1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Nâng cao hiệu quả giờ dạy đọc - hiểu văn bản "Đây thôn Vĩ Dạ" của Hàn Mặc Tử

21 2K 14
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 218,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nâng cao hiệu quả giờ dạy đọc - hiểu văn bản "Đây thôn Vĩ Dạ" của Hàn Mặc Tử

Trang 1

A.ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Trong thời đại khoa học công nghệ thông tin bùng nổ, đứng trước yêu cầu

về một nguồn nhân lực năng động, sáng tạo, có kiến thức và kỹ năng chuyênnghiệp…nền giáo dục của đất nước đã chú trọng đến sự đổi mới phương phápdạy và học theo hướng tích cực Nhiều phương pháp và kỹ thuật dạy học mớiđược nghiên cứu vận dụng nhằm phát huy vai trò chủ thể của học sinh trong đó

có kỹ thuật đặt câu hỏi Đặt câu hỏi trong dạy học (đặc biệt những câu hỏi cóvấn đề - tình huống học tập) có ý nghĩa quan trọng trong việc tổ chức, hướngdẫn quá trình nhận thức giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức một cách có hệ thống

và tạo không khí học tập sôi nổi Giáo viên qua câu hỏi có thể đánh giá đượcnăng lực của học sinh, có được thông tin phản hồi làm cơ sở cho sự điều chỉnh,

bổ sung một cách phù hợp, kịp thời những đơn vị kiến thức, kỹ năng trong giờdạy

Tuy nhiên trong thực tế giảng dạy nói chung, giảng dạy môn Ngữ văn nóiriêng vẫn tồn tại tình trạng đầu tư cho việc xây dựng câu hỏi chưa thật sự thỏađáng Phần nhiều câu hỏi sa vào chi tiết vụn vặt, đơn điệu, nhàm chán hoặctrong câu hỏi đã bao hàm ý trả lời hoặc mang tính chiếu lệ (hỏi cho có hỏi, hỏi

để thể hiện rằng có sử dụng phương pháp đổi mới trong giờ dạy), thiếu nhữngcâu hỏi mang tính chất gợi mở, không có những tình huống gay cấn buộc họcsinh phải suy nghĩ, trăn trở vì thế giờ học trôi đi tẻ nhạt, học sinh không hứngthú, học qua loa cho xong để rồi đến các kì thi, thực tế đáng buồn lại tái diễn:các em tìm chép tài liệu, sai kiến thức cơ bản, suy diễn nội dung tác phẩm mộtcách thô thiển, tách rời nội dung và nghệ thuật của tác phẩm…

Đứng trước yêu cầu của xã hội, trước thực trạng dạy học môn Ngữ văn, tôiluôn trăn trở, suy nghĩ làm thế nào để vận dụng một cách có hiệu quả nhữngphương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.Trong quá trình giảng dạy, nhận thấy vai trò quan trọng và ưu thế của kỹ thuậtđặt câu hỏi nên tôi đã đầu tư xây dựng hệ thống câu hỏi cho các giờ dạy, đặcbiệt chú ý xây dựng những câu hỏi có vấn đề nhằm khơi dậy hứng thú học văncủa học sinh, kích thích sự phát triển trí tuệ và giúp các em lưu giữ kiến thức lâuhơn

2 Chọn “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử - SGK Ngữ văn 11(chương trình

chuẩn và nâng cao) - để trình bày sự vận dụng kỹ thuật đặt câu hỏi vì đây là thiphẩm tiêu biểu cho hồn thơ Hàn Mặc Tử, chứa nhiều mâu thuẫn nghệ thuật đặc

thù, không những thế “Đây thôn Vĩ Dạ” còn được đánh giá là văn bản hay song

học sinh khó tiếp cận.Với những đặc điểm trên, có thể nói tác phẩm mở ra

mảnh đất phì nhiêu để giáo viên xây dựng những câu hỏi chứa đựng tình huống

học tập Tìm đến mảnh đất này để thử nghiệm kỹ thuật dạy học mới tôi đã thu

được kết quả nhất định Xin được trình bày kinh nghiệm Vận dụng kỹ thuật đặt

câu hỏi để nâng cao hiệu quả giờ dạy đọc - hiểu văn bản“ Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử (chương trình ngữ văn 11) để các đồng nghiệp cùng góp ý.

Trang 2

B-GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀI-Một số vấn đề chung:

1.Câu hỏi và câu hỏi có vấn đề (tình huống học tập) trong dạy học:

1.1.Câu hỏi là một dạng cấu trúc ngôn ngữ để diễn đạt một yêu cầu, một đòi hỏi,

một mệnh lệnh mà người học cần giải quyết

1.2.Câu hỏi có vấn đề (tình huống học tập) là những câu hỏi chứa đựng tình

huống nảy sinh trong quá trình học tập, tình huống đó chứa đựng một mâu thuẫnbuộc học sinh phải suy nghĩ, tìm tòi phương hướng giải quyết Do được hìnhthành từ một khó khăn trong lí luận hay thực tiễn nên muốn giải quyết chúng

người học phải có một sự nỗ lực, một cuộc vân động trí tuệ thực sự.

