NHẬN ĐỊNH...6 Câu 1: Trường hợp người kháng cáo thay đổi, bổ sung yêu cầu kháng cáo của mình thì người kháng cáo phải làm lại đơn kháng cáo...6 Câu 2: Nguyên đơn là cá nhân đã chết mà qu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
BỘ MÔN: LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
BÀI TẬP THẢO LUẬN TUẦN 9 THỦ TỤC PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
GV: GIẢNG DẠY & THẢO LUẬN: Th.S NCS Huỳnh Quang Thuận
Danh sách thành viên nhóm 11
LỚP: 127-DS46A2
Trang 2MỤC LỤC BÀI THẢO LUẬN TUẦN 9 PHÂN CÔNG LÀM VIỆC NHÓM MÔN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 4 PHẦN 1 NHẬN ĐỊNH 6 Câu 1: Trường hợp người kháng cáo thay đổi, bổ sung yêu cầu kháng cáo của mình thì người kháng cáo phải làm lại đơn kháng cáo 6 Câu 2: Nguyên đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế thì Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án .6 Câu 3: Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể
từ ngày tuyên án 6 Câu 4: Đến ngày mở phiên Tòa phúc thẩm, người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm 6 Câu 5: Bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc những phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật để từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị 7 PHẦN 2 BÀI TẬP 7 Bài tập 1: 7 Câu 1: Anh chị hãy cho biết hướng giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo bổ sung của ông Đ 8 Câu 2: Giả sử tại phiên Tòa phúc thẩm, ông M và ông Đ thỏa thuận với nhau theo hướng số tiền 20.000.000 đồng mà ông Đ nợ ông M sẽ được ông Đ trả dần trong vòng 05 tháng, mỗi tháng 4.000.000 đồng Anh chị hãy cho biết hướng giải quyết của Hội đồng xét xử phúc thẩm trong trường hợp này 8 Bài tập 2: 8 Anh chị hãy cho biết hướng giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm đối với
trường hợp: 9 Câu 1: Bà Th rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện nêu trên 9 Câu 2: Ông K’H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà nhưng vắng mặt nêu trên 9 PHẦN 3 PHÂN TÍCH ÁN 9 Đọc Bản án số: 12/2021/HNGĐ-PT ngày 18/3/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai 9
Trang 3Câu 1: Nhận xét về lý do hủy bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm theo hai hướng đồng ý và không đồng ý 9
*Quan Điểm đồng ý về lý do hủy bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm 10
*Quan Điểm không đồng ý về lý do hủy bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm 11 Câu 2: Từ các phân tích nêu trên, tóm tắt vụ án xoay quanh vấn đề pháp lý được phân tích 13
Trang 4PHÂN CÔNG LÀM VIỆC NHÓM MÔN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
I Thành phần tham gia
1 Đỗ Bùi Huy Hoàng MSSV: 2153801012085
2 Nguyễn Thị Kim Hoàng MSSV: 2153801012087
3 Lê Khánh Huyền MSSV: 2153801012092
4 Võ Trần Pháp Luật MSSV: 2153801012123
5 Đỗ Phương Nam MSSV: 2153801012136
II Nội dung làm việc: Quá trình làm việc bài thảo luận môn Luật Tố Tụng Dân sự
1 Phân công công việc:
Phần 1 Nhận định: Huyền (1), Huy Hoàng (2), Luật (3), Nam (4), Kim Hoàng (5) Phần 2 Bài tập: Cả nhóm làm độc lập và họp ý để thống nhất quan Điểm
Bài tập 1: Nam, Huy Hoàng, Huyền
Bài tập 2: Luật, Kim Hoàng
Phần 3 Phân tích án: Tất cả thành viên cùng đọc án, phân tích án Cụ thể:
Câu 1:
Nhóm 1: Luật, Kim Hoàng
Nhóm 2: Nam, Huyền, Huy hoàng
Câu 2: Huy Hoàng, Huyền
Tổng hợp bài: Kim Hoàng
2 Tiến độ nộp bài
Thời gian giao việc: Ngày 06/05/2023
Các thành viên đều nộp đúng thời hạn
Họp thảo luận đóng góp về bài làm của các thành viên trong nhóm
Thời gian: 08/05/2023 lúc 19h30
Hình thức: Trao đổi qua Google Meet
Trang 5Về phần nhận định: Mỗi bạn đều làm số câu được phân công theo nhóm trưởng và có kiểm tra qua lại lẫn nhau
Về phần bài tập: Cả nhóm có sự đồng ý với phần phân công và hướng làm của các bạn, nhóm trưởng có góp ý và hoàn thiện lại
Về phần phân tích án: Cả nhóm đọc án và làm theo yêu cầu phân công, lắng nghe góp
ý và có chỉnh sửa
Bài thảo luận hoàn thiện
Thời gian kết thúc cuộc họp: 22h25 phút ngày 08/05/2023 và họp lại sau chỉnh sửa là ngày 09/05/2023
Trang 6PHẦN 1 NHẬN ĐỊNH
Câu 1: Trường hợp người kháng cáo thay đổi, bổ sung yêu cầu kháng cáo của mình thì người kháng cáo phải làm lại đơn kháng cáo.
