1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý thông tin đối ngoại trên báo in hiện nay (khảo sát báo thời nay, báo ảnh việt nam, báo thế giới và việt nam từ tháng 6 2020 đến tháng 6 2021)

104 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý thông tin đối ngoại trên báo in hiện nay (khảo sát báo Thời Nay, báo Thế giới và Việt Nam, báo Ảnh Việt Nam từ tháng 6-2020 đến tháng 6-2021)
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Tâm
Người hướng dẫn PGS.TS. Lưu Văn An, TS. Lưu Thúy Hồng
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Chuyên ngành Quản lý Hoạt động đối ngoại
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 2,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

truyền thông phải thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, đối tượng phục vụ, nâng cao tính tư tưởng, nhân văn và khoa học, đề cao trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, góp phần xây dựng văn h

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THỊ THANH TÂM

QUẢN LÝ THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI

TRÊN BÁO IN HIỆN NAY (Khảo sát báo Thời Nay, báo Thế giới và Việt Nam, báo Ảnh Việt Nam

từ tháng 6-2020 đến tháng 6-2021)

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUAN HỆ QUỐC TẾ

HÀ NỘI, 2022

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THỊ THANH TÂM

QUẢN LÝ THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI

TRÊN BÁO IN HIỆN NAY

(Khảo sát báo Thời Nay, báo Thế giới và Việt Nam, báo Ảnh Việt Nam

từ tháng 6-2020 đến tháng 6-2021)

Chuyên ngành: Quản lý Hoạt động đối ngoại

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUAN HỆ QUỐC TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lưu Văn An

TS Lưu Thúy Hồng

HÀ NỘI, 2022

Trang 3

Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sỹ

Hà Nội, ngày tháng năm 2022

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS,TS Nguyễn Ngọc Oanh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi

dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lưu Văn An và TS Lưu Thúy Hồng Kết quả nghiên cứu trong luận văn không trùng lặp với những công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố trước đây Phần tài liệu tham khảo được dẫn nguồn đầy đủ, trung thực, đáng tin cậy Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước học viện và hội đồng luận văn về sự cam đoan này

Hà Nội, tháng 8 năm 2022

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Tâm

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI TRÊN BÁO IN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 10 1.1 Lý luận chung về thông tin đối ngoại và báo in 10

1.2 Các yếu tố của quản lý thông tin đối ngoại trên báo in 21

1.3 Đường lối chính sách về thông tin đối ngoại và quản lý thông tin đối ngoại của Việt Nam 30

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI TRÊN BÁO IN HIỆN NAY (KHẢO SÁT BÁO THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM, BÁO ẢNH VIỆT NAM, BÁO THỜI NAY TỪ THÁNG 6-2020 ĐẾN THÁNG 6-2021) 34

2.1 Khái lược về các cơ quan báo in trong diện khảo sát 34

2.2 Thực trạng nội dung quản lý thông tin đối ngoại trên ba tờ báo khảo sát 43 2.3 Thực trạng về phương pháp quản lý trên ba tờ báo khảo sát 57

CHƯƠNG 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI TRÊN BÁO IN TRONG THỜI GIAN TỚI 70

3.1 Những vấn đề đặt ra 70

3.2 Một số đề xuất giải pháp 77

KẾT LUẬN 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

9 TT&TT Thông tin và Truyền thông

Trang 7

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Ảnh 2.1 Quy trình sản xuất báo Thế giới và Việt Nam: 37

Ảnh 2.2 Trang Web Báo Ảnh Việt Nam 39

Ảnh 2.3 Quy trình xuất bản trên báo Ảnh Việt Nam: 41

Ảnh 2.4 Quy trình xuất bản trên báo Nhân Dân: 42

Ảnh 2.5 Biên bản cuộc họp chi hội ban Báo Thời Nay: 46

Ảnh 2.6 Chuẩn bị nội dung thông tin cho các ấn phẩm thuộc TTXVN: 47

Ảnh 2.7 Kế hoạch tuyên truyền Nghị quyết Đại hội Đảng XIII: 50

Ảnh 2.8 Kế hoạch tuyên truyền của báo Thế giới và Việt Nam: 51

Ảnh 2.9 Báo Ảnh Việt Nam thu thập dư luận của chuyên gia, học giả nước ngoài nhân sự kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIII (25/1/2021 – 2/2/2021): 51

Ảnh 2.10: Báo TG&VN thông tin về tình hình triển khai định hướng đối ngoại của Đại hội XIII: 52

Ảnh 2.11: Báo Thời Nay thông tin tình hình bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp của Việt Nam: 53

Ảnh 2.12: Ví dụ về hoạch định chiến lược, mục tiêu phát triển công tác TTĐN trên báo in ở Việt Nam: 58

DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1: Một số văn bản QLNN về TTĐN 31

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đặc biệt là lĩnh vực báo chí – truyền thông có những bước phát triển mạnh mẽ, nhờ các thành tựu khoa học, công nghệ, kỹ thuật mà Internet và mạng xã hội bùng nổ trong thời gian qua đã và đang tạo ra cả cơ hội và thách thức đối với báo chí toàn cầu Riêng với báo in, nhiều tờ báo, tòa soạn đã có những bước phát triển, “lột xác”

cả về nội dung và hình thức, thông qua đó tăng cường thông tin đối ngoại Song báo in nói chung và báo chí đối ngoại nói riêng cũng đang đứng trước yêu cầu cấp bách là phải đổi mới sáng tạo, tăng cường cả về chất và lượng

Hiện nay, khi tình hình dịch bệnh Covid - 19 vẫn còn diễn biến phức tạp trên thế giới, thì Việt Nam lại đang được quốc tế đánh giá cao trong công tác phòng chống dịch và do đó báo chí đối ngoại đang đứng trước yêu cầu cần phải tận dụng lợi thế này để đóng góp thiết thực trong việc nâng cao hình ảnh,

vị thế Việt Nam trong mắt bạn bè, đối tác quốc tế Trong bối cảnh dịch bệnh, hạn chế phóng viên nước ngoài vào Việt Nam, báo chí đối ngoại cũng trở thành cầu nối Việt Nam với cộng đồng quốc tế Rất nhiều người nước ngoài

đã tìm đến các địa chỉ báo chí chính thống trong nước như là địa chỉ tin cậy để nắm bắt thông tin Báo chí đối ngoại vừa chuyển tải thông điệp ý về đất nước, con người Việt Nam ra với thế giới, lại vừa là cầu nối đưa những ý kiến đánh giá, khen ngợi từ lãnh đạo, người dân, bạn bè quốc tế đến với công chúng trong nước Vấn đề đặt ra là thực trạng quản lý thông tin đối ngoại trên báo in hiện có những ưu điểm, hạn chế gì và nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế đó để có thể phát huy hết khả năng trong hệ thống báo chí hiện nay Từ

đó các cơ quan báo chí đối ngoại trong đó có báo in sẽ phải tiến hành tiếp những bước đi, những chiến lược phát triển như thế nào để phù hợp với điều kiện thực tiễn đó?

Theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII xác định: “Các cơ quan

Trang 9

truyền thông phải thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, đối tượng phục vụ, nâng cao tính tư tưởng, nhân văn và khoa học, đề cao trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, góp phần xây dựng văn hóa và con người Việt Nam.“ Vì vậy từ thực tiễn công tác và mong muốn kết hợp với những lý luận đã học tập và nghiên cứu, luận văn nhằm hệ thống lại các vấn đề quản lý thông tin trên báo chí, đặc biệt là thông tin đối ngoại, qua đó đánh giá thực trạng quản lý thông tin đối ngoại trên báo in thông qua nghiên cứu trường hợp trên các ấn phẩm Thời Nay (Báo Nhân Dân), báo Thế giới và Việt Nam và báo Ảnh Việt Nam Thông qua đó luận văn cũng đề xuất những giải pháp, hành động cụ thể dựa trên lý luận và khả năng triển khai về thực tiễn Với những lý do đó, tôi đã lựa

chọn đề tài “Quản lý thông tin đối ngoại trên báo in hiện nay (Khảo sát báo Thời Nay, báo Thế giới và Việt Nam, báo Ảnh Việt Nam từ tháng 6-2020 đến tháng 6-2021)” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Ở nước ta, thông tin đối ngoại trên báo in đã có sự phát triển trong những năm gần đây song đây vẫn còn là một lĩnh vực mới mẻ Công tác thông tin đối ngoại mới chỉ nhận được sự quan tâm hơn từ sau khi được nhắc đến tại Đại hội Đảng lần thứ VI (từ ngày 15 đến 18-12-1986) Đề tài về thông tin đối ngoại trên báo in đã được đăng tải trong các bài viết, bài báo trên các tờ báo, tạp chí chuyên ngành như Tạp chí Thông tin đối ngoại, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Thông tin công tác tư tưởng lý luận Trong quá trình hội nhập và phát triển đến nay đã có những công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến thông tin đối ngoại trên báo chí hoặc quản lý báo chí truyền thông như:

Thứ nhất, những công trình nghiên cứu liên quan đến thông tin đối

ngoại , thông tin đối ngoại trên báo chí:

Công trình nghiên cứu Truyền thông đại chúng trong công tác thông tin

đối ngoại của Việt Nam hiện nay (Nxb Chính trị -Hành chính, 2009) của hai

tác giả Phạm Minh Sơn, Nguyễn Thị Quế, đã nêu ra được thực trạng hoạt

động truyền thông đại chúng trong công tác thông tin đối ngoại của Việt Nam

Trang 10

hiện nay; tổng hợp và hệ thống lại toàn bộ kiến thức về vị trí, vai trò của truyền thông đại chúng trong công tác thông tin đối ngoại đồng thời đã nêu ra các biện pháp cụ thể góp phần đẩy mạnh hoạt động và nâng cao hơn nữa hiệu quả thiết thực của truyền thông đại chúng trong công tác thông tin đối ngoại của Việt Nam trong bối cảnh đất nước ta đang chủ động và tích cực hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và thế giới