1.3.Đặc trưng của câu hỏi và câu hỏi có vấn đề:

- Câu hỏi luôn chứa đựng một cái gì chưa biết khiến người học phải bănkhoăn, trăn trở, tìm hướng khắc phục khoảng trống của sự thiếu hiểu biết Đồngthời chứa đựng một cái gì đã biết làm cơ sở khắc phục những nghịch lí, thắcmắc, băn khoăn Giữa cái chưa biết và cái đã biết có quan hệ chặt chẽ với nhau -cái đã biết là tiền đề để tìm ra cái chưa biết, cái chưa biết là cái đích cần đạt đếncủa điểm xuất phát là những dữ liệu đã cho

- Đối với những câu hỏi có vấn đề (tình huống học tập) còn phải bao hàm

trong bản thân nó một yếu tố tâm lí nào đó thể hiện ở tính rõ ràng, mới lạ của

sự kiện, ở tính bất thường của bài tập nhận thức ( Phát huy tính tích cực của học

sinh như thế nào- Tr 58(1978) I.F Khaz la môp)

2.Câu hỏi trong giờ dạy đọc- hiểu văn bản văn học và vai trò của câu hỏi trong giờ dạy đọc- hiểu văn bản văn học:

2.1 Câu hỏi trong giờ dạy đọc- hiểu văn bản văn học:

Xuất phát từ đặc thù phân môn (vừa là môn khoa học vừa là môn nghệ thuật)nên câu hỏi trong giờ dạy đọc - hiểu tác phẩm văn chương cũng mang sắc tháiriêng độc đáo thể hiện qua hiệu quả tác động của nó: vừa phát triển tư duy khoahọc, tư duy sáng tạo; vừa kích thích được cảm xúc thẩm mĩ của người học Vìvậy xây dựng câu hỏi trong giờ dạy đọc hiểu văn bản văn học ngoài việc tuânthủ các quy trình, hướng đến các mục đích tìm hiểu nội dung, nghệ thuật tácphẩm, phát triển trí tưởng tượng, sự sáng tạo, bộc lộ cảm xúc còn phải chú ýphát hiện các mâu thuẫn: từ bản thân tác phẩm giảng dạy, từ tầm đón nhận củahọc sinh, từ cách cảm nhận, lí giải, phân tích tác phẩm trái ngược nhau của ýthức tiếp nhận đồng đại và lịch đại

2.2.Vai trò của câu hỏi trong giờ dạy đọc- hiểu văn bản văn học:

-Câu hỏi có vai trò định hướng, giúp học sinh xác định được nhiệm vụ nhậnthức, buộc các em phải huy động tri thức, vốn sống, kinh nghiệm một cách sángtạo, chọn lọc lấy những gì có liên quan đến vấn đề đã được biểu đạt Giáo viênkhông đưa kiến thức đến cho các em dưới dạng có sẵn, không rung cảm hộ màvới câu hỏi đưa ra giáo viên sẽ tổ chức, hướng dẫn cho các em suy nghĩ, cắtnghĩa, thâm nhập vào tác phẩm Các em tự nắm bắt giọng điệu nhà văn, đốithoại với người sáng tác, hòa nhập vào khung cảnh của tác phẩm Từ đó các em

Trang 3

được bồi dưỡng năng lực cảm thụ, năng lực sáng tạo thẩm mĩ ; quá trình tư duycủa các em vận động không ngừng, các em sẽ lớn lên về kiến thức, hoàn thiện

về kỹ năng Nói cách khác, các câu hỏi sẽ kích thích sự phát triển trí tuệ của họcsinh thông qua sự tăng cường khả năng suy nghĩ độc lập

-Với kỹ thuật đặt câu hỏi của giáo viên, học sinh không chỉ hiểu mà còn lưugiữ, ghi nhớ kiến thức lâu hơn bởi trong văn chương khi người đọc trải qua quátrình cảm thụ bằng liên tưởng, tưởng tượng ; rung cảm bằng trái tim thì kiếnthức ấy thâm nhập vào máu tủy, xương thịt Sự ghi nhớ ở đây sẽ trở thành tiền