Trả lời:
Nhận định Sai Cơ sở pháp lý: Căn cứ theo Khoản 1, 4 Điều 284 BLTTDS 2015 thì người kháng cáo có thể thay đổi, bổ sung yêu cầu kháng cáo của mình nếu trong thời gian được quy định tại Điều 273 BLTTDS 2015 mà không bị giới hạn bởi phạm vi kháng cáo ban đầu Bên cạnh đó, việc sửa đổi bổ sung kháng cáo sẽ được lập thành văn bản và gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm Vì vậy người kháng cáo không phải làm lại đơn kháng cáo
Câu 2: Nguyên đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế thì Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án.
Trả lời:
Nhận định sai
CSPL: Điểm a Khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015
Về nguyên tắc theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 289 BLTTDS 2015 Tòa án cấp phúc thẩm sẽ ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hoặc một phần vụ án trong trường hợp quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 217 BLTTDS Theo đó, tại Điểm a Khoản 1 Điều 217 quy định nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền và nghĩa vụ của họ không được thừa kế thì Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Tuy nhiên đối với vụ việc có nhiều quan hệ pháp luật, trong đó vừa có quan hệ nhân thân, vừa có quan hệ tài sản cần giải quyết (như ly hôn, chia tài sản chung của vợ chồng đồng thời giải quyết nợ chung) thì việc một trong các đương sự chết cũng không làm chấm dứt việc giải quyết vụ việc, trong những trường hợp này Tòa án đình chỉ giải quyết yêu cầu về quan hệ nhân thân chứ không thể đình chỉ việc giải quyết vụ án Vì vậy nhận định trên là sai
Câu 3: Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể
từ ngày tuyên án.
Trả lời:
Nhận định sai
Bởi vì, đối với trường hợp mà đương sự, đại diện cơ quan tổ chức, cá nhân hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên Tòa hoặc không có mặt khi Tòa tuyên án mà có
lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo không phải được tính kể từ ngày tuyên án mà được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết
CSPL: Khoản 1 Điều 273 BLTTDS năm 2015
Ví dụ: Nếu không có mặt từ đầu phiên tòa thì không xét lí do chính đáng
Còn nếu tham gia
A sẽ được tính từ ngày ¼ - 16/4
B sẽ được tính ngày 10/4-25/4
Trang 7Câu 4: Đến ngày mở phiên Tòa phúc thẩm, người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.