Thông tin đối ngoại Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

(Nxb Chính trị - Hành chính, 2011) do tác giả Phạm Minh Sơn làm chủ biên; trong quá trình hội nhập quốc tế, tác giả đã nghiên cứu làm rõ những vấn đề

về hoạt động thông tin đối ngoại của Việt Nam từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động thông tin đối ngoại của Việt Nam hiện nay Phạm

vi nghiên cứu được xác định là hoạt động thông tin đối ngoại từ năm 1992, sau khi Ban Bí thư trung ương Đảng ra chỉ thị 11/CT-TW về đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại; chú trọng phân tích, khảo sát những vấn

đề trong những năm gần đây nhất là từ khi Việt Nam gia nhập WTO

Tác phẩm Báo chí và thông tin đối ngoại (Nxb Chính trị quốc gia – Sự

thật, 2012) do tác giả Lê Thanh Bình chủ biên; sách nêu ra những lý luận chung về lĩnh vực truyền thông đại chúng, báo chí, thông tin đối ngoại; Tổng quan về truyền thông đại chúng ở Việt Nam; đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về truyền thông đại chúng, công tác đối ngoại và thông tin đối ngoại; Các thể loại báo chí sử dụng trong truyền thông quốc tế, ngoại giao văn hóa thời kỳ hội nhập; Vai trò của báo chí đối với thông tin đối ngoại; Thực trạng công tác thông tin đối ngoại và phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thông tin đối ngoại

Thứ hai, những công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý báo chí

Trang 11

trong nền dân chủ đại chúng từ nhiều góc độ Giải thích quản lý thông tin là

gì, quản lý thông tin có vấn đề gì và sự liên quan với tiến trình chính trị, tổ chức quản lý thông tin và sự khác biệt giữa các quốc gia

Sách Quản lý và phát triển thông tin báo chí ở Việt Nam, Nxb Thông

tin và Truyền thông, 2014) do tác giả Đỗ Quý Doãn làm chủ biên; bao gồm các bài viết, bài phát biểu trong quá trình công tác của tác giả, tập trung làm

rõ thực trạng, những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý, chỉ đạo và phát triển báo chí; đồng thời đưa ra những giải pháp cơ bản tạo điều kiện để thông tin báo chí Việt Nam phát triển nhưng vẫn đảm bảo quản lý tốt

Sách Thông tin báo chí với công tác lãnh đạo, quản lý (Nxb Thông tấn,

2017) do tác giả Nguyễn Đức Lợi, Lưu Văn An đồng chủ biên – phát triển từ

đề tài khoa học cấp nhà nước Thông tin báo chí với công tác lãnh đạo, quản

lý ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, đã chỉ ra những

vấn đề lý luận và kinh nghiệm thế giới về TTBC với công tác LĐQL, đồng thời chỉ ra thực trạng thông tin báo chí với công tác LĐQL ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế và những quan điểm, giải pháp và kiến nghị nhằm phát huy vai trò của TTBC đối với công tác LĐQL ở Việt Nam trong thời kỳ mới

Ngoài ra còn có một số bài báo, nghiên cứu về chủ đề thông tin đối

ngoại như: Đẩy mạnh hoạt động thông tin đối ngoại theo tinh thần Đại hội

XII của Đảng, Tạp chí Lý luận chính trị số 4-2016, PGS, TS Nguyễn Hữu

Cát, ThS Nguyễn Chí Thảo, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đề cập các giải pháp để đẩy mạnh hoạt động TTĐN trong bối cảnh tình hình thế giới

và khu vực chuyển biến sâu sắc Trong đó nhấn mạnh các giải pháp tăng cường hoạt động thông tin đối ngoại của báo chí, truyền thông nói chung Bài

viết „Công tác thông tin đối ngoại góp phần đấu tranh bảo vệ nền tảng tư

tưởng của Đảng“ của TS Lê Hải Bình trên Tạp chí Tuyên giáo tháng 3/2020

Những nội dung nghiên cứu quản lý TTĐN đi sâu nghiên cứu về lý luận và nghiệp vụ báo chí, chưa có nhiều nghiên cứu phân tích nội dung quản lý Nhà

Trang 12

nước hoặc nghiên cứu trường hợp thực tiễn còn ít Tìm hiểu các đầu sách về quản lý TTĐN hiện nay cũng chưa có nhiều nội dung khảo sát về nội dung quản lý và phương pháp quản lý TTĐN trên báo in Có nhiều nghiên cứu về quản lý nhà nước về báo chí nói chung, song lại chưa chỉ ra những đặc điểm, đặc thù của Quản lý TTĐN trên báo chí Trong khi đó những nghiên cứu về TTĐN chủ yếu cho báo chí, truyền thông nói chung, chưa có nhiều nghiên cứu trường hợp riêng cho báo in

Đến nay, vấn đề thông tin đối ngoại trên báo chí đã được rất nhiều nhà nghiên cứu, học giả quan tâm Ở Việt Nam, hướng nghiên cứu đầu tiên về thông tin đối ngoại là nghiên cứu thực trạng thông tin đối ngoại của báo chí Việt Nam, song chưa có một nghiên cứu chính thức nào đề cập trực tiếp đến

việc quản lý thông tin đối ngoại trên báo in Do vậy đề tài “Quản lý thông tin

đối ngoại trên báo in hiện nay (Khảo sát Báo Thời Nay, Báo Ảnh Việt Nam, Báo Thế giới và Việt Nam từ tháng 6-2020 đến tháng 6-2021) là một đề tài

mới, dựa trên các cơ sở lý thuyết về thông tin đối ngoại, quan hệ quốc tế, quản lý công và đồng thời kế thừa và phát huy lý luận quản lý về báo chí – truyền thông và thông tin đối ngoại thông qua nghiên cứu trường hợp tại ba

số vấn đề đặt ra đối với quản lý TTĐN trên báo in, từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường quản lý thông tin đối ngoại trên báo in trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm:

- Phân tích làm rõ các vấn đề lý luận về quản lý thông tin đối ngoại trên báo in

Trang 13

- Khảo sát thực trạng quản lý thông tin đối ngoại trên báo in: ấn phẩm Thời Nay của báo Nhân dân; báo Thế giới và Việt Nam; và báo Ảnh Việt Nam, nhận xết nguyên nhân

- Phân tích các vấn đề đặt ra, đề xuất một số giải pháp tăng cường quản

lý thông tin đối ngoại trên báo in trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quản lý thông tin đối ngoại trên báo in hiện nay (khảo sát Báo Thời Nay, Báo Thế giới và Việt Nam, Báo Ảnh Việt Nam từ tháng 6-2020 đến tháng 6-2021)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về đối tượng khảo sát: Luận văn thực hiện khảo sát hoạt

động quản lý thông tin đối ngoại trên ấn phẩm báo in Thời Nay cụ thể là: 1) Chuyên trang Hồ sơ- Tư liệu, các mục Tiêu điểm & Dư luận, tin quốc tế, Nhân vật & Sự kiện, Góc quan sát, Nhịp sống bốn phương, Hội nhập và trang

24 trên Báo Thời Nay (Nhân Dân); 2) Báo Thế giới và Việt Nam; 3) Báo ảnh Việt Nam

Đây là các ấn phẩm báo in tiêu biểu về việc tổ chức thông tin đối ngoại theo quy mô tổ chức thông tin gồm chuyên trang, trang chuyên đề, nhóm bài Đồng thời, từ các đối tượng khảo sát, nghiên cứu điển hình này, cùng những nghiên cứu về lý luận trên thế giới, trong nước mà luận văn kế thừa, phát triển, xây dựng mới, sẽ là cơ sở để các cơ quan báo chí và quản lý báo chí có thể nghiên cứu, áp dụng vào thực tiễn tổ chức và quản lý hoạt động thông tin đối ngoại

- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Luận văn đánh giá thực trạng quản

lý thông tin đối ngoại, ưu điểm và hạn chế của nó trên các ấn phẩm báo in thuộc diện khảo sát với thời gian khảo sát trong một năm từ tháng 6-2020 đến tháng 6-2021

- Phạm vi về nội dung:

Trang 14

+ Chủ thể và đối tượng quản lý

+ Nội dung quản lý (quản lý nguồn tin, quản lý quá trình biên tập thông tin đối ngoại, quản lý khâu đăng bài, tiếp nhận và xử lý các ý kiến phản hồi từ công chúng)

+ Phương pháp quản lý: phương pháp hành chính, phương pháp kinh

tế, phương pháp động viên khuyến khích, phương pháp kiểm tra, giám sát

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên phương pháp luận biện chứng, kết hợp những vấn đề

lý luận về truyền thông, quan hệ quốc tế, chính trị học, báo chí học (các lý thuyết truyền thông, lý thuyết truyền thông quốc tế, chức năng và đặc thù loại hình báo in, kinh tế báo chí truyền thông, công chúng báo chí truyền thông hiện đại, quản trị công, đặc thù và tâm lý tiếp nhận sản phẩm báo in…),các khoa học liên quan như: logic học, toán học kết hợp phân tích lý luận và thực tiễn nhằm làm rõ nội dung, nhiệm vụ của đề tài

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận: luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp

luận là chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở lý luận và phương pháp luận Tác giả dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu Nghiên cứu lý luận dựa trên cơ sở những quan điểm của Đảng và Nhà nước về báo chí truyền thông, công tác đối ngoại, công tác tư tưởng, công tác thông tin đối ngoại

Tác giả luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu và công cụ chính sau đây để thực hiện đề tài:

- Phương pháp phân tích văn bản (nghiên cứu tài liệu): Phương pháp này được tiến hành thông qua việc sưu tầm, tuyển chọn, nghiên cứu các tài liệu, như: sách, báo, quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước về báo chí, truyền thông, thông tin đối ngoại; văn bản pháp luật liên quan đến đề tài, giúp

hệ thống hóa luận điểm, so sánh, minh họa cùng các kết qua khảo sát của

Trang 15

mình, từ đó đưa ra quan điểm của cá nhân để khẳng định khung lý thuyết của vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp logic lịch sử, thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, chứng minh để có được kết quả phân tích cả định tính và định lượng nhằm chứng minh giả thuyết đã đặt ra

