điện Biên Phủ được
truyền đến Geneva Sáng sớm 8 tháng 5 năm 1954, vấn đề Đông Dương chính thức được đưa lên bàn đàm phán.”16
Ông Phạm Văn Đồng Phó Thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đại diện Chính phủ Việt Nam với tư thế của một dân tộc chiến thắng đến dự hội nghị
Lập trường cơ bản của Việt Nam là hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ
và toàn vẹn lãnh thổ Nước Pháp phải công nhận chủ quyền độc lập của Việt Nam và của Lào, Campuchia Vấn đề thống nhất nước Việt Nam phải do nhân dân Việt Nam tự giải quyết, không có sự can thiệp của nước ngoài Những đề nghị hợp tình, hợp lý của Đoàn đại biểu Việt Nam đã được dư luận tiến bộ ở chính nước Pháp và trên thế giới đồng tình ủng hộ
Ngày 21-7-1954, Hiệp định Geneve về đình chỉ chiến tranh ở Đông Dương được ký kết
1.4.2 Kết quả của cuộc kháng chiến chống Pháp
“Trong cuộc xâm lược của thực dân Pháp này, thương vong của Pháp là
140.992, trong đó có 75.867 chết và mất tích, 65.125 bị thương Quân đồng minh bản xứ của Pháp ở Đông Dương (Quốc gia Việt Nam) có 419.000 chết, bị thương, tan rã hoặc bị bắt.Về vũ khí, Pháp mất 435 máy bay, 603 tàu chiến và
ca nô, 9.283 xe quân sự, 255 pháo, 504 xe tăng - thiết giáp và 130 nghìn súng
16 Hiệp Định Giơ-ne-vơ về Đông Dương, Báo điện tử Đảng cộng Sản Việt Nam, 01/10/2015 Truy cập ngày
14-11-2020
Trang 25các loại Số thương vong của Việt Minh là 191.605 người chết Khoảng 125.000–400.000 dân thường thiệt mạng.”17
Được chiến thắng của người Việt Nam cổ vũ, các khu vực thuộc địa
ở châu Phi đã đồng loạt nổi dậy Nhiều người đã ăn mừng tại các vùng thuộc địa Pháp, từ Algiers (Algeria), qua Dakar (Senegal) đến Tananarive (Madagascar)
Tại Ma- rốc, ở Casablanca xuất hiện những tấm bưu thiếp có ghi:
“Casablanca, Điện Biên Phủ của người Pháp”
Còn tại Tuynidi, khi ăn mừng tại các khu phố bình dân, nơi người ta phục
vụ một món ăn đặc biệt mang tên “Tagine Điện Biên Phủ”
Chỉ 3 tháng sau trận Điện Biên Phủ, lực lượng Mặt trận Giải phóng Dân tộc tại Algérie (thuộc địa có diện tích lớn nhất của Pháp) được thành lập, phát động đấu tranh vũ trang để giành độc lập cho đất nước mình Pháp tiếp tục đưa quân đến nhằm dập tắt phong trào độc lập của người Algérie, nhưng quân Pháp
sa lầy tại đây
“Một năm sau đó, các phong trào tương tự nổ ra ở Cameroon, Tunisia, Maroc, hàng chục nước thuộc địa khác cũng nổi dậy trong vài năm sau đó Sự nổi dậy đồng loạt tại các thuộc địa khiến việc duy trì Liên hiệp Pháp trở nên rất khó khăn bởi Pháp không thể có đủ tài chính và lực lượng quân sự để dập tắt các phong trào đòi độc lập tại nhiều nơi cùng lúc.” 18
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp đã chấm dứt gần một thế kỉ đất nước ta sống dưới ách xâm lược và đô hộ của thực dân Pháp Chiến thắng này đã mở ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc, đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội Miền Bắc tiếp tục phát triển và tiến lên chủ nghĩa xã hội, là hậu phương vững chắc cho miền Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc
17 Nguồn Wikipedia Chiến tranh Đông Dương Truy cập ngày 14-10-2020
18 Nguồn Wikipedia Chiến tranh Đông Dương Truy cập ngày 14-10-2020
Trang 26Chiến thắng của Việt Nam là lần đầu tiên một nước thuộc địa chiến thắng một đất nước đế cuốc Chiến thắng này đã cổ vũ tinh thần cách mạng của nhiều nước châu Mĩ Latinh và châu Phi
Đánh bại được thực dân Pháp tưởng chừng chúng ta sẽ có được độc lập và thống nhất đất nước nhưng không, đế quốc Mĩ lại muốn chia cắt đất nước ta và thành lập chính quyền tay sai khiến đất nước bước tiếp vào một giai đoạn mới
TIỂU KẾT CHƯƠNG.
