Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LÊ THỊ TRANG
LẬP LUẬN TRONG KỊCH CỦA LƯU QUANG VŨ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 9.22.90.20
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI - 2023
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: 1 GS.TS Đỗ Việt Hùng
Phản biện 3: PGS TS Hoàng Kim Ngọc, Đại học Thăng Long
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường họp tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2023
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Trang 3DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1 Lê Thị Trang (2016), “Về lập luận trong Hồn Trương
Ba, da hàng thịt của Lưu quang Vũ”, Tạp chí Ngôn ngữ, (6), tr 69-80
2 Lê Thị Trang (2020), “Kết tử lập luận trong kịch của
Lưu Quang Vũ”, Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống, 11A
(304), tr 45-49
3 Lê Thị Trang (2021), “Tác tử lập luận trong kịch của
Lưu Quang Vũ”, Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống,
1(307), tr 34-37
4 Lê Thị Trang (2022), “Kết luận của lập luận trong kịch
của Lưu Quang Vũ”, Văn học và ngôn ngữ trong thế
giới đương đại bản sắc và hội nhập (Hội thảo khoa
học quốc gia), tr 740-747
5 Lê Thị Trang (2022), “Lập luận đơn trong kịch của
Lưu Quang Vũ”, Ngôn ngữ học ứng dụng trong xu
hướng hội nhập quốc tế (Hội thảo Ngữ học toàn quốc
2022), tr 1472-1477
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lập luận có mặt xung quanh ta, hình thành và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của ngôn ngữ Nó, thậm chí, dường như đã trở thành một phần tự nhiên, máu thịt, bản năng trong ngôn ngữ của nhân loại, trong ngôn ngữ của mỗi dân tộc và của mỗi cá nhân Chính bởi thế, nên nhiều khi, chúng ta không ý thức rõ rệt, không quan tâm đến lập luận là gì, lập luận được thực hiện như thế nào, có bao nhiêu con đường để một lập luận có thể đến được đích của nó Lựa chọn nghiên cứu lập luận, tác giả luận án mong muốn được đi sâu tìm hiểu cơ chế, bản chất, hình thức của một hiện tượng ngôn ngữ vốn quen thuộc mà đóng vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống
Tìm hiểu lập luận trong các tác phẩm văn học là một hướng tiếp cận mới Thông qua đó, có thể thấy các nhân vật trong tác phẩm khi tham gia hội thoại đã dẫn dắt vấn đề mình cần trình bày hay thuyết phục đối tượng mà họ đang giao tiếp như thế nào Lập luận cũng góp phần cho thấy giá trị nghệ thuật của tác phẩm cũng như phong cách và tài năng của người sáng tác
Ngôn ngữ kịch vừa mang tính nghệ thuật vừa mang tính khẩu ngữ, gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày Bởi vậy, nghiên cứu lập luận trong kịch không chỉ đem đến những tri thức về lập luận, về tác gia, tác phẩm, về diện mạo văn học, mà còn có tính ứng dụng trong thực tiễn đời sống, trong giao tiếp thường ngày
Là một kịch gia có tầm ảnh hưởng lớn với đời sống xã hội cũng như với nền văn học nước nhà những năm 80 của thế kỉ XX, Lưu Quang Vũ (1948 -1988) được đánh giá là “nhà viết kịch kịch lớn nhất của thế kỉ này (XX), là một nhà văn hóa” (Phan Ngọc), “người khổng lồ”, có “năng khiếu đặc biệt” trước các sự kiện của đời sống (Ngô Sơn), một “hiện tượng” của đời sống văn học nghệ thuật (Phạm Thị Thành)… Với những cống hiến của mình, năm 2000, Lưu Quang Vũ đã được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật Cho đến ngày nay, kịch của Lưu Quang Vũ vẫn có sức hút vô cùng lớn Một trong những điều tạo nên sức sống cho những vở kịch của ông là những lập luận đầy sắc sảo, mang tầm triết lí mà cũng rất đời thường Tuy nhiên, từ góc độ ngôn ngữ học, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ làm đề tài nghiên cứu cho luận án của mình