- Phương pháp phỏng vấn sâu (phương pháp chuyên gia): Phương pháp này được tiến hành thông qua việc phỏng vấn sâu những nhà khoa học, các chuyên gia, nhà báo có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận văn, trong đó có các biên tập viên, cộng tác viên thường xuyên của trang Hồ sơ-

Tư liệu, các trang quốc tế - đối ngoại của Báo Thời Nay, những người trực tiếp thực hiện các chuyên đề để thu được những nhận xét xác đáng về các vấn

đề liên quan như: thực trạng việc tổ chức thông tin đối ngoại, những ưu điểm, hạn chế, giải pháp nâng cao chất lượng thông tin phục vụ hoạt động đối ngoại trong thời gian tới

- Phương pháp liên ngành: Quan hệ quốc tế, khoa học quản lý, báo chí học Các phương pháp cụ thể: nghiên cứu tài liệu, khảo sát thực tiễn, phân tích và tổng hợp, so sánh, thống kê,

6 Đóng góp mới của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn góp phần:

- Làm rõ và mới hơn về nhận thức, cách tiếp cận, đánh giá về vai trò của thông tin đối ngoại trên báo in nói chung và trên các ấn phẩm thuộc diện khảo sát nói riêng trong điều kiện và yêu cầu mới; Luận văn cũng góp phần làm phong phú, sinh động hơn về lý luận và thực tiễn của quản lý thông tin đối ngoại trong bối cảnh cạnh tranh và khó khăn của báo in hiện nay

- Kết quả khảo sát, phân tích, đánh giá về các trang chuyên đề quốc

tế - đối ngoại trên báo Thời Nay và khảo sát các ấn phẩm tiêu biểu của báo chí đối ngoại Việt Nam là Báo Thế giới và Việt Nam, Báo ảnh Việt Nam

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

- Kết quả nghiên cứu làm rõ hơn những vấn đề lý luận về thông tin đối

Trang 16

ngoại và các yếu tố quản lý thông tin đối ngoại trên báo in như đối tượng, chủ thể, nội dung, phương pháp quản lý thông tin đối ngoại trên báo in

- Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa thông tin đối ngoại và các yếu

tố đó, luận văn đã chỉ ra thực trạng quản lý thông tin đối ngoại trên các ấn phẩm được khảo sát, nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến những ưu điểm và tồn tại của việc quản lý thông tin đối ngoại, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng quản lý thông tin đối ngoại trên báo in

- Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn có thể được sử dụng làm cơ

sở cho việc định hướng tổ chức và quản lý thông tin đối ngoại trong thực tiễn

8 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và từ viết tắt, nội dung chính của luận văn được chia làm ba (03) chương

Trang 17

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ THÔNG TIN ĐỐI

NGOẠI TRÊN BÁO IN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1 Lý luận chung về thông tin đối ngoại và báo in

1.1.1 Các yếu tố của thông tin đối ngoại

Thông tin là nguồn gốc của nhận thức, là dữ liệu có ý nghĩa được dùng

để biểu hiện những đề mục hiểu biết nhằm giúp chủ thể ra quyết định và kiểm soát các hoạt động; thông tin trong hoạt động quản lý là một tập hợp nhất định các thông báo khác nhau về sự kiện đã xảy ra trong hoạt động quản lý và trong môi trường bên ngoài có liên quan đến hoạt động quản lý đó, về những thay đổi thuộc tính của hệ thống quản lý và môi trường xung quanh, nhầm kiến tạo các biện pháp tổ chức, các yếu tố vật chất, nguồn lực, không gian và thời gian đối với khách thể quản lý

Trong quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại, cụm từ thông tin đối ngoại được sử dụng khá thường xuyên Cũng có nhiều quan điểm về thông tin đối ngoại Kết luận số 16-KL/TW, ngày 14/02/2012 của Bộ Chính trị về Chiến lược phát triển thông tin đối ngoại giai đoạn 2011 – 2020- Việt Nam đã chỉ rõ: công tác thông tin đối ngoại là một bộ phận rất quan trọng trong công tác tuyên truyền, công tác tư tưởng của Đảng và là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài; thực hiện công tác thông tin đối ngoại là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị; cần phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong hoạt động thông tin đối ngoại

Trong 20 năm kể từ sau chỉ thị 11/CT-TW về đổi mới tăng cường công tác TTĐN, thông tin đối ngoại đã luôn được quán triệt và đóng vai trò quan trọng của công tác đối ngoại cũng như công tác tư tưởng “TTĐN nhằm làm cho thế giới hiểu rõ đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; quan điểm và lập trường của Việt Nam trong các vấn đề quốc tế và khu vực; giới thiệu những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới; về đất nước, con người, lịch

Trang 18

sử, văn hóa dân tộc; đấu tranh chống lại những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch đối với Việt Nam, qua đó tranh thủ sự đồng tình, ủng

hộ, hợp tác, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, sự đồng thuận và đóng góp của đồng bào ta ở nước ngoài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”1 Như vậy có thể hiểu: Thông tin đối ngoại là hoạt động thông tin của một quốc gia nhằm giới thiệu, quảng bá hình ảnh quốc gia ra thế giới, thông tin về tình hình thế giới và chính sách đối ngoại của quốc gia cho nhân dân trong nước TTĐN nhằm mục đích tạo ra sự hiểu biết về quốc gia đó, xây dựng hình ảnh của quốc gia ở bên ngoại theo cách mà quốc gia đó mong muốn, phục vụ lợi ích của quốc gia

1.1.1.1 Chủ thể thông tin đối ngoại

TTĐN do nhiều chủ thể khác nhau thực hiện, hoạt động TTĐN là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam Nghĩa

là toàn bộ các tổ chức đảng, nhà nước, trung ương, địa phương, các đoàn thể chính trị - xã hội, các bộ, ban, ngành, các đơn vị thông tin đại chúng, nhà xuất bản, hội văn nghệ, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, các đoàn Việt Nam ra nước ngoài, các doanh nghiệp… cũng các cán bộ, công chức, viên chức thuộc các tổ chức trên và mọi người Việt Nam đi công tác học tập, làm việc, sinh sống ở nước ngoài…, đều tham gia công tác TTĐN2 Xuất phát

từ tầm quan trọng yêu cầu của thông tin đối ngoại, đảng và nhà nước Việt Nam xác định việc thực hiện thông tin đối ngoại là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị Như vậy, chủ thể thông tin đối ngoại gồm:

- Các cơ quan đảng từ trung ương đến địa phương

- Nhà nước gồm: Quốc hội, chính phủ (văn phòng chính phủ, các bộ, ngành trực thuộc chính phủ), tòa án và viện kiểm sát ở trung ương, chính quyền địa phương (hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp)

- Các đại sứ quán, các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài,

Trang 19

- Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nằm trong mặt trận (tổ chức chính trị

- xã hội) gồm Đoàn thanh niên, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Hội nông dân, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam

- Các nhà xuất bản, các hội văn học nghệ thuật, các đoàn Việt Nam ra nước ngoài trong đó bao gồm cả cơ sở doanh nghiệp, đoàn người Việt Nam đi công tác, học tập và lao động hoặc đang trong quá trình sinh sống ở nước ngoài

- Các tổ chức truyền thông đại chúng,…

Các chủ thể này thực hiện thông tin đối ngoại theo nhiệm vụ và chức năng, đều phải có trách nhiệm tiến hành hoạt động thông tin đối ngoại, đưa hình ảnh Việt Nam đến với bạn bè quốc tế

1.1.1.2 Đối tượng TTĐN

Đối tượng thông tin đối ngoại có điểm khác với thông tin đối nội Trong thông tin đối ngoại, đối tượng cần thông tin thường là những cá nhân hoặc tổ chức không có cùng mức độ tin tưởng hoặc có nhiều mặt không nhất trí, tin tưởng vào đường lối, chính sách của nhà nước Đối tượng thông tin không cùng chung chí hướng, cách tư duy và suy nghĩ, thậm chí đối lập về cách tư duy, cách suy nghĩ, văn hóa, truyền thống, phong tục tập quán

Các nhóm đối tượng của thông tin đối ngoại đến từ các tầng lớp, giai cấp, thành phần xã hội có trình độ nhận thức, hiểu biết và có mối quan tâm khác nhau đến Việt Nam Đó là nhân dân tất cả các nước trên thế giới, Đặc biệt là nước các nước láng giềng, các nước trong khu vực, các nước lớn, các trung tâm kinh tế chính trị xã hội lớn và các bạn bè truyền thống… như trong Quyết định số 2434/ QĐ-TTg Phê duyệt Quy hoạch hệ thống báo chí đối ngoại đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 đã xác định: “Báo chí đối ngoại cần xác định đối tượng TTĐN có trọng tâm, trọng điểm nhất, đặc biệt là các nước láng giềng, các nước lớn, các nước trong khối ASEAN, Mỹ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản, các nước khu vực Mỹ latinh, đồng bào ta ở nước ngoài, đặc biệt là giới trẻ; chủ động cung cấp đầy đủ thông tin trong nước và tiếp nhận kịp thời thông tin từ bên ngoài để phục vụ để phục vụ triển khai các

Trang 20

chính sách phát triển kinh tế - xã hội – văn hóa, an ninh, quốc phòng bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển đảo”.1

Về cơ bản có thể chia đối tượng của hoạt động thông tin đối ngoại thành bốn nhóm lớn trong đó có ba nhóm đặc thù:

Nhóm thứ nhất là nhân dân, chính phủ các nước trên thế giới, các nước

láng giềng, các nước trong khu vực, các nước lớn, các trung tâm kinh tế - chính trị- xã hội lớn và các nước bạn bè truyền thống Đây là nhóm đối tượng lớn nhất của công tác thông tin đối ngoại Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189 nước trong tổng số 193 quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc, có quan hệ kinh tế - thương mại và đầu tư với hơn 220 quốc gia và vùng lãnh thổ; xây dựng được mạng lưới 17 đối tác chiến lược và 13 đối tác toàn diện, trong đó có toàn bộ các nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc và các nước thành viên ASEAN, mạng lưới bạn bè và đối tác quan trọng ngày càng được mở rộng, hợp tác ngày càng hiệu quả2

