Sẽ cónhu cầu bổ sung các số liệu định lượng về tình trạng dễ bị tổn thương đối với nghèo vật chất bằng cácphân tích định tính có thể mô tả các dạng dễ bị tổnthương và rủi ro khác ví dụ n
Trang 2Ngân hàng Thế giới chỉ đạo việc biên soạn tài liệu này, và Tim Conway (ODI) và Carrie Turk (Ngân hàng Thế giới) đã viết bản thảo báo cáo này.
Fiona Howell (ILO) và John Blomquist (Ngân hàng Thế giới) đã đóng góp tích cực vào công tác chuẩn bị báo cáo Báo cáo này cũng nhận được những nhận xét bằng văn bản của Tiến sĩ Nguyễn Hải Hữu (Bộ Lao
động, Thương binh và Xã hội), bà Nisha Agrawal và bà Dominique Van De Walle (Ngân hàng Thế giới), ông John Parry-Williams (Quỹ Nhi đồng Anh), ông Peter Balacs (DFID), ông Malin Beckman và ông Peter Sturm (GTZ) Nhóm công tác (gồm các thành viên của Bộ LĐTBXH, Bộ KHĐT, Hội liên hiệp phụ nữ, GTZ, UNDP, ILO, FAO, UNICEF, Oxfam UK, Action Aid và Trung tâm phát triển nông thôn CRP) đã được thành lập để hướng dẫn chuẩn bị tài liệu này và đánh giá các bản thảo ban đầu Các cuộc tham vấn hết sức quý báu và đầy thông tin trong Bộ LĐTBXH đã được Tiến sĩ Ngô Huy Liêm điều phối và dẫn dắt Ngoài ra còn có các tổ chức sau tham gia các cuộc tham vấn tại Hội thảo ở Hải phòng tháng Chín năm 2001: Bộ LĐTBXH, Bộ KHĐT, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tư pháp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Hợp tác quốc tế của Nhật bản, GTZ, Ngân hàng phát triển châu á, Quỹ tiền tệ quốc tế, UNICEF, WHO, UNIDO, Oxfam GB và Trung tâm phát triển nông thôn CRP.
Trang 3Lời nói đầu của nhóm hành động chống đói nghèo∗
* Nhóm hành động chống đói nghèo của Chính phủ, các nhà tài trợ và các tổ chức phi chính phủ đã hợp tác làm việc với nhau để phân tích đói nghèo (Ngân hàng Thế giới và các tác giả khác, 1999) và kế hoạch hoá chiến lược từ năm 1999 Trong thời gian Chiến lược toàn diện về Tăng trưởng và Xoá đói giảm nghèo đang được soạn thảo, Nhóm Công tác bao gồm đại diện của 16 Bộ của Chính phủ, 6 nhà tài trợ, 4 tổ chức phi chính phủ quốc tế và 4 tổ chức phi chính phủ trong nước.
Tập hợp báo cáo về các Mục tiêu phát triển của Việt Nam là nỗ lực chung của Nhóm hành độngchống đói nghèo nhằm đưa ra một tập hợp các mục đích và chỉ tiêu trung gian phản ánh cả mục tiêu phát triểnchính của Việt Nam cũng như nỗ lực của Chính phủ nhằm thực hiện các mục tiêu quốc tế Công tác phân tích
được tiến hành trong suốt năm 2001 và đầu năm 2002 khi Chính Phủ Việt Nam soạn thảo Chiến lược toàndiện về Tăng trưởng và Xoá đói giảm nghèo và cố gắng tạo khuôn khổ trách nhiệm rõ ràng về giám sát tiến
bộ đạt được trong tương lai Quá trình soạn thảo bao gồm việc xem xét nhiều mục tiêu và mục đích nêu trongcác văn bản chiến lược (đặc biệt là Chiến lược mười năm phát triển kinh tế xã hội và các chiến lược ngành)
để lựa chọn một số ít mục tiêu có thể phản ánh sự chú trọng tầm chiến lược của quốc gia vào tăng trưởng kinh
tế, xoá đói giảm nghèo và công bằng xã hội Mặc dầu các chiến lược quốc gia được sử dụng làm điểm khởi
đầu, nhóm soạn thảo Chiến lược toàn diện về Tăng trưởng và Xoá đói giảm nghèo cũng nhận thức rằng camkết quốc tế nhằm đạt các kết quả quan trọng về giảm nghèo và xã hội trên toàn cầu là rất cao nỗ lực này
được phản ánh trong Các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MTTNK) Các mục tiêu thiên niên kỷ là tập hợpcác mục tiêu có ghi trong Tuyên bố thiên niên kỷ được 180 nước trong đó có Việt Nam thông qua Báo cáo
về tiến bộ đạt được ở Việt Nam trong việc thực hiện các mục tiêu này được đã được Nhóm làm việc tại ViệtNam của Liên hiệp quốc thực hiện vào tháng Bảy năm 2001
Chính phủ Việt Nam muốn đảm bảo rằng Chiến lược toàn diện về Giảm nghèo và Tăng trưởng phản
ánh cam kết của họ đối với các mục tiêu quốc tế Tuy nhiên, vì một số lý do, điều quan trọng là phải làm chocác MTTNK thích ứng với các điều kiện của Việt Nam chứ không phải là thực hiện máy móc các mục tiêunày Thứ nhất, Việt Nam đã đạt, hoặc gần đạt được một số mục tiêu MTTNK Ví dụ, tỷ lệ nghèo đã giảm mộtnữa trong những năm từ 1990 đến 2000 Do vậy, việc Việt Nam xác định một mục tiêu mới về giảm nghèo đểthúc đẩy quá trình hoạch định chính sách trong những năm tới là có ý nghĩa hơn nhiều Thứ hai, mặc dù ViệtNam thực hiện tốt một số mục tiêu về tiếp cận các dịch vụ cơ bản chẳng hạn như giáo dục thì hiện vẫn cónhững thách thức khẩn cấp về nâng cao chất lượng những dịch vụ này để đạt các tiêu chuẩn quốc tế Ví dụnhư việc phấn đấu để đạt phổ cập tiểu học hiển nhiên là rất cần thiết, nhưng việc đảm bảo để trẻ em ở trường
đạt được những tiêu chuẩn như ở các nước khác cũng hết sức quan trọng Thứ ba, Việt Nam có chu kỳ lập kếhoạch chiến lược với những điểm bắt đầu và kết thúc khác với các MTTNK Việc điều chỉnh các chu kỳ 25năm của MTTNK với các chu kỳ lập kế hoạch và chiến lược năm năm và mười năm của Việt Nam là hết sứchữu ích Như vậy, các biện pháp và hành động có thể được xây dựng phù hợp với các mục tiêu kết quả chocác năm 2005 và 2010 và sau đó là phù hợp với các mục tiêu cho năm 2015 Thứ tư, cần thiết lập các mục tiêu
