Chính vì lý do này, tôi đã đề xuất đề tài luận văn là “Điều khiển giảm dao động cầu trục con lắc đôi” với đối tượng chính là hệ cầu trục dạng con lắc đôi và áp dụng bộ điều khiển ADRC k
Khái ni ệ m v ề c ầ u tr ụ c
C ấ u t ạ o c ủ a c ầ u tr ụ c
Để nắm bắt các thuật ngữ liên quan đến cầu trục, chúng ta sẽ xem xét các bộ phận và thành phần của cầu trục, cũng như tác động của chúng đến hiệu suất và thiết kế.
• Móc cẩu: Tải trọng nâng được hỗ trợ bằng cách sử dụng một móc nối với tời kéo
Tời kéo là thiết bị dùng để nâng, giữ, hoặc hạ tải trọng thông qua dây hoặc xích Thiết bị này có thể hoạt động bằng tay (tay quay), điện, hoặc khí nén, mang lại sự linh hoạt trong việc sử dụng.
Xe cầu là thiết bị di chuyển theo chiều ngang và dọc trên cầu trục, được trang bị tời kéo để định vị tời và móc cẩu trước khi nâng hoặc hạ tải Xe cầu có thể được thiết kế để chạy dưới hoặc trên cầu trục.
Chạy dưới: Bánh xe con chạy trên vành dưới cùng của dầm cầu trục
Chạy trên: Bánh xe con chạy trên ray phía trên của dầm cầu trục Thường thấy nhất trong các thiết kế dầm đôi công suất lớn
Cầu là một dầm chịu lực lắp đặt từ bên này sang bên kia của nhà xưởng, đóng vai trò là thành phần cấu trúc chính Nó kết nối các đường băng và di chuyển tời kéo về phía trước và phía sau thông qua xe cầu Cầu có thể được thiết kế với một hoặc hai dầm, thường gọi là dầm đơn hoặc dầm đôi, và có thể được chế tạo từ thép cán hoặc thép định hình.
Dầm chạy là cấu trúc mà cầu trục di chuyển trên đó, thường là một phần quan trọng của nhà xưởng Mỗi hệ thống cầu trục thường bao gồm hai dầm chạy.
Ray hoặc đường ray là cấu trúc hỗ trợ cho cầu trục di chuyển Cầu trục thường chạy trên đường ray ASCE hoặc đường sắt Ngoài ra, cầu trục giàn cũng có thể sử dụng hệ thống đường ray hoặc đường ray lắp đặt trong sàn để di chuyển qua lại.
Phân lo ạ i c ầ u tr ụ c
Cầu trục có nhiều kích thước, hình dạng và mục đích sử dụng khác nhau Do đó, khi lựa chọn cầu trục, cần dựa vào các tiêu chí cụ thể.
• Chuyển động của cơ cấu cầu trục
• Tải trọng và cấu tạo hàng hóa
• Địa điểm lắp đặt cầu trục là bên trong hay bên ngoài cơ sở sản xuất
• Tuổi thọ của cầu trục
Dựa trên các tiêu chí đã nêu, chúng ta có thể lựa chọn cầu trục phù hợp với nhu cầu sử dụng Cầu trục được phân loại theo cấu tạo thành hai loại chính: cầu trục dầm đơn và cầu trục dầm đôi.
Cầu dầm đơn bao gồm một dầm chính kết nối với hai dầm biên ở hai bên, với xe cầu và tời kéo được treo phía dưới dầm Loại cầu này có chi phí thấp do thiết kế đơn giản và hiệu quả trong việc sử dụng vật liệu.
• Giảm chi phí vận chuyển
• Kết cấu xe cầu và tời kéo đơn giản
Hình 1.1 Cầu trục dầm đơn
Cầu hai dầm bao gồm hai dầm chính được kết nối bởi hai dầm biên ở hai bên Xe cầu và tời nâng di chuyển trên đường ray lắp đặt phía trên hoặc dưới dầm cầu Loại cầu này thường được sử dụng cho các ứng dụng yêu cầu tải trọng lớn và có tuổi thọ cao.
Hình 1.2 Cầu trục dầm đôi
1.1.2.3 Phân loại theo mục đích sử dụng
• Cầu trục cầu cảng: với sức nâng hàng hóa lớn, cường độ làm việc liên tục
• Cầu trục cho các nhà máy luyện kim, gang thép: làm việc trong môi trường khắc nghiệt
• Cầu trục chuyên dùng cho các nhà máy thủy điện
• Cầu trục có các cơ cấu mang hàng đặc biệt: Gầu ngạm, nam châm từ
Hình 1.3 Cầu trục cầu cảng
Hi ện tượng dao độ ng c ủ a c ầ u tr ụ c
Hiện tượng dao động thường xuất hiện trong các cơ cấu linh hoạt như tay robot và cầu trục, gây ra các dao động không mong muốn khi dừng chuyển động Những dao động này không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng và năng suất sản phẩm mà còn tiềm ẩn nguy hiểm cho người vận hành và những người xung quanh Thời gian tắt dần của các dao động này phụ thuộc vào lực cản của môi trường.
Cầu trục là thiết bị thiết yếu trong ngành công nghiệp, hỗ trợ vận chuyển hàng hóa nặng tại các nhà máy, kho bãi và cảng Do đó, yêu cầu về điều khiển cầu trục ngày càng cao, nhằm đảm bảo di chuyển chính xác đến vị trí mong muốn và đáp ứng tiêu chuẩn an toàn, đồng thời giảm dao động tải trọng nhanh chóng Hai nhiệm vụ quan trọng cho các nhà nghiên cứu thiết kế hệ điều khiển cầu trục là tối ưu hóa độ chính xác và an toàn trong quá trình vận hành.
• Điều khiển vị trí xe cầu nhanh, chính xác
• Triệt tiêu dao động của tải trọng.
Các bài toán điề u khi ể n cho c ầ u tr ục đang đượ c quan tâm
Trong thiết kế điều khiển cầu trục, người ta thường bỏ qua dây treo từ móc đến tải trọng và coi khối lượng của móc cẩu là không đáng kể Do đó, cầu trục có thể được xem như một mô hình con lắc đơn với một tần số dao động Tuy nhiên, để phản ánh chính xác hơn về thực tế, cần xem xét mô hình cầu trục một cách chi tiết hơn.
Chiều dài dây cáp từ móc cẩu đến tải trọng và khối lượng của móc cẩu có ảnh hưởng đáng kể đến thiết kế cầu trục, tương tự như mô hình con lắc đôi với hai tần số dao động, làm cho việc điều khiển trở nên phức tạp hơn Mục tiêu của thiết kế cầu trục con lắc đôi là điều khiển xe cầu đưa tải trọng đến vị trí mong muốn và triệt tiêu dao động của móc cẩu và tải trọng Nhiều nghiên cứu đã tập trung vào giải quyết bài toán điều khiển này thông qua các thuật toán khác nhau như điều khiển phản hồi đầu ra, điều khiển trượt, điều khiển tạo dạng theo mô hình mẫu và điều khiển tạo dạng tín hiệu đầu vào Mỗi loại bộ điều khiển có ưu nhược điểm riêng, với bộ điều khiển phản hồi đầu ra yêu cầu đo các giá trị đầu ra như vị trí và góc dao động theo tiêu chuẩn ổn định Lyapunov Bộ điều khiển trượt không chỉ cần đo các tín hiệu vị trí và góc dao động mà còn yêu cầu thông tin về các biến trạng thái của hệ, điều này có thể được khắc phục bằng cách ước lượng thông qua các bộ quan sát, nhưng lại làm tăng độ phức tạp của bộ điều khiển.
Tiếp đến, ta sẽđề cập tới lớp các bộ điều khiển tiền định (feed-forward)
Bộ điều khiển tạo dạng theo mô hình mẫu (MRCS) được thiết kế dựa trên một mô hình mẫu nhằm đạt được đáp ứng động học mong muốn Đáp ứng này yêu cầu tắt dần nhanh với dao động tối thiểu, đạt được hệ số tắt dần bằng một (critically damped).