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Phân tích và đánh giá vai trò của lập luận với những vấn đề nghệ
Trang 6thuật trong kịch của Lưu Quang Vũ cũng như vai trò của lập luận trong
việc nghiên cứu các tác phẩm văn học nói chung
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan những vấn đề lí thuyết làm cơ sở lí luận cho đề tài Đó
là các vấn đề trong lí thuyết lập luận và tình hình nghiên cứu về Lưu Quang
Vũ và các sáng tác kịch của ông
- Nhận diện, phân loại, miêu tả, phân tích cấu tạo của các lập luận căn cứ vào vị trí của các thành phần lập luận, sự hiện diện của các thành phần lập luận, tính phức hợp của lập luận và đặc điểm các thành phần luận
cứ, kết luận, các chỉ dẫn lập luận (kết tử, tác tử) và lẽ thường của lập luận
- Phân tích vai trò của lập luận trong việc xây dựng ngôn ngữ kịch, kịch tính, cũng như thể hiện tính cách các nhân vật và tư tưởng nghệ thuật của các tác phẩm, từ đó thấy được những đặc điểm nổi bật trong phong cách sáng tác của Lưu Quang Vũ
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các lập luận của các nhân vật trong kịch Lưu Quang Vũ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ ở những nội dung như: cấu trúc lâp luận (các dạng cấu tạo của lập luận, các thành phần lập luận, chỉ dẫn lập luận, cơ sở của lập luận), vai trò của lập luận trong việc thể hiện giá trị nghệ thuật của tác phẩm và tư tưởng của tác giả
3.3 Ngữ liệu khảo sát
Kịch có hai đời sống: đời sống của một vở diễn và đời sống của một kịch bản văn học Với khuôn khổ của luận án này, chúng tôi nghiên cứu các tác phẩm kịch của Lưu Quang Vũ dưới dạng kịch bản, đó là những tác
phẩm được tuyển chọn trong Tuyển tập Hồn Trương Ba, da hàng thịt do
Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm 2013 Tuyển tập gồm năm tác phẩm đặc sắc của Lưu Quang Vũ, phân bổ ở đủ tất cả các mảng đề tài mà
ông sáng tác: từ các tác phẩm có nguồn gốc dân gian (Hồn Trương Ba, da
hàng thịt, Ông vua hóa hổ), đến các tác phẩm đề tài lịch sử (Ngọc Hân công chúa) và đề tài hiện đại (Tôi và chúng ta, Điều không thể mất) Tìm
hiểu năm tác phẩm nêu trên, luận án đã khảo sát và phân tích tổng số 2163 lập luận trong lời thoại của các nhân vật
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu đã đề ra, luận án sử dụng những phương pháp, thủ pháp nghiên cứu sau đây
4.1 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Phương pháp này được vận dụng
Trang 7để miêu tả và phân tích các lập luận trong mối tương quan với ngữ cảnh nhằm làm rõ các đặc điểm của cấu trúc lập luận, các thành phần và các lẽ thường trong lập luận Phương pháp phân tích diễn ngôn được sử dụng để làm nổi bật giá trị nghệ thuật của các lập luận trong tác phẩm
- Phương pháp miêu tả: Đây là phương pháp đóng vai trò quan trọng trong luận án Phương pháp này dùng để làm rõ nguồn ngữ liệu khảo sát với các
số liệu và nội dung cụ thể Chúng tôi miêu tả các kiểu cấu trúc lập luận, các thành phần lập luận và so sánh chúng với nhau để làm cơ sở cho việc phân tích
và chỉ ra nhưng đặc điểm của lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ
- Hướng tiếp cận liên ngành: Đề tài của luận án có liên quan chặt chẽ với văn học và một số lĩnh vực như văn hóa, tâm lí xã hội , vì vậy, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành như: ngôn ngữ - văn
học, ngôn ngữ - dân tộc học…
4.2 Thủ pháp nghiên cứu
- Thủ pháp thống kê, phân loại: Đây là thủ pháp cơ bản cho giai
đoạn tiền triển khai đề tài Nghiên cứu sinh sử dụng thủ pháp này nhằm thống kê các lập luận, các dạng lập luận, các thành phần lập luận, các chỉ dẫn lập luận có mặt trong hội thoại của các nhân vật trong tác phẩm Sau khi đã thống kê được các lập luận, luận án tiến hành phân loại theo các