ở cấp dưới quốc gia để có thể giải quyết các vấn đề như sự phát triển của dân tộc thiểu số hoặc bất bình đẳng.Cuối cùng, có những lĩnh vực đặc biệt thách thức với Việt Nam ở giai đoạn này nhưng không được đề cậptrong các MTTNK Ví dụ, mặc dầu Việt Nam đã thực hiện tốt việc cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản nhưngvẫn còn tụt hậu trong việc đưa ra những cải cách cần thiết về quản trị quốc gia, những cải cách sẽ hết sức cầnthiết để đạt được một số mục tiêu phát triển khác được đề xuất trong các chiến lược quốc gia
Tập hợp các báo cáo dưới đây được chuẩn bị để góp phần cùng Chính phủ suy nghĩ về việc đặt mụctiêu và giám sát trong tám lĩnh vực chủ đề, cụ thể như sau:
Đ Xoá nghèo đói;
Đ Giảm nguy cơ bị tổn thương và thực hiện công tác bảo trợ xã hội;
Đ Cung cấp giáo dục cơ sở có chất lượng cho tất cả mọi người;
Đ Cải thiện tình trạng sức khoẻ và giảm bớt bất bình đẳng về y tế;
Đ Đảm bảo bền vững về môi trường;
Đ Đẩy mạnh công tác phát triển dân tộc thiểu số;
Trang 4Đ Cải thiện việc tiếp cận cơ sở hạ tầng thiết yếu; và,
Đ Đảm bảo quản trị quốc gia có hiệu quả để xoá đói giảm nghèo
Không có một báo cáo riêng về thúc đẩy công bằng giới vì hai lý do Thứ nhất, việc các vấn về giới
được đề cập trong tất cả tám lĩnh vực nói trên được xem là hết sức quan trọng Thứ hai, các lĩnh quan trọngkhác ngoài tám lĩnh vực nói trên đã được giải quyết khi Chính phủ xây dựng Chiến lược hành động lần thứhai vì sự tiến bộ của phụ nữ
Các dự thảo đầu tiên của các báo cáo này đã được thảo luận tại hội thảo 3 ngày tổ chức hồi tháng Chínnăm 2001 với sự tham gia của 100 nhà hoạch định và thực hiện chính sách Các cơ quan Chính phủ, các tổchức phi chính phủ và các nhà tài trợ đều tham gia vào các nhóm công tác để giám sát việc soạn thảo các báocáo này Các cuộc lấy ý kiến về các dự thảo đã được tiến hành với các bộ ngành đầu năm 2002, giai đoạntrọng tâm nhất của quá trình soạn thảo Chiến lược toàn diện về Tăng trưởng và Xoá đói giảm nghèo Chiếnlược toàn diện về Tăng trưởng và Xoá đói giảm nghèo đã được Thủ tướng phê duyệt vào tháng Năm năm
2002 và đề ra các mục tiêu và chỉ tiêu phản ánh rõ ràng công tác phân tích và tranh luận được tiến hành trongnăm trước Một bảng tổng hợp, vắn tắt hơn một chút các Mục tiêu phát triển của Việt Nam (như đã đề cập đếntrong Chiến lược toàn diện về Tăng trưởng và Xoá đói giảm nghèo) được kèm theo ở phần cuối của báo cáonày
Giờ đây, khi những báo cáo này đã được hoàn tất, chúng tôi hy vọng chúng sẽ là đầu vào quý giátrong việc thực hiện Chiến lược toàn diện về Tăng trưởng và Xoá đói giảm nghèo, kể cả việc chuẩn bị các kếhoạch hành động hàng năm
lời nói đầu của nhóm hành động chống đói nghèo
Trang 5mục lục
Tóm tắt - vi
Mở đầu - 1
Phần I: Bản chất tình trạng dễ bị tổn thương và các rủi ro ở Việt Nam - 6
Phần II: Đo tình trạng dễ bị tổn thương, đặt mục tiêu và thiết lập các mức ban đầu của tình trạng dễ bị tổn thương - 12
Chọn thước đo thích hợp tình trạng dễ bị tổn thương - 12
Đặt mục tiêu và đánh giá số liệu ban đầu - 13
Phần III: Cơ chế hiện tại về quản lý rủi ro và bảo trợ xã hội ở Việt Nam - 18
Cơ chế quản lý rủi ro cho cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng ở Việt Nam - 18
Các chính sách và chương trình bảo trợ xã hội của Chính phủ - 21
Ai là người được hưởng lợi từ chương trình bảo trợ xã hội của nhà nước? - 27
Các chương trình của Chính phủ Việt Nam có hiệu quả trong việc giảm tình trạng dễ bị tổn thương và sự nghèo khổ hay không? - 29
Tóm tắt : cơ chế quản lý rủi ro và bảo trợ xã hội - 30
Phần IV: Đạt các mục tiêu - 33
Các đề xuất đối với các chính sách của Chính phủ Việt Nam nhằm giải quyết tình trạng dễ bị tổn thương - 33
Phần V: Các hàm ý về phân bổ nguồn lực - 40
Khái quát về nguồn tài chính hiện tại dành cho Bảo trợ xã hội - 40
Ước tính chi phí cần thiết cho các chính sách và chương trình đề xuất - 40
Phần VI: Giám sát - 42
Các chỉ số trung gian được lựa chọn - 42
Nguồn dữ liệu hiên tại và những khoảng trống về số liệu - 43
Tài liệu tham khảo - 44
Phụ lục 1: Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam về bảo trợ xã hội và giảm tính dễ bị tổn thương, 2001-2010 - 49
Phụ lục 2: Cơ chế quản lý rủi ro và vai trò của các nhân tố - 51
Phụ lục 3: Các sáng kiến chính sách của Chính phủ Việt Nam hướng tới giảm nghèo đói - 52
Phụ lục 4: Các hạn chế về giá trị của các biến động đưa đến nghèo đói được coi là cách tính mức độ dễ bị tổn thương - 53
Phụ lục 5: Các định nghĩa khác nhau về ngưỡng nghèo ở Việt Nam - 55
Phụ lục 6: Cấu thành tiêu dùng dành cho hệ thống an sinh và an toàn xã hội - 56
Trang 6Danh mục các Bảng
Bảng 1: Tổng kết các loại rủi ro phổ biến nhất mà các hộ gia đình Việt Nam gặp phải - 9
Bảng 2: Tiêu dùng trung bình liên quan đến đường nghèo, năm 1993 và 1998 - 14
Bảng 3: Ma trận chuyển đổi trong các nhóm 20% của bậc thang giàu nghèo về tiêu dùng, 1993-1998: phần trăm hộ gia đình - 16
