ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ: Kiểu bài nghị luận xã hội trong chương trình Ngữ văn trung học cơ sở là mộtđơn vị kiến thức quan trọng góp phần đáp ứng mục tiêu môn học, đồng thời cònđáp ứn
Trang 1CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC
SINH LỚP 9 THI VÀO 10 MÔN NGỮ VĂN.
Tác giả chuyên đề: Đỗ Thị Thanh Huyền
1 Chức vụ: Giáo viên trường THCS Thanh Lãng
2 Tên chuyên đề: Một số kĩ năng viết văn nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống
I ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ:
Kiểu bài nghị luận xã hội trong chương trình Ngữ văn trung học cơ sở là mộtđơn vị kiến thức quan trọng góp phần đáp ứng mục tiêu môn học, đồng thời cònđáp ứng được những vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đang đặt ra Nghị luận xãhội là phưong pháp nghị luận lấy đề tài từ các lĩnh vực xã hội, chính trị, đạo đứclàm nội dung bàn bạc nhằm làm sáng tỏ cái đúng, sai, tốt, xấu của vấn đề đượcnêu ra Từ đó đưa ra một cách hiểu thấu đáo về vấn đề nghị luận cũng như vậndụng nó vào đời sống và bản thân Những đề tài và nội dung này thường lànhững vấn đề có ý nghĩa thiết thực trong cuộc sống, có tính giáo dục và tính thời
sự cao Đối với học sinh, các bài văn nghị luận xã hội thường mang đến cho các
em những suy nghĩ và nhận thức đúng đắn về cuộc sống; đặc biệt là uốn nắnnhận thức cho các em về những vấn đề có tính hai mặt của đời sống xã hội đangtác động trực tiếp đến thế hệ trẻ
Như chúng ta đã biết trong cấu trúc đề thi vào THPT môn Ngữ văn nhữngnăm gần đây đều có câu hỏi, yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức xã hội và đờisống để viết bài nghị luận xã hội hoặc một đoạn văn khoảng 200 từ (hoặc mộttrang giấy thi)
Học sinh phải biết bám sát vào quy định trên để định hướng ôn tập và làm bàithi cho hiệu quả Ở kiểu bài nghị luận xã hội, học sinh phải trình bày những hiểubiết, ý kiến, quan niệm, cách đánh giá, thái độ của mình về các vấn đề xã hội,
từ đó rút ra được bài học (nhận thức và hành động) cho bản thân Để làm tốt,học sinh không chỉ biết vận dụng những thao tác cơ bản của bài văn nghị luận
Trang 2(như giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh, bác bỏ ) mà cònphải biết trang bị cho mình kiến thức về đời sống xã hội
Muốn bài văn nghị luận xã hội có sức thuyết phục thì nhất thiết phải có dẫnchứng thực tế Cần tránh tình trạng hoặc không có dẫn chứng hoặc lạm dụng dẫnchứng mà bỏ qua các bước đi khác của quá trình lập luận
Mặt khác với kiểu bài nghị luận xã hội, học sinh cần làm rõ vấn đề nghị luận,sau đó mới đi vào đánh giá, bình luận, rút ra bài học cho bản thân Thực tế chothấy nhiều học sinh mới chỉ dừng lại ở việc làm rõ vấn đề nghị luận mà coi nhẹkhâu thứ hai, vẫn coi là phần trọng tâm của bài nghị luận Vì những yêu cầu trên
mà việc rèn luyện giúp cho học sinh có kĩ năng làm tốt một bài văn , đoạn vănnghị luận xã hội là một việc làm rất cần thiết
Trong quá trình dạy học, trường THCS Thanh Lãng tôi nhận thấy có những
thuận lợi và khó khăn khi dạy nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống nhưsau :
Về phía giáo viên: Các giáo viên bộ môn Ngữ văn đã chú ý đến mảng nghị
luận xã hội đặc biệt là ở chương trình lớp 9 Nhưng do thời lượng chương trìnhhạn chế nên không có nhiều điều kiện bổ sung kiến thức cũng như rèn luyện kĩnăng viết bài nghị luận xã hội cho học sinh Với thời gian 3 tiết lí thuyết chỉ đủ
để giáo viên giới thiệu khái niệm, kiểu bài, dạng đề và cách làm bài một cáchđơn giản nhất
Về phía học sinh: Thực tế qua giảng dạy ở trường THCS tôi nhận thấy một sốhọc sinh học rất tốt môn Ngữ văn, các em vững kiến thức, thành thạo các bướcviết bài văn , đoạn văn thì bên cạnh vẫn còn một số em còn chậm, tiếp thu kiếnthức còn hạn chế, khi thực hành còn nhầm lẫn giữa các bước, diễn đạt còn lủngcủng Đa phần các em thường hiểu lơ mơ, viết hời hợt, không có những trăn trởsâu sắc, không có cái nhìn toàn diện, đa chiều Đôi khi viết theo tính chất cảmhứng, không nắm vững qui trình làm bài Gặp phải đề lắt léo hay vấn đề nghịluận ẩn sau câu chữ, hình ảnh là không làm được
Trang 3Về phía nhà trường: Nhà trường đã có kế hoạch phụ đạo học sinh yếu - kémnhưng chưa thể giảm hết khó khăn cho cả thầy và trò.