Trong điều kiện lực lượng TTĐN của Việt Nam còn mỏng, các nguồn nhân lực còn yếu, đối tượng của công tác TTĐN phải tập trung vào chính giới, các nhà kinh doanh, trí thức, đội ngũ người làm báo chí, xuất bản, các nhà Việt Nam học, những bạn bè có thiện chí với Việt Nam Chính họ là những cầu nối thế giới với Việt Nam và Việt Nam với thế giới và vì vậy thông tin đến với những đối tượng này càng cần được cung cấp chính xác, kịp thời, thuyết phục

Nhóm đối tượng thứ hai là người nước ngoài sinh sống, làm việc, học tập, du lịch ở Việt Nam Họ đang làm việc trong các đoàn ngoại giao, báo chí,

các đoàn khách viếng thăm, du lịch, lưu học sinh nước ngoài, giới đầu tư kinh doanh, chuyên gia nước ngoài trong các lĩnh vực,đại diện các tổ chức chính phủ nước ngoài, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ quốc tế, nhà

Trang 21

báo phóng viên của các văn phòng đại diện các cơ quan thông tấn nước ngoài

Trong nhóm đối tượng này đội ngũ phóng viên nước ngoài thường trú tại Việt Nam đã được xem là nhóm đối tượng ưu tiên chú ý Hiện nay ở Việt Nam có gần 40 hãng truyền thông quốc tế có mặt tại Việt Nam1

Ngoài ra còn đội ngũ phóng viên không thường trú Họ đến Việt Nam trong một thời gian ngắn hay nhân các sự kiện lớn như đại hội đảng, các ngày

lễ lớn, tết, Festival hay đi tháp tùng các chuyến viếng thăm cấp cao, các hội nghị quốc tế quan trọng tổ chức tại Việt Nam Nhóm phóng viên, nhà báo nước ngoài khi đăng tải thông tin từ Việt Nam ra các ấn phẩm của họ ở nước ngoài thường mang lại hiệu quả cao hơn

Thông tin đối ngoại hướng đến nhóm đối tượng này chủ yếu về đường lối, chính sách, chủ trương của Việt Nam, trong đó có sự kiện quan trọng phải về tình hình Việt Nam cần đầy đủ, càng chính xác, đầy đủ, kịp thời Cố gắng không

để chống thông tin, gây kẻ hở cho những suy đoán, bình luận không có lợi

Nhóm thứ ba: cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài

Hàng trăm năm trước đây đã có người Việt Nam ra nước ngoài sinh sống Trong quá trình mở rộng hoạt động giao lưu kinh tế, văn hóa, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã trải qua nhiều biến động lớn trong đời sống chính trị, quân sự ở Việt Nam cũng như trên thế giới và dần hình thành

và phát triển lớn mạnh

https://www.vietnamplus.vn/trao-giay-phep-lap-van-phong-mot-so-co-quan-bao-chi-nuoc-ngoai/640472.vnp

Trang 22

Theo thống kê của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài (Bộ Ngoại giao), từ 4,5 triệu người ở 109 quốc gia và vùng lãnh thổ năm

2015, đến nay cộng đồng NVNONN có khoảng 5,3 triệu người sinh sống, làm việc trên 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó hơn 80% là ở các nước phát triển1 Một khi nắm bắt khách quan về tình hình ở trong nước, kiều bào trở thành “cầu nối” chủ động hơn trong quan hệ với nước sở tại và trở thành lực lượng làm thông tin đối ngoại ngay tại nơi họ cư trú

Nhóm thứ tư: nhân dân trong nước

Nội dung của công tác TTĐN trên báo in hướng tới nhân dân trong nước bao gồm các thông tin quốc tế hoặc liên quan đến quan hệ quốc tế, thông tin về dư luận quốc tế đến các vấn đề của Việt Nam Các đối tượng này cũng có nhu cầu đón nhận thông tin theo các tiêu chí kịp thời, phù hợp với các

sự kiện, diễn biến đó Ngoài ra một nhiệm vụ của thông tin đối ngoại là Giúp nhân dân ta hiểu rõ hơn và vạch trần các âm mưu, luận điệu kích động, chống phá về Việt Nam

1.1.2.3 Nội dung thông tin đối ngoại

Tại Chỉ thị số 10/2000/CT-TTg Về tăng cường quản lý và đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại ngày 26-4-2000, Thủ tướng Chính phủ đã nêu rõ những nội dung chủ yếu của công tác TTĐN gồm phổ biến rộng rãi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, những chủ trương chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng ; bác bỏ những thông tin sai lệch, xuyên tạc về Việt Nam; giới thiệu đất nước - con người, lịch sử và nền văn hoá lâu đời, phong phú, đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc của Việt Nam

Nghị định số 72/2015/NĐ-CP về quản lý hoạt động TTĐN ngày 7-9-2015, quy định nội dung hoạt động TTĐN bao gồm: Cung cấp thông tin chính thức

về Việt Nam; Cung cấp thông tin quảng bá hình ảnh Việt Nam; Cung cấp thông tin tình hình thế giới vào Việt Nam; Cung cấp thông tin giải thích, làm

1 http://mattran.org.vn/doi-ngoai-kieu-bao/nguon-luc-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai-42719.html

Trang 23

rõ (là những tư liệu, tài liệu, hồ sơ, lập luận nhằm giải thích, làm rõ các thông tin sai lệch về Việt Nam trên các lĩnh vực)

1.1.2.4 Phương châm thông tin đối ngoại

Chỉ thị số 26/CT-TƯ của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa X ngày 10-9-2008: tiếp tục đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới Chỉ thị đã xác định phương châm cụ thể của hoạt động TTĐN trong tình hình hiện nay cần phải “chính xác, kịp thời, sinh động, phù hợp từng đối tượng”

Thứ nhất, phương châm “Chính xác”, thông tin đối ngoại trước hết cần

phải chính xác không những về chủ trương, đường lối và các chính sách, mà

cả về các sự kiện, diễn biến, về tài liệu, số liệu Các thông tin phải lập luận đưa ra phải phản ánh đúng sự thật Các sự kiện, diễn biến và số liệu cần phải chính xác, thống nhất Những thông tin sai lịch, số liệu không chính xác sớm muộn cũng sẽ bị phát hiện Điều này sẽ gây sự hoài nghi, mất niềm tin của công chúng, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động thông tin đối ngoại về lâu dài Thực tế cho thấy các phần tử chống đối thường lợi dụng những số liệu thiếu nhất quán, những phát biểu không thống nhất giữa trung ương và địa phương, giữa các bộ, ban, ngành, giữa các cơ quan để xuyên tạc, kích động, gây nghi ngờ phải chia rẽ trong nội bộ của ta

Bức tranh Việt đất nước, con người, cuộc sống cần phải đầy đủ các khía cạnh khác nhau Tránh việc cung cấp thông tin một chiều, phiến diện Tuy nhiên cần phân biệt cái gì nên nói, cái gì không nên nói, nói với liều lượng và mức

độ như thế nào là phù hợp

Thứ hai, phương châm “Kịp thời”, thông tin đối ngoại phải được cung

cấp một cách kịp thời, nhất là trong bối cảnh hiện nay, khi các sự kiện, diễn biến trong đời sống chính trị trong nước và quốc tế xảy ra sôi động, thay đổi từng ngày, từng giờ

Các phương tiện thông tin đại chúng cần phải nhanh chóng, kịp thời thông tin, nhất là về những vấn đề được dư luận các nước quan tâm Để làm

Trang 24

được điều đó, các cơ quan cung cấp thông tin cần phải được chủ động, linh hoạt trong khai thác và cung cấp thông tin Đồng thời các lực lượng thông tin đối ngoại, chủ động dự báo trước diễn biến tình hình, tâm tư nguyện vọng của công chúng để xây dựng kế hoạch, chuẩn bị trước nội dung thông tin, phát ngôn, đón sẵn các tình huống có thể xảy ra, kịp thời và âm mưu của các thế lực thù địch, chống đối và bày tỏ lập trường và thái độ của ta Sự chậm trễ trên mặt trận thông tin đối ngoại khiến công tác này bị động, lúng túng, phải chống đỡ

Thứ ba, phương châm “Sinh động”, nội dung, hình thức và phương

thức thông tin, sinh động, hấp dẫn và phong phú Thông tin bằng nhiều phương thức như qua báo chí, phát thanh, truyền hình, internet, sách vở, kết hợp với thông tin qua các đoàn ra, đoàn vào, qua các tuần lễ văn hóa, ngày văn hóa Việt Nam, các hoạt động Festival, lễ hội, triển lãm, biểu diễn nghệ thuật, phim, báo ảnh, tranh ảnh, đĩa hát, bưu thiếp, tem thư, thư từ cá nhân… việc lựa chọn, kết hợp các phương thức thông tin cần bảo đảm tính hiệu quả, tránh phô trương, lãng phí

Thứ tư, phương châm “Phù hợp từng đối tượng” - thông tin đối ngoại

có các nhóm đối tượng thông tin rất đa dạng, khác nhau về địa bàn sinh sống, làm việc, khác nhau về phong tục tập quán, đặc điểm tâm lý dân tộc, tâm lý cá nhân… thông tin đối ngoại cần đắp ứng nhu cầu của từng nhóm đối tượng ở từng nước, từng khu vực Phải kết hợp đặc điểm Việt Nam và yêu cầu, đặc điểm của nhân dân các nước Để thực hiện được điều này, thông tin đối ngoại vừa cần có sức thuyết phục, vừa cần cảm hóa được đối tượng Để có sức thuyết phục, người nói hoặc người viết phải sử dụng lý lẽ và lập luận chặt chẽ, có tính logic, có đầy đủ cơ sở khoa học và thực tiễn, để đưa người nghe hoặc người đọc chấp nhận quan điểm của mình về một vấn đề nào đó, đồng tình với cách xử lý của mình

1.1.2 Đặc điểm và vai trò báo in trong công tác thông tin đối ngoại

1.1.2.1 Đặc điểm của báo in

Trang 25

Báo chí mang trách nhiệm phản ánh xã hội trong sự tồn tại phức tạp với nhiều góc cạnh, quan điểm khác nhau tới mọi tầng lớp, lứa tuổi và giới tính