Chín năm kháng chiến chống Pháp vô cùng gian nan vất vả biết bao nhiêu xương máu của những người con đất Việt đã ngã xuống trong cuộc kháng chiến chống Pháp Nhưng với sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và đặc biệt là chủ tịch Hồ Chí Minh, đất nước ta đã từng bước vượt qua những khó khăn từ những cuộc đối đấu với thực dân Pháp trên bàn đàm phán tại các hội nghị để có thời gian chuẩn bị lâu hơn cho cuộc chiến mà chúng
ta biết không thể tránh khỏi Rồi những trận đánh cho thấy sự lớn mạnh dần của quân đội từ chiến dịch Việt Bắc cho tới Biên giới rồi Tây Bắc và cuối cùng là Điện Biên Dân tộc Việt Nam đã cho Pháp và cả thế giới biết rằng tuy nước chúng ta nhỏ và yếu hơn những nước đế quốc nhưng với lòng yêu nước, tự tôn dân tộc, tinh thần quật cường không chịu thua trước bất cứ đế quốc nào có ý đồ muốn xâm chiến nước ta
Trang 27Chương 2 Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến
chống Pháp của Việt Nam từ năm 1945
Cuối tháng 8 đầu tháng 9/1945, quân Trung Hoa dân Quốc từ tỉnh Vân Nam và Quảng Tây lần lượt kéo vào nước ta theo hai hướng thủy bộ Đường bộ
từ Lạng Sơn, Lào Cai còn hướng đường thuỷ vào vùng Đông Bắc, Hải Phòng,
Hội An “Đầu tháng 10-1945, Hà Ứng Khâm, Tổng tham mưu trưởng của quân
Tưởng đến Hà Nội”19, tính đến ngày 16/10/1945, việc quân Trung Hoa dân Quốc nhập cảnh Việt Nam hầu như hoàn tất
“Ngày 14 tháng 9 năm 1945, Lư Hán đến Hà Nội Lư Hán gặp Hồ Chí
Minh, đòi Hồ Chí Minh phải "báo cáo quân số thực tế và tổ chức quân đội Việt Nam", đòi mỗi bộ của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải có một
19 Lê Mậu Hãn, Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư Đại cương lịch sử Việt Nam tập III, Nxb GDVN, tr 37
Trang 28người "liên lạc viên" của Trung Quốc, thậm chí đòi Việt Nam lùi giờ lại một tiếng theo giờ Trung Quốc”.20
Từ trên đường tiến đến Hà Nội, quân Trung Hoa dân Quốc ngang nhiên tước khí giới của các đội tự vệ địa phương và giải tán các Ủy ban nhân dân cách mạng, bắt ta cung cấp lương thực, thực phẩm, nơi ăn chốn ở, vàng bạc, thậm chí
cả gái và thuốc phiện Chúng khiêu khích, quấy nhiễu, kích động bọn nội phản xung đột vũ trang với quân đội Việt Nam và hòng cướp chính quyền các địa phương; đòi lưu hành tiền “Quan kim”, giúp tay sai xây dựng lực lượng vũ trang, đóng quân và đặt trụ sở ở Hà Nội cùng nhiều nơi khác Đến Hà Nội, Lư Hán lập tức đòi ta phải báo cáo quân số, tổ chức quân đội
Tiêu Văn đòi ta cải tổ Chính phủ, giành cho bọn tay sai những chức vụ quan trọng như thủ tướng, bộ trưởng quốc phòng, bộ trưởng ngoại giao Thậm chí, Tiêu Văn còn gửi tối hậu thư đòi đưa các bộ trưởng là người của Đảng Cộng
sản ra khỏi Chính phủ “Chính phủ ta buộc phải cung cấp gạo và chấp nhận cho
quân Trung Hoa dân Quốc tiêu giấy bạc “quan kim” và “quốc tệ” ở miền Bắc.”21 Nhiều lần, chúng hăm dọa dùng vũ lực lật đổ chính quyền cách mạng, gây các vụ khiêu khích, bắt cóc cán bộ, khủng bố, cướp bóc, phá rối trật tự an ninh Quân Trung Hoa dân Quốc xuất bản báo chí phản động, công khai tuyên
truyền, xuyên tạc, nói xấu cách mạng “Trong giao dịch với ta, cả Lư Hán lẫn
Tiêu Văn đều không dùng công hàm của Chính phủ Trung Hoa dân quốc, mà chỉ dùng Bị vong lục, không có tiêu đề tên nước với ý đồ không công nhận Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.”22