Cụ thể kết quả khảo sát trước khi áp dụng sáng kiến của lớp 9A2 năm học
2019 – 2020 như sau:
Sĩ số học sinh Số HS chưa biết cách làm Số HS biết cách làm
Qua tìm hiểu nguyên nhân tôi nhận thấy rằng do học sinh có một đặc tính
tâm lý là nhanh nhớ nhưng chóng quên Có khi ngay tại lớp các em nhớ cáchlàm bài nhưng sau vài ngày kiểm tra lại các em đã quên gần hết (nếu các emkhông được ôn luyện thường xuyên)
Qua một số bài kiểm tra định kì, mỗi bài một câu nghị luận xã hội chiếmkhoảng 30% bài viết chỉ đủ để các em tiếp cận và làm quen với cách làm bài chứchưa thể đạt đến độ thuần thục, nhuần nhuyễn được
Do học sinh chưa nắm vững các phương pháp, chưa vận dụng kỹ năng viếtbài một cách thành thạo, linh hoạt, sáng tạo vào từng bài tập cụ thể
Đứng trước thực trạng trên, là một giáo viên trực tiếp giảng dạy Ngữ văn, tôi
nhận thấy bên cạnh việc trang bị vốn kiến thức cần thiết cho công tác giảng dạycủa mình thì cũng cần phải thường xuyên nghiên cứu tìm ra phương pháp dạyhọc thích hợp để chất lượng giảng dạy ngày càng được nâng cao nhằm giảm bớt
số lượng học sinh yếu kém, nâng cao số lượng học sinh khá giỏi
Vì vậy, tôi mạnh dạn đưa ra một số kĩ năng nâng cao chất lượng thi vào
lớp 10 : “Một số kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống’’
Trang 4II ĐỐI TƯỢNG
Đối tượng học sinh lớp 9 của trường Trung học cơ sỏ Thanh Lãng nămhọc 2021– 2022
III GIẢI PHÁP ĐỂ THỰC HIỆN
1 Làm công tác tư tưởng cho học sinh (định hướng):
Trước hết giáo viên cần phải dập tắt trong các em quan niệm: Văn nghị luận làloại văn “khô khan” là chưa hợp lý, vì ở bất cứ thể văn nào, khô khan hay hấpdẫn là ở chất lượng Chất lượng một bài văn nghị luận phụ thuộc vào cảm hứng,kiến thức: cách lập luận, dùng từ, câu
Sau là phải có kiến thức: Kiến thức phong phú cũng có nghĩa là mình nắmđược lẽ phải, giúp cho mình đưa ra những luận điểm chắc chắn, giàu sức thuyếtphục Trái lại nếu kiến thức nghèo nàn hay sáo rỗng thì bài văn nhạt nhẽo, nặng
nề, hô khẩu hiệu Khi kiến thức đã phong phú thì các yếu tố kĩ thuật của vănbản, về cơ bản sẽ biết sử dụng một cách tự nhiên Bởi vì một triết gia đã nói
“Cái gì được quan niệm rõ ràng thì diễn đạt sẽ mạch lạc” Việc trau dồi và cẩntrọng trong công tác kĩ thuật thì không bao giờ thừa Luôn luôn phải cân nhắc,sắp xếp cái nào trước, cái nào sau, chọn đi chọn lại từ nào cho chuẩn xác, sinhđộng
2 Củng cố và khắc sâu kiến thức lí thuyết về các viết đoạn văn , bài văn nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống.