đề quan trọng để quá trình tư duy, tưởng tượng đạt hiệu quả cao hơn

-Khi xây dựng được câu hỏi có vấn đề (tình huống học tập), giáo viên sẽ gieovào tâm hồn các em sự háo hức, day dứt không yên do vậy các em sẽ khôngcảm thấy xa lạ trước vấn đề giáo viên đặt ra, không thể lãnh đạm với tiếng nóitâm tình tha thiết của nhà văn Bởi chính bản thân các em từ bên trong có nhucầu chiếm lĩnh tác phẩm chứ không phải do áp lực tác động bên ngoài Giáoviên sẽ đạt đến mục đích đánh thức niềm đam mê, hứng thú học văn của họcsinh

Tóm lại, việc vận dụng kỹ thuật đặt câu hỏi vào giờ dạy đọc - hiểu tác phẩmvăn chương sẽ phát huy được vai trò chủ thể tích cực của học sinh, tạo ra bầukhông khí cởi mở, dân chủ giữa giáo viên - học sinh, học sinh - học sinh, họcsinh - nhà văn; thiết lập được mối quan hệ đa chiều (giáo viên - học sinh - tácphẩm - nhà văn) và phát triển mối quan hệ đó một cách cân đối hài hòa

II-Vận dụng kỹ thuật đặt câu hỏi để nâng cao hiệu quả giờ dạy đọc-hiểu văn bản “Đây thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử)

1.Xác định yêu cầu cần đảm bảo khi xây dựng câu hỏi trong giờ dạy hiểu văn bản “Đây thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử):

Xây dựng câu hỏi trong giờ dạy đọc - hiểu văn bản “Đây thôn Vĩ Dạ ”của HànMặc Tử, tôi xác định cần phải đạt đến các yêu cầu sau:

- Câu hỏi khai thác được đặc trưng thể loại văn bản thơ mới (tiếng nói của cáitôi cá nhân, phá bỏ hệ thống ước lệ có tính chất vô ngã, phi ngã của thơ cổ điển

để sáng tạo những cách biểu hiện mới) Cụ thể : câu hỏi định hướng cho họcsinh phát hiện cái tôi riêng của Hàn Mặc Tử (lòng yêu đời, yêu cuộc sống đếnthiết tha, đớn đau, đầy uẩn khúc thể hiện qua cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh,kết cấu mang đặc trưng độc đáo)

- Câu hỏi kích thích được sự tìm tòi, hứng thú của học sinh và phù hợp vớikhả năng tiếp nhận của các em Có nghĩa câu hỏi, tình huống học tập được xâydựng phải khai thác cái mới từ tác phẩm, gợi liên tưởng nhiều chiều ở ngườihọc; có khả năng gõ vào sự đồng cảm, trí tưởng tượng nhưng sau đó buộc các

em nâng lên thành cấp độ cao hơn thuộc về chiều sâu tư tưởng của tác phẩm ;câu hỏi xuất hiện đúng thời điểm, diễn đạt sao cho các em có thể hiểu và suynghĩ ngay vào vấn đề giáo viên đặt ra

- Câu hỏi phong phú đa dạng, có hệ thống hoàn chỉnh: Câu hỏi được xây dựngdưới các hình thức khác nhau để tránh sự đơn điệu nhàm chán ; câu hỏi có mối

Trang 4

liên hệ với nhau nhằm đảm bảo hướng đến mục đích, yêu cầu nội dung họctập

2 Xây dựng câu hỏi, tình huống học tập trong giờ dạy đọc - hiểu văn bản

`Phong cách thơ Hàn Mặc Tử: một hồn thơ luôn quằn quại yêu, đau; trí tưởng tượng phong phú ; hình ảnh thơ có sự hòa quyện giữa thực

Có thể nói xác định tri thức đã có của học sinh trong một giờ đọc hiểu văn bản

là cơ sở quan trọng để xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp, phát huy được vaitrò chủ thể tích cực của học sinh Với giờ dạy đọc - hiểu văn bản “Đây thôn VĩDạ” (Hàn Mặc Tử), tri thức đã có của các em được tôi xác định:

- Qua một số tiết đọc - hiểu về tác phẩm của Xuân Diệu, các phần tri thức đọchiểu ( đối với học sinh học chương trình Ngữ văn 11 - nâng cao), thêm tiết đọc

- hiểu tác phẩm của Huy Cận (đối với học sinh học chương trình Ngữ văn chuẩn) các em ít nhiều đã nắm được : Đặc trưng thơ mới, cách khai thác một tácphẩm thơ mới

-Từ sự định hướng của giáo viên cho các em chuẩn bị bài, học sinh phải tìmhiểu để có kiến thức cơ bản nhất về tác giả Hàn Mặc Tử cùng một số cách tiếpcận văn bản “Đây thôn Vĩ Dạ”

2.3 Xác định đơn vị kiến thức có thể mã hóa thành câu hỏi tương ứng với các khâu trong quá trình dạy đọc-hiểu văn bản “Đây thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử):

*1-Tiểu dẫn:

*1.1-Tác giả:

- Tên khai sinh là nguyễn Trọng Trí (1912 – 1940) Các bút danh khác : PhongTrần, Lệ Thanh…

Trang 5

- Sinh ra ở Đồng Hới, nay là Quảng Bình trong gia đình công giáo nghèo.