Bảng 4: Tóm tắt biến động hộ gia đình theo hướng thay đổi, 1993-1998 - 17
Bảng 5: Mức trợ cấp tiêu dùng của bảo trợ xã hội / các chương trình xoá đói giảm nghèo, tính theo năm nhóm tiêu dùng - 28
Bảng 6: Khái quát các chiến lược quản lý rủi ro và rủi ro tiềm năng ở Việt Nam - 31
Danh mục các Khung Khung 1: Phân loại các nhóm dễ bị tổn thương ở Việt Nam của Bộ LĐTB&XH - 3
Khung 2: Các nhóm dễ bị tổn thương ở Việt Nam được xác định trong cuộc tham vấn do Bộ LĐTBXH tổ chức với các cán bộ của Chính phủ Việt Nam - 4
Khung 3: Các cơn sốc liên quan tới thiên tai - 8
Khung 4: Đa dạng hóa và sự lan truyền rủi ro xảy ra ở các vùng hay bị lũ lụt - 18
Khung 5: Đóng góp của cộng đồng đối với bảo trợ xã hội - 20
Khung 6: Các chương trình thành phần của Chương trình XĐGN quốc gia - 23
Khung 7: Bảo hiểm Y tế Việt Nam: diện hưởng lợi và đóng góp - 26
Khung 8: Các biện pháp khuyến nông không đến được với người nghèo: những kết quả nghiên cứu của báo cáo đánh giá nghèo đói có sự tham gia của người dân ở tỉnh Trà Vinh - 27
Khung 9: Nguồn tài chính cho bảo hiểm Y tế ở Trung Quốc - 35
Khung 10: Di dân, hộ khẩu và hoạt động của thị trường lao động ở Trung Quốc - 36
Khung 11: Bảo hiểm Y tế: Kinh nghiệm của Tổ chức phi Chính phủ và CBO - 37
Khung 12: Chương trình Bảo đảm Việc làm Maharashtra - 39
Khung 13: Danh sách sơ bộ các chỉ tiêu trung gian về tình trạng dễ bị tổn thương - 42
Danh mục các Hình Hình 1: Sự phân bổ của phúc lợi hộ gia đình liên quan tới đường nghèo ở Việt Nam - 5
mục lục
Trang 8Năm 2001, có một phần ba dân số Việt Nam sống ở
mức nghèo khổ Phần lớn người Việt Nam mà không
phải là nghèo thì mức sống cũng rất gần với đường
nghèo Rất nhiều nghiên cứu và số liệu cho thấy các
hộ gia đình nghèo và gần nghèo rất dễ bị tổn thương
trước các rủi ro có thể tác động đến cá nhân, hộ gia
đình và cả cộng đồng Đạt được mục tiêu của Chính
phủ về xoá đói giảm nghèo cũng có nghĩa là phải
giải quyết hai thách thức quan trọng và liên quan
tới nhau Đó là đưa những người hiện đang sống ở
mức cùng khổ thoát khỏi ngưỡng nghèo và bảo vệ
mọi người không bị giảm sút mức sống để tránh
đảo ngược những thành quả lúc trước
Mục tiêu chính của báo cáo này là đề xuất khuôn
khổ giải quyết và quản lý tình trạng dễ bị tổn thương
trong thập kỷ tới để giảm cùng khổ và cải thiện tình
trạng an sinh về mặt khách quan và chủ quan Các
tác động của Chính phủ cần không chỉ nhằm củng
cố nền tảng vững chắc của các thành quả tăng trưởng
kinh tế và giảm nghèo mà còn phải loại bỏ sự nặng
nề trong cuộc sống khi thường xuyên lo sợ bị quay
lại cảnh nghèo khổ trong tương lai, giảm mức độ
mọi người tự cảm thấy thụ động, dễ bị rủi ro và phụ
thuộc vào những yếu tố ngoài sự kiểm soát của mình
bằng cách tăng khả năng để họ cảm thấy mình có
thể kiểm soát được cuộc sống của mình chứ không
phải phó mặc cuộc sống của mình cho những tác
nhân bên ngoài Điều đó mở rộng định nghĩa hiện
tại và khá phổ biến về tình trạng dễ bị tổn thương ở
Việt Nam ra ngoài khuôn khổ xác định các nhóm bị
thiệt thòi cần trợ giúp xã hội để bao gồm cả những
người dễ gặp rủi ro mất mát nói chung trong hiện tại
và tương lai và những người cần các dạng giúp đỡ
khác
Tóm tắt
Tình trạng dễ bị tổn thương không thể đo lường
được dễ dàng và các chiến lược phát triển quốc giacủa chính phủ không đề cập đến các mục tiêu kết
quả có tính định lượng về việc giảm nhẹ tình trạng dễ
bị tổn thương Để phục vụ công tác giám sát trongtương lai, báo cáo này đề xuất việc giám sát tình trạng
dễ bị tổn thương ở cấp quốc gia qua phân tích:
Tình trạng dễ rơi vào vòng nghèo khổ được đobằng khoảng cách tới đường nghèo; và
Tình trạng dễ bị tổn thương được đo bằng sựthất thường trong tiêu dùng quan sát được quacác số liệu panel1
Các cuộc khảo sát chi tiêu hộ gia đình sẽ cung cấp
số liệu hai năm một lần để theo dõi tiến bộ tronggiảm tình trạng dễ bị tổn thương theo các thước đonày Các cuộc khảo sát này có mẫu đủ lớn để cungcấp ước tính phân tách theo các nhóm dân cư Sẽ cónhu cầu bổ sung các số liệu định lượng về tình trạng
dễ bị tổn thương đối với nghèo vật chất bằng cácphân tích định tính có thể mô tả các dạng dễ bị tổnthương và rủi ro khác (ví dụ như các rủi ro về xã hội
và sức khỏe) và có thể kiểm tra các vấn đề dễ bị tổnthương trong nội bộ hộ gia đình một cách đáng tincậy hơn
Các cơ chế kiểm soát rủi ro và đối phó với các cơnsốc phần nhiều có tính chất không chính thức phản
ánh phạm vi hạn chế và định hướng mục tiêu yếukém của các biện pháp bảo trợ xã hội chính thức.Một số các biện pháp chính sách và can thiệp côngcộng cũng được đề xuất để củng cố các biện phápbảo trợ xã hội trong bối cảnh thúc đẩy tăng trưởngkinh tế cho tất cả mọi người để tạo dựng nguồn lựccho các hộ dễ bị tổn thương
1
Số liệu panel là các số liệu đo lường tình trạng hay đặc tính của cùng một nhóm người tại các thời điểm khác nhau trong cuộc sống của họ (những người được đo lường tại một thời điểm cũng đồng thời là những người được đo lường lại vào một hay nhiều thời điểm khác sau đó) Chú thích của người dịch.