Vì vậy mà công chúng có quyền được biết sự thật.1 Báo chí là phương tiện thông báo, thông tin thời sự về những sự việc mới diễn ra hằng ngày theo cho nhiều người biết, là phương tiện giao tiếp đại chúng; là diễn đàn cung cấp, trao đổi và chia sẻ thông tin trên phạm vi rộng rãi Theo nghĩa hẹp báo chí là những ấn phẩm báo và tạp chí; theo nghĩa là chỉ bao gồm các loại hình báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử2 Luật báo chí năm 2016 của Việt Nam đã có quy định về các sản phẩm báo chí là thông tin về các sự kiện, vấn

đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo hình, báo nói, báo điện tử…

Trong các loại hình báo chí thì bảo in ra đời sớm nhất Báo in có ưu thế đặc biệt so các loại hình đại chúng khác là có thể đem đến cho công chúng thông tin đã được phân tích, lý giải những vấn đề phức tạp một cách hệ thống, sâu sắc và độ tin cậy cao Mặc dù vậy điểm yếu của báo in hiện nay không thể nhanh chóng tiếp cận độc giả như các loại hình khác, đây là hạn chế rất lớn trong bối cảnh nhu cầu của xã hội luôn đòi hỏi thông tin phải nhanh nhạy

Báo in là một trong những loại hình truyền thông đại chúng đã tham gia sớm và tích cực đóng góp vào công tác thông tin đối ngoại Hiện nay, theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam, có khoảng 40 báo và tạp chí đối ngoại trên tổng số hơn 800 ấn phẩm báo chí Trong điều kiện quốc

tế hóa lĩnh vực thông tin, các biên giới đứng giữa các quốc gia bị phá vỡ không thể có cách nào ngăn chặn giao lưu thông tin với bên ngoài Chình vì vậy phát triển mạnh hệ thống thông tin báo chí quốc gia, tăng cường công tác nghiên cứu hệ thống thông tin đại chúng quốc tế cũng chính là để vươn tới

1 Frost,C: Journalism ethics and regulation, England: Pearson Education, 2000

2 Luật báo chí năm 2016, Điều 3

Trang 26

trình độ hiện đại hóa thông tin báo chí nước mình, khắc phục tình trạng bất hợp lý về trật tự thông tin thế giới1

Chẳng hạn như báo in bằng các bài viết bình luận, phóng sự, chuyên đề qua đó lý giải, phân tích sâu sắc hơn về các vấn đề, sự kiện” Đây là điểm nổi trội của báo in và với khả năng này thì các loại hình báo chí khác không thể

so sánh và thay thế được báo in và vì vậy mà nó vẫn tồn tại, phát triển đến ngày hôm nay và sẽ tiến xa trong tương lai

Trong thông tin đối ngoại, báo in là loại hình chuyên tải thông tin mang tính thời sự bằng ấn phẩm định kỳ và được phát hành rộng rãi trong xã hội Báo in đối ngoại là một kênh truyền thông quan trọng trong TTĐN, là kênh truyền phát các sản phẩm thông tin đối ngoại cho công chúng quốc tế

Có thể khẳng định từ khi ra đời đến nay báo in luôn có những ưu thế vượt trội riêng Đầu tiên, nội dung thường phản ánh đúng, kịp thời các sự kiện, hiện tượng, vấn đề trong xã hội – mang tính thời sự được xã hội quan tâm Thêm vào đó, báo in được phát hành rộng rãi trong xã hội, tác động đến nhiều nhóm xã hội – có thể dùng để tuyên truyền, giáo dục, tạo lập và định hướng dư luận xã hội Ngoài ra, người đọc hoàn toàn chủ động trong việc tiếp nhận thông tin từ báo in Do quá trình chủ động tìm kiếm tiếp nhận thông tin

từ báo in nên đòi hỏi cường độ tập trung cao hơn, hoạt động đầu óc tích cực

hơn Chính vì sự chủ động tiếp cận đó nên việc đọc báo in ngày nay còn dược

xem là tài liệu quan trọng và xử lý thông tin đặc biệt đối với người đọc vì những thông tin mà người đọc lưu trữ trong trí não Ở nhiều công trình khoa học, nguồn các bài viết trên báo in đã được dùng để làm tài liệu, luận điểm, lý

lẽ cho nghiên cứu đó Song báo in cũng có hạn chế đó là đòi hỏi các chi phí in

ấn, vận chuyển, phát hành ở nước ngoài lớn Báo in hiện nay thường phát hành trong nước, chậm đến tay người đọc ở nước ngoài, thông tin nhiều khi

ko còn mang tính thời sự, giảm giá trị của thông tin Việc cập nhật tin tức trên báo in không thể tiến hành thường xuyên hoặc trực tiếp

1 Dương Xuân Sơn, Báo chí nước ngoài, Nxb Văn hóa – Thông tin, 1996

Trang 27

1.1.2.2 Vai trò của báo in trong công tác thông tin đối ngoại

Công tác TTĐN trên báo in đóng vai trò hết sức quan trọng, bởi cho đến nay báo in vẫn là một trong những lực lượng chủ chốt làm công tác TTĐN ở nước ta Thông tin đối ngoại cũng là mảng nội dung quan trọng không thể thiếu đối với báo chí Việt Nam nói chung và báo in nói riêng Rất nhiều tờ báo, các chuyên mục, chuyên trang của báo chí Việt Nam dành riêng

để thông tin đối ngoại và nội dung này được phản ánh phong phú đa dạng, nhiều kênh, luồng khác nhau Thông tin đối ngoại chiếm tỉ lệ rất cao trong nội dung phản ánh của các tờ báo in và có vai trò vô cùng quan trọng đối với công tác đối ngoại quốc gia Việc chọn lựa, đăng tải nội dung như thế nào về thông tin sẽ mang lại những giá trị đối với công tác tuyên truyền, giới thiệu, quảng

bá và đối ngoại của Nhà nước

Thế mạnh của báo in là giúp công chúng hiểu kỹ về thông tin qua cách phân tích, lý giải những vấn đề phức tạp một cách hệ thống, sâu sắc và độ tin cậy cao Hạn chế của nó là chậm về tính thời sự và đến tay người độc do phải chế bản, in và phát hành Báo in hiện nay được phát hành trực tiếp qua hệ thống báo chí quốc tế, qua báo in điện tử (e-paper) trên Internet giúp tăng khả năng tiếp cận đến bạn đọc mà không bị hạn chế về phạm vi phát hành

Báo in lại có khả năng phân tích, bình luận, lý giải sâu rộng và đầy đủ các vấn đề, sự kiện và là thế mạnh rõ nét nhất mà không loại hình báo chí nào

có thể so sánh được với báo in Và nó là điều kiện để cho báo in tồn tại và phát triển Hiện nay, các cơ quan báo in đang có gắng phát huy thế mạnh

Báo in là một trong những công cụ truyền thông làm tăng thêm tình cảm hướng về nguồn cội của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, thể hiện qua những tâm tư tình cảm, những đóng góp vật chất, những cống hiến trí tuệ dành cho đất nước Số lượt NVNONN về nước cũng như lượng kiều hối gửi về nước, số dự án đầu tư ngày càng tăng

Dù đứng trước sự phát triển của các loại hình truyền thông kỹ thuật số mới, báo in vẫn giữ vị trí khó có thể thay thế trên thị trường Trong khi các

Trang 28

phương tiện truyền thông điện tử ngày nay phải đối mặt với nhiều mối đe dọa

kỹ thuật số, cùng với thị phần báo chí giảm mạnh thì các tòa soạn báo in lại càng đứng trước nhiệm vụ phải thay đổi, cải cách mạnh mẽ để trụ vững Với

ưu thế của mình, báo in có thể cung cấp cho độc giả cái nhìn tổng quan đáng tin cậy về các sự kiện lớn trong lĩnh vực chính trị, cũng như kinh tế, văn hóa

và phát triển theo hướng hướng đến độc giả ở nước ngoài cũng là một giải pháp cần được chú trọng

1.2 Các yếu tố của quản lý thông tin đối ngoại trên báo in

Quản lý là tác động có tổ chức để sử dụng các tiềm năng, cơ hội một cách có hiệu quả nhất nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường

Ở nước ta, quản lý TTĐN trên báo in là một phần trong hoạt động lãnh đạo quản lý báo chí, truyền thông, quản lý tư tưởng văn hóa và quản lý TTĐN Do hoạt động TTĐN nằm trong lĩnh vực truyền thông đối ngoại và rộng hơn là truyền thông quốc tế, nên nghiên cứu lý luận thực tiễn về truyền thông quốc tế sẽ đem lại hiệu quả to lớn để thúc đẩy tính chuyên nghiệp, bài bản của hoạt động TTĐN, đặc biệt là với báo in, loại hình báo chí đang đứng trước nhiều cơ hội lẫn thách thức Chủ thể của hoạt động lãnh đạo, quản lý TTĐN là Đảng và Nhà nước (NN) trong đó các cơ quan trong bộ máy chính trị; các cá nhân, tổ chức quản lý chuyên ngành về hoạt động báo chí truyền thông được trao quyền quản lý đối với báo in đối ngoại (Ban Tuyên giáo, Hội Nhà báo, Ban chỉ đạo TTĐN…)

Công tác quản lý TTĐN trên báo in đóng vai trò hết sức quan trọng ở nước ta vì báo in là một trong những lực lượng chủ chốt làm công tác TTĐN Mặt khác, TTĐN cũng là mảng nội dung quan trọng không thể thiếu đối với báo chí Việt Nam nói chung và báo in nói riêng Quản lý TTĐN trên báo in mang đầy đủ các đặc điểm, đặc tính của hoạt động quản lý TTĐN nói chung đồng thời cũng mang những đặc trưng và nhiệm vụ riêng của TTĐN trên báo

in Trên thực tế, chưa có một khái niệm thống nhất và chuẩn xác chung cho

Trang 29

QL TTĐN trên báo in Quản lý TTĐN trên báo in là tổng thể những hoạt động của bộ máy nhà nước trên cơ sở những quy định của pháp luật nhằm vảo đảm cho cơ quan báo in được thực hiện nhiệm vụ thông tin đối ngoại của mình và chịu sự điều chỉnh thống nhất của pháp luật