Hình 1.4 Cấu trúc điều khiển MRCS áp dụng cho đối tượng cầu trục con lắc đôi
Bộ điều khiển tạo dạng đầu vào chỉ cần biết tần số dao động của hệ để thiết kế, mà tần số này có thể tính toán từ tham số của cầu trục mà không cần đo góc dao động So với các phương pháp điều khiển có cấu trúc phản hồi, bộ điều khiển này dễ triển khai hơn, nhưng có nhược điểm là đáp ứng chậm do ảnh hưởng của việc tạo dạng tín hiệu đầu vào Đáp ứng càng chậm khi bộ điều khiển càng bền vững trước sai số mô hình Thông thường, bộ điều khiển tạo dạng được kết hợp với bộ điều khiển phản hồi, như bộ điều khiển PID, để điều khiển vị trí và triệt tiêu hai tần số dao động sinh ra bởi cầu trục.
Để nâng cao tính bền vững và tối ưu thời gian đáp ứng cho phương pháp Input shaping, ngoài bộ điều khiển cơ bản ZV (Zero Variation) hai xung, các nghiên cứu đã áp dụng nhiều biến thể Input shaping khác nhau như ZVD (Zero Variation and Derivative) ba xung và bộ tạo dạng bền vững SI (Specified-Insensitivity shaper).
Hình 1.5 Cấu trúc điều khiển Input shaping áp dụng cho đối tượng cầu trục con lắc đôi
K ế t lu ậ n
Chúng tôi đề xuất nghiên cứu điều khiển giảm dao động cầu trục con lắc đôi bằng phương pháp tạo dạng đầu vào (Input shaping), sử dụng biến thể ETMn (Equal Shaping-Time and Magnitude) kết hợp với bộ điều khiển chống nhiễu chủ động (ADRC) Phương pháp này cho phép điều khiển vị trí xe nâng đồng thời triệt tiêu dao động của tải trọng Gần đây, bộ điều khiển ADRC đã được nghiên cứu và áp dụng để thay thế bộ điều khiển PID truyền thống, nhờ vào khả năng loại bỏ nhiễu và sai số mô hình thông qua bộ quan sát mở rộng (ESO) Điều này giúp khắc phục nhược điểm của bộ điều khiển PID, vốn rất nhạy cảm với nhiễu và sai số mô hình do thành phần vi phân D.
XÂY DỰ NG MÔ HÌNH TOÁN H Ọ C C Ủ A C Ầ U TR Ụ C D Ạ NG
Mô hình hóa c ầ u tr ụ c con l ắc đôi
Hệ thống cầu trục được mô tả với trục Ox nằm ngang song song với cầu, hướng di chuyển của xe nâng, và trục Oy thẳng đứng hướng lên Xe cầu di chuyển trên cầu với vị trí xác định bởi khoảng cách 𝑥 từ gốc tọa độ đến điểm móc cáp Chiều dài cáp từ điểm móc cáp đến móc cẩu là 𝑟𝑟 1, và từ móc cẩu đến tải trọng là 𝑟𝑟 2 Cáp cẩu được coi là cáp cứng với độ biến dạng kéo giãn không đáng kể, do đó chiều dài hai cáp không thay đổi trong quá trình di chuyển Khi xe cầu di chuyển, móc cẩu tạo với điểm móc cáp một góc 𝜃𝜃1 và với tải trọng một góc 𝜃𝜃2 Xe cầu, móc cẩu và tải trọng được xem như một chất điểm với khối lượng lần lượt là 𝑀, 𝑚𝑚 1 và 𝑚𝑚 2.
Hình 2.1 Mô hình mô tả hoạt động của cầu trục con lắc đôi
Ta xây dựng mô hình toán học của cầu trục dạng con lắc đôi [15].
Gọi K là tổng động năng của hệ và T là tổng thếnăng của hệ Ta có:
𝐾𝐾 =𝐾𝐾𝑀𝑀+𝐾𝐾𝑚𝑚1+𝐾𝐾𝑚𝑚2 PT 2.1 Động năng của xe cầu:
2𝑀𝑀𝑥𝑥 2 ̇ PT 2.2 Động năng của móc cẩu:
) PT 2.5 Động năng của tải trọng:
PT 2.8 Động năng của hệ bằng:
Từđây hàm Lagrange 𝐿𝐿 =𝐾𝐾 − 𝑃𝑃 cho hệ sẽ là:
PT 2.11 Áp dụng công thức động lực học Euler-Lagrange:
Trong đó: 𝑞𝑞𝑖𝑖: Tọa độ bậc tự do.
𝑄𝑄𝑗𝑗: Ngoại lực tác động vào hệ.
Ta xác định được hệ phương trình động lực học của cầu trục kiểu con lắc đôi như sau:
Ta có phương trình góc dao động như sau:
Tần sốdao động riêng của hệ được xác định bằng cách giải phương trình sau:
1, ta giải ra được hai tần số dao động của mô hình cầu trục con lắc kép:
Từ phương trình, ta thấy hệ số của biến 𝜃𝜃̇ = 0, nên ta chọn hệ số tắt dần
Mô ph ỏ ng mô hình trên ph ầ n m ề m Matlab/Simulink
Mô hình được kiểm chứng từ các phương trình (2.13) đến (2.15) thông qua phần mềm Matlab/Simulink Dưới đây là danh sách các thông số mô phỏng [26]:
• Chiều dài dây cáp từxe nâng đến móc: 𝑟𝑟 1 = 2m
• Chiều dài dây cáp từmóc đến tải trọng: 𝑟𝑟2= 0.2m
• Khối lượng xe nâng: 𝑀𝑀= 20kg
• Khối lượng tải trọng: 𝑚𝑚 2 = 5kg
Mô phỏng mô hình cầu trục con lắc đôi cho thấy khi một lực F có độ lớn 20N tác động vào xe nâng theo trục 0x, sẽ xuất hiện dao động điều hòa giữa tải trọng và móc, cũng như giữa móc và xe cầu trong quá trình di chuyển.
K ế t lu ậ n
Qua quá trình xây dựng mô hình toán học và mô phỏng, chúng ta nhận thấy rằng trong quá trình di chuyển của xe cầu, cầu trục con lắc đôi xuất hiện hai tần số dao động Ở chương tiếp theo, chúng tôi sẽ thiết kế bộ điều khiển nhằm điều chỉnh chính xác vị trí xe cầu và triệt tiêu hai tần số dao động này.
THIẾ T K Ế B Ộ ĐIỀ U KHI Ể N
Phương pháp điề u khi ể n Input Shaping
Phương pháp điều khiển Input Shaping có nguồn gốc từ phương pháp Posicast, được OJM Smith giới thiệu vào cuối những năm 50 của thế kỷ trước, nhằm giảm dao động trong các hệ linh hoạt.
Mặc dù phương pháp Input Shaping chưa được sử dụng phổ biến do phần cứng không đáp ứng yêu cầu về tốc độ tính toán và tính bền vững phụ thuộc vào mô hình toán học, nhưng vào năm 1988, Neil C Singer đã giới thiệu phương pháp này với các cải tiến về độ bền vững và chứng minh toán học, khẳng định tính đúng đắn của nó Kể từ đó, Input Shaping đã trở nên phổ biến hơn trong việc giảm dao động với nhiều biến thể và cải tiến khác nhau Phương pháp điều khiển Input Shaping cổ điển được trình bày như sau.
Khi tác động vào hệ một xung kích thích, hệ sẽ dao động Một hệ dao động tuyến tính và không liên kết có bậc bất kỳ có thể được mô tả như một tập hợp các điểm cực của khâu quán tính bậc hai, với đáp ứng dạng hình sin tắt dần.