20 Patti L.A Tại sao Việt Nam? NXB Đà Nẵng, 2008. sđd tr 292-293.
21 Lê Mậu Hãn, Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư Đại cương lịch sử Việt Nam tập III, Nxb GDVN, tr 73
22 Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954, tập 1, Nxb QĐNDVN, HN, 1994, tr.28
Trang 29Bọn chúng thực hiện âm mưu “tiêu diệt Đảng ta, phá tan tổ chức Việt
Minh, hòng lật đổ chính quyền cách mạng để lập nên chính phủ phản động làm tay sai cho chúng”.23
Khi tràn vào Bắc bộ, nhất là ở Hải Phòng và tràn vào miền Trung, nhất là
ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Thừa Thiên - Huế, quân Trung Hoa dân Quốc cũng có những hành động ngang ngược như chúng đã làm ở Hà Nội Chúng trắng trợn phá hoại với nhiều thủ đoạn, quấy phá, vơ vét, cướp bóc, hạch sách
Ở Thanh Hoá, một trung đoàn quân Trung Hoa dân Quốc toả ra chiếm các
vị trí xung yếu tại thị xã, tập trận giả, đặt súng máy cảnh giới các ngả đường, kiểm soát người qua lại, tước vũ khí bất cứ ai, kể cả đồng chí Phó Chủ tịch tỉnh Bọn Việt quốc, Việt cách cấu kết với bọn phản cách mạng, lôi kéo, lũng đoạn những người kém giác ngộ, xây dựng cơ sở phản động, chống đối chính quyền
ta, tổ chức bắt cóc cán bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân, vừa để tống tiền, vừa hãm hại, gây rối loạn, đòi đưa bọn tay sai vào chính quyền tỉnh
Tại Nghệ An, Hà Tĩnh và một số nơi khác, hơn một vạn quân Trung Hoa dân Quốc do Khâu Bỉnh Thương chỉ huy, rải quân chiếm đóng nhiều nơi ở Vinh, cầu Cấm, cầu Yên Xuân, cửa Rào, Mường Xén (Nghệ An), Đức Thọ (Hà Tĩnh), kiểm soát nhiều tuyến giao thông quan trọng Chúng đòi chính quyền các tỉnh dành những nơi trọng yếu làm chỗ đóng quân, như đòi đặt sở chỉ huy tại Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, đòi đóng quân tại Trường Nguyễn Công Trứ (Vinh), xúi giục thành lập Trường Trung học Hoa Kiều, lập tổ chức vũ trang trá hình trong trường học Chúng còn lạm quyền gây quỹ, in bạc giả, kích động một số học sinh và quần chúng biểu tình, chống chính quyền Riêng ở xã Trường Sơn (Đức Thọ, Hà Tĩnh), chúng xúi giục bao vây trụ sở Ủy ban nhân dân, đòi giải quyết những yêu sách phi lý
23 Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954, tập 1, Nxb QĐNDVN, HN, 1994, tr.40-41
Trang 30Ở Quảng Trị, chúng kích động bọn Việt quốc chống phá chính quyền, ức hiếp, đánh đập nhân dân Chúng cấm lực lượng vũ trang ta làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự, an ninh; đòi phải nộp vũ khí cho chúng Sư đoàn quân Tưởng ở Nghệ
An, Hà Tĩnh cũng như trung đoàn đóng ở Đồng Hới, Đông Hà, Huế đều là đội quân ô hợp, đi tới đâu, quấy nhiễu nhân dân tới đó Trung Hoa dân Quốc còn tìm cách mặc cả với Pháp về việc để Pháp thế chân sau khi quân Tưởng rút về nước, dẫn đến ký kết Hiệp ước Hoa - Pháp tại Trùng Khánh ngày 28/2/1946
Đến ngày 31/3/1946, quân Tưởng vẫn chưa chịu rút hết về nước theo quy định tại Hiệp định Hoa - Pháp Chúng cố tình gây ra những vụ xung đột giữa ta
và Pháp như bắt cóc, ám sát binh lính và thường dân Pháp để có cớ kéo dài thời gian đóng quân Cuộc tổng triệt thoái quân Trung Hoa dân Quốc bắt đầu từ tháng 5 nhưng mãi tới ngày 18/9/1946 thì đơn vị cuối cùng của Tưởng mới rút khỏi Hải Phòng, chấm dứt thời kỳ “Hoa quân nhập Việt” Dân tộc ta bớt một kẻ thù ngoại xâm nguy hiểm, tập trung tiêu diệt bọn tay sai, nội phản để rảnh tay đối phó với thực dân Pháp
2.2 Sự giúp đỡ của Trung hoa Dân quốc đối với các đảng phái thân Trung Hoa dân Quốc
2.2.1 Với Việt Nam Quốc dân Đảng
Ngày 20/10/1945 sau nhiều lần bị ngăn cản tại Trung Quốc, Vũ Hồng Khanh người đứng đầu Việt Quốc về đến Hà Nội
Tại Hà Nội, Việt Nam Quốc dân Đảng ra tuần báo Chính nghĩa và nhật báo Việt Nam Trong thời này, Việt Nam Quốc dân Đảng cũng phải chịu sức giữa thực dân Pháp và Việt Nam
Ngày 19 tháng 11 năm 1945, một cuộc hòa giải do tướng Tiêu Văn đứng