Trang 9Mở đầu
Bối cảnh và phạm vi của báo cáo
Các nghiên cứu gần đây ở Việt Nam cũng như trên
thế giới đều nhấn mạnh nhu cầu giải quyết tình
trạng dễ bị tổn thương và rủi ro để đảm bảo giảm
nghèo bền vững cho tất cả mọi người Nhu cầu đó
cũng được phản ánh trong các văn bản của Chính
phủ Việt Nam: bảng tổng hợp các chính sách trong
Văn bản chiến lược giảm nghèo tạm thời (IPRSP)
có một phần đưa ra các biện pháp để giải quyết tình
trạng dễ bị tổn thương và Bản thảo Chiến lược xoá
đói giảm nghèo giai đoạn 2001-2010 (HEPR) cũng
mô tả các tác động mục tiêu để hỗ trợ người nghèo
và các nhóm yếu thế thoát khỏi nghèo2 Gần đây,
Chiến lược toàn diện cho tăng trưởng và xoá đói
giảm nghèo3 (CPRGS) được Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt hồi tháng Năm năm 2002 đã thông báo
về một loạt các hành động công của Chính phủ để
giảm rủi ro và tình trạng dễ bị tổn thương
Mục tiêu của báo cáo này là đề xuất một khuôn
khổ giải quyết và giám sát tình trạng dễ bị tổn
thương trong thập kỷ tới Bản chất của tính dễ bị
tổn thương ở Việt Nam đòi hỏi sự phân tích vượt ra
ngoài khuôn khổ các biện pháp an sinh xã hội chính
thức của nhà nước Cũng giống như đề cương được
đề xuất cho tám báo cáo khác, báo cáo này cũng
lấy các chiến lược và kế hoạch của Chính phủ làm
xuất phát điểm và khai thác mối liên hệ giữa các
mục đích này và các mục tiêu phát triển thiên niên
kỷ (MDG) mà Việt Nam cam kết Công việc này
góp phần hỗ trợ Chính phủ xây dựng một Tập hợp
căn bản các Mục tiêu phát triển Việt Nam để làm
khuôn khổ trách nhiệm cho Chiến lược CPRGS Bối
cảnh của loạt nghiên cứu theo chủ đề này đòi hỏi
rằng các vấn đề cần được xem xét theo cách thăm
dò và sơ bộ: cần nghiên cứu thêm để kiểm chứng
các phân tích và hoàn thiện các khuyến nghị Với
những hạn chế này, báo cáo tập trung vào bốn vấn
đề sau:
Tình trạng dễ bị tổn thương có thể được mô tả
và tính toán như thế nào ở Việt Nam? Những
rủi ro nào là phổ biến nhất và có nhiều khả năng
thay đổi chúng trong tương lai gần không?
Những chỉ tiêu sẵn có nào có thể phản ánh tốtnhất tiến bộ trong giảm tình trạng dễ bị tổnthương và làm thế nào để đo và theo dõi các chỉtiêu này?
Làm thế nào để những người và những hộ gia
đình dễ bị tổn thương có thể quản lý rủi ro? Cáccông cụ và chính sách nào có để giúp họ quản
lý rủi ro xã hội? Những biện pháp này có đủ đểViệt Nam đạt được các mục tiêu của mìnhkhông?
Các biện pháp chính sách và cải cách nào có thểgóp phần làm giảm tình trạng dễ bị tổn thươngnói chung và cải thiện vấn đề quản lý rủi ro?
Đối với các mục đích lập kế hoạch phát triển, mốiquan tâm chủ yếu là tính dễ bị tổn thương đối vớinghèo Mặc dù nghèo là hiện tượng đa diện, nhưngbáo cáo này tập trung chủ yếu vào nghèo được địnhnghĩa theo tiêu dùng (chi tiêu bình quân đầu ngườihàng năm tính bằng VND) Điều này chủ yếu là dotiêu dùng là khía cạnh đánh giá hiệu quả nhất vềnghèo vì các khía cạnh khác phần lớn là tương quanvới nhau và cũng một phần vì các số liệu panel cósẵn để theo dõi các thước đo này Không có lý dothực chất nào về việc vì sao tình trạng dễ bị tổnthương đối với các khía cạnh khác của phúc lợihay sự thiếu phúc lợi (về sức khoẻ, tâm lý, dinhdưỡng .) lại không thể được định lượng và sửdụng làm các mục tiêu phát triển quốc gia4 Một
số báo cáo khác trong tám báo cáo chuyên đề nàycũng xem xét các khía cạnh của tình trạng dễ bịtổn thương
Bằng việc tập trung vào tình trạng trong tương lai,vấn đề về tình trạng dễ bị tổn thương tập trung chú
ý vào cả i) động thái của tình trạng phúc lợi và tiềm
Trang 10Mở đầu
năng tình trạng phúc lợi thay đổi theo chiều hướng
xấu (khả năng dễ bị rơi từ tình trạng không nghèo
thành nghèo) cũng như ii) tiềm năng không có sự
thay đổi nào trong một tình trạng tồi tệ (khởi đầu và
vẫn ở trong tình trạng nghèo trong giai đoạn nói
đến)5 Phần lớn các định nghĩa về bảo trợ xã hội
phản ánh hai thước đo về tình trạng dễ bị tổn thương
này Mặc dầu khác nhau, nhưng phần lớn các định
nghĩa về bảo trợ xã hội liên quan tới hai loại hành
động chính Nhóm hành động thứ nhất là nhằm hộ
trợ những hộ gia đình nghèo nhất, những người mà
nếu không có hỗ trợ có thể sẽ phải đối mặt với tình
trạng cơ cực; nhóm hành động thứ hai là nhằm giảm
khả năng bị tổn thương Mặc dù rất hữu ích nhưng
sự phân biệt về khái niệm giữa i) việc giúp mọi người
thoát khỏi cùng cực hoặc nghèo khổ (thúc đẩy) và
ii) việc bảo vệ mọi người không bị suy giảm mức
sống do sự sói mòn dần dần hay đột ngột cuộc sống
của họ (bảo trợ) thường là không rõ ràng trong thực
tế
Gắn bảo trợ xã hội với các thành tựu đạt được của
các mục đích phát triển ở Việt Nam
Trong khi các mục tiêu thiên niên kỷ không đề cập
một cách cụ thể đến tính dễ bị tổn thương hay việc
cung cấp bảo trợ xã hội, các văn bản kế hoạch chiến
lược quốc gia của Việt Nam có nhắc đến vấn đề
này nhưng khá vắn tắt Chiến lược Giảm nghèo
2001-2010 coi chính sách về an sinh xã hội là một trong
mười một biện pháp trực tiếp để hỗ trợ người nghèo,
các hộ gia đình nghèo và các xã nghèo và nhấn
mạnh nhu cầu tập trung giúp đỡ người nghèo, hạn
