MỞ ĐẦU Trong quá trình soạn thảo để ban hành ra một văn bản quy phạm pháp luật sẽ có những trường hợp mắc lỗi trong văn bản, những lỗi đó dù nhỏ nhưng cũng có thể gây ra hậu quả khó lường trong thực tiễn áp dụng. Thẩm tra, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật là một trong những thủ tục quan trọng của việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để hạn chế đến mức thấp nhất những sai sót đó, đồng thời hoàn thiện hơn nữa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Bởi là một khâu quan trọng nên trách nhiệm của những chủ thể thực hiện công việc thẩm tra, thẩm định càng trở nên quan trọng hơn nữa. Để hiểu hơn về vấn đề này, em xin chọn vấn đề: Điều 7 dự thảo Quyết định số 152020QĐTTg ngày 2442020 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid (điều kiện hỗ trợ người lao động không có giao kết hợp đồng lao động bị mất việc làm.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 2
1 Chủ thể thẩm định thẩm tra 2
1.1 Thẩm định 2
1.2 Thẩm tra 2
2 Tình khả thi của quy định thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid (điều kiện hỗ trợ người lao động không có giao kết hợp đồng lao động bị mất việc làm) 3
KẾT LUẬN 5
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 6
Trang 2MỞ ĐẦU
Trong quá trình soạn thảo để ban hành ra một văn bản quy phạm pháp luật sẽ có những trường hợp mắc lỗi trong văn bản, những lỗi đó dù nhỏ nhưng cũng có thể gây ra hậu quả khó lường trong thực tiễn áp dụng Thẩm tra, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật là một trong những thủ tục quan trọng của việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để hạn chế đến mức thấp nhất những sai sót đó, đồng thời hoàn thiện hơn nữa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Bởi
là một khâu quan trọng nên trách nhiệm của những chủ thể thực hiện công việc thẩm tra, thẩm định càng trở nên quan trọng hơn nữa Để hiểu hơn về vấn đề
này, em xin chọn vấn đề: "Điều 7 dự thảo Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg ngày
24/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện các chính sách
hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid (điều kiện hỗ trợ người lao động không có giao kết hợp đồng lao động bị mất việc làm"
Trang 3NỘI DUNG
1 Chủ thể thẩm định thẩm tra
1.1 Thẩm định
Theo Điều 1, Quy chế thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/2007/QĐ-TTG ngày 10/1/2007 của
Thủ tướng Chính phủ: “Thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
là hoạt động xem xét, đánh giá về nội dung và hình thức của dự án, dự thảo nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của dự án, dự thảo trong hệ thống pháp luật”
Khoản 1 Điều 98 Luật xây dựng văn bản hợp nhất 2020 quy định về
thẩm định dự thảo quyết định của Thủ tướng chính phủ quy định: "Bộ Tư pháp có
trách nhiệm thẩm định dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ trước khi trình Thủ tướng Chính phủ Đối với dự thảo quyết định có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực hoặc do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành lập hội đồng thẩm định, bao gồm đại diện các
cơ quan, tổ chức có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học"
Như vậy, thẩm quyền thẩm định Điều 7 dự thảo Quyết định số 15/2020/ QĐ-TTg ngày 24/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid (điều kiện hỗ trợ người lao động không có giao kết hợp đồng lao động bị mất việc làm là Bộ
tư pháp
1.2 Thẩm tra
Theo quy định của Luật xây dựng VNPL hợp nhất 2020 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật này, thì không phải tất cả văn bản QPPL đều phải xây dựng chính sách trước khi soạn thảo, mà chỉ được tiến hành đối với một số văn bản: luật; pháp lệnh; nghị quyết của Quốc hội; nghị quyết của UBTVQH; nghị định của Chính phủ; nghị quyết