�1− 𝜁𝜁 2 𝑑𝑑 −𝜁𝜁𝜔𝜔 𝑛𝑛 (𝑡𝑡−𝑡𝑡 0 ) � 𝑐𝑐𝐴𝐴𝜔𝜔𝜔𝜔 𝑛𝑛 �1− 𝜁𝜁 2 (𝑚𝑚 − 𝑚𝑚 0 ) PT 3.1 Trong đó: A là biên độ của xung kích thích
𝜔𝜔𝑛𝑛 làtần sốdao động tự nhiên của hệ
𝜁𝜁 là hệ số tắt dần (0 < 𝜁𝜁 < 1)
Thời gian được ký hiệu là 𝑚𝑚, trong đó 𝑚𝑚 0 đại diện cho thời gian xung kích thích Phương trình (3.1) mô tả đáp ứng tốc độ hoặc gia tốc, ký hiệu là 𝑦𝑦(𝑚𝑚) Hình 3.1 cho thấy rằng, khi hai xung chồng lên nhau, hệ thống sẽ di chuyển tiến lên mà không dao động sau khi xung đầu vào kết thúc Trong trường hợp này, tín hiệu đầu vào bao gồm hai xung, với điểm cuối của xung thứ nhất trùng với thời điểm của xung đầu vào thứ hai Kết quả này có thể đạt được bằng cách cộng hai đáp ứng xung lại với nhau.
Đáp ứng của hai xung là không có dao động khi tín hiệu đầu vào đầu tiên kết thúc đúng vào thời điểm bắt đầu của tín hiệu đầu vào thứ hai.
Ta có, biên độ dao động hợp bởi nhiều xung kích thích đầu vào được thể hiện như sau:
Biên độ của sóng hình sin, ký hiệu là \( BB_{jj} \), được xác định cho mỗi \( N \) xung đầu vào, trong khi \( mm_{jj} \) là thời gian phát động của xung Để loại bỏ rung động sau khi các xung đầu vào kết thúc, \( AA_{aam} \) cần phải bằng không tại thời điểm tín hiệu đầu vào kết thúc \( mm_{NN} \) Điều này tương đương với việc các biểu thức trong căn cũng phải đồng thời bằng không.
Biên độ của xung thứ N được ký hiệu là \( A_j \), thời gian xuất hiện xung thứ N là \( m_j \), và thời gian xuất hiện xung cuối cùng (kết thúc chu trình) là \( m_N \) Công thức này có thể được biến đổi thành dạng khác.
Với trường hợp hai xung ZV, (với sơ kiện ∑ 𝑁𝑁 𝑗𝑗=1 𝐴𝐴 𝑗𝑗 = 1,𝑚𝑚 1 = 0) Ta có phương trình
Từphương trình (2.12) dễdàng tính được 𝑚𝑚 2 = 𝜔𝜔 𝜋𝜋
𝑛𝑛 �1−𝜁𝜁 2 Thay 𝑚𝑚2vào phương trình (3.13) cùng với phương trình (3.14) ta giải được:
Ta biểu diễn dưới dạng ma trận được phương trình input shaper ZV như sau:
Tính b ề n v ữ ng c ủa phương pháp Input Shaping
Việc làm tắt dao động chỉ xảy ra khi tham số mô hình, bao gồm tần số dao động riêng và hệ số tắt dần, là chính xác Trong quá trình mô phỏng và thử nghiệm thực tế, ảnh hưởng của sai lệch hệ số tắt dần đối với hệ thống là không đáng kể Do đó, chúng ta chỉ tập trung vào ảnh hưởng của tần số dao động riêng 𝜔𝜔𝑛𝑛 đến tính bền vững của hệ thống Để tăng tính bền vững, chúng ta đưa thêm ràng buộc vào hệ phương trình bằng cách xét thêm đạo hàm riêng của (3.10) và (3.11) đối với 𝜔𝜔𝑛𝑛 và cho chúng bằng không, từ đó thu được phương trình.
Vì vậy, sẽ xuất hiện thêm hai ẩn mới là 𝐴𝐴 3 và 𝑚𝑚 3 Thuật toán input shaping sẽ bao gồm 3 xung đầu vào, còn gọi là ZVD, do có thêm 1 lần tích phân so với ZV Để tìm các giá trị 𝐴𝐴 1, 𝐴𝐴 2, 𝐴𝐴 3 và 𝑚𝑚 2, 𝑚𝑚 3, ta cần giải hệ năm phương trình với năm ẩn.
Từphương trình (3.19), (3.21) ta tính được 𝑚𝑚 2 = 𝜔𝜔 𝜋𝜋
𝑛𝑛 �1−𝜁𝜁 2 Thay 𝑚𝑚2, 𝑚𝑚3vào các phương trình còn lại ta giải ra được:
Ta biểu diễn dưới dạng ma trận được phương trình input shaper ZVD như sau:
Để tăng cường tính bền vững trước sai số mô hình, ta thực hiện đạo hàm hai lần và đặt phương trình bằng không Kết quả thu được là thuật toán với 4 xung đầu vào (ZVDD input shaper).
3.2.1 Cách tiếp cận mới phương pháp cộng véctơ
Sử dụng phương pháp cộng vectơ cho Input shaping Một vectơ xung 𝐼𝐼 𝑖𝑖 được xác định bằng độ lớn và góc pha của véc tơ trong vòng tròn lượng giác [20]
3.2.1.1 Định nghĩa vectơ xung Đối với hệdao động bậc 2 với tần sốdao động riêng 𝜔𝜔 𝑛𝑛 và hệ số tắt dần 𝜁𝜁, biên độ𝐼𝐼 𝑖𝑖 và góc pha 𝜃𝜃 𝑖𝑖 của vectơ 𝐼𝐼 𝑖𝑖 được xác định như sau:
𝐼𝐼 𝑖𝑖 =𝐴𝐴 𝑖𝑖 𝑑𝑑 𝜁𝜁𝜔𝜔 𝑛𝑛 𝑡𝑡 𝑖𝑖 , 𝜃𝜃 𝑖𝑖 =𝜔𝜔 𝑑𝑑 𝑚𝑚 𝑖𝑖 PT 3.27 Trong đó: 𝐴𝐴 𝑖𝑖 là độ lớn của hàm xung, 𝑚𝑚 𝑖𝑖 là thời điểm diễn ra hàm xung và 𝜔𝜔 𝑑𝑑 tần số tắt dần riêng của hệ (𝜔𝜔𝑑𝑑 =𝜔𝜔𝑛𝑛�1− 𝜁𝜁 2 )
Nếu xung là xung dương (𝐴𝐴𝑖𝑖 > 0), vectơ xung bắt đầu từ gốc tọa độ Ngược lại, nếu xung là xung âm (𝐴𝐴𝑖𝑖 < 0), vectơ xung kết thúc tại gốc tọa độ.
Hình 3.2 a) Trường hợp Vectơ 𝐴𝐴 𝑖𝑖 > 0, b) Trường hợp 𝐴𝐴 𝑖𝑖 < 0 [20]
Xét trường hợp hai xung:
Một hệdao động tắt dần có hàm truyền là:
Hệ có tần số dao động riêng là 1 Hz và hệ số tắt dần là 0,1 Giả thiết rằng xung đầu tiên xảy ra tại thời điểm 0,1 giây và xung thứ hai tại 0,2 giây Chúng ta có hai xung 𝐼𝐼1 và 𝐼𝐼2 được rút ra từ phương trình (3.27).