chế rủi ro và khả năng quay trở lại nghèo; [và] xây
dựng các phương pháp hỗ trợ xã hội hiệu quả cho
người nghèo; Văn bản Chiến lược giảm nghèo tạm
thời bao gồm một danh mục khá dài các can thiệp
chính sách liên quan tới mạng lưới an sinh cho người
nghèo và các nạn nhân thiên tai (xem phụ lục 1 về
các trích dẫn chủ yếu trong các tài liệu này) Nhưng
hai văn bản này đều không đưa ra một mục tiêu cụ
thể có tính định lượng nào trong lĩnh vực này, hoặc
dưới dạng các đầu ra của chương trình (nghĩa làdiện bao trùm hay mức độ hưởng lợi) hay dưới dạngcác mục tiêu kết quả giảm bớt tình trạng dễ bị tổnthương hay quản lý rủi ro6 Do vậy, phần này sẽ đưa
ra các liên hệ có tính lô-gic giữa việc giảm bớt tìnhtrạng dễ bị tổn thương với việc đạt một số mục tiêuphát triển cơ bản
Chính phủ Việt Nam đã đạt và vượt qua mục tiêuphát triển quốc tế về giảm một nửa tỷ lệ nghèo trướcnăm 2015 Hiện nay, Chính phủ cam kết xoá đói và
nghèo cùng khổ trước năm 2010 Để đạt đượcnhững mục tiêu này và để đảm bảo các thành tựugiảm nghèo bền vững và không bị đảo ngược saunày, Việt Nam cần phải giải quyết tình trạng dễ bịtổn thương đối với nghèo của các hộ gia đình bằngcả hai cách: vừa giúp các hộ hiện đang nghèo thoátkhỏi nghèo và vừa bảo vệ các hộ gia đình khỏi các
xu hướng và rủi ro có thể đẩy họ xuống dưới đườngnghèo (hoặc đang ở dưới đường nghèo càng trở nênnghèo hơn) Sự phát triển kinh tế trên diện rộng nângthu nhập và tiêu dùng của cả người nghèo và gầnnghèo và tăng đường biên an toàn ở trên đườngnghèo về lâu dài là rất cần thiết để giảm tính dễ bịtổn thương, cho họ có thêm dự phòng (như tiết kiệm
và tài sản) để đối phó với những lúc khó khăn Tuynhiên, chỉ tập trung vào tăng trưởng thôi thì khôngphải là biện pháp hiệu quả để đạt được thành tựugiảm nghèo bền vững về lâu dài
Thứ nhất, chỉ tập trung vào tăng trưởng có xu hướnglàm lợi cho người giàu nhanh hơn người nghèo: dovậy, cần đảm bảo sự tăng trưởng đó gây dựng tàisản cho người nghèo Và nếu không nỗ lực gia cốnhững thành tựu giảm nghèo thì việc ngày càngxuất hiện nhiều các rủi ro ở cấp hộ gia đình hoặc lũlụt quy mô lớn hoặc khủng hoảng kinh tế có thểnhanh chóng đẩy nhiều người trở lại nghèo Do ViệtNam tiếp tục hiện đại hoá, nền kinh tế ngày cànghội nhập hơn với nền kinh tế khu vực và thế giới,nên có thể mong đợi điều đó sẽ đem lại những lợiích đáng kể (cho tăng trưởng kinh tế theo hướng
5
Nhiều báo cáo trong thập kỷ qua cho thấy mức sống của hộ gia đình ở các nước nghèo thay đổi rất nhanh: nhiều hộ gia đình nhận thấy mức sống của họ thay đối đáng kể từ năm này sang năm khác Chỉ một số ít hộ gia đình là năm nào cũng nghèo (nghèo kinh niên), trong khi phần lớn các hộ gia đình chỉ nghèo trong một hoặc hai năm (nghèo tạm thời).
6
Báo cáo này cùng với các báo cáo khác trong cùng bộ - được viết chủ yếu để cung cấp cơ sở phân tích cho nhóm chuyên gia của Chính phủ Việt Nam chịu trách nhiệm soạn thảo chiến lược CPRGS Bản chiến lược CPRGS cuối cùng có đưa vào một số đề xuất trong báo cáo này và hiện trở thành chiến lược đầu tiên của Chính phủ Việt Nam mà các tác giả nhận thức là phải bao gồm những mục tiêu cụ thể để giảm tình trạng
dễ bị tổn thương Do Chiến lược CPRGS được ban hành trước khi báo cáo này hoàn thành nên không thể phản ánh chi tiết phân tích về các mối liên hệ giữa nghèo và tình trạng dễ bị tổn thương trong Chiến lược.
Trang 11Mở đầu
xuất khẩu và giảm nghèo) Tuy nhiên, điều đó cũng
sẽ khiến Việt Nam dễ bị ảnh hưởng hơn trước các
cơn sốc kinh tế vĩ mô của thế giới7 Nếu Việt Nam
muốn được hưởng những lợi ích của toàn cầu hoá
thì phải có những biện pháp phù hợp để giảm tác
động của các khủng hoảng toàn cầu
Thứ hai, việc giảm nhẹ tình trạng dễ bị tổn thương
có thể góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế.
Khi khả năng gặp rủi ro cao và hậu quả của các rủi
ro này là hết sức nghiêm trọng, người ta có xu hướng
theo đuổi những chiến lược lấy an toàn làm ưu tiên
hàng đầu, chiến lược cho phép đảm bảo thu nhập
tối thiểu cho các nhu cầu tồn tại chứ không tạo dựng
nguồn lực một cách dễ dàng và là chiến lược làm
giảm các cơ hội thoát khỏi nghèo Nếu tồn tại mạng
lưới an sinh đáng tin cậy thì người ta có thể sẵn
sàng tham gia vào các hoạt động rủi ro hơn, đem lại
lợi ích cao hơn, dẫn đến sự tăng trưởng kinh tế
nhanh hơn, trên diện rộng hơn và bền vững hơn8
Do vậy, đầu tư công làm hạn chế xác suất và giảm
nhẹ hậu quả của các rủi ro thông thường là sự bổ
sung cần thiết vào các chính sách khuyến khích
tổng hợp
Cuối cùng là những chính sách công cải thiện mạnh
mẽ phúc lợi cho những người hiện ở dưới đường
nghèo sẽ giúp phần hạn chế sự bất bình đẳng Trong
xã hội một số nhóm không thể hưởng lợi trực tiếp
từ tăng trưởng kinh tế nên cần có những chính sách
đặc biệt để giúp họ thoát khỏi cùng khổ
Để góp phần giảm nghèo qua các kênh này thì các
chính sách bảo trợ xã hội phải dựa trên cơ sở hiểu
biết sâu sắc các rủi ro, trở ngại và cơ hội mà người
nghèo phải đương đầu và tác động trở lại của các
loại hoạt động công Nhiều thành tố của một định