Trang 4của Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh Bên cạnh đó, rà soát tất cả quy định
về thẩm tra chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản QPPL nói chung của Luật 2015 thì chỉ được ghi nhận duy nhất tại Điều 47 về thẩm tra đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh Điều này có nghĩa, trong số các văn bản phải xây dựng chính sách, Luật 2015 chỉ quy định thẩm tra chính sách đối với luật và pháp lệnh
Như vậy, Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg ngày 24/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid (điều kiện hỗ trợ người lao động không có giao kết hợp đồng lao động bị mất việc làm" không thuộc trường hợp phải thẩm tra
2 Tình khả thi của quy định thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid (điều kiện hỗ trợ người lao động không
có giao kết hợp đồng lao động bị mất việc làm)
Điều 7 dự thảo quy định về điều kiện hỗ trợ như sau:
1 Người lao động không có giao kết hợp đồng lao động bị mất việc làm được hỗ trợ khi có đủ các điều kiện sau:
a) Mất việc làm và có thu nhập thấp hơn mức chuẩn cận nghèo quy định tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ, trong thời gian từ ngày 01 tháng 4 năm 2020 đến ngày 30 tháng 6 năm 2020;
b) Cư trú hợp pháp tại địa phương;
c) Thuộc lĩnh vực phi nông nghiệp, làm một trong những công việc sau: bán hàng rong, buôn bán nhỏ lẻ không có địa điểm cố định; thu gom rác, phế liệu; bốc vác, vận chuyển hàng hóa; lái xe mô tô 2 bánh chở khách, xe xích lô chở khách; bán lẻ xổ số lưu động; tự làm hoặc làm việc tại các hộ kinh doanh trong lĩnh vực ăn uống, lưu trú, du lịch, chăm sóc sức khỏe
Trang 52 Căn cứ vào điều kiện và tình hình thực tế, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định các đối tượng được hỗ trợ khác ngoài các đối tượng quy định tại khoản
1 Điều này từ nguồn ngân sách địa phương và các nguồn huy động hợp pháp khác 3 Nguồn kinh phí hỗ trợ người bán lẻ xổ số lưu động được bảo đảm từ các nguồn tài chính hợp pháp của các công ty xổ số kiến thiết và được hạch toán vào chi phí theo hướng dẫn của Bộ Tài chính
Dịch bệnh Covid-19 đã ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường lao động và đời sống việc làm của hàng triệu NLĐ trên cả nước Theo công bố của Tổng cục Thống kê về tình hình lao động việc làm quý I và 4 tháng đầu năm 2020, dịch Covid-19 xuất hiện từ cuối tháng 1 đã gây tác động lớn đến tình hình sản xuất, kinh doanh và việc làm của NLĐ dẫn đến tình trạng tham gia thị trường lao động giảm, thất nghiệp và thiếu việc làm tăng lên Theo đó, đối tượng được hỗ trợ như người lao động không có giao kết hợp đồng lao động (lao động tự do), đa phần
là lao động không được đào tạo chuyên môn kỹ thuật, làm việc thuộc khu vực kinh tế phi chính thức, có việc làm bấp bênh, thiếu ổn định, thu nhập thấp, thời gian làm việc dài, thường không được chi trả các chế độ phụ cấp và các khoản đảm bảo an sinh xã hội; Người lao động tự do bị giảm sâu thu nhập, mất, thiếu việc làm, gặp khó khăn, không đảm bảo mức sống tối thiểu, chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid – 19 Việc lựa chọn đối tượng lao động tự do (không có hợp đồng lao động) bị mất việc làm vào các nhóm đối tượng được nhận hỗ trợ là hoàn toàn hợp lý Bởi đây là những lao động bị tổn thương nặng nề do dịch COVID-19 gây
ra Tuy vậy, việc xác định đối tượng nào thuộc nhóm này được nhận hỗ trợ sẽ khá khó khăn Hiện nay cũng chưa có hướng dẫn cụ thể là lao động tự do ở ngành nghề, lĩnh vực nào sẽ được hỗ trợ nên rất mong Chính phủ cũng như các
Trang 6địa phương sẽ sớm đưa ra hướng dẫn để nhóm đối tượng này sớm được nhận tiền, ổn định cuộc sống