tiêu chí cấu tạo và đặc điểm của từng thành phần lập luận
- Thủ pháp mô hình hóa: Thủ pháp này dùng để mô hình hóa dưới dạng sơ đồ những lập luận cụ thể Thông qua các mô hình khái quát này, chúng ta có thể nhận diện được các cấu trúc, các dạng, các kiểu loại và đặc điểm của các thành phần lập luận
- Thủ pháp so sánh, đối chiếu: Thủ pháp so sánh - đối chiếu được dùng trong việc so sánh, đối chiếu các trường hợp để đưa ra đánh giá, nhận định khái quát xu hướng sử dụng các phương diện của lập luận
5 Đóng góp của luận án
5.1 Về mặt lí luận
Nghiên cứu đề tài “Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ” góp
phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ hơn một số vấn đề về lí thuyết lập luận: cấu trúc và các thành phần của lập luận, cơ sở của lập luận
Luận án cũng khẳng định một hướng nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ - văn học từ góc độ ngữ dụng học mà cụ thể là vận dụng lí thuyết lập luận vào tìm hiểu lời thoại của các nhân vật trong kịch
Trang 8“Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ” cũng có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo cho các nhà viết kịch
6 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được triển khai thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương 2: Đặc điểm cấu tạo của lập luận trong kịch Lưu Quang Vũ Chương 3: Giá trị của lập luận trong kịch Lưu Quang Vũ
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về lập luận
1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu về lập luận trên thế giới
Lập luận (argumentation) là một vấn đề ngôn ngữ được nghiên cứu từ rất sớm Ban đầu, lập luận được coi là một phạm vi của thuật hùng biện - một “nghệ thuật nói năng”, nó được trình bày trong công trình “Tu từ học” của nhà triết học lừng danh Aristotle (384 -322 Trước công nguyên -TCN) Đến thế kỉ thứ V TCN, lập luận được nghiên cứu trong logic học
Đến thời Trung - Cận đại, lập luận được nghiên cứu theo hai hướng lớn, là hướng lập luận hình thức và hướng biện chứng - phi hình thức Hướng lập luận theo quan điểm ngữ dụng - biện chứng, nghiên cứu theo logic hình thức nhìn nhận sự lập luận như một phức hợp hành vi ngôn ngữ, xuất hiện như một bộ phận hoạt động ngôn ngữ tự nhiên và có những mục đích thông tin đặc thù Hướng lập luận theo logic phi hình thức nghiên cứu lập luận, đưa ra những nguyên lí giúp cho con người tìm được các cách xây dựng lập luận trong cuộc sống hàng ngày, nó cũng cải thiện tư duy phản biện và khả năng phân tích trong các tình huống pháp lí, đạo đức, tôn giáo, khoa học, triết học
Nửa sau thế kỉ XX, lí thuyết lập luận được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và thu được nhiều thành quả Nhiều công trình nghiên cứu về lập luận đã ra đời, các công trình này đưa ra những kiến giải mới về lập luận Các tác giả có đóng góp lớn trong giai đoạn này: Perelman, Olbrechts-Tyteca, S Toulmin, Grize, O Ducrot và J Anscombre
Có thể thấy, lập luận nhận được sự quan tâm rất lớn từ giới nghiên cứu Bắt đầu từ những nghiên cứu trong tranh biện, đến nay, đối tượng này
đã được các nhà khoa học mở rộng tìm hiểu trong giao tiếp nói chung
1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu về lập luận ở Việt Nam
Ở Việt Nam, tiếp thu những thành tựu của ngôn ngữ học thế giới,
Trang 9năm 1993, lần đầu tiên lí thuyết lập luận được giới thiệu và đưa vào giảng
dạy, nghiên cứu qua giáo trình Đại cương ngôn ngữ học (Tập 2, Phần Ngữ
dụng học) của tác giả Đỗ Hữu Châu Tiếp sau đó là cuốn Ngữ dụng học (tập