ra giữa Việt Minh, Việt Quốc, Việt Cách Sau một thời gian bàn bạc, cả ba bên thống nhất giải quyết trong hòa bình, ngừng bắn ở tất cả các nơi xảy ra giao
Trang 31tranh và ngừng công kích nhau trên báo chí Bản "Đoàn kết tinh thần" được cả
ba bên kí vào ngày 24- 11
“Việt Quốc đòi giữ các Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Quốc phòng, Bộ Giáo
dục, Bộ Thanh niên, đòi chiếm giữ 1/3 ghế trong Quốc hội và Việt Minh cũng chỉ được 1/3 số ghế”.24
Và sau đó Việt Nam Quốc dân Đảng giành được 50 ghế trong Quốc hội
mà không cần thông qua bầu cử và một người được bầu làm Thứ trưởng nhưng
“thực chất chỉ là sự nhân nhượng về chính trị của Đảng, chính phủ và Việt Minh
nhằm hạn chế sự phá hoại của quân Tưởng và tay sai”.25
Nghiêm Kế Tổ, Nguyễn Trường Tam về Việt Nam từ Trung Khánh vào ngày 20/1/1946 và đàm phán về tình hình nếu Trung Hoa Dân Quốc rút quân về nước gây lên tình hình căng thẳng trong nội bộ Việt Quốc
Hội nghị giữa các đảng phái Việt Minh, Việt Quốc, Việt Cách, Đảng Dân chủ đã thống nhất về việc thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến dưới sự chủ trì của tướng Tiêu Văn – tại Đại sứ quán Trung Hoa vào ngày 24/2/1946
Tướng Vương của Trung Hoa Dân quốc ở Phú Thọ làm trung gian để Việt Minh và Việt Quốc thảo luận nhưng không thành khi hai bên tiếp tục đấu súng, bắt cóc con tin khiến giao thương bị đình trệ nhưng không bên nào lắng nghe các bậc cao niên ở đại phương Cuối cùng tướng Vương buộc phải ép hai bên ngừng bắn nhưng cuộc ngừng bắn chỉ kéo dài được bốn tháng
2.2.2 Với Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội
Tướng Trương Phát Khuê, tư lệnh quân khu IV (Quảng Đông - Quảng Tây) đã công nhận và ủng hộ các đảng phải chống Pháp và thân Trung Hoa dân Quốc trong đó có Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội Nguyễn Hải Thần lãnh đạo của Việt Cách (người được kính trọng vì từng là đồng chí của Phan Bội
24 Lê Mậu Hãn, Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư Đại cương lịch sử Việt Nam tập III, Nxb GDVN, tr 16
25 Lê Mậu Hãn, Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư Đại cương lịch sử Việt Nam tập III, Nxb GDVN, tr 38
Trang 32Châu) được tướng Tiêu Văn ủng hộ đã sát cánh với quân Trung Hoa dân Quốc
và vượt biên giới tấn công quân đội Nhật sau khi tâp hợp người Việt lưu vong ở Trung Quốc Nhưng sau khi Nhật đầu hàng quân Đông Minh, thì Lư Hán lại được Tưởng giao cho nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật chứ không phải là Tiêu Văn Lư Hán lại không có quan hệ với Việt Cách nhưng vẫn chấp nhận cho Nguyễn Hải Thần gia nhập đội quân để tiến vào giải giáp quân Nhật
Võ Nguyên Giáp nhận định “mục đích chủ yếu của Việt Cách, Việt Quốc
khi theo chân quân đội Tung Hoa dân Quốc tiến vào nước ta đó chính là tạo dựng cơ sở cho quân Tưởng”26, mở đường hạn chế chướng ngại vật, gây xung đột và cướp chính quyền của ta Ngày 11 tháng 5, có 4 Lữ đoàn quân Việt Quốc, Việt Cách vượt biên giới tiến vào nước ta, nhưng 3 trong 4 cánh quân này sau khi giao chiến với Việt Minh đã đầu hàng hạ vũ khí, tự giải giáp hoặc gia nhập lực lượng quân đội quốc gia của Việt Minh, còn một cánh quân thì chạy về Hải Ninh rồi sau đó bị tiêu diệt
Chính phủ Quốc gia lâm thời Việt Nam do Việt Cách thành lập
và Nguyễn Hải Thần đứng đầu đã thành lập tại Móng Cái vào ngày 1/9/1945 Và thông báo rằng quân Trung Hoa dân Quốc đã công nhận và cờ của Đảng này đại diện cho tất cả cờ của các tổ chức cách mạng trong nước
“Ngày 18 tháng 9 năm 1945, Việt Minh họp bí mật với Việt Cách (ngày 18/9/1945) Trong cuộc họp này, Nguyễn Hải Thần đại diện Việt Cách đề nghị
Hồ Chí Minh đồng ý hợp nhất Việt Minh với Việt Cách và Việt Quốc Qua đó, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Việt Minh lãnh đạo sẽ nhận được sự ủng hộ về tài chính và chính trị của Trung Hoa Dân quốc Võ Nguyên Giáp dứt khoát không đồng ý Theo ông, những đề nghị đó không có giá trị và không thật thà, nó chẳng khác gì thay thế chủ nghĩa thực dân Pháp bằng ách thống trị của