1.2.1 Chủ thể và đối tượng quản lý TTĐN trên báo in

1.2.1.1 Chủ thể quản lý thông tin đối ngoại trên báo in

Đảng cầm quyền là chủ thể lãnh đạo cao nhất Ở Việt Nam là Đảng

Cộng sản Việt Nam Đảng xây dựng và ban hành các nghị quyết, chỉ thị có tính chất định hướng TTĐN Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên trong cơ quan báo chí và Hội nhà báo; thông qua công tác tổ chức cán

bộ, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ…; Ban Tuyên giáo Trung

ương và địa phương thay mặt Đảng chịu trách nhiệm về công tác TTĐN Ban

chỉ đạo TTĐN – cơ quan chỉ đạo điều phối chung hoạt động TTĐN1 Đảng lãnh đạo thông qua các đoàn thể chính trị- xã hội trong cơ quan báo chí, thông

qua Hội nhà báo Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, chi bộ cơ quan, các đoàn thể

nhân dân tham gia công tác quản lý, động viên cán bộ, đoàn viên tích cực công tác, thực hiện tốt nhiệm vụ được giao

Nhà nước quản lý TTĐN trên báo in thông qua hệ thống văn bản pháp

luật, quy định quyền hạn và nhiệm vụ Để thống nhất đầu mối quản lý về TTĐN, xuất phát từ tầm quan trọng của TTĐN trong quá trình đổi mới, hội nhập của đất nước, Ban chỉ đạo công tác TTĐN Trung ương (Ban chỉ đạo) được thành lập từ năm 2001 theo Quyết định của Ban Bí thư (IX) và kiện toàn qua từng nhiệm kỳ Đại hội Đảng, có vai trò tham mưu cho Đảng và Nhà nước chỉ đạo, định hướng thống nhất các hoạt động TTĐN; xác định chủ trương, nội dung trọng tâm và giải pháp, nhiệm vụ của hoạt động TTĐN trong từng thời kỳ, hoản cảnh cụ thể; chỉ đạo sơ kết, tổng kết, khen thường công tác TTĐN hằng năm; tham gia xây

1 Nguyễn Thị Hương Giang, Quản lý TTĐN về chủ quyền biển, đảo trên báo mạng điện tử hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Báo chí học, HV BC&TT, 2019

Trang 30

dựng cơ chế phối hợp và cung cấp thông tin về hoạt động TTĐN của các cơ quan Đảng, Nhà nước và đối ngoại nhân dân…

Là tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp, ở Việt Nam có Hội nhà báo Việt Nam – cơ quan đại diện cho quyền làm chủ, nguyện vọng và lợi ích hợp

pháp của báo giới1 Trong bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi, Đảng và Nhà nước tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của báo chí và có nhiều chủ trương, định hướng phát triển báo báo in và lãnh đạo công tác TTĐN trên báo in cho phù hợp tình hình mới

Thêm vào đó, ở cấp độ quản lý trực tiếp tại các tòa soạn báo in thì chủ thể quản lý là Ban biên tập và các lãnh đạo các phòng ban có liên quan đến công tác quản lý thông tin đối ngoại trên báo in

1.2.2.2 Đối tượng quản lý thông tin đối ngoại trên báo in

Theo định hướng lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta xác định đối tượng

quản lý TTĐN trên báo in được hiểu là các báo in đối ngoại ở cấp độ chung nhất

Quản lý TTĐN trên báo in là “sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý” lên các báo in đối ngoại và trật tự quản lý trong quá trình truyền đạt, tiếp nhận và trao đổi TTĐN nhằm đạt được mục đích đề ra và “sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, cơ hội để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường”

Các đối tượng của quản lý TTĐN trên báo in gồm tập thể các cơ quan, tòa soạn báo in hoạt động theo luật báo chí trong đó hiện nay trên cả nước có khoảng 40 báo in và tạp chí đối ngoại trên tổng số hơn 800 ấn phẩm báo chí; Tổng biên tập, ban biên tập, trưởng ban, phòng thư ký biên tập các tòa soạn hoạt động theo định hướng của các cơ quan báo chí và cơ quan chủ quản; đội ngũ phóng viên, biên tập viên, công tác biên thực hiện nội dung theo sự phân công, chỉ đạo của các cấp có thẩm quyền cũng như các nội dung, vấn đề phát hiện mới; bạn đọc, công chúng khi đọc các sản phẩm TTĐN trên báo in được

1 Nguyễn Đức Lợi, Lưu Văn An (2017), Thông tin báo chí với công tác lãnh đạo, quản lý, NXB Thông tấn, tr.103

Trang 31

tiếp nhận thông tin, đồng thời đă ra những bình luận,quan điểm, chính kiến về những sự kiện, vấn đề được truyền tải

Ở cấp độ trong các phòng, ban chuyên môn thuộc tòa soạn là những

phóng viên, biên tập viên trực tiếp tham gia vào công tác thông tin đối ngoại trên báo in

1.2.2 Nội dung quản lý thông tin đối ngoại trên báo in

Thứ nhất, quản lý nguồn tin đảm bảo độ chính xác, khách quan, cập nhật… và quản lý nội dung tin bài phù hợp mục tiêu của TTĐN

Quá trình cung cấp nội dung về TTĐN phải bảo đảm các yêu cầu như chủ động thông tin; thông tin phải do cơ quan chức năng cung cấp theo đúng quy định của pháp luật hiện hành; Đối với việc khai thác nội dung thông tin trên báo chí nước ngoài phải đảm bảo tôn trọng, chấp hành các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ; đảm bảo tính chính xác, khách quan, cân bằng; không khai thác thông tin khi chưa được kiểm chứng; trao đổi với các cơ quan chức năng để kiểm chứng thông tinđối với các vấn đề quốc tế phức tạp, các vấn đề xảy ra trên biển, đảm bảo thực hiện đúng đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, phù hợp với lợi ích quốc gia, dân tộc

Thứ hai, quản lý quá trình biên tập thông tin đối ngoại Nhắc đến các

nguyên tắc biên tập thông tin là nói đến các quy tắc đạo đức báo chí, tính khách quan, trung thực trong khi vẫn bảo đảm giá trị của tin tức Biên tập TTĐN không nằm ngoài những yêu cầu này, đồng thời còn phải bảo đảm các phương châm của TTĐN Biên tập TTĐN còn là hoạt động đòi hỏi trách nhiệm cao nhất của quá trình xuất bản TTĐN, bởi nó hướng đến đối tượng công chúng riêng biệt và một sai sót thậm chí có thể ảnh hưởng hình ảnh, bộ mặt của một quốc gia

Quá trình biên tập nội dung về TTĐN phải bảo đảm các yêu cầu như: Kịp thời, chính xác, có kiểm chứng Đối với các thông tin về chủ quyền biển, đảo, lãnh thổ, biên giới quốc gia phải thể hiện đầy đủ chủ quyền quốc gia khi đăng, phát bản đồ Việt Nam; sử dụng chính xác tên gọi bằng tiếng Việt đối

Trang 32

với các địa danh trên đất liền, tên các đảo, đá, bãi cạn, bãi ngầm và một số thực thể khác của quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa theo quy định của pháp luật Thông tin về chủ quyền biển đảo, lãnh thổ, biên giới quốc gia phải đảm bảo phù hợp với cơ sở pháp lý – lịch sự, pháp luật Việt Nam, Công ước Liên hiệp quốc về luật Biển năm 1982 và luật pháp quốc tế Đối với các thông tin

về tình hình nhân quyền: Đảm bảo mức độ thường xuyên, chuyên sâu; đảm bảo người dân được tiếp cận thông tin về quyền con người nhằm thúc đẩy và bảo vệ quyền con người Đối với thông tin giải thích, làm rõ: Căn cứ vào các đối tượng cụ thể để cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, phù hợp, hiệu quả Đối với thông tin về tình hình quốc tế cần đưa tin cân bằng, khách quan, phù hợp với văn hóa, thuần phong mỹ tục của Việt Nam và các cộng đồng trên thế giới Đối với các vấn đề quốc tế phức tạp, xung đột, chiến tranh, tranh chấp lãnh thổ, vùng biển, thông tin cung cấp cần đảm bảo đúng và phù hợp với đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước, thành phố; không quy kết, suy diễn

về vấn đề nội bộ của các nước, về trách nhiệm của các bên liên quan; không

cổ súy, kích động gây thù hằn, chia rẽ nhân dân Việt Nam nói chung, thành phố nói riêng với nhân dân các nước trên thế giới Đối với các vụ việc phức tạp liên quan đến nhiều nội dung cần phối hợp với các cơ quan, tổ chức để kiểm chứng thông tin trước khi cung cấp

Về ngôn ngữ của báo in đối ngoại, ngoài tiếng mẹ đẻ giúp gắn kết và tạo nên sự đồng nhất trong công tác TTĐN và bảo vệ, duy trì sự trong sáng của tiếng Việt thì các tòa soạn báo in đối ngoại cũng có thể hợp tác, biên soạn tin bài cùng các tòa soạn nước ngoài với nhiều ngôn ngữ hơn, sử dụng nguồn tin mà không cần tốn thời gian vào việc biên dịch cũng như việc diễn đạt trở nên gần gũi và dễ hiểu với các đối tượng công chúng của mình

Thứ ba, quản lý khâu xuất bản thông tin đối ngoại trên báo in

Nghị định 72/2015/NĐ-CP về quản lý hoạt động thông tin đối ngoại quy định: Xuất bản phẩm thông tin đối ngoại

Trang 33

Về quản lý xuất bản thông tin đối ngoại trên báo in, với báo in đối ngoại, ngoài phát hành theo các kênh truyền thống, nên chú trọng phát triển theo hướng đa phương tiện sử dụng môi trường internet để hướng tới đối tượng tiếp cận rộng hơn

Thứ tư, quản lý việc tiếp nhận và xử lý các ý kiến phản hồi từ công chúng của báo in đối ngoại Tiếp nhận và xử lý các ý kiến phản hồi từ công chúng của

báo in đối ngoại giúp rút ngắn khoảng cách giữa báo chí và công chúng, khiến những vấn đề được nhìn nhận một cách khách quan trên nhiều bình diện