-Các tác phẩm : Gái quê, thơ điên, thượng thanh khí, Cẩm Châu duyên…

-Hành trình sáng tác phức tạp (Cổ điển, lãng mạn, tượng trưng, siêu thực).Ôngđược xem là hiện tượng kì lạ vào bậc nhất của phong trào thơ mới:Làm thơ nhưmột trạng thái xuất thần Mỗi lần làm thơ là một lần trút thần Cảm hứng đếnnhư một cú sốc, ý thơ nhảy cóc, phi logic, như một thể lỏng bất định Trong thơông trăng, hoa, nhạc, hương chen lẫn với hồn, máu, yêu ma…

*1.3.Bài thơ:

- Hoàn cảnh ra đời: Hồi còn làm ở sở Đạc điền Bình Định, Hàn Mặc Tử thầm

yêu Hoàng Thị Kim Cúc là con ông chủ sở Sau đó Hàn Mặc Tử vào Sài Gònlàm báo, Kim Cúc về Huế với cha Khi biết tin Hàn Mặc Tử bị bệnh, Kim Cúcgửi cho Hàn Mặc Tử một bức bưu thiếp in hình cô gái đang chèo thuyền, bêndưới có cành trúc lòa xòa, phía xa là ráng trời, đằng sau ghi vài lời hỏi thăm.Tấm thiếp đã tác động rất mạnh đến hồn thơ Hàn Mặc Tử: ấn tượng về xứ Huếthức dậy cùng niềm yêu đời vô bờ khiến tác giả viết bài thơ

- Xuất xứ: in trong tập thơ Điên (1938) sau đổi thành Đau thương.Tập thơ thể

hiện đặc trưng lối thơ điên của Hàn Mặc Tử:

+Điệu cảm xúc đặc thù là đau thương

+Hình tượng chủ thể là cái tôi li hợp bất định(vừa là mình, vừa phân thân racùng một lúc nhiều mình khác nữa)

+Kênh hình ảnh đặc thù là những hình ảnh kì dị, kinh dị

+Mạch liên kết trong thơ điên là dòng tâm tư bất định với những đứt nối đầy bất

ngờ, khiến cho mạch thơ thường có vẻ đầu Ngô mình Sở.

+Lớp ngôn từ nổi bật là lớp từ cực tả (có thiên hướng biểu tả ở mức cực điểm)->“Đây thôn Vĩ Dạ” là một bài thơ trong trẻo chưa có những đặc trưng đầy đủcủa lối thơ điên nhưng dạng cảm xúc ở đây là nỗi khát khao đã nhuốm màu đauthương với những uẩn khúc của nó, rồi mạch liên kết đầy đứt nối, cùng nhữngngôn từ thơ có thiên hướng biểu tả ở mức cực điểm rải rác trong thi phẩm cho

thấy không phải vô cớ tác giả xếp nó vào Đau thương.

Trang 6

Đây thôn Vĩ Dạ Khổ 1 Khổ 2 Khổ 3

- Câu 2- 4: Bức tranh thôn Vĩ buổi mai hiện về trong quầng sáng kí ức của thinhân có ánh nắng thanh khiết tinh khôi; Có khoảng xanh vườn tược đậm màuquê kiểng, tươi tắn, tràn đầy sức sống; Có lá trúc mảnh mai điểm xuyết tô đậmthêm vẻ đẹp thanh tú của khu vườn ; Có hình ảnh con người mang vẻ đẹp kínđáo, dịu dàng, phúc hậu Đó là thiên đường đã tuột khỏi tầm tay nên trở thànhmột niềm ước ao, một hạnh phúc quá tầm để lại niềm tiếc nuối vô bờ cho thi sĩ

Khæ 2:

-Bức tranh sông nước buồn bã, ảm đạm mang chở mặc cảm chia lìa: cặp sóng

đôi “gió”, “mây” bị tách biệt ; dòng nước như ngưng đọng, buồn lặng, quạnhquẽ ; hoa bắp sầu tủi vì không thể nhấc mình lưu chuyển được thể hiện qua nghệthuật nhân hóa, thủ pháp lấy “động” gợi “tĩnh”

-Bằng trí tưởng tượng phong phú, hình ảnh sáng tạo, hình thức câu hỏi tu từ, tácgiả khắc họa bức tranh sông nước trong đêm trăng thơ mộng, huyền ảo đánhthức niềm hi vọng mang chứa nhiều bi kịch:

+Ánh trăng sáng chiếu xuống dòng sông làm cả dòng sông và bãi bồi lung linh,huyền ảo ; dòng nước buồn thiu đã hóa thành dòng sông trăng thơ mộng, con

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới

lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Gió theo lối gió mây đường mây Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?