Tính đến giữa tháng 4-2020, có gần 5 triệu lao động bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 và khoảng 84.8% doanh nghiệp được khảo sát cho biết gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19 Quy định về điều kiện hỗ trợ theo Quyết định số 15 của Thủ tướng Chính phủ giới hạn về thời gian mất việc, tạm hoãn hợp đồng lao động hoặc nghỉ việc không hưởng lương, chấm dứt hợp đồng lao động từ 1/4 đến 15/6 hoặc 30/6/2020, nên đối tượng người lao động mất việc làm trước thời điểm 1/4/2020 không đủ điều kiện nhận hỗ trợ Điều này cũng là thiệt thòi cho bộ phận người lao động làm việc trong lĩnh vực du lịch, dịch vụ đã
bị mất việc từ tháng 2 và tháng 3/2020
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), hiện có gần 18 triệu lao động Việt Nam làm các công việc phi chính thức (còn gọi là lao động tự do) Nhóm lao động này thường có đặc điểm là không có hợp đồng lao động, việc làm bấp bênh và thiếu ổn định, thu nhập thấp trong khi thời gian làm việc dài Việc mất việc làm do đại dịch Covid-19 đồng nghĩa với việc mất thu nhập mà không có khả năng được hưởng trợ cấp thất nghiệp Đây được xem là “phao cứu sinh” kịp thời giúp hàng triệu lao động vượt qua khó khăn bởi dịch bệnh
Hơn nữa, trong quá trình thẩm định, việc xác định các đối tượng cụ thể thuộc nhóm đối tượng người lao động không có giao kết hợp đồng lao động còn phát sinh nhiều bất cập như: Việc xác định doanh nghiệp không có doanh thu, hoặc không còn nguồn tài chính để chi trả còn chưa rõ ràng (do Bộ LĐ-TB&XH,
Bộ Tài chính chưa có các hướng dẫn cụ thể, kịp thời) Dẫn đến việc tiếp nhận, thẩm định và phê duyệt hỗ trợ cho nhóm đối tượng người lao động bị chậm so với kế hoạch đề ra
Trang 7KẾT LUẬN
Thẩm tra, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật có vai trò quan trong quá trình xây dựng văn bản.Để công tác thẩm tra, thẩm định đạt hiệu quả cao nhất, đảm bảo phát huy tốt sự quản lí của Nhà nước thì việc quy định trách nhiệm cho các chủ thể thực hiện công tác thẩm tra, thẩm định nhiệm vụ rất quan trọng, có thể coi gần như là trọng tâm của việc xây dựng văn bản pháp luật Hoạt động thẩm định giúp đánh giá toàn diện, đầy đủ các nội dung của dự thảo VBQPPL, góp phần bảo đảm tính khả thi của VBQPPL Thông qua hoạt động thẩm định của cơ quan, người có thẩm quyền giúp đánh giá những mặt được, mặt chưa được của dự thảo, từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng của dự thảo văn bản
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình xây dựng văn bản pháp luật,
Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2015;
2 Bộ Tư pháp, Sổ tay Kỹ thuật soạn thảo, thẩm định, đánh giá tác động
của văn bản quy phạm pháp luật;
3 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015;
4
https://hcmcpv.org.vn/tin-tuc/ho-tro-nguoi-lao-dong-khong-co-giaoket-hop-dong-lao-dong-gap-kho-khan-do-dai-dich-covid-19-1491869146
5 https://baotintuc.vn/tp-ho-chi-minh/hon-27-ty-dong-ho-tro-nguoi-laodong-tu-do-bi-anh-huong-boi-dich-covid19-20201212193034046.htm
Trang 8
BỘ TƯ PHÁP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HỘI ĐỒNG THẨM ĐỊNH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: …/BC-HĐTĐ Hà Nội, ngày tháng năm …
BÁO CÁO
Thẩm định Dự thảo văn bản
Kính gửi:
- Văn phòng Chính phủ;
- Bộ Tư pháp
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 về việc thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, ngày tháng năm , Bộ trưởng Bộ
Tư pháp đã ký Quyết định số /QĐ-BTP thành lập Hội đồng thẩm định dự thảo/dự
án văn bản Điều 7 dự thảo Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg ngày 24/4/2020 của
Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid Hội đồng do ông , Thứ trưởng Bộ Tư
Trang 9pháp làm Chủ tịch; thành viên Hội đồng là các chuyên gia, nhà khoa học công tác tại Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Văn phòng Chính phủ,
Bộ , Bộ , Bộ , Bộ Tư pháp và (các đơn vị có liên quan) Ngày tháng năm , Hội đồng đã tiến hành phiên họp thẩm định với
sự tham gia của 13 trên tổng số 15 thành viên