Trả lời:
Nhận định sai Bởi trong trường hợp người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo nhưng trong vụ án vẫn còn kháng cáo của người khác, kháng nghị của Viện kiểm sát có liên quan đến phần bản án, quyết định sơ thẩm có kháng cáo đã được rút thì trong trường hợp này Hội đồng xét xử phúc thẩm không ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm CSPL: Khoản 2 Điều 312 BLTTDS 2015 và theo tinh thần hướng dẫn tại Khoản 2 Điều 11 Nghị quyết 06/2012/NQ-HĐTP
BỔ SUNG CSPL ĐIỀU 289 KHOẢN 2
NẾU RÚT TOÀN BỘ KHÁNG CÁO NHỮNG CÒN KHÁNG NGHỊ CỦA VKS THÌ VẪN TIẾP TỤC XÉT XỬ PHÚC THẨM
Câu 5: Bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc những phần bản
án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật để từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trả lời:
Nhận định Sai Theo Khoản 2 Điều 282 BLTTDS 2015, Bản án sơ thẩm, quyết định
của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc những phần bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp
sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị Tuy nhiên vẫn tồn tại trường hợp ngoại lệ buộc phải thi hành ngay đó là căn cứ Khoản 2 Điều 482 BLTTDS 2015 có những bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị: những Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả công lao động, nhận người lao động trở lại làm việc, trả lương, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp mất việc làm, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất tinh thần của công dân; quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công; Quyết định về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Cơ sở pháp lý: Khoản 2 Điều 282, Khoản 2 Điều 482 BLTTDS
Điều 293 và Điều 282 có sự chênh lệch
PHẦN 2 BÀI TẬP
Bài
tập 1:
Ông Nguyễn Ngọc M cho rằng, ngày 14/5/2017 ông M có bán cho ông Nguyễn Văn Đ
10 con bò trưởng thành và 01 con bê mới đẻ với giá 180.000.000 đồng Khi bán bò, hai bên có làm Giấy bán bò viết tay ngày 14/5/2017, nội dung Giấy bán bò ngày 14/5/2017 thể hiện giá bán bò là 180.000.000 đồng nhưng hai bên đã thỏa thuận miệng giảm giá chỉ còn 170.000.000 đồng Ngày 06/11/2017, ông Đ đã viết cho ông M một giấy biên nhận nợ tiền mua bò 170.000.000 đồng Ông Đ đã trả cho ông M tổng cộng
Trang 8ông Đ không trả Khoản nợ còn lại, ông M đã khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Đ trả cho ông 20.000.000 đồng còn nợ và 3.015.000 đồng tiền lãi
Tại Bản án sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông M, buộc ông Đ phải trả cho ông M số tiền 20.000.000 đồng và 3.015.000 đồng tiền lãi
Ngày 26/11/2018, ông Đ làm đơn kháng cáo với nội dung không đồng ý trả cho ông M
số tiền 20.000.000 đồng
Ngày 04/12/2018, ông Đ làm đơn kháng cáo bổ sung nộp cho Tòa án với nội dung: Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hợp đồng mua bán bò giữa ông M và ông Đ vô hiệu; Giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu, cụ thể là: Yêu cầu ông M trả lại cho ông 150.000.000 đồng tiền mua bò và trả tiền công thuốc chăm sóc, thức ăn, số tiền 200.000 đồng/con/tháng cho đến khi ông M trả tiền cho ông
Câu hỏi:
C
âu 1: Anh chị hãy cho biết hướng giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo bổ sung của ông Đ.
Trả lời:
Hướng giải quyết của Toà án cấp phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo bổ sung của ông Đ như sau:
Trường hợp 1: Nếu chưa hết thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa cấp sơ thẩm là
15 ngày (Điều 273 BLTTDS) thì ông Đ có quyền bổ sung kháng cáo mà không bị giới
hạn bởi phạm vi kháng cáo ban đầu Vì vậy, phần yêu cầu kháng cáo bổ sung đó sẽ được Toà án chấp nhận CSPL: Khoản 1 Điều 284 BLTTDS
Trường hợp 2: Nếu thời hạn kháng cáo theo Điều 273 BLTTDS đã hết thì ông Đ vẫn
có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo nhưng không được vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu Nhận thấy, yêu cầu kháng cáo ban đầu của ông Đ là không đồng ý trả cho ông
M số tiền 20.000.000 đồng Tuy nhiên, yêu cầu kháng cáo bổ sung của ông Đ là yêu cầu ông M trả lại 150.000.000 đồng tiền mua bò và trả tiền công thuốc chăm, thức dan,
số tiền 200.000 đồng/con/tháng cho đến khi ông M trả tiền, đã vượt quá phạm vi so với yêu cầu ông của ông Đ Vì vậy, phần yêu cầu kháng cáo bổ sung đó sẽ không được Toà án chấp nhận
CSPL: Khoản 2 Điều 284 BLTTDS
Câu 2: Giả sử tại phiên Tòa phúc thẩm, ông M và ông Đ thỏa thuận với nhau theo hướng số tiền 20.000.000 đồng mà ông Đ nợ ông M sẽ được ông Đ trả dần trong vòng 05 tháng, mỗi tháng 4.000.000 đồng Anh chị hãy cho biết hướng giải quyết của Hội đồng xét xử phúc thẩm trong trường hợp này.