Bức tranh thôn Vĩ buổi

mai trong trẻo, tinh

khôi, đơn sơ mà thanh

tú-> Cảnh nghiêng về

cõi thực

Bức tranh sông nướcbuồn bã, ảm đạm; thơmộng, huyền ảo ->

Cảnh có sự nhập mờgiữa đôi bờ hư- thực

Hình bóng kháchđường xa và chốn khóisương mông lung ->Cảnh chìm trong mộngảo

Mạch ngầm:

Diễn biến tâm trạng của thi nhân:ao ước, đắm say khi nhớ về cảnh cũ, người xưa; tiếc nuối khi nhận ra cơ hội trở về không còn ->Buồn bã, trống trải, mặc cảm về thân phận bị bỏ rơi; hi vọng, phấp phỏng->Mơ tưởng, băn khoăn, hoài nghi =>Các cung bậc khác nhau của mối u hoài, cốt lõi của mối u hoài, của tâm tư đầy uẩn khúc là niềm khát khao gắn bó khôn nguôi, yêu đời đến thiết tha, đớn đau, khắc khoải.

Trang 7

thuyền chở khách đã hóa thành truyền chở trăng Cảnh có sự nhập mờ giữa đôi

bờ hư - thực

+Đằng sau cảnh là tâm trạng vừa đau đớn, khắc khoải vừa khát khao cháy bỏngcủa nhà thơ

Khæ 3:

- Hình ảnh con người xuất hiện trong giấc mơ mông lung, xa vời:

+ “Khách đường xa”: bóng hình đến rồi đi bất chợt làm tăng thêm sự khắckhoải, bồn chồn của lòng người đa cảm

+sắc áo trắng thanh khiết, tinh khôi được tô đậm đến tận cùng, bị biến thành ảogiác chỉ còn là một ấn tượng càng làm cho sự hụt hẫng lên tới cao độ

-Tâm trạng của thi nhân khi trở về lãnh cung chia lìa: Băn khoăn, nghi ngại cấtlên câu hỏi hoài nghi về sự đậm đà trong tình cảm của “ai” kia (“khách đườngxa”, tình người trong cõi trần ai) Trong tâm trạng đó bao hàm cả một hi vọngsâu kín, chan chứa niềm thiết tha với cuộc đời nhưng cũng đầy mặc cảm

Câu hỏi kết thúc bài thơ “Ai biết tình ai có đậm đà?” là lời chất vấn hướng đến

sự giãi bày mong ước tìm kiếm những hồn tri âm đồng điệu đồng thời có thểcoi là câu trả lời cho câu hỏi mở đầu văn bản tạo nên kết cấu chặt chẽ thể hiệnnhất quán tình yêu dành cho cuộc sống của nhà thơ

*3-Tổng kết, củng cố kiến thức:

-Bài thơ thể hiện niềm tha thiết với cuộc sống nhưng đầy uẩn khúc của thi sĩ.

-Cảnh sắc thiên nhiên là sự giao chuyển nhiều cảnh theo lối bất định không tuânthủ theo tính liên tục của thời gian và tính duy nhất của không gian

-Hình ảnh sáng tạo, ngôn ngữ thơ cực tả mà luôn trong sáng, thủ pháp nghệ

thuật lấy động gợi tĩnh…

=>Từ kiến thức về văn bản có thể thấy: Muốn đọc thơ Hàn Mặc Tử phải chú ý đến mạch ngầm cảm xúc trong cõi tâm hồn của con người mang lòng yêu đời yêu cuộc sống đến thiết tha nhưng cũng đầy đớn đau, khắc khoải.

2.4 Mã hóa nội dung kiến thức thành câu hỏi, tình huống học tập trong giờ dạy đọc - hiểu văn bản “Đây thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử):

Công đoạn xây dựng câu hỏi, tình huống học tập đòi hỏi giáo viên phải chú ýđến nhiều yếu tố (đặc trưng tài liệu giảng dạy, đối tượng giảng dạy, tâm lí họcsinh trước đơn vị kiến thức cần tìm hiểu…) để có cơ cơ sở định hướng cho việchình thành câu hỏi, tình huống học tập đáp ứng yêu cầu

2.4.1 Một điều hết sức quan trọng đối với việc vận dụng kỹ thuật đặt câu hỏi

trong giờ dạy “Đây thôn Vĩ Dạ” là: Giáo viên phải xây dựng được tình huống học tập trung tâm trên cơ sở phát hiện mâu thuẫn nghệ thuật đặc thù của văn

bản (mâu thuẫn thuộc cấp độ hình thức, tập trung làm sáng tỏ nội dung tư tưởngcủa tác phẩm) Tình huống học tập trung tâm này sẽ là điểm tựa để giáo viênphát triển thêm các tình huống, câu hỏi hướng dẫn học sinh tiếp cận văn bảnđúng hướng, có trọng tâm