Đối với các cơ quan báo in đối ngoại, hoạt động tương tác góp phần giúp họ hiểu hơn về thị hiếu, xu hướng tiếp nhận thông tin của công chúng, ý kiến của công chúng đối với các sự kiện đang xảy ra tại địa phương hoặc sự quan tâm của họ đối với vấn đề trong nước

Tiếp nhận và xử lý các ý kiến phản hồi từ công chúng của báo in đối ngoại thể hiện ở góc độ: Tương tác có định hướng: là sự định vị trên các tác phẩm báo in ví dụ như: “biết thêm chi tiết xin gọi về số điện thoại…”, “nhắn tin về tổng đài và làm theo hướng dẫn ” Đối với các tờ báo in trên thế giới, điều này thể hiện rất rõ qua việc công khai email của nhà báo, tác giả tin, bài

để rộng đường cho độc giả phản hồi, trao đổi Ngoài ra còn có tương tác tùy biến: công chúng có thể giao lưu trực tiếp với các nhà báo, tòa soạn, công chúng khác,…

1.2.3 Phương pháp quản lý thông tin đối ngoại trên báo in

Phương pháp quản lý TTĐN trên báo in là những cách thức, biện pháp

có thể sử dụng, tác động vào những tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ Trong quản lý nói chung, đó là bốn nhóm phương pháp: hành chính; kinh tế; động viên, khuyến khích và kiểm tra, giám sát Trong quản lý TTĐN trên báo

in, những phương pháp này chính là biểu hiện của việc: hoạch định đường lối, chiến lược, mục tiêu phát triển công tác TTĐN đối với các tờ báo đối ngoại chủ lực; lãnh đạo xây dựng các thể chế quản lý TTĐN; xây dựng đội ngũ lực

Trang 34

lượng làm công tác TTĐN trên báo in; kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng trong công tác TTĐN

Thứ nhất, quản lý qua công tác dự báo, hoạch định đường lối, chiến lược, mục tiêu phát triển công tác TTĐN đối với các tờ báo đối ngoại chủ lực

Nhà nước đặt ra chính sách, là chủ thể có thẩm quyền quyết định ban hành chính sách vì vậy chủ thể quản lý là Đảng cầm quyền, nhà nước và Hội nhà báo làm công tác dự báo và hoạch định đường lối, chiến lược, mục tiêu phát triển Đây là một trong những công cụ thiết yếu trong quản lý, giúp cho các cơ quan quản lý chủ động sớm đưa ra những quyết sách, những giải pháp thích hợp để phát huy ưu điểm, đồng thời hạn chế nhược điểm của công tác TTĐN trên báo in

Dự báo thông qua việc tiến hành xử lý, phân tích các dữ liệu, số liệu thu thập được trong quá khứ, hiện tại để xác định xu hướng vận động của các hiện tượng trong tương lai Hoạch định chính sách là “quá trình xác định phương hướng, mục tiêu và lựa chọn các phương thức để đạt các mục tiêu trong một khoảng thời gian nhất định… Đó còn là sự lựa chọn đường lối hành động tác xác định xem việc gì làm trước, làm thế nào, vào thời gian nào, ai sẽ làm.” Đối với báo in đối ngoại, sản phẩm cụ thể là chiến lược phát triển, kế hoạch tuyên truyền đối ngoại

Luận văn được viết trong một giai đoạn đặc biệt của báo chí Việt Nam, khi cùng một lúc cả tác động của đại dịch Covid-19 và sự bùng nổ của báo điện tử vừa tạo ra cơ hội, nhưng cũng là thách thức lớn đối với báo in, đặc biệt là các ấn phẩm báo in đối ngoại Trong tình hình đó chức năng cơ bản là công tác dự báo, hoạch định chính sách đối với quản lý thông tin đối ngoại trên báo in lại càng cần được thể hiện rõ nét Hiện nay yêu cầu nghiên cứu toàn diện, tổng thể về các vấn đề quan hệ quốc tế, truyền thông quốc tế có ý nghĩa rất quan trọng, để từ đó áp dụng vào hoạt động TTĐN, quảng bá hỉnh ảnh một Việt Nam năng động, giàu tiềm năng và mến khách trong cộng đồng quốc tế, đồng thời phản ánh sự vận động và chuyển mình về chất của vị thế và

Trang 35

vai trò của nước ta do sự nghiệp đổi mới mang lại Việc khai thác các lợi thế của truyền thông quốc tế phục vụ cho chiến lược, sách lược TTĐN và chiến lược đối ngoại của nước ta là một hướng tiếp cận phù hợp, tạo ra sức mạnh của quyền lực mềm, quyền lực thông minh trong bối cảnh cộng đồng thế giới ngày càng quan tâm sử dụng lĩnh vực truyền thông, truyền thông quốc tế nói chung, và TTĐN nói riêng, trong các quan hệ quốc tế hiện đại Hiện nay, báo chí Việt Nam đang trong lộ trình triển khai thực hiện Đề án Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025 Trong đó các báo in nằm trong diện quy hoạch càng đứng trước yêu cầu và nhiệm vụ đề ra những kế hoạch rõ ràng và chi tiết hơn về hoạt động của mình

Thứ hai, quản lý TTĐN trên báo in thông qua việc xây dựng, hoàn thiện các thể chế quản lý

Việc kiện toàn bộ máy quản lý về TTĐN, trong đó phân cấp và phối hợp bài bản, chuyên nghiệp giữa các cơ quan với lực lượng báo chí đối ngoại

là nhiệm vụ hàng đầu để nâng cao hiệu quả chiến lược phát triển TTĐN trong tình hình hiện nay Trong bối cảnh thế giới đang bước vào một giai đoạn đặc biệt với những biến động phức tạp và đa chiều, tác động sâu sắc đến môi trường hòa bình, an ninh và phát triển của đất nước Dịch bệnh COVID-19 tác động nghiêm trọng, sâu rộng chưa có tiền lệ đến tình hình kinh tế, chính trị,

xã hội ở mỗi quốc gia, khu vực và toàn cầu Kinh tế thế giới rơi vào suy thoái, trong đó, riêng với các cơ quan báo in việc duy trì phát hành đang đặt ra bài toán sống còn Trong giai đoạn này, nhiều tờ báo in ở nước ta đang nỗ lực chuyển mình, đổi mới, đồng thời tìm kiếm phát huy các phương pháp quản lý kinh tế, nhằm tạo ra những nguồn thu mới một cách hợp pháp, chính đáng, góp phần xây dựng tòa soạn báo với thương hiệu riêng của mình là nhiệm vụ quan trọng của mỗi tòa soạn hiện nay

Thứ ba, xây dựng lực lượng làm công tác TTĐN trên báo in

Hiện nay, lực lượng làm công tác TTĐN đã có sự phát triển mạnh mẽ

cả về nội dung và hình thức, từng bước đổi mới để thích ứng với xu thế phát

Trang 36

triển thông tin, truyền thông hiện đại và có nhiều đóng góp quan trọng vào quá trình đổi mới, hội nhập của đất nước Song trên quy mô quốc tế, những biến động to lớn, nhiều mặt của thế giới đã và đang đặt ra cho công tác TTĐN

và lực lượng làm TTĐN trên báo in rất nhiều khó khăn, thách thức Để biến thách thức thành cơ hội, nhiệm vụ thành kết quả, phải xây dựng đội ngũ làm công tác TTĐN trên báo in chuyên nghiệp

Thứ tư, kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối, quan điểm của

Đảng và chính sách của NN trong TTĐN trên báo in

Kiểm tra giám sát là tiến trình đo lường kết quả thực hiện so sánh với những điều đã được hoạch định để bảo đảm việc đạt được mục tiêu để bảo đảm cho việc việc thực hiện thành công các kế hoạch Phát hiện kịp thời những sai sót tìm ra nguyên nhân và biện pháp sửa chữa Kiểm tra làm việc thiết lập một hệ thống thông tin phản hồi thông tin về phản ứng của những người thực hiện và quá trình thực hiện nhằm kiểm soát các hoạt động ảnh bảo đảm cho hoạt động lãnh đạo quản lý đạt hiệu quả để đo lường sự thực hiện nhiệm vụ so với mục tiêu Quản lý bằng chế độ kiểm tra, giám sát nhằm theo dõi, đánh giá thực tế tổ chức sản xuất thông tin, đăng tải các sản phẩm báo chí đối ngoại, xuất bản báo in để bảo đảm không xảy ra những sai sót về tư tưởng, chính trị

Công tác chỉ đạo, quản lý TTĐN trên báo in cần được thực hiện nhất quán theo phương châm chủ động, kịp thời, hiệu quả, thuyết phục, nhất là đối với các vấn đề quan trọng, phức tạp, nhạy cảm Việc chấn chỉnh, xử lý sai phạm trong hoạt động báo chí, nhất là đối với những sai phạm liên quan việc

xa rời tôn chỉ, mục đích, thông tin sai sự thật, đồng thời tăng cường chất lượng phản bác luận điệu xuyên tạc, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch Việc hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ báo chí; hợp tác quốc tế và tăng cường thông tin đối ngoại trong lĩnh vực báo chí cần được quan tâm để đi vào chiều sâu, thực chất; thực hiện công tác thi đua, khen thưởng, nhất là đối với những cơ quan tích cực trong tuyên truyền

Trang 37

hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, những thành tựu của đất nước ra bạn

bè thế giới, đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc

1.3 Đường lối chính sách về thông tin đối ngoại và quản lý thông tin đối ngoại của Việt Nam

Công tác thông tin đối ngoại là một bộ phận quan trọng của công tác đối ngoại và công tác tư tưởng, có mục tiêu góp phần củng cố hình ảnh Việt Nam yêu chuộng hòa bình, đang đổi mới, năng động, ổn định và phát triển, nâng cao uy tín, vị thế và ảnh hưởng của Việt Nam ở khu vực và trên trường quốc tế, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, tranh thủ sự đồng tình, ủng

hộ của cộng đồng quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Vì vậy, Chính phủ Việt Nam đang rất quan tâm về vấn đề TTĐN: Ngày 30/11/2010, Chính phủ đã ký Quyết định số 79/2010 QĐ- TTg ban hành Quy chế QLNN về TTĐN, đặt nền móng cho công tác QLNN về TTĐN Dù mới chỉ hơn mười năm phát triển, song trong những năm qua công tác quản lý nhà nước về thông tin đối ngoại đã dần hoàn thiện các khung chính sách, pháp lý Trên cơ sở Kết luận số 16-KL/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) về “Chiến lược phát triển TTĐN giai đoạn 2011-2020”, Thủ tướng