Sau đây là ý kiến thẩm định của Hội đồng đối với dự án /dự thảo văn
bản
1 MỘT SỐ VẦN ĐỀ CHUNG
1.1 Về sự cần thiết
1.2 Về đối tượng, phạm vi điều chỉnh
1.3 Về sự phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ
1.4 Về tính khả thi
Hội đồng cho rằng, về cơ bản các nội dung của văn bản đều bảo đảm tính khả thi Tuy nhiên, để việc triển khai các quy định của Luật được dễ dàng thuận tiện ngay sau khi ban hành, cơ quan chủ trì soạn thảo cần có sự nghiên cứu, chỉnh lý một số nội dung cho phù hợp Đặc biệt, đối với các nội dung liên quan đến việc ., cơ quan soạn thảo cần tính toán, cân
Trang 10nhắc để bảo đảm cho việc xây dựng các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành cũng như chuẩn bị các điều kiện cần thiết khác như
tổ chức bộ máy, nhân sự
Theo công bố của Tổng cục Thống kê về tình hình lao động việc làm quý
I và 4 tháng đầu năm 2020, dịch Covid-19 xuất hiện từ cuối tháng 1 đã gây tác động lớn đến tình hình sản xuất, kinh doanh và việc làm của NLĐ dẫn đến tình trạng tham gia thị trường lao động giảm, thất nghiệp và thiếu việc làm tăng lên Theo đó, đối tượng được hỗ trợ như người lao động không có giao kết hợp đồng lao động (lao động tự do), đa phần là lao động không được đào tạo chuyên môn
kỹ thuật, làm việc thuộc khu vực kinh tế phi chính thức, có việc làm bấp bênh, thiếu ổn định, thu nhập thấp, thời gian làm việc dài, thường không được chi trả các chế độ phụ cấp và các khoản đảm bảo an sinh xã hội; Người lao động tự do
bị giảm sâu thu nhập, mất, thiếu việc làm, gặp khó khăn, không đảm bảo mức sống tối thiểu, chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid – 19
Việc lựa chọn đối tượng lao động tự do (không có hợp đồng lao động) bị mất việc làm vào các nhóm đối tượng được nhận hỗ trợ là hoàn toàn hợp lý Bởi đây là những lao động bị tổn thương nặng nề do dịch COVID-19 gây ra Tuy vậy, việc xác định đối tượng nào thuộc nhóm này được nhận hỗ trợ sẽ khá khó khăn Hiện nay cũng chưa có hướng dẫn cụ thể là lao động tự do ở ngành nghề, lĩnh vực nào sẽ được hỗ trợ nên rất mong Chính phủ cũng như các địa phương sẽ sớm đưa ra hướng dẫn để nhóm đối tượng này sớm được nhận tiền, ổn định cuộc sống
Hơn nữa, trong quá trình thẩm định, việc xác định các đối tượng cụ thể thuộc nhóm đối tượng người lao động không có giao kết hợp đồng lao động còn phát sinh nhiều bất cập như: Việc xác định doanh nghiệp không có doanh thu, hoặc không còn nguồn tài chính để chi trả còn chưa rõ ràng (do Bộ LĐ-TB&XH,
Trang 11Bộ Tài chính chưa có các hướng dẫn cụ thể, kịp thời) Dẫn đến việc tiếp nhận, thẩm định và phê duyệt hỗ trợ cho nhóm đối tượng người lao động bị chậm so với kế hoạch đề ra
3 KẾT LUẬN
Hội đồng thẩm định thống nhất đồng ý việc trình Chính phủ xem xét, cho ý
kiến về dự thảo /dự án văn bản Điều 7 dự thảo Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg
ngày 24/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid Tuy nhiên, trước khi trình,
đề nghỉ cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu, rà soát, chỉnh lý Tờ trình, dự thảo Luật, Báo cáo đánh giá tác động theo ý kiến của Hội đồng thẩm định và ý kiến đóng góp của các Bộ, ngành Đồng thời bổ sung bản sao ý kiến của các cơ quan, tổ chức; bản tổng hợp nội dung tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài trong Hồ sơ trình dự
án Luật
Trên đây là ý kiến thẩm định của Hội đồng thẩm định đối với dự án/dự thảo
văn bản Điều 7 dự thảo Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg ngày 24/4/2020 của Thủ
tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid, xin gửi Văn phòng Chính phủ và Bộ Tư pháp nghiên
cứu chỉnh lý./
Nơi nhận:
- Như trên,
- Bộ trưởng Bộ Tư pháp (để báo cáo);
- Các thành viên HĐTĐ (để biết); - Lưu:VT,
Vụ TCCB, Vụ PLHSHC, Vụ VĐCXDPL.
TM HỘI ĐỒNG THẨM ĐỊNH
CHỦ TỊCH
(đã ký)
THỨ TRƯỞNG BỘ TƯ PHÁP