26 Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên, Nhà xuất bản Trẻ, 2009 Trang 33, 34, 35, 36
Trang 33Trung Quốc, nhân dân sẽ "chẳng bao giờ chịu bán rẻ sự nghiệp chính nghĩa của
họ để đổi lấy đô la Trung Quốc".27
Ngày 20/8/1945, quân đội Trung Hoa Dân quốc tiến vào Việt Nam theo sau là Việt Cách Ngày 30/9/1945, việc loại bỏ Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đàn áp Đảng Cộng sản Đông Dương đã được Nguyễn Hải Thần đích thân gặp tướng Tiêu Văn, nhưng tướng Tiêu Văn không đồng ý với quyết định đó Sau khi ký bản cam kết với Việt Minh, Nguyễn Hải Thần công khai bác bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương tại Việt Nam Tiếp sau đó là rất nhiều vụ đụng độ giữa Việt Cách và Việt Minh xảy ra Các chỉ huy quân đội Trung Hoa dân Quốc cảm thấy bất lực và tướng Tiêu Văn buộc phải gây sức ép cho cả hai bên và buộc Việt Quốc, Việt Cách phải tham gia thành lập chính phủ liên hiệp
“Ngày 1 tháng 1 năm 1946 Chính phủ Liên hiệp Lâm thời được thành lập
thay thế Chính phủ Cách mạng Lâm thời với sự tham gia của hai đảng phái đối lập Việt Cách và Việt Quốc” 28
Võ Nguyên Giáp nhận định “các đảng phái này lo sợ thất bại trước sức
ủng hộ lớn của cử tri với mặt trận Việt Minh nên tìm cách chỉ trích và không tham gia bầu cử”.29
Ngày 24 tháng 2 năm 1946, tại Đại sứ quán Trung Hoa, dưới sự chủ trì của tướng Tiêu Văn, Hội nghị các đảng phải Việt Cách, Việt Quốc, Việt Minh
đã họp tại Đại sứ quán Trung Hoa vào ngày 24/2/1946 đã thống nhất việc thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến
Như vậy chúng ta có thể thấy được quân Trung Hoa dân Quốc mang danh nghĩa là vào giải giáp quân đôi Nhật nhưng thực chất lại muốn lật đổ chính quyền của Việt Minh Trên đường tiến vào Việt Nam, theo chân quân Trung Hoa dân Quốc còn có cả những đảng phái như Việt Quốc, Việt Cách Dưới sự
27 Patti L.A Tại sao Việt Nam? NXB Đà Nẵng, 2008. sđd tr 544-545.
28 Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên, Nhà xuất bản Trẻ, 2009 Trang 33
29 Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên, Nhà xuất bản Trẻ, 2009 Trang 99
Trang 34ủng hộ ngầm của quân Trung Hoa dân Quốc, Việt Quốc, Việt Cách đã có những hành động hết sức manh động, làm ảnh hưởng tới khối đại đoàn kết dân tộc trong lúc cả dân tộc phải đồng lòng, thống nhất để vượt qua giai đoạn “ngàn cân treo sợi tóc”
Trên đường di chuyển, quân Trung Hoa dân Quốc có những hành động quân sự gây hoang mang và dẫn đến kích động quân và dân ta như ở Thanh Hóa, Hải Phòng, quân Trung Hoa dân Quốc cấm các lực lượng Cách mạng mang vũ trang để dễ đàn áp Chúng bắt Chính phủ ta phải cấp lương thực cho quân Trung Hoa dân Quốc đóng quân tại các địa bàn, dùng tiền Quan kim làm lũng loạn thị trường gây ra hậu quả hết sức nặng nề đối với Chính quyền của ta
Quân Trung Hoa dân Quốc gây sức ép khiến Chính phủ ta phải nhường những ghế bộ trưởng, các ghế trong Quốc hội cho Việt Quốc, Việt Cách dù Đảng Cộng sản biết Việt Quốc và Việt Cách sẽ không hợp tác mà mục đích của chúng là muốn cướp Chính quyền từ tay Đảng Cộng sản
Không những vậy, quân Trung Hoa dân Quốc còn vì lợi ích quốc gia đã đem lại nhường quyền giải giáp quân Nhật ở miền Bắc cho Pháp dù chúng biết Pháp luôn có ý đồ xâm chiếm lại Đông Dương một lần nữa Trung Hoa dân Quốc kí với Pháp hiệp ước Hoa- Pháp 28-2-1946 đã đẩy Việt Nam và Cách mạng Việt Nam vào tình thế phải chiến đấu với kẻ thù hùng mạnh dù lúc đó Chính phủ của ta vừa mới thành lập, chưa đủ sức và lực để đương đầu với một
đế quốc hùng mạnh như Pháp
2.3 Ảnh hưởng của Cách mạng Trung Quốc do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo đối với cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam trước khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời (1-10-1949)