Vectơ xung tổng của hai xung 𝐼𝐼1 và 𝐼𝐼2 (𝐼𝐼𝑟𝑟) có thểtính được thông qua 𝑅𝑅𝑥𝑥 và 𝑅𝑅𝑦𝑦 (Tổng hình chiếu lên trục x và trục y):
Ta thêm một vectơ xung 𝐼𝐼 3 có biên độtương đương và có chiều ngược với vectơ𝐼𝐼 𝑅𝑅 để triệt tiêu 𝐼𝐼 𝑅𝑅 Ta có xung 𝐼𝐼 3 :
Tổng 𝐼𝐼1+𝐼𝐼2+𝐼𝐼3 sẽ bằng 0 Khi ba vectơ xung này chuyển ngược lại về miền thời gian 𝐴𝐴1𝛿𝛿(𝑚𝑚 − 𝑚𝑚 1 ) +𝐴𝐴2𝛿𝛿(𝑚𝑚 − 𝑚𝑚 2 ) +𝐴𝐴3𝛿𝛿(𝑚𝑚 − 𝑚𝑚 3 ) Ta có:
3.2.1.2 Áp dụng phương pháp cộng vectơ cho các phương pháp Input shaping cổ điển (ZV, ZVD, ZVDD) Để vectơ xung thứ nhất nằm ở góc 0 o trên đồ thị vectơ Để thiết kế input shaper với hai xung thì xung thứ hai phải nằm ở góc 180 o trên đồ thị vectơ với độ dài vectơ tương đương vectơ xung thứ nhất Với điều kiện chuẩn hóa đầu vào 𝐴𝐴 1 +
Từ phương trình (3.37), ta có 𝑚𝑚 2 = 𝜔𝜔 𝜋𝜋
𝑑𝑑, thay ngược 𝑚𝑚 2 vào phương trình (3.37), ta được 𝐼𝐼2 = 𝐴𝐴2.𝐾𝐾 Trong đó: 𝐾𝐾 =𝑑𝑑
Thay 𝑚𝑚1 = 0, ta được 𝐼𝐼1 = 𝐴𝐴1 Vì độ lớn vectơ 𝐼𝐼1 =𝐼𝐼2, ta có phương trình:
Từphương trình (3.38) và sơ kiện 𝐴𝐴 1 +𝐴𝐴 2 = 1, ta giải ra được:
Ta được ZV input shaper với 𝑚𝑚1 = 0,𝑚𝑚2 = 𝜔𝜔 𝜋𝜋
Hình 3.4 Bố trí vectơ theo ZV [20]
Để thiết kế Input shaper với ba xung, có nhiều cách sử dụng phương pháp cộng vectơ Một cách bố trí các vectơ là đặt vectơ thứ nhất ở 0 độ, vectơ thứ hai ở 180 độ và vectơ thứ ba ở 360 độ Để tổng ba vectơ này bằng không, tỉ lệ độ dài của các vectơ 𝐼𝐼 1 :𝐼𝐼 2 :𝐼𝐼 3 cần là 1: 2: 1.
Từba phương trình trên ta lần lượt tìm được 𝑚𝑚1 = 0,𝑚𝑚2 = 𝜔𝜔 𝜋𝜋
𝑑𝑑 Thay ngược lại vào phương trình ta có:
𝐼𝐼3 = 𝐴𝐴3.𝐾𝐾 2 PT 3.45 Áp dụng sơ kiện 𝐼𝐼1:𝐼𝐼2:𝐼𝐼3 = 1: 2: 1, 𝐴𝐴1+𝐴𝐴2+𝐴𝐴3 = 1 Ta có phương trình:
Ta được ZVD input shaper với:
Hình 3.5 Bố trí vectơ theo ZVD [20]
Tương tự với trường hợp bốn xung, vectơ thứ nhất ở 0 o , vectơ thứ hai ở
180 o , vectơ thứ ba ở 360 o và vectơ thứ tư ở 540 o Tỉ lệ độ dài vectơ lần lượt là:
𝐼𝐼 1 :𝐼𝐼 2 :𝐼𝐼 3 :𝐼𝐼 4 = 1: 3: 3: 1 Ta được ZVDD shaper với 𝑚𝑚 1 = 0,𝑚𝑚 2 = 𝜔𝜔 𝜋𝜋
Hình 3.6 Bố trí vectơ theo ZVDD [20]
3.2.1.3 Phương pháp ETMn (Equal Shaping-Time and Magnitude)
Bằng phương pháp cộng vectơ, chúng ta có thể sắp xếp các vectơ xung trên đường tròn lượng giác sao cho tổng của chúng bằng 0, từ đó dập tắt dao động Phương pháp ETMn được xây dựng dựa trên tính chất này, trong đó các vectơ xung được bố trí đều nhau và có độ lớn bằng nhau Vectơ đầu tiên và cuối cùng sẽ có tổng biên độ bằng với biên độ của các vectơ còn lại Chữ số “n” trong “ETMn” là số nguyên dương, biểu thị số lượng vectơ tham gia Các điều kiện về biên độ và góc pha của phương pháp ETMn sẽ được liệt kê dưới đây.
Phương pháp ETMn có ưu điểm là tất cả các vectơ xung đều nằm trong một vòng tròn lượng giác 2π, bất kể số lượng vectơ xung là bao nhiêu Điều này tương đương với thời gian thực hiện của phương pháp ZVD cổ điển với 3 xung.
Với ETM4 bao gồm 4 vectơ, như hình 3.7 a Thời gian bắt đầu phát xung
𝑚𝑚1,…,𝑚𝑚4được tính thông qua góc pha 𝜃𝜃 Biên độ của các vectơđược tính toán bằng cách giải hệphương trình:
Ta thu được kết quả là:
Tương tư, ta thu được kết quả với ETM5:
Hình 3.7 a) Trường hợp ETM4 b) Trường hợp ETM5 [20]
Khi tần số tự nhiên thực tế của hệ lớn hơn 20% so với tần số tự nhiên mô hình, phương pháp ETM4 cho thấy sự bền vững vượt trội so với phương pháp ZVD cổ điển Điều này chứng tỏ rằng lớp phương pháp EMTn có khả năng duy trì sự ổn định trước sai số 𝜔𝜔𝑛𝑛 trong suốt một chu kỳ 2π Để xác định giá trị “m” tối ưu, chúng ta sử dụng J, là tích phân của đồ thị bền vững trước sai số tần số tự nhiên 𝜔𝜔𝑛𝑛/𝜔𝜔�𝑛𝑛.
Hình 3.8 Đồ thị thể hiện sự bền vững của các phương pháp trước sai số mô hình 𝜔𝜔𝑛𝑛/𝜔𝜔�𝑛𝑛 [20]
Giá trị m làm J nhỏ nhất sẽ là m tối ưu (𝑚𝑚𝑜𝑜𝑎𝑎𝑡𝑡), với mỗi hệ có hệ số tắt dần
𝜁𝜁 khác nhau thì có hệ số 𝑚𝑚 𝑜𝑜𝑎𝑎𝑡𝑡 khác nhau Ta có bảng tra 𝑚𝑚 𝑜𝑜𝑎𝑎𝑡𝑡 theo 𝜁𝜁
Bảng 3.1 Bảng lựa chọn 𝑚𝑚 𝑜𝑜𝑎𝑎𝑡𝑡 theo 𝜁𝜁, được J nhỏ nhất với [𝑟𝑟 𝑙𝑙 ,𝑟𝑟 𝑢𝑢 ] = [0.2, 1.8]
B ộ điề u khi ể n lo ạ i b ỏ nhi ễ u ch ủ độ ng ADRC
Bộ điều khiển loại bỏ nhiễu chủ động ADRC, được phát triển bởi giáo sư J Han, nhằm thay thế bộ điều khiển PID kinh điển Tuy nhiên, việc xác định tham số của bộ điều khiển khi không rõ tham số mô hình là một thách thức lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng điều khiển, đặc biệt trong thực tế công nghiệp, nơi mà việc tìm kiếm chính xác tham số mô hình không phải lúc nào cũng khả thi.
Chỉ đến khi giáo sư Z Gao công bố phương pháp dò tìm thông số bộđiều khiển
Bộ điều khiển ADRC tuyến tính hiện đang được áp dụng rộng rãi nhờ vào những ưu điểm nổi bật như khả năng ít nhạy cảm với nhiễu và sai số mô hình.