Về kiểu bài nghị luận xã hội , muốn làm tốt kiểu bài này trước hết giáo viêncần hướng dẫn và yêu cầu học sinh nắm chắc phần lí thuyết thì mới vận dụng tốttrong khi làm bài , cụ thể là:
* Khái niệm:
Nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sông xã hội là bài nghị ,luận bàn về một sự việc, hiện tượng có ý nghĩa đối với xã hội, đáng khen, đáng chê hay có vấn đề đáng suy nghĩ
Trang 5* Yêu cầu: Yêu cầu của một bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời
sống xã hội:
Về nội dung: Bài văn nghị luận phải nêu rõ được sự việc, hiện tượng có vấnđề; phân tích mặt sai, mặt đúng, mặt lợi, mặt hại của nó, chỉ ra nguyên nhân vàbày tỏ thái độ, ý kiến nhận định của ngưòi viết
Về hình thức: Bài văn nghị luận phải có bố cục chặt chẽ, mạch lạc, có luận điểm rõ ràng, luận cứ xác thực, phép lập luận phù hợp; lòi văn chính xác, sống động
* Đặc điểm bài văn nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống
Gồm có 2 đặc điểm chính mà các bạn cần tập trung phân tích là nội dung và hình thức
Đặc điểm nội dung
1 Nêu rõ sự việc có vấn đề cần nghị luận: Cần tập trung giới thiệu và nêu rõvấn đề chính cần nghị luận
2 Phân tích đúng – sai : Là cách thể hiện sự nhìn nhận, đánh giá của mình
về vấn đề cần nghị luận Phải chỉ ra được những việc đúng – sai, lợi – hại,tiêu cực – tích cực trong hiện tượng đó
3 Chỉ ra nguyên nhân: Khi đã phân tích những điểm đúng – sai về hiện tượng hay sự việc đó thì các bạn cần đưa ra các nguyên nhân và lý giải được đó là nguyên nhân chủ quan hay khách quan tác động
4 Bày tỏ thái độ: Bày tỏ về tư tưởng, ý kiến riêng của chính mình về vấn đề
đó nhưng phải dựa trên cơ sở khách quan là lý lẽ và dẫn chứng phải
thuyết phục được người đọc, người nghe
Đặc điểm về hình thức
1 Bố cục phải mạch lạc: Bài nghị luận phải chia rõ bố cục gồm 3 phần mở bài, thân bài, kết bài và các ý phải sắp xếp theo trình tự hợp lý
Trang 62 Luận điểm rõ ràng, luận cứ xác thực: Luận cứ là những dẫn chứng, lý lẽ
mà mình đưa ra để chứng minh cho luận điểm đó Dẫn chứng phải có tính xác thực hay được trích dẫn từ những nguồn tin đáng tin cậy
3 Lập luận hợp lý: Có thể sử dụng nhiều phương pháp lập luận như chứng minh, so sánh, đánh giá… để tạo được hiệu quả cao nhất
4 Lời văn chính xác, sống động: Lời văn phải chính xác, đanh thép, mạnh
mẽ nhưng văn nghị luận là phải nói lý, nhưng trong lý cần phải có tình
Có thể diễn đạt một cách khéo léo như sử dụng thêm các biện pháp tu từ, hình ảnh để giúp bài văn thêm sinh động
* Cách nhận diện dạng bài nghị luận hiện tượng đời sống
Kiểu bài nghị luận về hiện tượng đời sống thường đề cập đến những hiện tượng nổi bật, tạo được sự chú ý và có tác động đến đời sống xã hội như:
- Ô nhiễm môi trường, sự nóng lên của trái đất, nạn phá rừng, thiên tai lũ lụt…
- Bạo hành gia đình, Bạo lực học đường, tai nạn giao thông…
- Tiêu cực trong thi cử, bệnh thành tích trong giáo dục, hiện tượng chảy máu chất xám…
- Phong trào tiếp sức mùa thi, giúp đỡ đồng bào lũ lụt, tấm gương người tốt, việc
Trang 7- Yêu cầu về phạm vi dẫn chứng: trong văn học, trong đời sống thực tiễn (chủ yếu là đời sống thực tiễn).