Trang 352.3.1 Sự quan hệ, hợp tác và giúp đỡ của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với Đảng Cộng sản Việt Nam đến trước ngày 1-10 1949
Cách mạng Việt Nam và những người yêu nước Việt Nam đã có mối quan
hệ từ rất sớm với cách mạng Trung Quốc và những người cộng sản Trung Quốc Ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX, thành phố Quảng Châu đã là nơi lánh nạn, đứng chân và hoạt động của những người yêu nước Việt Nam như Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Phạm Hồng Thái, Lâm Đức Thụ, Phùng
Chí Kiên v.v “Đặc biệt là Nguyễn Ái Quốc đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của
nhân dân, cán bộ Cách mạng Trung Quốc trong suốt chặng đường hoạt động của mình30”
Quảng Châu, Hương Cảng, Thượng Hải, Ma Cao, Côn Minh, Quảng Tây là những nơi thành lập, đặt trụ sở của những tổ chức cách mạng ban đầu của Việt Nam như Tâm Tâm xã (1923), Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (6-1925), nơi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 2-1930); nơi đứng chân của Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng (4-1934); nơi tổ chức Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ nhất (3-1935); là nơi giác ngộ, huấn luyện, đào tạo cán
bộ cách mạng Việt Nam (do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp mở)
Trường Quân sự Hoàng Phố là nơi có nhiều thanh niên yêu nước Việt Nam theo học; là nơi in ấn các tài liệu cách mạng để đưa về nước (tác
phẩm Đường Cách mệnh, báo Thanh niên ) Những chuẩn bị về lý luận, tư
tưởng, tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản và cách mạng Việt Nam đã diễn ra trên đất Trung Quốc
Bởi thế, những người yêu nước, cộng sản Việt Nam hoạt động trên đất Trung Quốc cũng góp công, góp sức với phong trào cách mạng nơi đây:
“Nguyễn Ái Quốc tham gia cuộc Tổng bãi công Hương Cảng - Quảng Châu;
30 Lý luận chính trị Sự giúp đỡ của Việt Nam đối với cách mạng Trung Quốc những năm 1946-1949 Xuất bản
ngày 29/8/2018 Truy cập ngày 20-12-2020
Trang 36hơn 30 thanh niên Việt Nam đang học ở Trường Quân sự Hoàng Phố tham gia cuộc khởi nghĩa Quảng Châu (12-1927); Lưỡng quốc tướng quân Nguyễn Sơn
đã đi cùng Hồng quân Trung Quốc trong cuộc “Vạn lý trường chinh” lịch sử; Đảng Cộng sản Đông Dương (đổi tên từ tháng 10-1930) phát truyền đơn, kêu gọi quần chúng đấu tranh chống can thiệp vũ trang và bảo vệ các Xô viết Tàu khi thực dân Pháp điều động quân đội đàn áp cuộc khởi nghĩa ở Tĩnh Tây (3- 1935); đầu năm 1939, Việt Nam đã tổ chức một hội chợ lớn để giúp đỡ các nạn nhân chiến tranh của Trung Quốc; nhiệt thành ủng hộ Trung Quốc kháng chiến chống Nhật (tẩy chay hàng Nhật)31” Những ví dụ trên minh chứng tinh thần quốc tế vô sản, tình đồng chí, anh em và ý thức giúp bạn cũng là tự giúp mình của Việt Nam đối với cách mạng Trung Quốc
Với truyền thống tương thân tương ái, chính vì lẽ đó khi Cách mang Trung Quốc cần sự giúp đỡ của Việt Nam thì phía Việt Nam luôn sẵn lòng giúp
đỡ Trung Quốc về vật chất, tinh thần, nhân lực và góp phần không nhỏ vào thắng lợi của Cách mạng Trung Quốc
“Ngay khi đất nước còn ở thế “ngàn cân treo sợi tóc”, khó khăn mọi bề,
từ nửa đầu năm 1946, Việt Nam đã giúp bố trí ăn, ở cho 600 người nguyên là đội du kích kháng Nhật - Trung đoàn 1 cũ, do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo, bị quân Quốc dân Đảng Trung Hoa của Tưởng Giới Thạch truy kích, phải chạy sang Việt Nam, sau đó trở về Trung Quốc hoạt động ở khu Điền - Quế - Kiềm (Vân Nam - Quảng Tây - Quý Châu) Tháng 2-1946, tại Việt Nam, Ủy ban công tác biên giới lâm thời Quế - Việt của Đảng Cộng sản Trung Quốc được thành lập Tháng 12-1946, Ủy ban Quế - Việt triệu tập hội nghị ở Cao Bằng (Việt Nam) nghiên cứu vấn đề đấu tranh vũ trang và quyết định đổi tên thành Ủy ban công tác Tả Giang Tháng 3-1947, Ủy ban công tác Tả Giang họp bàn về bạo động vũ trang Tháng 7-1947, tổ chức khởi nghĩa vũ trang ở một số địa