Trả lời:
Hướng giải quyết của Toà phúc thẩm:
Vụ việc tranh chấp trong vụ án trên là số tiền nợ mua bò 20.000.000 đồng Nếu tại phiên toà phúc thẩm, ông M và ông Đ đã thoả thuận với nhau theo hướng số tiền 20.000.000 đồng mà ông Đ nợ ông M sẽ được ông Đ trả dần trong vòng 05 tháng, mỗi tháng 4.000.000 đồng Như vậy, thoả thuận của ông M và ông Đ đã đáp ứng được việc
Trang 9giải quyết tranh chấp vụ án Và thoả thuận của ông M và ông Đ khác với quyết định của bản án Sơ thẩm bởi trong thoả thuận, số tiền được chia làm các đợt trả theo từng lần và không có tiền lãi 3.015.000 đồng Do đó, thảo thuận của ông M và ông Đ không
có trùng với quyết định bản án Sơ thẩm đã có trước đó đồng thời mang tính tự nguyện, không vi phạm Điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và có tính giải quyết tranh chấp vụ án cho nên Hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án phúc thẩm sửa bản án
sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo Điều 300 BLTTDS
Bài tập 2:
Bà Nguyễn Thị Th cho rằng, từ năm 2002 đến năm 2014, ông K’H và vợ là bà Ka M
nhiều lần vay tiền của bà Th, đến ngày 26/8/2014 hai bên viết giấy chốt nợ số tiền 157.500.000 đồng, có chữ ký của ông K’H Ngày 22/01/2016, vợ chồng ông K’H và
bà Ka M đã trả cho bà Th được 35.000.000 đồng, còn nợ lại 122.500.000 đồng Nay bà
Th khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông K’H và bà Ka M phải trả số tiền còn
nợ là 122.500.000 đồng, không yêu cầu tính lãi Ông K’H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Th và cho rằng chữ ký K’H trong giấy nợ tiền ngày 26/8/2014 không phải là chữ ký của ông vì ông không biết chữ
Tại Bản án sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
bà Th về việc yêu cầu ông K’H và bà Ka M phải trả số tiền còn nợ là 122.500.000 đồng
Ngày 28/9/2017, bà Th kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm và yêu cầu giám định chữ
ký của ông K’H
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, ngày 05/12/2017, nguyên đơn bà Th có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu giám định chữ ký của ông K’H Tại phiên Tòa phúc thẩm, bị đơn ông K’H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt
Câu hỏi:
Anh chị hãy cho biết hướng giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm đối với trường hợp:
Câu 1: Bà Th rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện nêu trên.