nghĩa toàn diện về tình trạng dễ bị tổn thương đã có
trong khuôn khổ chính sách của Việt Nam, nhưng
chúng chưa được tập hợp một cách thống nhất về
khái niệm Các thành tố này cũng không thừa nhận
một cách rõ ràng rằng bảo trợ xã hội làm tăng năng
lực của người nghèo tham gia vào thị trường lao
động cũng sẽ góp phần cả vào tỷ suất tăng trưởng
chung cũng như bản chất phân phối (theo hướnggiảm nghèo) của sự tăng trưởng này
Định nghĩa tình trạng dễ bị tổn thương ở Việt Nam:
động thái của các nhóm và hộ gia đình dễ bị tổn thương
Không có một định nghĩa rõ ràng chính thức nào
về tình trạng dễ bị tổn thương trong các văn bảnchính sách của Việt Nam Một định nghĩa làm việc
được sử dụng trong điều tra năm 1998 của BộLĐTBXH đã xác định tình trạng dễ bị tổn thương là
sự mất khả năng của một cá nhân tận dụng các cơhội do xã hội đem lại để cải thiện đời sống của bảnthân Cuộc điều tra này đã xác định các nhóm cóhoạt động kinh tế và nhóm không hoạt động kinh
tế hay các nhóm dễ bị tổn thương cận biên (xemKhung 1)
Các văn bản khác của Chính phủ Việt Nam có những
định nghĩa rõ ràng hoặc hàm ý về các nhóm dễ bịtổn thương Một danh sách mở rộng các nhóm dễ
Khung 1: Phân loại các nhóm dễ bị tổn thương
ở Việt Nam của Bộ LĐTB&XH
Nhóm 1: những người trong độ tuổi lao động
và có khả năng lao động
Những người tàn tật có khả năng lao
động
Lao động nữ chưa học hết tiểu học
Lao động trẻ (từ 15 đến 24 tuổi) chưahọc hết trung học cơ sở
Nhóm 2: Những người dưới hoặc trên tuổi lao
động hoặc thuộc tuổi lao động nhưng không
có khả năng lao động
Những người tàn tật không có khả nănglao động
Người già cô đơn tức là những ngườigià không có họ hàng thân thích
Trẻ mồ côi và trẻ không nơi nương tựa
(Nguồn: Bộ LĐTBXH/ADUKY 1998 tr 5)
Trang 12Mở đầu
đầu người và được ghi chép thông qua các cuộc
điều tra mẫu quốc gia 10.Tuy nhiên, trong khi báo cáo này rút ra kết luậnrằng các biện pháp đo biến động trong tiêu dùngbình quân đầu người là những biện pháp chính đểgiám sát các xu hướng về nghèo và dễ bị tổn thương,thì báo cáo cũng thừa nhận rằng chúng cũng cónhững hạn chế Trước hết, các biện pháp này giả
định các nguồn lực được phân bổ trong hộ gia đìnhtheo nhu cầu Do vậy, sự bất bình đẳng trong nội bộ
hộ gia đình (thường là theo giới tính và tuổi tác) cóthể bị làm mờ đi Thứ hai, một số khía cạnh của đờisống (chẳng hạn như bạo lực hoặc lạm dụng tronggia đình) không được nghiên cứu trong các khảosát tiêu dùng hộ gia đình Do vậy, cần phải bổ sungviệc theo dõi tình trạng dễ bị tổn thương chủ yếu(bằng cách sử dụng phân tích các số liệu tiêu dùng)cùng với các nghiên cứu định tính đề cập đến một
số khía cạnh rủi ro trong nội bộ hộ gia đình và trongkhía cạnh phi tiêu dùng Chính phủ Việt Nam đãcam kết đưa các biện pháp giải quyết tình trạng dễ
bị tổn thương phi vật chất vào khuôn khổ giám sátcủa CPRGS (chẳng hạn các biện pháp để giảm tìnhtrạng bạo lực trong gia đình) Để hoạt động này cóhiệu quả cần phải soạn thảo tỉ mỉ hơn nữa Các biệnpháp giám sát hiện có của Chính phủ Việt Nam chưa
đủ để đánh giá xem các hành động công có hiệuquả hay không trong việc giảm các khía cạnh dễ bịtổn thương phi vật chất
Rủi ro và tình trạng dễ bị tổn thương đối với nghèo
ở Việt Nam
ở Việt Nam, sự phân bổ phúc lợi khi được đobằng mức tiêu dùng bình quân đầu người (p.c.) phản ánh vai trò quan trọng của bảo trợ xã hội Tỷ
lệ các hộ gia đình nằm xung quanh đường nghèo làrất lớn (xem Hình 1) nên việc giảm một phần nhỏtiêu dùng theo đầu người có thể đẩy những ngườihiện nay mới sát trên đường nghèo trở lại nghèo.Việc giúp các hộ gia đình quản lý rủi ro và tránhrơi trở lại nghèo (các chiến lược bảo trợ) do vậy làmột phần quan trọng trong chiến lược giảm nghèo
Trong khi việc xác định các nhóm dễ bị tổn thương
hiển nhiên là rất hữu ích, thì ưu tiên hàng đầu của
khuôn khổ chính sách quốc gia nhằm giảm tình
trạng dễ bị tổn thương phải là xác định và giải quyết
các dạng rủi ro phổ biến và nghiêm trọng nhất, và
các dạng rủi ro có tương quan hay gây ra hoặc đại
diện cho các dạng rủi ro khác, hơn là bắt đầu bằng
danh sách liệt kê các nhóm dễ bị tổn thương cụ thể
Do vậy, mặc dù Bộ LĐTB&XH đã xác định được
các nhóm có đặc tính dễ bị tổn thương nhưng vẫn
thiếu các chính sách được thiết kế để giải quyết
tình trạng dễ bị tổn thương nói chung của phần lớn
dân chúng đối với việc suy giảm thu nhập và tiêu
thụ (và mở rộng ra là tình trạng dễ bị tổn thương
của họ đối với các dạng rủi ro khácgiảm tiêu dùng
lương thực, không có khả năng chi trả các chi phí
chăm sóc sức khỏe, cho con gái nghỉ học và v.v
các rủi ro đó gắn với việc rơi vào cảnh nghèo) Do
vậy, trọng tâm của báo cáo này là về giảm tình trạng
dễ bị tổn thương ở cấp hộ gia đình đối với nghèo,
được đo chủ yếu bằng các mức tiêu dùng tính theo
10
Mặc dù người nghèo là nhóm đặc biệt dễ bị tổn thương nhất khi bị suy giảm mức sống, nhưng bản chất khá cô đọng của việc phân bổ phần trăm tiêu dùng kết hợp với sự biến động tiêu dùng ghi nhận được giữa năm 1993 và 1998 cho thấy ngay cả những người khá giàu có cũng không tránh khỏi bị đảo lộn mạnh trong mức sống.