Ta coi hệ bậc hai bất kỳ có dạng:
Trong đó: 𝑟𝑟là biến điều khiển đầu vào
Để điều khiển hệ thống hiệu quả, việc ước lượng chính xác hàm 𝑓 là rất quan trọng Chúng ta sẽ áp dụng bộ quan sát trạng thái mở rộng (ESO) để ước lượng 𝑓̂ gần với 𝑓 và xem nhiễu như một phần của hệ thống Nhờ vào ý tưởng này, bộ điều khiển ADRC được gọi là bộ điều khiển loại bỏ nhiễu chủ động Luật điều khiển sẽ được thiết lập theo một dạng cụ thể.
Ta chuyển mô hình hệ thống sang dạng không gian trạng thái với 𝑥𝑥 1 𝑦𝑦,𝑥𝑥 2 =𝑦𝑦̇ và 𝑥𝑥 3 =𝑓𝑓
Ta xây dựng mô hình bộ quan sát trạng thái mở rộng (ESO) dựa vào mô hình hệ thống:
Trong đó: 𝑟𝑟 1 , 𝑟𝑟 2 , 𝑟𝑟 3 là các tham số của bộ quan sát trạng thái.
𝑥𝑥�1, 𝑥𝑥�2, 𝑥𝑥�3là các biến trạng thái mà bộ quán sát ước lượng ra.
Sử dụng các biến ước lượng, ta có luật điều khiển phản hồi:
Trong đó: 𝑟𝑟 là giá trị đặt
Laplace hóa phương trình , ta có hàm truyền của hệ kín:
Hình 3.10 Cấu trúc điều khiển ADRC áp dụng cho hệ bậc hai [25]
Các bước tìm thông số cho bộ điều khiển ADRC [25]:
• Chọn thời gian xác lập mong muốn: Tsettle
• Chọn 𝐾𝐾𝑃𝑃 và 𝐾𝐾𝐷𝐷 sao cho hệ kín có nghiệm kép là nghiệm thực âm:
• Để động học của bộ quan sát nhanh hơn động học hệ thống chọn
• Thông số của bộ quan sát được tính như sau:
Thi ế t k ế điề u khi ể n
3.4.1 Điều khiển vị trí xe cầu Để áp dụng bộđiều khiển ADRC vào một đối tượng bất kỳ, ta cần xác định được hai tham số là Tsettle và 𝑏𝑏𝑜𝑜 Trong đó Tsettle ta lựa chọn theo mong muốn động học hệ thống, còn 𝑏𝑏 𝑜𝑜 sẽđược rút ra từphương trình sau:
Từphương trình, suy ra được 𝑏𝑏 𝑜𝑜 = 1/(𝑀𝑀+𝑚𝑚 1 +𝑚𝑚 2 )
3.4.2 Điều khiển giảm dao động Đểđiều khiển giảm được dao động của tải trọng, công việc của ta cần làm là triệt tiêu được hai tần sốdao động sinh ra khi xe cầu di chuyển Ta sẽ áp dụng hai bộ ETM4 mắc nối tiếp nhau để triệt tiêu hai dao động này Bộ ETM4 thứ nhất dùng để triệt tiêu tần sốdao động của móc cẩu và bộ ETM4 thứhai dùng để triệt tiêu tần sốdao động của tải trọng Để thiết kếđược bộ ETM4 ta cần tần sốdao động riêng và hệ số tắt dần của cẩu trục con lắc đôi Qua các bước mô hình hóa, ta đã thu được tần sốdao động và hệ số tắt dần ởphương trình 2.20.
Từ đó, ta xây dựng được cấu trúc điều khiển kết hợp Input shaping và ADRC như sau:
Hình 3.11 Cấu trúc điều khiển IS+ADRC áp dụng cho đối tượng cầu trục con lắc đôi
Cấu trúc điều khiển sử dụng giá trị đặt là vị trí (m) thông qua bộ tạo dạng với hai bộ EMT4, tạo ra dạng bậc thang cho bộ điều khiển ADRC Đầu ra của bộ điều khiển ADRC sẽ là lực F, giúp điều khiển vị trí cầu trục và giảm dao động của tải trọng.
Hình 3.12 Giá trị đặt trước và sau hai bộ tạo dạng ETM4
K ế t lu ậ n
Trong chương này, chúng tôi đã phát triển cấu trúc điều khiển nhằm kiểm soát vị trí và giảm dao động cho cầu trục con lắc đôi Chúng tôi đã trình bày các bước tính toán thông số cho bộ điều khiển Tiếp theo, chúng tôi sẽ kiểm tra hiệu quả của bộ điều khiển đề xuất so với các bộ điều khiển khác trong nhiều tình huống sử dụng phần mềm mô phỏng Matlab Simulink.
MÔ PHỎ NG KI Ể M CH Ứ NG B Ộ ĐIỀ U KHI Ể N
Thông s ố c ủ a c ầ u tr ụ c
Ta có thông số của cầu trục như sau [26]:
• Khối lượng xe cầu: 𝑀𝑀 = 20 kg
• Khối lượng móc cẩu: 𝑚𝑚 1 = 5 kg
• Khối lượng tải trọng: 𝑚𝑚2 = 5 kg
• Chiều dài dây cáp từ xe cầu đến móc: 𝑟𝑟 1 = 2m
• Chiều dài dây cáp từ móc cẩu đến tải trọng: 𝑟𝑟 2 = 0.2m
Thông s ố c ủ a b ộ điề u khi ể n
Áp dụng phương trình 2.20 cùng với thông số cầu trục, chúng ta tính được tần số dao động riêng là \$\omega_1 = 2.1577\$ và \$\omega_2 = 10.156\$, với hệ số tắt dần là \$\zeta = 0\$ Từ đó, chúng ta xác định được thông số của các bộ điều khiển tạo dạng.
Bảng 4.1 Thông số bộ điều khiển ZVD
Bộ tạo dạng thứ nhất Bộ tạo dạng thứ hai
Bảng 4.2 Thông số bộ điều khiển ETM4
Bộ tạo dạng thứ nhất Bộ tạo dạng thứ hai
Bộ điều khiển ADRC được thiết kế dựa trên các bước tìm thông số đã trình bày ở chương 3, cùng với thông số của cẩu trục, từ đó cho phép tính toán chính xác các thông số cần thiết cho bộ điều khiển ADRC.
Sử dụng bộđiều khiển PID có trong Matlab Simulink có hàm truyền như sau:
Sử dụng công cụ Matlab PID Tuner App, chúng ta có thể điều chỉnh bộ PID để đạt được đáp ứng vị trí mà không có độ quá điều chỉnh và thời gian xác lập tương đương với bộ điều khiển ADRC Kết quả thu được cho tham số bộ PD là: P = 0.02, D = 22, N = 50.
Mô ph ỏ ng ki ể m ch ứ ng b ộ điề u khi ể n thi ế t k ế v ớ i b ộ điề u khi ể n PID
Chúng tôi sẽ tiến hành mô phỏng và đánh giá bộ điều khiển qua bốn trường hợp khác nhau Trường hợp đầu tiên là bộ điều khiển được thiết kế cho tải trọng 5kg Trong trường hợp thứ hai và thứ ba, tải trọng sẽ lần lượt giảm xuống 2kg và tăng lên 20kg, trong khi các thông số của bộ điều khiển vẫn giữ nguyên để đánh giá độ bền vững trước sai số mô hình Cuối cùng, trường hợp thứ tư sẽ kiểm tra khả năng của bộ điều khiển trước nhiễu đầu vào Ngoài ra, bộ điều khiển vị trí sẽ được so sánh giữa bộ điều khiển ADRC và bộ điều khiển PID kinh điển.