Bước 2: Lập dàn ý
a Mở bài: Giới thiệu hiện tượng đời sống cần nghị luận
b Thân bài:
- Khái niệm và bản chất của hiện tượng (giải thích); mô tả được hiện tượng
- Nêu thực trạng và nguyên nhân (khách quan – chủ quan ) của hiện tượng bằng các thao tác phân tích, chứng minh
- Nêu tác dụng – ý nghĩa (nếu là hiện tượng tích cực; tác hại- hậu quả (nếu là hiện tượng tiêu cực)
- Giải pháp phát huy (nếu là hiện tượng tích cực); biện pháp khắc phục (nếu hiệntượng tiêu cực)
c Kết bài
- Bày tỏ ý kiến của bản thân về hiện tượng xã hội vừa nghị luận
- Rút ra bài học về nhận thức, hành động cho bản thân
Bước 3: Tiến hành viết bài văn
- Triển khai bài viết theo hệ thống luận điểm, luận cứ, luận chứng đã xây dựng (theo dàn ý)
- Một bài nghị luận xã hội thường có yêu cầu về số lượng câu chữ nên cần phân phối lượng thời gian làm bài sao cho phù hợp, tránh viết dài dòng, sa vào kể lể, giải thích vấn đề không cần thiết Trên cơ sở dàn ý, cần luyện cách viết và trình bày sao cho ngắn gọn, mạch lạc, dễ hiểu và có tính thuyết phục cao
Bước 4: Đọc lại và sửa chữa để hoàn chỉnh bài viết
*Cách viết đoạn văn
Khi gặp dạng bài viết đoạn văn nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sốngcác em cần triển khai theo các bước sau:
Trang 8+ Đánh giá hiện tượng, đây là một hiện tượng tích cực.
+ Bàn luận về vấn đề: Nêu biểu hiện; tác dụng, ý nghĩa; phản đề hoặc mở rộngvấn đề dựa trên quan điểm cá nhân
+ Bài học nhận thức và hành động: Khẳng định tính nhân văn của vấn đề; từ đórút ra bài học cho bản thân
– Bước 3 Tổng kết vấn đề: Khẳng định ý nghĩa và tính thời sự của hiện tượng
3 Hướng dẫn cách làm bài cụ thể:
Gv hướng dẫn HS viết theo gợi ý
Ví dụ 1. Viết một bài văn ngắn (không quá 600 từ) trình bày ý kiến của anh/chị
về nạn bạo hành trong xã hội.
a Mở bài: Giới thiệu về vấn nạn bạo hành trong xã hội
b Thân bài:
* Nêu bản chất của hiện tượng - giải thích hiện tượng
- Nạn bạo hành: sự hành hạ, xúc phạm người khác một cách thô bạo, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần của người khác, đang trở thành phổbiến hiện nay
- Nạn bạo hành: thể hiện ở nhiều góc độ, nhiều phương diện của đời sống xã hội.Nạn bạo hành diễn ra trong: gia đình, trường học, công sở…
* Bàn luận thực trạng, nguyên nhân của hiện tượng bằng các thao tác phân tích, chứng minh
- Hiện tượng khá phổ biến trong xã hội (d/c)
Trang 9- Do bản tính hung hăng, thiếu kiềm chế của một số người.
- Do ảnh hưởng của phim ảnh mang tính bạo lực (nhất là đối với tầng lớp thanh thiếu niên)
- Do áp lực cuộc sống
- Do sự thiếu kiên quyết trong cách xử lí nạn bạo hành
* Tác hại của hiện tượng
- Làm tổn hại đến sức khỏe, tinh thần của con người
- Làm ảnh hưởng đến tâm lí, sự phát triển nhân cách, đặc biệt là tuổi trẻ
* Đề xuất giải pháp
- Cần lên án đối với nạn bạo hành
- Cần xử lí nghiêm khắc hơn với những người trực tiếp thực hiện hành vi bạo hành
- Cần quan tâm, giúp đỡ kịp thời đối với nạn nhân của bạo hành
c Kết bài:
- Lên án hiện tượng
- Bài học nhận thức và hành động của bản thân
Ví dụ 2 Đồng cảm và sẻ chia với người có hoàn cảnh khó khăn là một nếp
sống đẹp trong xã hội hiện nay Hãy viết một bài văn ngắn trình bày ý kiến của anh (chị) về nếp sống ấy.
a Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận
b Thân bài:
Bước 1: Miêu tả hiện tượng.