Với “Đây thôn Vĩ Dạ”, tình huống học tập trung tâm được tôi xác định

là :Bài thơ được tạo nên từ ba khổ thơ, mỗi khổ thơ đề cập đến một hình ảnh

Trang 8

không có sự gắn bó Phải chăng “Đây thôn Vĩ Dạ” là sự chắp nối vụng về, rời rạc giữa ba đoạn ? Có dòng chảy nào xuyên suốt các khổ thơ? (Tình

huống xuất hiện cuối giờ học)

Tình huống học tập trên được xây dựng từ việc phát hiện mâu thuẫn nghệthuật đặc thù của “Đây thôn Vĩ Dạ”: sự vận động lạc hướng của tiến trình sựkiện với những xác định dứt khoát ban đầu của tác giả hay là sự thiếu ăn khớpgiữa nhan đề tác phẩm với câu chuyện được nói tới trong văn bản Cụ thể: Nhan

đề bài thơ chuẩn bị cho người đọc tâm thế chuẩn bị tiếp nhận cảnh sắc thôn Vĩ

và người đọc đã không bị phụ lòng, trước mắt họ hiện lên một bức tranh thiênnhiên trong trẻo, tuyệt đẹp ( Khổ 1) Nhưng độc giả đang trên đà say theo cảnhthì bị chững lại bởi hình ảnh thiên nhiên chia lìa, tan tác, có sự nhập mờ giữa đôi

bờ hư-thực (Khổ 2) Đến khổ thơ thứ 3 thì cõi thực bị đẩy lùi nhường chỗ chocõi mộng với hình ảnh trung tâm là hình bóng con người

Xác định được tình huống trung tâm, tôi nhìn ra hướng đi và cái đích mìnhcần tới trong giờ dạy đọc hiểu “Đây thôn Vĩ Dạ” là xây dựng các câu hỏi, tìnhhuống học tập có tính chất phụ trợ để hướng dẫn học sinh tìm ra sự vận độngcủa mạch cảm xúc thể hiện trong tác phẩm

2.4.2 Xây dựng hệ thống câu hỏi, câu hỏi có vấn đề làm rõ tình huống học tậptrung tâm:

*Tình huống tạo không khí đầu giờ (khi giới thiệu hoàn cảnh ra đời bài thơ):

Để phá bỏ đập chắn tâm lí “Đây thôn Vĩ Dạ” là một bài thơ khó đọc – hiểu,đồng thời nhằm khơi dậy sự chú ý từ học sinh để các em hào hứng, có sẵn tâmthế háo hức muốn khám phá thi phẩm, tôi kể nhanh cho học sinh nghe câuchuyện tình giữa Hàn Mặc Tử và Hoàng Cúc Kết thúc câu chuyện kể, tôi đưa ra

tình huống mang tính dẫn dắt (không cần trả lời): Bài thơ không thể không liên

quan đến hoàn cảnh ấy nhưng có nên cột chặt ý nghĩa của nó vào câu chuyện riêng tư cũng như vào một địa danh hẹp là chốn Vĩ Dạ, sông Hương?

Tình huống làm nảy sinh tâm lí băn khoăn, thắc mắc, đưa các em vào tâm thếchuẩn bị huy động kiến thức để giải quyết vấn đề được nêu

*Tình huống học tập hướng học sinh tiếp cận bài thơ theo hướng hợp lí :

Nhằm tạo mối liên kết bên trong với tình huống trung tâm và giúp học sinh xác

định hướng tiếp cận thi phẩm, tôi nêu tình huống: Đây thôn Vĩ Dạ là một bài

thơ từng có nhiều cách cảm nhận khác nhau Có người cho đây là bài thơ tả cảnh, người lại cho bài thơ nói về tình yêu thầm kín của Hàn Mặc Tử và Hoàng Cúc.Theo anh(chị) cách hiểu ấy có thỏa đáng không? Vì sao?

Từ thực tế phần lớn các em đồng tình với một trong hai cách cảm nhận trên,

giáo viên có thể tạo tình huống bằng lời nhận xét: Giả sử ý kiến của anh(chị )

là đúng, ta cùng nhìn lại văn bản, đọc một số câu thơ “nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”, “Có chở trăng về kịp tối nay?”…anh(chị ) thấy cách hiểu của mình như thế đã hợp lí chưa?