1) của nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Dân (1998) Những vấn đề được trình bày trong hai cuốn này tương đối hoàn chỉnh, trọn vẹn về lí thuyết lập luận, là
cơ sở lí luận cho nhiều đề tài nghiên cứu về lập luận sau này
Theo tìm hiểu của chúng tôi, các nghiên cứu về lập luận và ứng dụng
lí thuyết về lập luận trong nghiên cứu ở Việt Nam, có thể khái quát thành hai nhóm sau đây:
Thứ nhất, đó là những công trình nghiên cứu riêng lẻ về các thành
phần của lập luận Đây là những công trình góp phần đưa cái nhìn tổng quát về mặt lí thuyết của một số hiện tượng ngôn ngữ quan trọng trong lập luận Việc làm rõ những nội dung trên sẽ góp phần không nhỏ cho việc khẳng định sự chặt chẽ, logic của lập luận trong giao tiếp ngôn ngữ
Thứ hai, những công trình nghiên cứu về lập luận trong các văn bản
Đó là một số luận văn, luận án có đóng góp trong việc đi sâu vào tìm hiểu lập luận trong một kiểu văn bản cụ thể Những công trình này đã vận dụng thành công lí thuyết lập luận để khám phá những giá trị của lập luận đối với các kiểu loại văn bản, các tác phẩm cụ thể Có thể dẫn ra một số công trình
sau: “Mô hình lập luận ưa dùng trong các diễn ngôn quảng cáo” của Trần Thuỳ Linh (2011), “Lập luận trong hội thoại của nhân vật (qua tư liệu văn
xuôi Việt Nam, giai đoạn 1930 - 1945)” của Chu Thị Thùy Phương (2016)…
Đề tài luận án của chúng tôi là sự tiếp nối của các nghiên cứu kể trên
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về kịch Lưu Quang Vũ
1.1.2.1 Những nghiên cứu về kịch Lưu Quang Vũ dưới góc độ văn học
Đã có không ít nghiên cứu về kịch của Lưu Quang Vũ theo hướng văn học, đó là những bài viết trên các tạp chí, báo, và cả những nghiên cứu chuyên sâu trong các luận văn, luận án Lưu Quang Vũ là một tác giả được các nhà nghiên cứu văn học quan tâm đặc biệt Về sáng tác kịch, có hai hướng nghiên cứu chuyên sâu, đó là tìm hiểu các tác phẩm riêng lẻ hoặc dưới góc độ hệ thống các tác phẩm
1.1.2.2 Những nghiên cứu về kịch Lưu Quang Vũ dưới góc độ ngôn ngữ học
Ở góc độ ngôn ngữ học, kịch của Lưu Quang Vũ đã được nghiên cứu
ở các khía cạnh sau: hành động ngôn ngữ (“Cặp thoại hỏi – trả lời, cầu
khiến – hồi đáp trong kịch Lưu Quang Vũ” (2016)– Đàm Thị Ngọc Ngà),
hội thoại (“Vận động hội thoại trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt
của Lưu Quang Vũ” (2009) – Trần Thị Thanh Vân), lập luận trong một tác
phẩm cụ thể (“Lập luận trong hội thoại của các nhân vật trong Hồn
Trang 10Trương Ba, da hàng thịt” (2016) – Lê Thị Trang), tri nhận (“Ẩn dụ ý niệm trong thơ và kịch Lưu Quang Vũ” (2017) – Trần Lan Anh)…
Với đề tài Lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ, chúng tôi hi
vọng góp phần hoàn thiện hơn những hiểu biết về Lưu Quang Vũ và các tác phẩm kịch của ông từ hướng tiếp cận của lí thuyết lập luận
1.2 Cơ sở lí luận
1.2.1 Khái quát về lập luận
1.2.1.1 Khái niệm lập luận
Lập luận là đưa ra những lí lẽ để dẫn dắt người nghe đến một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới Đồng thời, lập luận cũng được dùng để chỉ sản phẩm của quá trình lập luận bao gồm các thành phần luận cứ, kết luận, quan hệ lập luận các chỉ dẫn lập luận và lẽ thường
Có thể biểu diễn quan hệ lập luận giữa các nội dung trong phát ngôn như sau:
p1, p2, … r Trong đó: p1, p2, … là các luận cứ, lí lẽ; r là kết luận
Ví dụ: “Trương Ba: - Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được (p) Tôi muốn là tôi toàn vẹn (r).” [118, tr.69]
1.2.1.2 Lập luận và suy diễn logic
Suy diễn logic hướng tới đích là giá trị chân lí, còn lập luận đời thường hướng tới đích mang tính hiệu quả, dẫn dắt, thuyết phục
1.2.1.3 Lập luận và thuyết phục