- Đồng cảm: Là biết rung cảm trước những buồn, vui của người khác, hiểu và
cảm thông với những gì đang diễn ra xung quanh cuộc đời mình, luôn đặt mình trong hoàn cảnh của mọi người để nhìn nhận vấn đề, từ đó thể hiện thái độ quan tâm của mình
Trang 10- Sẻ chia: Cùng người khác sẻ chia niềm vui, nỗi buồn, sẵn sàng có mặt khi
người khác cần Không tỏ thái độ thờ ơ, vô cảm trước nỗi đau của người khác cũng như không ganh ghét, đố kị, nhạo báng vinh quang, niềm vui của họ
- Đồng cảm, sẻ chia là nếp sống đẹp, là lối sống được coi trọng trong xã hội ta hiện nay
Bước 2: Nguyên nhân của hiện tượng.
- Lối sống đồng cảm, sẻ chia bắt nguồn từ truyền thống nhân ái của dân tộc ta: :
“Lá lành đùm lá rách”, “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”…
- Xã hội ngày càng phát triển, nhiều lối sống hiện đại được du nhập vào nước ta nhưng nhân dân ta vẫn giữ được lối sống đồng cảm, sẻ chia
Bước 3: Tác dụng của lối sống.
- Làm cho mọi người xích lại gần nhau hơn
- Làm cho một dân tộc, một đất nước trở nên vững mạnh
- Phê phán lối sống ích kỷ, vô cảm do bị cuốn theo những tham vọng vật chất của nhiều người trong xã hội hiện nay
c Kết bài:
Liên hệ bản thân
- Phải biết sống đồng cảm, sẻ chia không chỉ trong suy nghĩ, tình cảm mà phải hành động thực tế
- Có tinh thần giúp đỡ, hi sinh cho những người xung quanh mình
Ví dụ 3: Hoạt động từ thiện đang trở thành vấn đề “nóng” trong đời sống cộng
đồng vào thời gian gần đây Hãy viết đoạn văn (khoảng 10-25 dòng), chia sẻ quan điểm của em về cách làm từ thiện có ý nghĩa.
a Mở đoạn Giới thiệu vấn đề:
Trang 11Từ thiện là một trong những phong trào đang trở thành xu hướng phổ biến trong xã hội hiện nay Nhưng cách làm từ thiện có ý nghĩa chứ không phải chạy theo xu thế là một vấn đề khá là bất cập.
b Thân đoạn Bàn luận
Giải thích
- Từ thiện có nghĩa là làm việc tốt từ lòng yêu thương (người)
- Từ thiện là một hành động trợ giúp người yếu thế
Phân tích
- Vì sao cần làm từ thiện?