Ở đây giáo viên phải dẫn dắt, phân tích để học sinh đi đến phủ định hai cáchhiểu về văn bản nói trên: Thi phẩm không đơn thuần tả cảnh vì nhức nhối , ám

Trang 9

ảnh trong chúng ta là những câu hỏi “Sao anh không về chơi thôn Vĩ”, “Thuyền

ai đậu bến sông trăng đó / Có chở trăng về kịp tối nay?”, “Ai biết tình ai có đậmđà?”; hơn nữa cách hiểu này đã bỏ qua phong cách thơ Hàn Mặc Tử “luôn cókhuynh hướng quay vào nội tâm, rất ít tả, ít kể theo cái nhìn của con mắt” (VũQuần Phương) Nếu cảm nhận Đây thôn Vĩ Dạ là bài thơ viết về tình yêu đơnphương thì người đọc mới chỉ dựa vào hoàn cảnh sáng tác mà bỏ qua căn cứquan trọng là văn bản ngôn từ

Tiếp đến, giáo viên phải định hướng cho các em : Đằng sau bức tranh thiên

nhiên thơ mộng, đằng sau mối tình thầm kín của nhà thơ với Hoàng Cúc còn

có một nỗi niềm gì đó sâu xa, kín đáo, khó tiếp cận Lời định hướng thực chất

là sự hé mở cho các em thấy tầng sâu của bài thơ là thế giới tâm trạng của thinhân – “cái mạch trữ tình vừa thắm đượm hồn người vừa thể hiện bằng mộtthiên bẩm tài hoa” (Giáo viên nhân dân- số đặc biệt, tháng 11/1989) Đối vớihọc sinh có năng lực nhạy bén, lời định hướng của giáo viên lại trở thành dữ

kiện để các em khắc phục tình huống xuất hiện cuối giờ “Có dòng chảy nào

xuyên suốt các khổ thơ?

*Câu hỏi, tình huống học tập hướng dẫn học sinh đọc- hiểu khổ thơ thứ nhất:

Dựa trên cơ sở sự phát hiện về hình thức độc đáo của câu thơ “Sao anhkhông về chơi thôn Vĩ?”, tôi xây dựng một câu hỏi chứa đựng tình huống họctập có hình thức hấp dẫn dưới dạng một câu đố vừa quen vừa lạ khiến học sinh

thích thú từ đó kích thích sự tìm tòi, khám phá của các em: Nhan đề bài thơ

giống như một lời giới thiệu, mời chào : Đây tôi sẽ tả cho các bạn xem thôn

Vĩ và nhà thơ bắt đầu Nhưng lẽ ra phải bắt đầu bằng một câu tả như thường

lệ thì Hàn Mặc Tử lại bắt đầu bằng câu hỏi Tại sao vậy? Câu hỏi ở đây có ý nghĩa gì? Tình huống được nêu có mối liên hệ chặt chẽ với tình huống cuối giờ

học góp phần triển khai mâu thuẫn nghệ thuật đặc thù của tác phẩm Tuy nhiên

ở đây, mâu thuẫn nghệ thuật đặc thù được khai thác từ một chi tiết nghệ thuậtthú vị: hình thức bất thường của câu thơ - một câu hỏi tu từ

Từ việc gợi ý cho học sinh khai thác những nét đặc sắc của câu hỏi mở đầu

thi phẩm, tôi đã dẫn dắt để các em tìm ra ý nghĩa câu thơ: Câu thơ có sáu tiếng

đầu mang thanh bằng tạo nên giọng điệu êm ru mang đậm phong cách Huế, cách sử dụng đại từ nhân xưng “anh” tạo sự cởi mở thân tình trong quan hệ giao tiếp, thủ pháp nghệ thuật phân thân đem đến cho câu thơ mở đầu nhiều sắc thái ý nghĩa: vừa hỏi han, vừa nhắc nhớ, vừa trách móc giận hờn mát mẻ, vừa mời mọc ngọt ngào, tha thiết đồng thời cũng là lời tự vấn lòng mình đầy day dứt của nhà thơ …Câu thơ ngay từ đầu đã gieo vào lòng người đọc như một cảm ứng đặc biệt tựa nỗi ám ảnh về thôn Vĩ

“Nỗi ám ảnh” do hình thức một câu thơ tạo nên là cơ sở để tình huống học tập

sau xuất hiện: Vậy thôn Vĩ có đặc điểm gì mà có sức ám ảnh lòng người đến

thế? Học sinh giải quyết được tình huống này, giáo viên có cơ sở để xây dựng

tình huống trung tâm xuất hiện cuối giờ học bởi vẻ đẹp thôn Vĩ Dạ được tạo nên

từ hình ảnh thơ gợi cảm, trong trẻo khác hẳn khung cảnh trong hai khổ thơ còn

Trang 10

lại Cảm nhận được sâu sắc bức tranh thôn Vĩ, học sinh mới có thể nhận ra dòngchảy tâm trạng của thi nhân ( khi liên hệ đến cảnh ngộ hiện tại Hàn Mặc Tửđang trải qua), từ đó giải thích được thực chất sự vi phạm cái lỗi không logiccủa nhà thơ Do vậy, sau khi hướng dẫn các em tiếp cận bức tranh thôn Vĩ bằng

các câu hỏi phụ trợ : Thôn Vĩ hiện lên trong quầng sáng kí ức của nhà thơ

qua hình ảnh nào? Cảm nhận về cách khắc họa các hình đó? Có tài liệu cho rằng “mặt chữ điền” là gương mặt của đàn ông, có người hiểu đó là gương mặt người phụ nữ Cách hiểu của anh(chị)? Nhận xét về bức tranh thôn Vĩ hiện về trong kí ức nhà thơ? Và khi các em cảm nhận được vẻ đẹp thôn Vĩ qua

các hình thơ:

+Ánh nắng: được khắc họa qua cái nhìn cận cảnh Hai chữ “nắng” trong câu thơ tạo nên tiết tấu khác thường - có cái gì như cái náo nức, e ấp, rạo rực ,xốn xang trong lòng khi ánh mắt bắt gặp ánh nắng đầu tiên của một ngày Cách nói giản dị đầy sức gợi đưa đến cảm giác về các cấp độ của ánh sáng: ban đầu là thứ ánh sáng được nhìn từ cái nhìn chủ động, định hướng tự nhiên, sau đó vươn lên một góc nhìn tập trung để đón nhận sắc nắng tinh khôi, thuần khiết và thanh thoát mà chỉ hàng cau vào lúc ban mai mới có Ánh nắng trinh nguyên của buổi mai như rải những vệt sáng lấp lóa trên những tàu cau còn ướt sương đêm Ta như cảm được hương thơm của nắng tỏa xuống không gian, thứ hương rất nhẹ của hoa cau mới nở Sắc nắng, vị nắng trộn hòa vào cảnh vật vừa vút lên trong cái tầm thanh thoát của hàng cau xứ Huế lại vừa chợt ùa xuống, tỏa rộng, tràn lên tất cả.

+Vườn thôn Vĩ: Thuộc về chủ thể phiếm chỉ “ai” Hai tính từ chỉ cùng một gam màu nhưng sắc thái khác nhau “mướt”, “xanh” cùng phép so sánh cụ thể hóa đặc điểm của khung cảnh, giúp người đọc hình dung khoảng xanh vườn tược với vẻ đẹp mượt mà, mỡ màng, tràn đầy sức sống ; vẻ đẹp trong sáng, tao nhã, quý phái…giống như một viên ngọc rời rợi sắc xanh và đang tỏa vào ban mai

cả những ánh xanh Thiếu đi cái ánh sắc ấy, mảnh vườn đơn sơ bình dị khó lòng có được vẻ thanh tú, cao sang Từ chỉ mức độ “quá” chứa đựng cảm nhận

về vẻ đẹp ở mức tột bậc và cả niềm thiết tha ở mức đau thương khiến câu thơ cứ như là buột miệng, như không kìm nổi lòng mình phải reo lên, phải thốt lên sự ngạc nhiên đến thẫn thờ.

+Lá trúc: mảnh mai, thon dài như nét điểm xuyết làm tôn lên vẻ thanh tú của khung cảnh thiên nhiên.

+Con người: xuất hiện thấp thoáng sau lá trúc với gương mặt “chữ điền”(có thể là gương mặt của người phụ nữ mang vẻ đẹp phúc hậu, kín đáo, duyên dáng; có thể là gương mặt của người đàn ông( trở về thôn Vĩ) đang say ngắm cảnh vật).Ở đây hình ảnh thơ được miêu tả theo hướng cách điệu hóa gợi lên vẻ đẹp của con người chứ không cụ thể hóa.

-> cảnh sắc thôn Vĩ qua lăng kính của con người mang mặc cảm chia lìa nên mang đặc trưng đơn sơ nhưng tươi sáng, trong trẻo, gợi cảm, tràn đầy sức sống

và vô cùng lộng lẫy.

Ngày đăng: 22/05/2014, 13:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- Câu 1: hình thức câu hỏi tu từ mang nhiều sắc thái ý nghĩa: vừa hỏi han, vừa nhắc nhớ, vừa trách móc giận hờn mát mẻ, vừa mời mọc ngọt ngào, tha thiết đồng thời cũng là lời tự vấn lòng mình đầy day dứt của nhà thơ - Nâng cao hiệu quả giờ dạy đọc - hiểu văn bản "Đây thôn Vĩ Dạ" của Hàn Mặc Tử
u 1: hình thức câu hỏi tu từ mang nhiều sắc thái ý nghĩa: vừa hỏi han, vừa nhắc nhớ, vừa trách móc giận hờn mát mẻ, vừa mời mọc ngọt ngào, tha thiết đồng thời cũng là lời tự vấn lòng mình đầy day dứt của nhà thơ (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w