Lập luận là trình bày lí lẽ của mình, còn thuyết phục là làm cho người khác tin và theo mình, chấp nhận sự đúng đắn của một ý kiến, tin vào tính chân thực của một sự việc
1.2.2 Các thành phần chính của cấu trúc lập luận
1.2.2.1 Luận cứ
Luận cứ (kí hiệu: p,q) là những căn cứ để từ đó rút ra kết luận, mỗi lập
luận có thể có một hay nhiều luận cứ Các luận cứ có thể đứng cạnh nhau hoặc
xa nhau
1.2.2.2 Kết luận
Kết luận (kí hiệu: r/R) là điều được rút ra từ luận cứ Trong một lập
luận, kết luận có thể hiện diện hoặc hàm ẩn Một lập luận có thể có một kết luận hoặc nhiều kết luận
Trang 11ngược hướng, luận cứ đứng sau và gần kết luận hơn thường có hiệu lực lập luận mạnh hơn
1.2.3 Phân loại các dạng lập luận
1.2.3.1 Phân loại theo tổ chức của các thành phần trong lập luận
- Lập luận đơn: Lập luận đơn là lập luận chỉ có một kết luận
- Lập luận phức: Là lập luận có từ hai kết luận trở lên
1.2.3.2 Phân loại theo vị trí của các thành phần trong lập luận
- Lập luận theo kiểu diễn dịch: Đây là cách trình bày, tổ chức, sắp xếp các ý từ cái chung, cái khái quát đến cái riêng, cái cụ thể, lập luận này
có kết luận đứng trước các luận cứ
- Lập luận theo kiểu quy nạp: Đây là kiểu lập luận đi từ các ý kiến, các dẫn chứng cứ thể, riêng lẻ rồi sau mới tổng hợp và khái quát về các ý kiến, sự kiện đó
- Lập luận theo kiểu tổng phân hợp: Đây là kiểu lập luận bằng cách nêu một vấn đề có tính khái quát, tổng hợp, sau đó triển khai phân tích những nội dung khái quát đó thành những bộ phận nhỏ để xem xét hoặc phân tích, cuối cùng lại khái quát, nâng lên thành luận điểm vấn đề được phân tích Ngoài ba dạng đã được khái quát như trên, trong kịch của Lưu Quang
Vũ, chúng tôi còn tìm thấy dạng lập luận có kết luận đứng giữa các luận cứ,
và lập luận có kết luận hoặc luận cứ đứng độc lập
1.2.3.3 Phân loại theo sự hiện diện của các thành phần lập luận
- Lập luận đầy đủ thành phần: Xuất hiện đủ cả luận cứ và kết luận
Là những yếu tố phối hợp hai hoặc một số phát ngôn thành một lập
luận duy nhất như: nếu, thì, quả là, nên Ví dụ: “Vợ Trương Ba: - Tôi biết
vậy, nên ngày nào chả phải lo sẵn cho ông có ấm nước thật ngon đây”
[118, tr.15]
1.2.5 Cơ sở của lập luận - Lẽ thường
1.2.5.1 Khái niệm lẽ thường
Lẽ thường là “những chân lí thông thường có tính chất kinh nghiệm, không có tính tất yếu, bắt buộc như các tiền đề logic, mang đặc thù địa phương hay dân tộc, có tính khái quát, nhờ chúng mà chúng ta xây dựng được những lập luận riêng” [8, tr.191]
Trang 121.3 Một số đặc điểm của thể loại kịch và kịch Lưu Quang Vũ
1.3.1 Ngôn ngữ kịch
Ngôn ngữ là phương tiện rất quan trọng để bộc lộ hành động kịch Trong kịch không có nhân vật người kể chuyện nên không có ngôn ngữ người kể chuyện Vở kịch được diễn trên sân khấu chỉ có ngôn ngữ nhân vật Đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ nhân vật kịch phải là ngôn ngữ mang tính hành động, tính khẩu ngữ, tính hàm súc và tính tổng hợp cao, đồng thời lại phải phù hợp với tính cách nhân vật Một đặc điểm quan trọng để chúng tôi tiến hành nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ kịch, đó là ngôn ngữ kịch gần gũi với khẩu ngữ, lời ăn tiếng nói hằng ngày Ngôn ngữ kịch mang tính chất khẩu ngữ chứ không biến thành khẩu ngữ thuần túy
1.3.2 Đặc trưng kịch tính
Kịch tính là trạng thái căng thẳng đặc biệt của mâu thuẫn, xung đột, được tạo ra bởi những hành động thể hiện các khuynh hướng tính cách và ý chí tự do của con người Chính trong những tình huống kịch tính, những mâu thuẫn đẩy đến cao độ, những lập luận của các nhân vật phát huy được tối đa vai trò của mình Lập luận có thể đưa kịch tính trở nên cao trào và cũng thể cởi nút thắt cho các mâu thuẫn
1.3.3 Nhân vật kịch