Bộ điều khiển PID sẽ được cài đặt có cùng thời gian đáp ứng vị trí với bộ điều khiển ADRC và không xuất hiện độquá điều chỉnh
4.3.1 Trường hợp một: Tải trọng 5kg Đáp ứng vị trí
Hình 4.1 cho thấy đáp ứng vị trí của xe cầu khi sử dụng các bộ điều khiển bám giá trị đặt Kết quả cho thấy không có độ quá điều chỉnh và thời gian xác lập đạt 7,1 giây Bộ điều khiển ADRC và PID được thiết kế đã đáp ứng tốt các yêu cầu đề ra.
27 Đáp ứng góc dao động:
Hình 4.2 cho thấy rằng tất cả các bộ điều khiển đều có khả năng giảm dao động của tải trọng Tuy nhiên, biên độ dao động khi sử dụng bộ điều khiển ZVD+PID lại lớn hơn đáng kể so với các bộ điều khiển khác Trong trường hợp không có sai lệch mô hình, bộ điều khiển ZVD+ADRC đạt hiệu quả giảm dao động tốt nhất, tiếp theo là bộ điều khiển ETM4+ADRC, và cuối cùng là các bộ điều khiển ETM4+PID và ZVD+PID.
28 Đáp ứng tín hiệu điều khiển:
Hình 4.3 Đáp ứng tín hiệu điều khiển
Theo hình 4.3, tín hiệu điều khiển của bộ điều khiển PID lớn hơn đáng kể so với bộ điều khiển ADRC, cho thấy ưu điểm của ADRC là tín hiệu điều khiển nhỏ Bên cạnh đó, phương pháp ETM4 cũng cho tín hiệu điều khiển nhỏ hơn so với phương pháp ZVD.
4.3.2 Trường hợp hai: Giảm khối lượng tải trọng xuống 2kg và giữ nguyên thông số của bộ điều khiển Đáp ứng vị trí:
Hình 4.4 Đáp ứng vị trí
Khi thay đổi giảm tải trọng, các bộ điều khiển vẫn duy trì giá trị đặt mà không xuất hiện độ quá điều chỉnh, điều này cho thấy sự bền vững của chúng trước sai số mô hình Đáp ứng góc dao động cũng được cải thiện trong quá trình này.
Hình 4.5 Đáp ứng góc dao động
Bộ điều khiển ZVD+PID cho thấy khả năng giảm dao động kém hơn so với các bộ điều khiển khác Trong khi đó, bộ điều khiển ZVD+ADRC và ETM4+ADRC mang lại đáp ứng dao động giảm nhanh và nhỏ hơn so với bộ điều khiển PID.
30 Đáp ứng tín hiệu điều khiển:
Hình 4.6 Đáp ứng tín hiệu điều khiển
Giống trường hợp trước, tín hiệu điều khiển của bộđiều khiển PID lớn hơn đáng kể so với bộđiều khiển ADRC
4.3.3 Trường hợp ba: Tăng khối lượng tải trọng lên 20kg và giữ nguyên thông số của bộ điều khiển Đáp ứng vị trí:
Hình 4.7 Đáp ứng vị trí
Khi tải trọng tăng, độ quá điều chỉnh đạt 0,2% và thời gian xác lập tăng rõ rệt Hình 4.7 cho thấy, thời gian xác lập khi sử dụng bộ điều khiển PID thay đổi nhiều hơn so với bộ điều khiển ADRC.
Hình 4.8 Đáp ứng góc dao động
Khi tải trọng tăng lên 20kg, bộ điều khiển ZVD+PID không thể giảm dao động, dẫn đến sự xuất hiện của dao động điều hòa Ngược lại, các bộ điều khiển khác đều có khả năng giảm thiểu dao động không mong muốn của tải trọng Đặc biệt, bộ điều khiển ETM4+ADRC cho thấy hiệu quả giảm dao động nhanh chóng và tốt nhất.
32 Đáp ứng tín hiệu điều khiển:
Hình 4.9 Đáp ứng tín hiệu điều khiển
Tín hiệu điều khiển của bộ điều khiển PID vượt trội hơn so với bộ điều khiển ADRC, trong khi bộ điều khiển ETM4+ADRC lại cho tín hiệu điều khiển nhỏ nhất.
4.3.4 Trường hợp bốn: Xét đến tác động của nhiễu đầu vào
Thêm nhiễu đầu vào có độ lớn 20N trong 1s ở thời điểm 15s, để đánh giá độ bền vững của các bộ điều khiển Đáp ứng vị trí:
Hình 4.10 Đáp ứng vị trí
Bộ điều khiển ADRC hoạt động hiệu quả ngay cả khi có nhiễu đầu vào, nhanh chóng đạt được vị trí đặt sau khoảng 3 giây Ngược lại, bộ điều khiển PID không còn khả năng điều khiển khi gặp phải nhiễu đầu vào.
34 Đáp ứng góc dao động:
Hình 4.11 Đáp ứng góc dao động
Khi có nhiễu đầu vào, các bộ điều khiển không thể giảm dao động của tải trọng do phương pháp tạo dạng đầu vào (Input shaping) là một phương pháp điều khiển tiền định, điều này cho thấy nhược điểm của phương pháp này.
35 Đáp ứng tín hiệu điều khiển:
Hình 4.12 Đáp ứng tín hiệu điều khiển
Tín hiệu điều khiển của bộ điều khiển PID lớn hơn đáng kể so với bộ điều khiển ADRC Tuy nhiên, khi xảy ra nhiễu đầu vào, bộ điều khiển ADRC cho thấy đáp ứng nhanh hơn so với bộ điều khiển PID.
Bảng 4.3 Tổng hợp đáp ứng của các bộ điều khiển
Bộđiều khiển Tải trọng (kg) Đáp ứng góc dao động Đáp ứng vị trí
Biên độ dao động lớn nhất
Biên độ dao động lớn nhất
Thời gian xác lập (s) Độ quá điều chỉnh (%)
Qua các mô phỏng, các bộ điều khiển đều đạt mục tiêu điều khiển, kiểm soát tốt vị trí và giảm dao động tải trọng Kết hợp bộ điều khiển PID với các phương pháp tạo dạng đầu vào cho tín hiệu điều khiển cho thấy hiệu quả vượt trội so với bộ điều khiển ADRC khi có cùng đáp ứng vị trí Biên độ góc dao động lớn nhất thuộc về bộ điều khiển ZVD+PID, trong khi các bộ điều khiển khác có sự tương đồng không đáng kể Đặc biệt, khi có sai lệch mô hình, đáp ứng vị trí của bộ điều khiển ADRC ít thay đổi hơn so với bộ điều khiển PID.
Khi xem xét ảnh hưởng của nhiễu, bộ điều khiển ADRC cho thấy hiệu suất vượt trội trong việc nhanh chóng đạt giá trị đặt sau khi nhiễu tác động, trong khi bộ điều khiển PID gặp khó khăn do thành phần vi phân D lớn và thiếu thành phần I Tuy nhiên, tất cả các bộ điều khiển đều không thể dập tắt dao động tải trọng khi nhiễu xảy ra, điều này xuất phát từ việc phương pháp Input shaping là một phương pháp điều khiển tiền định, không có phản hồi.
Qua đó, ta thấy được ưu điểm của bộ điều khiển ADRC cũng như mặt hạn chế của phương pháp điều khiển Input shaping.
Mô ph ỏ ng ki ể m ch ứ ng b ộ điề u khi ể n thi ế t k ế v ớ i b ộ điề u khi ể n LADRC 36
Ta sẽ mô phỏng và đánh giá bộđiều khiển ta vừa xây dựng kết hợp ADRC và Input shaping với bộđiều khiển LADRC[26] Cũng giống như mục 4.3, các bộ
Bài viết này đánh giá độ bền vững của 37 bộ điều khiển qua các trường hợp tải trọng thay đổi từ 2kg, 5kg đến 10kg Nhiễu đầu vào với độ lớn 20N trong 0,1s cũng được đưa vào để kiểm tra khả năng chống nhiễu của bộ điều khiển Thời gian xác lập 𝑇𝑇𝑠𝑠𝑠𝑠𝑡𝑡𝑡𝑡𝑙𝑙𝑠𝑠 của bộ điều khiển ADRC sẽ được điều chỉnh từ 5s lên 8s nhằm đáp ứng vị trí của các bộ điều khiển tương đồng.