CP ban hành Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 6/8/2012 về “việc triển khai thực hiện Chiến lược phát triển TTĐN giai đoạn 2011-2020”

Trong thời gian qua, để quản lý công tác TTĐN nói chung, Chính phủ

đã ban hành một số quyết định, chẳng hạn như: Quyết định số 1209/ QĐ-TTG ngày 4/9/2012 phê duyệt Quy hoạch phát thanh truyền hình đối ngoại đến 2020; Quyết định 2434/QĐ-TTg ngày 13/12/2016 phê duyệt Quy hoạch hệ thống báo chí đối ngoại đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; Thông tư 03/2019/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông ngày 6/5/2019 Quy định việc đăng, phát nội dung thông tin đối ngoại trên báo chí

Đối với yêu cầu quản lý thông tin đối ngoại trên báo in hiện nay, hai văn bản có tính định hướng về quản lý hoạt động TTĐN, trong đó nêu bật yêu cầu cần lập quy hoạch phat triển, quản lý các loại hình thông tin bảo đảm sự

Trang 38

đồng bộ, kịp thời, chuyên nghiệp, hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu tieeos cận thông tin của người dân, tạo sự đồng thuận xã hội… đồng thời yêu cầu quy hoạch hệ thống thông tin theo hướng tích hợp, tổng thể, bảo đảm tính thống nhất, liên kết có hệ thống giữa các đối tượng… đó là Quyết định 362/QĐ-TTg ngày 3/4/2019 Phê duyệt Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025 và Quyết định 1321/QĐ-TTg ngày 31/8/2020 Phê duyệt nhiệm

vụ lập Quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở báo chí, phát thanh, truyền hình, thông tin điện tử, cơ sở xuất bản thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050

Trang 39

nay của quản lý thông tin đối ngoại trên báo in được xác định như: Phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng làm công tác quản lý thông tin đối ngoại trên báo in Trong số các đối tượng của công tác TTĐN trên báo in có cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài song đây cũng là nguồn lực để cùng thực hiện TTĐN; Về nội dung TTĐN trên báo in, cần gắn kết chặt chẽ giữa thông tin đối ngoại và thông tin đối nội, giữa đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân trong hoạt động thông tin đối ngoại Nội dung TTĐN trên báo in cần bám sát, phục

vụ triển khai các chính sách phát triển kinh tế - xã hội và đối ngoại của đất nước, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ

Trang 40

Tiểu kết chương I

Trong bối cảnh bùng nổ thông tin, đấu tranh quyết liệt trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, công tác TTĐN có tính chất phức tạp và tầm quan trọng đặc biệt Trong quá trình phát triển, công tác TTĐN của Việt Nam đã dần hoàn thiện cả về lý luận và thực tiễn Điều đó được thể hiện rõ nét trong việc hoàn thiện thể chế pháp luật, các quy định… từ việc nêu bật tầm quan trọng của công tác TTĐN trong những ngày đầu, cho đến hình thành quan điểm, khái niệm rõ ràng về các thành tố của TTĐN và đến nay đã bước đầu xây dựng hành lang pháp lý, văn bản chỉ đạo, thông tư hướng dẫn quản lý hoạt động TTĐN Riêng đối với báo in, Nhà nước ta đã xác định: Những tờ báo được giao chuyên trách làm thông tin đối ngoại là một bộ phận của báo chí đối ngoại, là một trong những lực lượng quan trọng của công tác TTĐN, là một

bộ phận trong công tác tuyên truyền và công tác tư tưởng của Đảng, được xác định là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài Cả hệ thống chính trị tập trung nguồn lực xây dựng

Chính nhờ sự quan tâm đó, thông tin đối ngoại trên báo chí nói chung, báo in nói riêng đã có những thay đổi nhất định và đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, giúp cộng đồng quốc tế hiểu đúng về Việt Nam, góp phần nâng cao hình ảnh và uy tín của Việt Nam, thúc đẩy tiến trình hội nhập quốc

tế của đất nước Tuy nhiên, việc quản lý thông tin đối ngoại trên báo in vẫn còn một số hạn chế, chất lượng hiệu quả hoạt động thông tin chưa đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới; chưa phát huy hết vai trò trong hoạt động đối ngoại Thực trạng trên cần phải được xem xét từ nhiều góc độ khía cạnh khác nhau để có cái nhìn tổng quát về quản lý thông tin đối ngoại trên báo in Việt Nam hiện nay

Ngày đăng: 02/06/2023, 13:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ban chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại trung ương (2018), Công tác thông tin đối ngoại - những điều cần biết, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác thông tin đối ngoại - những điều cần biết
Tác giả: Ban chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Sự thật
Năm: 2018
3. Barbara Pfetsch (1999), Government news management – Strategic communication in comparative perspective, Science Center Berlin for Social Research, Berlin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Government news management – Strategic communication in comparative perspective
Tác giả: Barbara Pfetsch
Nhà XB: Science Center Berlin for Social Research
Năm: 1999
4. Lê Thanh Bình (2012), Tổng quan truyền thông quốc tế - dành cho người làm công tác thông tin đối ngoại, NXB Thông tin và Truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan truyền thông quốc tế - dành cho người làm công tác thông tin đối ngoại
Tác giả: Lê Thanh Bình
Nhà XB: NXB Thông tin và Truyền thông
Năm: 2012
5. Lê Thanh Bình, Phí Thị Thanh Tâm (2009), Quản lý Nhà nước và pháp luật về báo chí, Nxb Văn hóa – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Nhà nước và pháp luật về báo chí
Tác giả: Lê Thanh Bình, Phí Thị Thanh Tâm
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 2009
6. Lê Thanh Bình (2012), Báo chí và thông tin đối ngoại, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và thông tin đối ngoại
Tác giả: Lê Thanh Bình
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2012
7. Hoàng Quốc Bảo (2014), Lãnh đạo, quản lý hoạt động báo chí và xuất bản, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lãnh đạo, quản lý hoạt động báo chí và xuất bản
Tác giả: Hoàng Quốc Bảo
Nhà XB: Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Năm: 2014
9. Bộ Thông tin và Truyền thông (2020), Sách trắng Thông tin và Truyền thông 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách trắng Thông tin và Truyền thông 2020
Tác giả: Bộ Thông tin và Truyền thông
Năm: 2020
11. Đỗ Quý Doãn (2014) Quản lý và phát triển thông tin báo chí ở Việt Nam, Nxb Thông tin và Truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và phát triển thông tin báo chí ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Quý Doãn
Nhà XB: Nxb Thông tin và Truyền thông
Năm: 2014
12. Nguyễn Thị Hương Giang (2019), Quản lý TTĐN về chủ quyền biển, đảo trên báo mạng điện tử hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Báo chí học, HV BC&TT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn Thạc sĩ Báo chí học, HV BC&TT
Tác giả: Nguyễn Thị Hương Giang
Năm: 2019
13. Vũ Quang Hào (2004), Báo chí và đào tạo báo chí Thụy Điển, Nxb Lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và đào tạo báo chí Thụy Điển
Tác giả: Vũ Quang Hào
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2004
14. Hoàng Trung Hiếu (2011), Mô hình tổ chức tòa soạn báo in đối ngoại ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sĩ Báo chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình tổ chức tòa soạn báo in đối ngoại ở nước ta hiện nay
Tác giả: Hoàng Trung Hiếu
Nhà XB: Luận văn thạc sĩ Báo chí
Năm: 2011
15. Hye Hyun Hong (2007), The influence of public relations on news coverage and public perceptions of foreign countries, Iowa State University Sách, tạp chí
Tiêu đề: The influence of public relations on news coverage and public perceptions of foreign countries
Tác giả: Hye Hyun Hong
Nhà XB: Iowa State University
Năm: 2007
16. Luật báo chí (2016), Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật báo chí
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2016
17. Nguyễn Đức Lợi, Lưu Văn An (2017), Thông tin báo chí với công tác lãnh đạo, quản lý, NXB Thông tấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin báo chí với công tác lãnh đạo, quản lý
Tác giả: Nguyễn Đức Lợi, Lưu Văn An
Nhà XB: NXB Thông tấn
Năm: 2017
18. Mạng lưới truyền thông toàn cầu FIPP (2020), Những sáng tạo trong báo chí - Báo cáo toàn cầu 2018 - 2019”, TTXVN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những sáng tạo trong báo chí - Báo cáo toàn cầu 2018 - 2019
Tác giả: Mạng lưới truyền thông toàn cầu FIPP
Nhà XB: TTXVN
Năm: 2020
19. Nghị định 72/2015/NĐ-CP về Quản lý hoạt động thông tin đối ngoại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 72/2015/NĐ-CP về Quản lý hoạt động thông tin đối ngoại
Năm: 2015
20. Nguyễn Ngọc Oanh (2020), Lao động nhà báo đối ngoại, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lao động nhà báo đối ngoại
Tác giả: Nguyễn Ngọc Oanh
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2020
21. Nguyễn Ngọc Oanh (2017), Các xu hướng truyền thông quốc tế hiện nay, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Đề tài khoa học cấp cơ sở Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các xu hướng truyền thông quốc tế hiện nay
Tác giả: Nguyễn Ngọc Oanh
Nhà XB: Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Năm: 2017
22. Nguyễn Ngọc Oanh (2014), Tổ chức sản phẩm báo chí đối ngoại ở Việt Nam hiện nay, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Đề tài khoa học cấp cơ sở Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức sản phẩm báo chí đối ngoại ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Ngọc Oanh
Nhà XB: Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Năm: 2014
10. Bộ Thông tin và Truyền thông (2019), Thông tư số 02/2019/TT-BTTTT hướng dẫn về quản lý hoạt động thông tin đối ngoại của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w