Nhân vật kịch được khắc họa từ ngôn ngữ của nhân vật, qua lập luận của nhân vật mà không có nhiều sự hỗ trợ từ những lời gián tiếp của người trần thuật Thông qua lập luận của mình, nhân vật có thể hiện lên với những tính cách đa dạng, với nhiều môi trường sống, và hoàn cảnh khác nhau
1.3.4 Vài nét về cuộc đời và các tác phẩm kịch của Lưu Quang Vũ
Lưu Quang Vũ sinh ngày 17-4-1948, mất ngày 29-8-1988, ông có tài
vẽ tranh, viết văn, làm thơ, viết kịch Ở lĩnh vực nghệ thuật nào, ông cũng đạt được những thành công nhất định Tài năng kịch của Lưu Quang Vũ nở rộ vào những năm 80 của thế kỉ XX Với mười năm sáng tác, ông để lại hơn 50
vở kịch, thể hiện những đóng góp to lớn của mình cho một giai đoạn mà nền
sân khấu nước nhà phát triển rực rỡ
Tiểu kết chương 1
Lập luận có mặt trong mọi phát ngôn và liên quan đến mọi phương diện trong một phát ngôn, từ hình thức đến nội dung, từ chi tiết đến tổng
Trang 13thể Để tìm hiểu đặc điểm lập luận trong kịch của Lưu Quang Vũ, chúng tôi trình bày một số vấn đề lí thuyết về lập luận để làm cơ sở tiền đề lí thuyết cho luận án
Lập luận là đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới Một lập luận bao gồm hai thành phần chính là kết luận và luận cứ Kết luận là căn cứ để xác định một lập luận, và để phân định lập luận thành hai loại: lập luận đơn (có một kết luận) và lập luận phức (có từ hai kết luận trở lên) Cơ sở
để xây dựng nên các lập luận không phải là các tiền đề lôgic mà là các lẽ thường (topos) Lẽ thường là những chân lí thông thường, không có tính tất yếu, bắt buộc Lẽ thường là căn cứ của lập luận, cơ sở để dẫn dắt luận cứ đến kết luận Có những lẽ thường là khách quan, cũng có những lẽ thường là các quy luật nhân quả, hay lẽ thường dựa vào mối quan hệ giữa hành động, lời nói và phẩm chất của con người, hoặc những lẽ thường căn cứ vào thang độ,
và những lẽ thường đặc thù thuộc về từng cá nhân
Giữa các luận cứ với nhau có quan hệ lập luận: có thể là quan hệ đồng hướng lập luận hoặc quan hệ nghịch hướng lập luận Các thành phần luận cứ và kết luận của lập luận có thể hiện diện tường minh hoặc hàm ẩn, có thể xuất hiện linh hoạt ở các vị trí khác nhau trong lập luận Các chỉ dẫn lập luận bao gồm các tác tử lập luận, các kết tử lập luận, có vai trò định hướng người đọc đến kết luận của lập luận
Lưu Quang Vũ (1948 -1988) là một nhà viết kịch tài năng Đã có những công trình tìm hiểu về kịch của ông trên nhiều phương diện, đặc biệt
là từ góc độ nghiên cứu văn học Tuy nhiên, từ góc độ ngôn ngữ học, cho đến nay chưa có công trình nào đi vào nghiên cứu một cách hệ thống các sáng tác kịch của tác giả này dựa trên lí thuyết lập luận
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA CẤU TRÚC LẬP LUẬN TRONG KỊCH
LƯU QUANG VŨ
2.1 Các dạng lập luận trong kịch Lưu Quang Vũ
2.1.1 Độ phức hợp của các lập luận trong kịch Lưu Quang Vũ
2.1.1.1 Lập luận đơn trong kịch của Lưu Quang Vũ
Có đến 1823/2613 lập luận trong các tác phẩm là lập luận đơn, chiếm 69,77%, được chia thành 28 kiểu lập luận chủ yếu
Bảng 2.1: Các kiểu lập luận đơn trong kịch của Lưu Quang Vũ
STT Kiểu lập luận Tần suât (lần) Tỉ lệ (%)
Trang 14Lập luận đơn có một luận cứ chiếm tỉ lệ cao nhất (46,58%) Ví dụ:
“Nguyễn Huệ: - Đâu phải việc gì ta cũng thạo (p) Ta mong có được những người thông tuệ hơn ta (r)” Qua phân tích các ngữ liệu được thống kê,
chúng tôi thấy kịch Lưu Quang Vũ sử dụng đa dạng các dang lập luận đơn, điều này góp phần thể hiện sự đa dạng của tính cách nhân vật và các mâu
thuẫn trong từng tình huống kịch
2.1.1.2 Lập luận phức trong kịch của Lưu Quang Vũ
- Lập luận phức Dạng 1: Đây là kiểu lập luận có cấu tạo hết sức linh
hoạt, đa dạng Lập luận bộ phận có thể tường minh kết luận hoặc hàm ẩn