4.4.1 Trường hợp một: Tải trọng 5kg Đáp ứng vị trí:
Hình 4.13 cho thấy đáp ứng vị trí của xe cầu khi áp dụng các bộ điều khiển bám giá trị đặt Các bộ điều khiển ADRC được thiết kế không có độ quá điều chỉnh, trong khi bộ điều khiển LADRC có độ quá điều chỉnh là 0.3% Thời gian xác lập của bộ điều khiển ETM4+ADRC và ZVD+ADRC là 9.92 giây, trong khi thời gian xác lập của bộ điều khiển LADRC là 11.22 giây.
38 Đáp ứng góc dao động:
Hình 4.14 Đáp ứng góc dao động
Các bộ điều khiển đều có khả năng giảm dao động của tải trọng Trong số đó, bộ điều khiển LADRC mang lại biên độ dao động nhỏ nhất, tuy nhiên, thời gian giảm dao động của nó không nhanh bằng hai bộ điều khiển ZVD+ADRC và ETM4+ADRC.
39 Đáp ứng tín hiệu điều khiển:
Hình 4.15 Đáp ứng tín hiệu điều khiển
Tín hiệu điều khiển của bộ LADRC là nhỏ nhất, trong khi tín hiệu của bộ ZVD+ADRC là lớn nhất Hơn nữa, tín hiệu điều khiển của bộ LADRC cũng mịn hơn so với các bộ điều khiển khác.
4.4.2 Trường hợp hai: Giảm khối lượng tải trọng xuống 2kg và giữ nguyên thông số của bộ điều khiển Đáp ứng vị trí:
Hình 4.16 Đáp ứng vị trí
40 Đáp ứng góc dao động:
Hình 4.17 Đáp ứng góc dao động
Khi giảm khối lượng tải trọng, các bộ điều khiển vẫn có khả năng giảm dao động, nhưng hiệu quả không còn như trước Bộ điều khiển LADRC mang lại chất lượng tốt nhất, trong khi ZVD+ADRC cho kết quả kém nhất.
41 Đáp ứng tín hiệu điều khiển:
Hình 4.18 Đáp ứng tín hiệu điều khiển
Tín hiệu điều khiển của bộ LADRC trong trường hợp tải trọng 5kg là nhỏ nhất, trong khi tín hiệu của bộ ZVD+ADRC là lớn nhất Hơn nữa, tín hiệu điều khiển của bộ LADRC cũng mượt mà hơn so với các bộ điều khiển khác.
4.4.3 Trường hợp ba: Tăng khối lượng tải trọng lên 10kg và giữ nguyên thông số của bộ điều khiển Đáp ứng vị trí:
Hình 4.19 Đáp ứng vị trí
42 Đáp ứng góc dao động
Hình 4.20 Đáp ứng góc dao động
Khi khối lượng tải trọng tăng, các bộ điều khiển đều có khả năng giảm dao động của tải trọng Tuy nhiên, bộ điều khiển ETM4+ADRC cho thấy hiệu quả giảm dao động tốt nhất, trong khi LADRC lại có chất lượng giảm dao động kém nhất.
43 Đáp ứng tín hiệu điều khiển:
Hình 4.21 Đáp ứng tín hiệu điều khiển
Trong trường hợp 4.4.3, tín hiệu điều khiển của bộ LADRC có giá trị nhỏ nhất, trong khi tín hiệu ZVD+ADRC đạt giá trị lớn nhất Hơn nữa, tín hiệu điều khiển của bộ LADRC cũng thể hiện sự mịn màng hơn so với các bộ điều khiển khác.
Bảng 4.4 Tổng hợp đáp ứng của các bộ điều khiển
Bộđiều khiển Tải trọng (kg) Đáp ứng góc dao động Đáp ứng vị trí Biên độ dao động lớn nhất
Biên độ dao động lớn nhất
Thời gian xác lập (s) Độ quá điều chỉnh (%)
Qua các trường hợp mô phỏng, bộ điều khiển ETM4 và ZVD cho thấy đáp ứng góc dao động tốt và bền vững trước sai số mô hình, với độ bền vững của ETM4 vượt trội hơn ZVD, đặc biệt ở góc dao động giữa tải trọng và móc cẩu (𝜃𝜃2) Ngược lại, phương pháp LADRC ít bền vững hơn so với ETM4 và ZVD, nhưng lại có ưu điểm là tín hiệu điều khiển mịn và biên độ nhỏ hơn.
K ế t h ợp các phương pháp khác nhau vào bộ t ạ o d ạng đầ u vào
Cầu trục con lắc đôi có hai tần số dao động, do đó, để giảm dao động, chúng tôi đã thiết kế một cấu trúc điều khiển với hai bộ tạo dạng nhằm triệt tiêu hai tần số này Hai bộ tạo dạng được sử dụng là cùng loại ETM4 hoặc ZVD Chúng tôi sẽ xem xét việc kết hợp hai loại shaper khác nhau, cụ thể là bộ tạo dạng ZVDD với ETM4, để so sánh hiệu quả với bộ tạo dạng gồm hai bộ ETM4 Các trường hợp mô phỏng sẽ được thực hiện tương tự như trong mục 4.4.
4.5.1 Trường hợp một: Tải trọng 5kg Đáp ứng vị trí:
Hình 4.22 Đáp ứng vị trí
Đáp ứng vị trí của xe cầu bám tốt với giá trị đặt mà không xuất hiện độ quá điều chỉnh Khi sử dụng bộ điều khiển ZVDD+ETM4, thời gian đáp ứng chậm hơn so với ETM4+ZVDD Cụ thể, thời gian đáp ứng của ZVDD+ETM4 là 10.78 giây, ETM4+ZVDD là 10.02 giây, và ETM4+ETM4 là 9.92 giây Đáng chú ý, đáp ứng vị trí của ETM4+ZVDD và ETM4+ETM4 gần như giống nhau, cho thấy rằng việc lựa chọn bộ tạo dạng thứ nhất có ảnh hưởng trực tiếp đến đáp ứng vị trí của xe cầu.
46 Đáp ứng góc dao động:
Hình 4.23 Đáp ứng góc dao động
Khi áp dụng các bộ điều khiển, góc dao động giảm nhanh chóng Bộ điều khiển ETM4+ETM4 và ETM4+ZVDD cho thấy khả năng giảm dao động nhanh hơn, nhưng biên độ dao động lại lớn hơn so với bộ điều khiển ZVDD+ETM4 Đáp ứng góc dao động của hai bộ điều khiển ETM4+ETM4 và ETM4+ZVDD khá tương đồng Việc lựa chọn bộ tạo dạng thứ nhất cũng ảnh hưởng trực tiếp đến đáp ứng góc dao động.
47 Đáp ứng tín hiệu điều khiển:
Hình 4.24 Đáp ứng tín hiệu điều khiển
4.5.2 Trường hợp hai: Giảm khối lượng tải trọng xuống 2kg và giữ nguyên thông số của bộ điều khiển Đáp ứng vị trí:
Hình 4.25 Đáp ứng vị trí
Giảm tải trọng nhưng vẫn duy trì vị trí ổn định mà không xảy ra độ quá điều chỉnh Bộ điều khiển hoạt động hiệu quả và bền vững trước các sai số mô hình Đáp ứng tốt với góc dao động.
Hình 4.26 Đáp ứng góc dao động
Khi giảm tải trọng từ 5kg xuống 2kg, bộ điều khiển ZVDD+ETM4 vẫn duy trì dao động mặc dù biên độ giảm Ngược lại, bộ điều khiển ETM4+ZVDD và ETM4+ETM4 cho thấy khả năng giảm dao động tốt hơn Điều này cho thấy phương pháp ETM4 bền vững hơn so với phương pháp ZVDD.