31 Lý luận chính trị Sự giúp đỡ của Việt Nam đối với cách mạng Trung Quốc những năm 1946-1949 Xuất bản
ngày 29/8/2018 Truy cập ngày 20-12-2020
Trang 37phương dọc biên giới Việt - Trung (Ái Điếm - Ninh Minh, Hạ Đống - Long Châu, Bình Mạnh - Na Pha)” 32 Ngoài ra, tổ chức Đảng Cộng sản Trung Quốc ở khu vực biên giới Quảng Tây còn mở các lớp huấn luyện bồi dưỡng cán bộ cách mạng và quần chúng người Trung Quốc ở bên đất Việt Nam
Một đường dây liên lạc đã được nối giữa hai Đảng Cộng sản vào năm
1947 do chính Hồ Chủ tịch và ông Chu Ân Lai phụ trách
“Tháng 6-1947, Việt Nam đã tổ chức, sắp xếp, giúp đỡ cho hơn 1000
người dân địa phương, bộ đội vùng Xuân Tú - Long Châu bị quân Quốc dân Đảng càn quét, sơ tán sang và lưu lại gần 4 tháng”33
Đầu năm 1948, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cử đại diện sang Việt Bắc bàn với đại diện Đảng Cộng sản Đông Dương việc phối hợp chiến đấu và giúp
đỡ lực lượng vũ trang Trung Quốc hoạt động ở biên giới Việt - Trung
Ngày 7-4-1948, đồng chí Châu Trang, Tư lệnh Biên khu Điền Quế, gửi điện đến Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam đề nghị bộ đội biên phòng của Việt Nam phối hợp tác chiến và giúp đỡ lương thực cho Biên khu Điền Quế Bức điện khẳng định: “Bộ đội của chúng tôi ở Việt Nam về nước
đã được 5 tháng, chiến đấu mấy chục trận đều đạt thắng lợi ”; nêu rõ tình hình quân Tưởng - Pháp tấn công khiến hai khu Trấn Biên, Tĩnh Tây gặp khó khăn
Một bộ phận quân đội và cơ quan hậu phương tạm thời sang đứng chân bên đất Việt Nam; đề đạt nguyên tắc “triệt để hợp tác về tất cả mọi phương diện
để nhờ vả, giúp đỡ lẫn nhau ”; yêu cầu Việt Nam giúp đỡ “Tổ chức và biên chế
bộ đội vũ trang tức là trung đoàn Bắc Giang và đội vũ công biên phòng chịu sự lãnh đạo của Chính phủ Việt Nam để có lực lượng chiến đấu Tổ chức đội biên
32 Lý luận chính trị Sự giúp đỡ của Việt Nam đối với cách mạng Trung Quốc những năm 1946-1949 Xuất bản
ngày 29/8/2018 Truy cập ngày 20-12-2020
33Lý luận chính trị Sự giúp đỡ của Việt Nam đối với cách mạng Trung Quốc những năm 1946-1949 Xuất bản
ngày 29/8/2018 Truy cập ngày 20-12-2020
Trang 38phòng biên giới để phối hợp tác chiến Giúp đỡ chúng tôi về kinh tế, lương thực34”
gửi thư tới Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương: “Ở
đây, Biên khu ủy Điền Quế chúng tôi đại diện toàn Đảng và nhân dân Biên khu kính gửi lời cảm tạ thành thực với Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và những đồng chí địa phương tinh thần quốc tế rất cao cả đã từng giúp đỡ cho cuộc đấu tranh của biên khu chúng tôi về tinh thần và vật chất”35
Ngày 13-7-1948, đồng chí Trần Minh ở Ủy ban công tác Trung ương thuộc Biên khu Việt Quế của Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng gửi thư tới Trung ương Đảng Việt Nam trao đổi tình hình và đề nghị được giúp đỡ, tránh bị
cô lập, theo hướng Việt Nam điều động trung đoàn độc lập sang giúp mở rộng hoạt động ở Minh Giang, Tư Nhạc, Thương Tư Trung đoàn Nam Long (Việt Nam) phối hợp với bộ đội của Phòng Thành (Trung Quốc) mở rộng địa khu từ Bình Liêu đến Móng Cái
2.3.2 Sự hợp tác quân sự của hai Đảng Cộng Sản trong chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn.
Vào đầu năm 1949, Đảng Cộng sản Trung Quốc đang dành ưu thế so với Quốc dân Đảng của Tưởng Giới Thạch Tuy nhiên ở vùng Hoa Nam, lực lượng Quốc dân Đảng vẫn đang khá mạnh ở khu vực Hoa Nam làm cho việc phát triển
cơ sở cách mạng gặp khó khăn Việc xây dựng cơ sở chính trị và vũ trang mạnh
ở Hoa Nam chính là yêu cầu cấp bách nhất đối với Đảng cộng sản Trung Hoa để chờ đại quân tiến đến sau này
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, TL số 1760, tr.3-4, 3-4
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, TL số 1760, tr.3-4, 3-4.