Trả lời:
Bà Th rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện này là trước khi mở phiên Tòa sơ thẩm mà cụ thể
là trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm thì lúc này sẽ có 02 trường hợp:
Trường hợp 1: Hội đồng xét xử phúc thẩm hỏi bị đơn và nếu bị đơn không đồng ý thì không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn
Trường hợp 2: Hội đồng xét xử phúc thẩm hỏi bị đơn và nếu bị đơn đồng ý với việc rút yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì Hội đồng xét xử ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án
CSPL: Khoản 1 Điều 299 BLTTDS năm 2015
Câu 2: Ông K’H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà nhưng vắng mặt nêu trên Trả lời:
Trang 10Trong trường hợp này ông K’H là người không kháng cáo nhưng có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đến việc kháng cáo (bởi vì, xuất phát từ yêu cầu khởi kiện là bà Th khởi kiện yêu cầu ông K’H trả cho bà số tiền là 122.500.000 đồng và mặc ông K’H không phải là người kháng cáo nhưng khi giải quyết thì quyền lợi, nghĩa vụ của ông H có liên quan đến việc kháng cáo) Thì đối với trường hợp này khi ông K’H được triệu tập hợp
lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án
CSPL: Khoản 3 Điều 296 BLTTDS năm 2015
PHẦN 3 PHÂN TÍCH ÁN
Đọc Bản án số: 12/2021/HNGĐ-PT ngày 18/3/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Câu 1: Nhận xét về lý do hủy bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm theo hai hướng đồng ý và không đồng ý
Trả lời:
*Quan Điểm đồng ý về lý do hủy bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm.
Theo nhóm, nhận định của Tòa phúc thẩm là hợp lý Bởi các lẽ sau:
Thứ nhất, Tòa án sơ thẩm đã vi phạm theo Điều 227 BLTTDS 2015 Nguyên đơn xin
hoãn phiên Tòa ngày 30/9/2020 là do bà H bị tăng huyết áp Đây là một sự kiện bất khả kháng bởi việc bệnh đột nhiên phát tác là một sự kiện không nằm trong suy nghĩ của con người, không thể lường trước được Về thực khi bệnh tăng huyết áp phát tác
dù đã sử dụng thuốc nhưng không thể nào bình phục ngay mà phải trải qua thời gian nghỉ ngơi Do đó, việc bà H bị tăng huyết áp hoàn toàn đáp ứng Điều kiện của sự kiện
bất khả kháng Vì vậy, căn cứ Khoản 2 Điều 227 BLTTDS 2015 thì việc Tòa sơ thẩm
tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là không hợp lý
Thứ hai, thẩm phán đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử vào 8 giờ 30 phút ngày
14/09/2015 nhưng phiên Tòa này lại không được diễn ra do nguyên đơn đã có đơn hoãn phiên Tòa do nguyên đi công tác nên không thể tham gia phiên toàn Vào ngày 29/9/2020, bị đơn xin hoãn phiên Tòa do bị tăng huyết áp nhưng Tòa sơ thẩm lại không chấp nhận Vậy phải chăng trong vụ án trên Tòa án đang thiên vị hơn cho nguyên đơn?
Thứ ba, Tòa án căn cứ xác định “lần triệu tập hợp lệ” cần dựa vào lý do hoãn phiên
Tòa trong lần triệu tập trước Trong vụ việc trên, việc hoãn phiên Tòa vào ngày 14/9/2020 là do nguyên đơn xin hoãn chứ không do bị đơn xin hoãn Do đó, theo quy
định tại Khoản 1 Điều 227 BLTTDS thì đây được xác định là lần triệu tập hợp lệ đối
với nguyên đơn Và trong trường hợp, không thể xác định đây là lần triệu tập hợp lệ lần thứ nhất đối với bị đơn, bởi lý lo hoãn phiên Tòa trong lần hợp lệ lần thứ nhất là xuất phát từ nguyên đơn Việc xác định đây là lần triệu tập hợp lệ thứ hai của bị đơn là xâm phạm quyền và lợi ích của bị đơn
Thứ tư, bà H có mời luật sư để bảo vệ quyền lợi cho mình, tuy nhiên, Thẩm phán
không mời Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bà H tham dự phiên Tòa Do đó, Tòa án cấp
sơ thẩm không tống đạt hợp lệ cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn
để tham gia phiên Tòa mà xét xử vắng mặt người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của bị đơn là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Theo Điều 173 BLTTDS 2015, các phương thức tống đạt văn bản tố tụng bao gồm: cấp, tống đạt,