49 Đáp ứng tín hiệu điều khiển:
Hình 4.27 Đáp ứng tín hiệu điều khiển
4.5.3 Trường hợp ba: Tăng khối lượng tải trọng lên 10kg và giữ nguyên thông số của bộ điều khiển Đáp ứng vị trí:
Hình 4.28 Đáp ứng vị trí
Tuy tăng tải trọng, nhưng vẫn duy trì khả năng bám tốt vào giá trị đặt mà không xuất hiện hiện tượng quá điều chỉnh Các bộ điều khiển có độ bền cao giúp giảm thiểu sai số mô hình, đồng thời đảm bảo đáp ứng góc dao động hiệu quả.
Hình 4.29 Đáp ứng góc dao động
Khi tải trọng tăng lên 10kg, các bộ điều khiển vẫn duy trì khả năng giảm dao động hiệu quả Động học của đáp ứng góc dao động gần như tương đương với tải trọng 5kg Bộ điều khiển ETM4+ZVDD và ETM4+ETM4 có khả năng tắt dần nhanh hơn so với bộ điều khiển ZVDD+ETM4, tuy nhiên, biên độ dao động của chúng lại lớn hơn.
Hình 4.30 Đáp ứng tín hiệu đều khiển
Bảng 4.5 Tổng hợp đáp ứng của các bộ điều khiển
Bộđiều khiển Tải trọng (kg) Đáp ứng góc dao động Đáp ứng vị trí
Biên độ dao động lớn nhất
Biên độ dao động lớn nhất
Thời gian xác lập (s) Độ quá điều chỉnh (%)
Việc chọn bộ tạo dạng ảnh hưởng đáng kể đến đáp ứng vị trí, với bộ ETM4+ZVDD có đáp ứng gần tương đồng với bộ ETM4+ETM4, trong khi bộ ZVDD+ETM4 lại chậm hơn Bộ tạo dạng thứ nhất cũng quyết định đến đáp ứng góc dao động, với hai bộ ETM4 (ETM4+ETM4 và ETM4+ZVDD) cho kết quả nhanh và bền vững hơn so với bộ ZVDD+ETM4 Tuy nhiên, bộ ZVDD+ETM4 lại có biên độ góc dao động lớn nhất và tín hiệu điều khiển tốt hơn hai bộ còn lại.
K ế t lu ậ n
Dựa trên kết quả mô phỏng, bộ điều khiển được thiết kế trong luận văn đáp ứng yêu cầu điều khiển cho cầu trục con lắc đôi, bao gồm điều khiển vị trí và dập dao động tải trọng Bộ điều khiển ADRC có ưu điểm nổi bật là khả năng chống nhiễu tốt và tín hiệu điều khiển nhỏ, điều này sẽ tạo thuận lợi trong việc lựa chọn cơ cấu chấp hành khi áp dụng vào thực tiễn.
Phương pháp ETMn có thời gian đáp ứng tương đương với phương pháp ZVD nhưng tạo ra dạng sóng đa dạng hơn, giúp giảm biên độ góc dao động lớn nhất và bền vững hơn trước các sai số mô hình khi thay đổi khối lượng tải trọng Bộ điều khiển ETM4+ADRC cho thấy tiềm năng lớn trong việc triển khai thực tế mà không cần cảm biến đo góc dao động Tuy nhiên, cần lưu ý rằng Input shaping, bao gồm cả ETMn, thuộc lớp điều khiển tiền định.
52 không có khả năng loại bỏ được nhiễu, vấn đề này sẽ được xem xét khắc phục trong tương lai
KẾ T LU Ậ N
K ế t lu ậ n
Luận văn nghiên cứu về việc điều khiển giảm dao động cho cầu trục con lắc kép bằng cách sử dụng bộ điều khiển ADRC kết hợp với phương pháp tạo dạng ETMn Qua các chương, luận văn đã chỉ ra những vấn đề quan trọng liên quan đến phương pháp này.
• Tổng quan về cầu trục và các bài toán điều khiển liên quan đang được nghiên cứu
• Mô hình hóa và mô phỏng cầu trục con lắc đôi.
• Nghiên cứu phươngpháp điều khiển cho cầu trục con lắc đôi bằng cách kết hợp bộđiều khiển ADRC đểđiều khiển vị trí và ETMn đểđiều khiển giảm dao động
• Mô phỏng kiểm chứng bộ điều khiển đề xuất với các bộ điều khiển tham khảo trong các trường hợp khác nhau
Với khả năng và sự hiểu biết còn hạn chế, luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong thầy cô góp ý để giúp luận văn hoàn thiện hơn.
Hướ ng phát tri ể n c ủ a lu ận văn trong tương lai
• Tăng độ hiệu quả của bộđiều khiển ADRC bằng các phương pháp nâng cao hiệu suất của bộ quan sát
• Áp dụng bộđiều khiển cho các đối tượng linh hoạt khác như cánh tay robot.
[1] Guo W, Liu D, Yi J, Zhao D (2004) Passivity-based control for double- pendulum-type overhead cranes, In Proceedings of the IEEE Region 10th
Conference Analog and Digital Techniques in Electrical Engineering TENCON, Chiang Mai, Thailand, pp 546-549 DOI: 10.1109/TENCON.2004.1414991
[2] Sun N, Fang YC, Chen H, Lu B (2017) Amplitude Saturated Nonlinear Output
Feedback Antiswing Control for Underactuated Cranes with Double-Pendulum Cargo Dynamics, IEEE Transactions on Industrial Electronics, vol 64, issue 3, pp
[3] L A Tuan and S.G Lee (2013) Sliding mode controls of double-pendulum crane systems, Journal of Mechanical Science and Technology, vol 27, no 6, pp
[4] J Yi, D Quian (2015) Hierarchical Sliding Mode Control for Under-actuated
[5] Dong Y, Wang Z, Feng Z, Cheng J (2008) Incremental sliding mode control for double pendulum-type overhead crane system, 27 th Chinese Control Conference DOI: 10.1109/CHICC.2008.4605360
The study by Jaafar et al (2019) presents a model reference command shaping technique aimed at controlling vibrations in multimode flexible systems, specifically applied to a double-pendulum overhead crane This research, published in the journal Mechanical Systems and Signal Processing, volume 115, pages 677-695, explores innovative methods for enhancing the stability and performance of complex mechanical systems For further details, refer to the publication at https://doi.org/10.1016/j.ymssp.2018.06.005.
[7] H.I Jaafar, Z Mohamed, M.A Ahmad, N.A Wahab, L Ramli, M.H Shaheed
(2021) Control of an underactuated double-pendulum overhead crane using improved model reference command shaping: Design, simulation and experiment,
Mechanical Systems and Signal Processing vol 151, 107385 https://doi.org/10.1016/j.ymssp.2020.107358
[8] Garrido S, Abderrahim M, Giménez A, Diez R, Balaguer C (2008) Anti-swing input shaping control of an automatic construction crane, IEEE Transactions on
Automation Science and Engineering, vol 5, issue 3, pp 549-557 DOI: 10.1109/TASE.2007.909631
[9] Singhose W, Kim D, Kenison M (2008) Input shaping control of double- pendulum bridge crane oscillation, Journal of Dynamic Systems Measurement and
[10] J Vaughan, E Maleki, W Singhose (2010) Advantages of using command shaping over feedback for crane control, Proceedings of the 2010 American
Control Conference, pp 2308–2313 DOI: 10.1109/ACC.2010.5530548
[11] K.T Hong, C.D Huh, K.S Hong (2003) Command shaping control for limiting the transient sway angle of crane systems, International Journal of Control
Automation and Systems, vol 1, issue 1, pp 43–53.