Trang 39Để hoàn thành yêu cầu đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc cử người sang gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam để xin sự giúp
đỡ Sau khi cân nhắc kĩ lưỡng hơn và cảm thấy Cách mạng Trung Quốc thành công sẽ có lợi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và đánh Pháp của Việt Nam, chính vì vậy, Đảng và Bộ chính trị đã đồng ý mang quân sang giúp đỡ Trung Quốc đánh quân Tưởng
Trong hồi ký Chiến đấu trong vòng vây, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết:
“Tháng 4/1949, lãnh đạo phong trào du kích ở Quảng Tây giáp biên giới Đông Bắc nước ta đề nghị Quân đội Việt Nam phối hợp chiến đấu, giúp đỡ đánh quân Tưởng để Giải phóng khu Ung-Long-Khâm Sau khi có sự đồng ý của Trung ương, ngày 23/4/1949, Bộ Tổng tư lệnh ra mệnh lệnh giao nhiệm vụ cho Bộ tư lệnh Liên khu 1 “giúp Quân giải phóng Nhân dân xây dựng một khu giải phóng
ở vùng Ung-Long-Khâm liền với biên giới Đông Bắc của ta đồng thời hoạt động
ở Đông Bắc để mở rộng khu tự do Đông Bắc ra tận biên giới và thông ra biển, liền với khu giải phóng Việt Quế của bạn”.36
Đêm 12/5 ở mặt trận phía tây Thập Vạn Đại Sơn, bộ đội Việt Nam vượt biên giới hướng về đồn Thủy Khẩu – một vị trí đối diện với Phục Hòa (Cao Bằng) của ta
“Lực lượng quân ta gồm tiểu đoàn 73 thuộc trung đoàn 74, tiểu đoàn 35
của Bộ điều đến, 1 đại đội pháo 75mm, 1 đại đội trợ chiến cùng 2 đại đội địa phương của huyện Văn Uyên và Thoát Lãng Trong khi đại bộ phận lực lượng
36 Báo Tri thức & Cuộc sống Giải mật chuyện Việt Nam đưa quân sang giúp đỡ Trung Quốc Xuất bản ngày
26/6/2013.Truy cập ngày 23-12-2020
Trang 40bao vây đồn Thủy Khẩu, chỉ huy quân ta lại cho 1 đại đội tiến sâu vào lòng địch, chiếm núi Độc Sơn để ngăn địch rút về Long Châu.”37
Cán bộ và chiến sĩ Việt Nam được phát mỗi người một tấm quân hiệu bằng vải màu vàng in chữ Trung Quốc màu đỏ “Trung Quốc Nhân dân Giải phóng quân-35 D” cài trên ngực áo
“Tướng Lê Quảng Ba, phó tư lệnh Liên khu 1 làm tư lệnh chiến dịch, Trần
Minh Giang – cán bộ Trung Quốc làm chính trị viên nhận nhiệm vụ thành lập một bộ chỉ huy trung mang tên Bộ chỉ huy chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn Quân Tưởng ở hai phía Đông và Tây dãy Thập Vạn Đại Sơn nên chiến dịch sẽ chia làm hai hướng đánh quân Tưởng ở phía Đông và Tây dãy Thập Vạn Đại Sơn, mặt trận phía Tây sẽ đánh trước, còn mặt trận phía Đông sẽ đánh sau.”38
Đại tướng Chu Huy Mân, khi đó là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 74, Phó tư lệnh mặt trận phía tây Thập Vạn Đại Sơn kể lại trong hồi ký Thời sôi
động về diễn biến trận đánh đồn Thủy Khẩu: “Sáng hôm sau mưa tạnh, chúng
tôi ra lệnh tấn công Thủy Khẩu bằng những loạt đạn pháo 75mm Tiểu đoàn 73 vác cờ búa liềm tiến sát đồn cùng những tiếng hô vang dội Quân Tưởng dùng chiến thuật “quân dã ngoại giữ thành” của Nhật để đối phó Chúng cho quân ra ngoài chỉ để một bộ phận trong đồn bắn tỉa Nhưng quân dã ngoại bị ta bao vây
đã không dám nổ súng mà phải nằm rạp trườn đi từng thước trên mặt đất rồi tháo chạy về Long Châu Chúng tôi ra lệnh cho bộ đội truy kích”