+ Xã hội chẳng thiếu những số phận bất hạnh
+ Các cơ quan, tổ chức chỉ có thể hỗ trợ một bộ phận nhỏ đặc biệt là trong tình
hình hiện nay: khi đại dịch hoành hành, thiên tai
+ Làm việc thiện trở thành một nếp sống quen thuộc, một nét sống đẹp của dân
tộc ta
+ Dẫn chứng
- Những ích nợi của việc từ thiện:
+ Họ nhận thấy tâm hồn mình được thoải mái hơn, nhẹ lòng hơn
+ Có người thì họ không làm vì mình mà để phúc đức lại cho con cháu
+ Họ chỉ mong muốn đóng góp một phần cho xã hội: để cuộc sống của những
người bất hạnh được dịu đi
+ Một xã hội tốt là một xã hội giàu lòng yêu thương, có nhiều người yêu thương
nhau
Phản đề:
- Phê phán một lớp người trong xã hội còn vô cảm, dửng dưng, không biết quan
tâm, sẻ chia…với những người có hoàn cảnh bất hạnh trong xã hội
Trang 12- Có những người chỉ làm từ thiện để lấy danh nghĩa, lấy sự nổi tiếng về cho bản
thân chứ không xuất phát từ thực tâm thiện nguyện Từ thiện là tốt nhưng từ thiện sai cách, sai đối tượng lại đem đến những điều phản tác dụng
Bài học nhận thức và hành động
- Nhận thức được từ thiện là hành động tốt đẹp trong xã hội, thể hiện tình yêu
thương của con người với đồng loại, là cơ sở để xây dựng các mối quan
hệ xã hội và phát triển đất nước
- Hành động: Tuổi trẻ càng cần tích cực trong công tác từ thiện Việc thiện thật
ra không đòi hỏi nhiều tiền bạc và thì giờ, chỉ cần có một tấm lòng
c Kếtđoạn:
Không có thứ gì trên đời buộc người ta phải làm việc thiện, hãy làm từ thiện sao
cho thật có ý nghĩa
Ví dụ 3 Tuổi trẻ học đường suy nghĩ và hành động như thế nào để góp phần
giảm thiểu tai nạn giao thông Em háy viết một đoạn văn diễn dịch trình
bày suy nghĩ của mình ?
a.Mở đoạn: Nêu sự cấp bách và tầm quan trọng hàng đầu của việc phải giải
quyết vấn đề giảm thiểu tai nạn giao thông đang có chiều hướng gia tăngnhư hiện nay
b.Thân đoạn:
*Tai nạn giao thông là tai nạn do các phương tiện tham gia giao thông gây nên: đường bộ, đường thủy, đường sắt trong đó phần lớn các vụ tai nạn đường bộ
*Nguyên nhân dẫn đến Tai nạn giao thông:
- Khách quan: Cơ sở vật chất, hạ tầng còn yếu kém; phương tiện tham gia giao thông tăng nhanh; do thiên tai gây nên
- Chủ quan:
Trang 13+ Ý thức tham gia giao thông ở một số bộ phận người dân còn hạn chế, đặc biệt là giới trẻ, trong đó không ít đối tượng là học sinh.
+ Xử lý chưa nghiêm minh, chưa thỏa đáng Ngoài ra còn xảy ra hiện tượng tiêu cực trong xử lý
*Hậu quả: gây tử vong, tàn phế, chấn thương sọ não
Theo số liệu thống kê của WHO ( Tổ chức y tế thế giới) : Trung bình mỗi năm, thế giới có trên 10 triệu người chết vì tai nạn giao thông Năm 2006, riêng Trung Quốc có tới 89.455 người chết vì các vụ tai nạn giao thông Ở Việt Nam con số này là 12,300 Năm 2007, WHO đặt Việt Nam vào Quốc gia có tỉ lệ các
vụ tử vong vì tai nạn giao thông cao nhất thế giới với 33 trường hợp tử vong mỗingày
*Tai nạn giao thông đang là một quốc nạn, tác động xấu tới nhiều mặt trong
cuộc sống:
- Tai nạn giao thông ảnh hưởng lâu dài đến đời sống tâm lý: Gia đình có người thân chết hoặc bị di chứng nặng nề vì tai nạn giao thông ảnh hưởng rất lớn tới tinh thần, tình cảm; Tai nạn giao thông tăng nhanh gây tâm lí hoang mang, bất
an cho người tham gia giao thông
- Tai nạn giao thông gây rối loạn an ninh trật tự: kẹt xe, ùn tắc giao thông; kẻ xấu lợi dụng móc túi, cướp giật
- Tai nạn giao thông gây thiệt hại khổng lồ về kinh tế bao gồm: chi phí mai tángcho người chết, chi phí y tế cho người bị thương, thiệt hại về phương tiện giao thông về hạ tầng, chi phí khắc phục, chi phí điều tra
- Tai nạn giao thông làm tiêu tốn thời gian lao động, nhân lực lao động: Tai nạn giao thông làm kẹt xe, ùn tắc giao thông dẫn đến trễ giờ làm, giảm năng suất lao động; Tai nạn giao thông làm chết hoặc bị thương ảnh hưởng đến nguồn lực lao động xã hội