Khung 2: Các nhóm dễ bị tổn thương ở Việt
Nam được xác định trong cuộc tham
Người có học vấn thấp hoặc mù chứ
Người nghèo và đói; những người ở
ngay trên đường nghèo
Người tàn tật; người ốm hoặc bị tai nạn
Người thiếu việc làm
Gia đình đông con, đặc biệt khi không đủ
lao động
Người chịu ảnh hưởng thiên tai
Người ở vùng sâu vùng xa
Trang 13Mở đầu
tổng thể, bổ sung thêm các biện pháp giúp đỡ những
người đã ở dưới đường nghèo (các chiến lược thúc
đẩy) Nếu người dễ bị tổn thương được định nghĩa
là những người hiện nay đang nghèo và những người
gần nghèo trong phạm vi 10% ở trên đường nghèo)
thì có tới 45% dân số phải được coi là dễ bị tổn
thương11
Các hình thức rủi ro
Hình thức rủi ro mà người dân gặp phải có thể được
phân loại theo phạm vi chúng ảnh hưởng đến cuộc
sống (chẳng hạn như sức khoẻ) và mức độ tác động
của chúng Rủi ro đơn lẻ (idiosyncratic risk) tác động
đến các cá nhân và hộ gia đình với tư cách là cá nhân
và hộ gia đình: xác suất của một hộ gia đình bị ảnh
hưởng khá độc lập với việc liệu các cá nhân và hộ gia
đình khác có bị ảnh hưởng hay không (chẳng hạn
như cháy nhà hoặc tai nạn lao động, cho con gái nghỉ
học) Rủi ro chung (covariant risk) là rủi ro tác động
tới nhiều người cùng một lúc (như thiên tai)
Các thành tố trong quản lý rủi ro
Rủi ro có thể được nhiều chủ thể khác nhau quản
lý: các cá nhân và hộ gia đình, các cộng đồng và
các nhóm khác trong xã hội dân sự, các nhà cung
cấp tư nhân, và các thể chế nhà nước (cấp địaphương, vùng và quốc gia)12 Ba nhóm phương phápquản lý rủi ro chính có thể được phân biệt như sau:
động được thực hiện trước một đột biến để giảmcơ hội cho nó xảy ra
Các hoạt động giảm nhẹ rủi ro bao gồm các
hành động được thực hiện trước một đột biếnnhằm giảm mức độ tác động của cơn sốc này
định và hành động do các cá nhân, hộ gia đình,cộng đồng và nhà nước thực hiện khi đột biến
đã xảy ra để giảm nhẹ tác động của đột biến đólên đời sống
Bản chất của một chiến lược tốt về bảo trợ xã hộimột phần là để thiết lập cân bằng phù hợp và bổsung giữa hỗ trợ xã hội cho người cùng khổ và quản
lý rủi ro xã hội cho người dễ bị tổn thương Mộtphần nữa là để đạt được một danh mục công cụquản lý rủi ro đúng đắn khi xây dựng vai trò hỗ trợlẫn nhau cho cá nhân, hộ gia đình, các chủ thể củathị trường và nhà nước trong việc giảm nhẹ, làm dịubớt, và đối phó với các rủi ro (xem Phụ lục 2)
Hình 1: Sự phân bổ của phúc lợi hộ gia đình liên quan tới đường nghèo ở Việt Nam
Trang 14Phần I: Bản chất tình trạng dễ bị tổn thương
và các rủi ro ở Việt Nam Cơ sở
Cơ sở
Phần này chủ yếu dựa vào chương về tình trạng dễ
bị tổn thương trong Báo cáo phát triển Việt Nam
2000: Việt Nam tấn công nghèo đói (dựa trên các
số liệu định tính thu được qua các cuộc ĐTMSDC
năm 1993 và 1998; và những hiểu biết có tính định
tính và đặc thù về khung cảnh hơn của bốn đánh
giá nghèo đói có sự tham gia (ĐGNĐ) được tiến
hành năm 1999) Ngoài ra còn có một số nguồn tài
liệu khác trong đó có các kết quả tham vấn cấp cộng
đồng về Dự thảo CPRGS để lấy ý kiến của người
dân về các biện pháp chính sách do Chính phủ đề
xuất nhằm giảm tình trạng dễ bị tổn thương và rủi
ro13
Bốn PAA và các kết quả tham vấn cấp cộng đồng
về dự thảo CPRGS minh họa cấp độ dễ mà nhiều hộ
gia đình vẫn còn bị tổn thương theo một loạt các rủi
ro ngăn cản, làm chậm lại hoặc đảo ngược tiến trình
thoát nghèo và hướng tới an ninh lương thực và tình
trạng mức sống của họ Một vài yếu tố nổi lên hết
sức gay gắt khi lý giải thích tình trạng dễ bị tổn
thương, đáng chú ý nhất là sự phụ thuộc vào diện
hạn hẹp của các hoạt động và các nguồn thu nhập
Các hộ gia đình ở nông thôn phụ thuộc rất nhiều
vào các hoạt động nông nghiệp hạn hẹp được xem
là dễ bị tổn thương; các gia đình không có đất thì
đặc biệt dễ bị tổn thương vì tình trạng mức sống
của họ phụ thuộc vào nhu cầu lao động theo ngày
mà nhu cầu này lại rất thấp và theo thời vụ Tương
tự, các nghiên cứu về ảnh hưởng lũ lụt xảy ra vào
tháng 11 năm 1999 ở Quảng Trị và Thừa Thiên Huế
cũng cho thấy những người nông dân trồng lúa ở
đồng bằng tuy khá giả hơn người nông dân ở miền
núi trong những năm không có thiên tai lại dễ bị
tổn thương hơn vì những nỗ lực của họ được tập
trung vào vụ lúa và hầu như không có nguồn thu
hoặc lương thực khác khi mùa vụ của họ bị tàn phá14
Sự tách biệt với xã hội cũng có thể gây ra tính dễ bị
tổn thương, một phần vì khó khăn tiếp cận thị trường
làm hạn chế khả năng đa dạng hóa thu nhập ở đô
thị, những hộ gia đình sống dựa chủ yếu vào các
công việc không thường xuyên như khuôn vác hay
đạp xích lô thì dễ bị tổn thương hơn những người
có nguồn thu nhập thường xuyên và độc lập Các
trang tiếp sau đây sẽ mô tả các loại hình rủi ro phổ
biến mà hộ gia đình ở Việt Nam gặp phải
Rủi ro đơn lẻ (ở cấp cá nhân và hộ gia đình) ở Việt Nam
ốm đau ốm đau hoặc tai nạn nặng hoặc lâu dài,
đặc biệt là khi xảy ra đối với một thành viên hoạt
động kinh tế của gia đình, là một trong những dạng
đột biến phổ biến và nguy hại nhất mà hộ gia đình
có thể gặp phải Báo cáo ĐGNĐ của Hà Tĩnh chothấy 57% hộ gia đình có mức sống giảm vì nguyênnhân ốm đau Các hộ gia đình mới hình thành đặcbiệt dễ bị tổn thương, do có ít thành viên làm ra thunhập để bù đắp nhữnng thiếu hụt về thu nhập vàtrang trải chi phí chữa bệnh Chi phí y tế rất cao đặcbiệt khi phải chữa trị ở bệnh viện tuyến huyện hoặccấp cao hơn Đối với những hộ gia đình thuộc nhóm20% nghèo nhất trong bậc thang giàu nghèo, chi trảmột lần chữa bệnh ở bệnh viện tương đương với
22% tiêu dùng phi lương thực hàng năm của họ;
còn đối với những hộ thuộc nhóm 20% giàu nhấttrong bậc thang giàu nghèo thì mức chi đó chỉ bằng5% tiêu dùng phi lương thực hàng năm của họ.Hàng năm, những người ở nhóm dân cư nghèo nhấtphải chi trung bình 33% tiêu dùng phi lương thựcvào chăm sóc sức khoẻ Những người trong nhóm20% nghèo nhất bị thiệt hại nhiều hơn dưới dạngtổn thất về thu nhập và sản xuất của hộ do ốm đau
so với các hộ gia đình trong nhóm giàu nhất (trungbình là 25% so với 6.5% tiêu dùng đầu người mộtnăm)
Các sự kiện của chu trình sống Các sự kiện của
chu trình sống có thể có tác động lớn đến phúc lợi
và tình trạng dễ bị tổn thương hiện tại của hộ gia
đình vì các sự kiện này đều tốn kém có thể buộc hộgia đình phải bán tài sản và/hoặc vay mượn làm cho
họ trở thành dễ bị tổn thương trong nhiều thángthậm chí nhiều năm sau đó Chi phí gia tăng này lạicàng nghiêm trọng hơn trong các trường hợp hộ gia
đình bị mất lao động (đặc biệt là khi một thành viênlàm ra nhiều thu nhập trong gia đình bị chết hayngay cả khi cưới xin và việc tách thành một hộ gia
đình mới làm cho hộ gia đình của bố mẹ bị giảmlao động) Khả năng đối phó với các đột biến củacác gia đình mới tách và của các gia đình phụ nữlàm chủ hộ thấp hơn nhiều và chủ yếu phụ thuộcvào nguồn vốn xã hội của họ (họ hàng, bạn bè vàhàng xóm sống gần kề có thể giúp cho vay tiềnhoặc giúp lao động) Những hộ gia đình di cư không
Trang 15Bản chất tình trạng dễ bị tổn thương
và các rủi ro ở Việt Nam Cơ sở
có các mối quan hệ địa phương vững chắc có thể
đặc biệt dễ bị tổn thương
Nghiện rượu, nghiện hút và cờ bạc Nghiện rượu
(phổ biến ở nhiều vùng trên cả nước) hoặc nghiện
hút (chủ yếu ở thành thị) trở thành chủ đề quan
trọng trong cả bốn cuộc PAA Khi một thành viên
gia đình uống rượu nhiều hoặc sử dụng ma tuý thì
chi phí vào các dạng tiêu dùng này làm giảm nguồn
tiền chi vào các hàng hoá và dịch vụ cần thiết cho
hộ gia đình và còn ngốn cả vào tiết kiệm Cũng như
vậy, đánh bạc cũng làm tăng chi phí và nợ nần Sử
dụng nhiều rượu và ma tuý còn làm giảm sức lao
động, có thể làm tăng chi phí y tế, và đặc biệt là khi
sử dụng ma tuý đi kèm với tội phạm, phạt tiền và tù
tội Lạm dụng rượu còn dẫn đến gia tăng bạo lực
gia đình và khả năng tan rã gia đình Những vấn đề
này có vẻ ngày càng tăng mặc dù phần lớn biểu
hiện gia tăng này là do sự công bố ngày càng rộng
rãi hơn về các vấn đề này15
Bạo lực trong gia đình Trong xã hội Việt Nam cũng
như nhiều xã hội khác, người phụ nữ trong gia đình
thường hay ở trong tình trạng dễ bị tổn thương khi
bị chồng lạm dụng (về lời ăn tiếng nói, tình cảm và
thể xác) Do đó, giảm bạo lực trong gia đình là ưu
tiên quan trọng của chính sách xã hội Giảm nghèo
và tình trạng dễ bị tổn thương đối với nghèo có thể
giúp giảm bạo lực trong gia đình bởi lẽ sự lạm dụng
trong gia đình được thấy phổ biến hơn khi gia đình
chịu áp lực về tiền; giảm sử dụng rượu hoặc ma tuý
và đánh bạc có thể đóng vai trò tích cực Tuy nhiên,
xã hội cần có tác động nhằm giảm tình trạng bị lạm
dụng trong gia đình Vấn đề này bao gồm việc giảm
rủi ro bị lạm dụng thông qua việc làm thay đổi thái
độ, thông qua giáo dục và thúc đẩy quyền lợi hợp
pháp của phụ nữ và giảm nhẹ các hậu quả bằng
việc đào tạo tốt hơn cho các công chức toà án và các
định chế khác (như Hội liên hiệp phụ nữ, tổ dân
phố và ban hoà giải) và cung cấp những nơi trú ẩn
tạm thời16
Mất tài sản vật chất Người nghèo hiển nhiên là
không được chuẩn bị tốt để bù đắp cho việc mất
mát các tài sản mà họ đã cố gắng có được Trộm
cắp thường là vấn đề phổ biến hơn đối với các gia
đình ở thành thị Có thể rủi ro lớn nhất đối với tài
sản vật chất của các hộ gia đình ở nông thôn là mất
gia súc do bệnh tật thường xảy ra do dịch bệnh ởcấp địa phương (xem dưới đây) Ngoài ra còn cócác rủi ro khác về tài sản - đặc biệt là nhà ở mà đốivới phần lớn các hộ gia đình là tài sản vật chất giátrị nhất mà họ có kể cả cháy nhà xảy ra ở cảthành thị và nông thôn Cuối cùng, một số hộ gia
đình mất đất nông nghiệp do bán đất đi hoặc khôngtrả được các khoản nợ mà phải dùng đất để cầm cố.Nhờ sự phân phối đất đai dưới chế độ xã hội chủnghĩa, nên Việt Nam hiện nay khá bình đẳng vềphương diện sở hữu đất đai: sự phân biệt mạnh mẽgiữa người nghèo không có đất và người giàu có
đất không phải là đặc điểm của Việt Nam nhưthường thấy ở Nam á và Nam Mỹ (hay như tìnhhình của Việt Nam trong quá khứ) Tuy nhiên, việctạo ra các quyền cá nhân đối với đất đai, đặc biệt là
đối với quá trình cải cách kinh tế, sẽ dẫn đến tìnhtrạng khẩn cấp của người nghèo không có đất trongtương lai Quá trình này đang bắt đầu ở mức độthấp, có thể rất chậm, và có thể chỉ đáng kể ở mộtvài vùng (chẳng hạn như đồng bằng sông Cửu Long),nhưng nó sẽ cần được giám sát
Thất bại của doanh nghiệp hộ gia đình Thất bại
trong đầu tư kinh doanh ảnh hưởng trực tiếp tới phúclợi qua sự mất thu nhập thường buộc các gia đìnhphải vay mượn để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng.Vấn đề có thể nghiêm trọng nếu việc kinh doanhthất bại đó có sử dụng khoản vay phải trả Trongtrường hợp đó, hộ gia đình có thể bị buộc phải bántài sản (do đó làm giảm khả năng tạo thu nhập) hoặcrơi vào vòng xoắn nợ nần không thể chống đỡ nổi.Nhiều lựa chọn kinh doanh sẵn có đối với các hộgia đình nghèo ở nông thôn (chăn nuôi, trồng vụmới, đào ao nuôi cá) có vẻ như mang nguy cơ thấtbại cao Báo cáo ĐGNĐ của Hà Tĩnh cho thấy thấtbại trong kinh doanh dẫn đến 14% số hộ gia đình
có mức sống bị giảm xuống Một hiện tượng gần
đây là rất nhiều nông dân bị thất bại khi đầu tư vàotrồng các loại cây có giá trị cao để xuất khẩu trongnhững năm 1990 để rồi nhận thấy giá các loại câytrồng này giảm mạnh trên thị trường thế giới trongnhững năm gần đây
Đây là nơi thể hiện mối quan hệ giữa bảo trợ xã hội
và tăng trưởng kinh tế rõ nhất Việc phải trả giá caocho các thất bại kinh doanh cản trở nhiều hộ gia
đình cố gắng bắt đầu nghề kinh doanh mới, làm